Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label VN 1945-1975. Show all posts
Showing posts with label VN 1945-1975. Show all posts

Wednesday, April 20, 2016

THÁNG TƯ ĐEN KHÔNG DỄ GÌ QUÊN





                                                                                                                                                                                                                              Sài Gòn Nh - Thơ Hng Thúy & Phan Ni Tn ph nhc


VĂN NGHỆ


THÁNG TƯ ĐEN KHÔNG DỄ GÌ QUÊN 
                                              Lê Thị Hoài Niệm 

~~~~~~~~~~

Bên này bờ Thái bình dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân được quá nhiều tự do (vẫn có ít điều cần giới hạn) từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “Quốc Hận Tháng Tư Đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó. 
Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm, thì các  tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt, nên hầu hết phải “mướn ca sĩ chuyên nghiệp” ở các trung tâm băng nhạc lớn về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ quân lực VNCH ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Nhưng có vài  ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?”  hay “lâu đài tình ái”…. chẳng hạn. Thật hết ý. 
Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về tháng tư đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền Trung, miền cao nguyên, những con đường kinh hoàng như tỉnh lộ 7 ở Hiếu Xương-Phú Yên, xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có mang những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!).. 
Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm nhảy dù, biệt động quân, địa phương quân, nghĩa quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy, lột bỏ quần áo nhà binh và xin thường phục của người dân mặc vào để chạy!!!!. (?)
Người ta còn “sưu tầm” cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe. Có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có …bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng ngài đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào …sát nách, mà có những "ngài lãnh tụ", một đám quan to, tướng lớn lại yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm tự lúc nào. Bao nhiêu năm tháng nắm quá nhiều chức tước, binh quyền mà không làm gì được, để bọn giặc Hồ đem chủ nghĩa cộng sản ngoại lai vào tuyên truyền áp đặt lên người dân miền Bắc bấy lâu nay, giờ đang tràn xuống xâm chiếm miền Nam và cái đám mệnh danh “trí thức miền Nam” cũng theo đóm ăn tàn, nối giáo cho giặc.  Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan dã man hung tợn… Hằng năm và hằng năm tiếp nối chắc không bao giờ kể hết chuyện.
Người ta hát những bài “Nhớ về Sài gòn, Sàigòn niềm nhớ không tên, Sài gòn vĩnh biệt”, nghe cũng buồn ray rứt dù nội dung lời ca thường là những cuộc vui chơi, ca hát ở vũ trường, và dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm  đông như đi chợ (?). Nhưng sao  người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Sài gòn làm gì có trọn…tháng tư đen năm ấy ? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn sau ngày “ mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận)  tuyên bố đầu hàng. 
Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh (nay về bên kia thế giới rồi), đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khởi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mới bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi, hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “Em ra đi nơi này... mất hết!”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn ..lải nhải, tung hê! 
Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là Thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng tư, như Nha trang, thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “Tháng Tư Đen”.  
Ngày đó. 
Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban mê Thuột, Pleiku, từ Phú bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày giữa tháng ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ trong các phòng học làm nơi tạm trú.
Một buổi chiều, vừa từ trường về, người bạn đã chạy ào vào nhà và báo tin: “cháu chị U đã chết cháy rồi!”. Tin thật buồn với sự chết chóc đã đến gần sát. Người vừa ra đi là  một Pilot  Trực thăng, và đơn vị đang hành quân ở BMT. Tàu anh đã trúng đạn phòng không của địch quân, bùng cháy như cột lửa ở trên không. Chạy đến nhà chị U, nhìn chị và bà con trong nhà khóc than,  cả bọn chúng tôi vừa đến cũng chụm đầu lại khóc.
Về nhà lại gặp một người bạn không quân tìm đến thăm (là ba của các con tôi hiện tại), khi biệt đội của anh từ Cần Thơ, biệt phái ra để phụ giúp với các đơn vị bạn. Đáng lẽ ở căn cứ Pleiku, nhưng vì đơn vị trên đó cũng đã di tản, nên các anh lại kéo xuống phi trường Nha trang. Ngồi nghe anh kể những bữa đổ quân khó khăn với quá nhiều phòng không địch, những chuyến hành quân tiếp tế, và đặc biệt là cứu “dân chạy loạn”. Từng đoàn người, đoàn người từ các tỉnh cao nguyên chạy về,  phải đi bằng đường rừng, vì quốc lộ 21 đã bị VC chiếm mất từng đoạn. Họ băng rừng, vượt suối bồng bế gánh gồng mà đi, có người đàn bà đã “sanh rớt” trên đường chạy loạn, may mà Trực thăng đã nhìn thấy nên đáp xuống  chở về nhà thương. Có hôm anh phải bay thật thấp để hướng dẫn đoàn người đi lạc trong rừng sâu có thể đi ra con đường mòn lớn hơn mà về được Khánh Dương (anh Th/tá ĐS Phước-Công binh, là một trong số “người di tản buồn” đã nhận ra tài xế “chiếc trực thăng cứu nạn” trong những ngày gian khổ đó, nên “quí anh nhiều” ở những ngày tháng sau này). 
Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển. 
Một vài ngày cuối tháng ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,
Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền Nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơi giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang vừa đón một lớp người mới đến, có  một số “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ và làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu hải quân cặp bến cảng Cầu Đá??? Chẳng ai dám ra đường thường xuyên nữa, trong số đó có tôi, nếu không có việc gì cần và không có người đàn ông đi chung.
Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà  con gái sẽ  bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi tải đạn. Nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên quốc lộ số một kia đang thấy trên truyền hình. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn,  mặc dù cá nhân tôi đã được người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi đêm cuối cùng của tháng ba khi đơn vị anh trở về căn cứ ở miền Tây..
Buổi sáng ngày một tháng tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham mưu, là một trong những thành viên của  phái đoàn về Nha trang dự họp với tướng Ph. mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi. Cổng đóng, quân cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài. May quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một “ông quan lớn”.
Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, chán nản tột cùng. Vừa về đến nhà, đã thấy người bạn phi công phản lực vừa từ Phan Rang chạy về, anh nói muốn đến...từ giã tôi, anh hỏi tôi có muốn di tản không? vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi đang nói lời chúc Anh trên đường về Sài Gòn được bình yên, thì người chị bà con tên Sương Mai xuất hiện, tôi đẩy chị lên yên sau chiếc xeLambretta cùng đi với anh, và “tặng” chị chiếc khăn quàng Hướng đạo sinh tôi đang đeo trên cổ để chị làm kỷ niệm. Tôi nhìn theo mà mắt cay cay, miệng vẫn lầm thầm cầu nguyện cho hai chị em đến nơi an toàn,  dù gì, chị cũng từng là “chị kết nghĩa” của anh ấy.
Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ “trấn an” ba má và gia đình tôi rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh quốc cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi nghĩ đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để trấn an chứ họ cũng đâu biết gì hơn. (sau này đọc được trong “Cuộc Đời Binh Nghiệp của ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN- Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH do tác giả Đặng Kim Thu viêt có đoạn nói đến chuyện chia đất từ Đèo Cả là có thật. Xin trích:
Ngày 13-3-73, Tướng Trưởng được lệnh vào Saigon họp. Trong phiên họp tại phòng hành quân ở dinh Độc Lập, có sự hiện diện của Thủ Tướng Khiêm, Trung Tướng Quang, và tôi (ông Viên) TT Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ VN, xóa vùng Cao Nguyên và Vùng I, rồi vạch một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang, rồi nói rằng chúng ta sẽ còn giữ phần đất dưới đường này. Từ đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận GPMN. Ông Thiệu nói với ông Trưởng:
- “Đây là chỉ thị của tôi. Phải thi hành, nhưng giữ bí mật. Không được nói lại cho ai!” (có lẽ tin này rò rỉ ra ngoài.)
Xong buổi họp, Tướng Trưởng theo tôi về văn phòng, có ý trình bày thêm về lệnh của ông Thiệu. Ông Trưởng nói:
-”Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống, vì tôi đã hứa với đồng bào ở Huế là tôi sẽ giữ Huế. Xin Đại Tướng chỉ thị một tướng khác để làm việc đó.") ngưng trích.
Khi họ đi rồi, ruột gan tôi héo hon quặn thắt, nhất là mỗi khi nghe tiếng máy bay cất cánh rời phi đạo xé nát không gian, hay những tiếng trực thăng xành xạch rồi nhỏ dần về hướng nam…
Cô bạn S. hàng xóm nhà đối diện, xách một túi hành trang chạy sang, rủ tôi cùng xuống bến Cầu Đá, vì “tàu hải quân”, mà anh trai của cô là Hải quân thiếu tá trên đó, sắp rời bến cảng, tôi đành chúc cô thượng lộ bình an, tôi không nỡ bỏ gia đình mà đi được.
Buổi xế chiều đó, một người anh họ mặc đồ Lính đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Tuy Hòa vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị trúng đạn, tìm đường về nhà tôi để buộc lại vết thương. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét lên: “sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!”
Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên ngoài đường: ai có con gái lớn hãy tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó..
Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt chiếc Yamaha của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, hai em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe, sẽ chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có khu vườn  trồng nhiều cây ăn trái, với căn nhà nhỏ.
Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm, vậy mà tôi cũng phóng nhanh qua mấy con đường để ra xa lộ số Một, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài lên Thành với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..…và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường. 
Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, bỗng nghe có tiếng gọi tên mình. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung tâm huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây vì kẹt cây cầu đàng trước.
Chia tay với quí anh trong bịn rịn, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng  đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “rút chạy” mà không biết sẽ ra sao ngày sau???  
  
Mới lách luồn một đoạn ngắn, lại có ai gọi mình, quay lại gặp người anh lính Đại úy làm trong ...Quân sự mấy bên gì đó, con của người cậu ruột cũng trong đoàn người di tản, anh nói “ba đứa lui ra sau, anh...lái xe cho!”, nhưng anh vừa ngồi lên yên, thì cái bánh xe...xẹp lép, thế là anh...leo xuống, chúng tôi chạy tiếp.
Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda đàn ông, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng đoàn người đang ở trên cầu cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gìvà cũng không thể dừng lại khi mà đoàn xe sau cứ lao tới. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? Hóa ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người…đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Và trong đó có cả chính bản thân tôi. Buồn thật!
Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống. Mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Những hạt nước mưa nặng nề rơi xuống như muốn cuốn trôi dùm nỗi uất nghẹn trong tim của những con người bất lực, đang thua chạy mà không biết tại sao mình bị thua? Nhìn ra đường, đoàn người ướt nhẹp vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy. Đoạn đường Suối Dầu này, ngoài những khu vườn trồng cây ăn trái với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng bảy…(?)
Chiều xuống dần, mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên quốc lộ I.Lúc này đoàn người di tản đã đi về phía trước, chỉ còn những xe nhỏ chạy vụt qua. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa, Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng  trên đầu mộ.
Sáng ngày 3 tháng tư, anh lớn tôi vào gọi về vì “quân giải phóng” đã vào chiếm thành phố Nha trang hôm qua. Để hai em tôi ở lại trong vườn vì người đã đem thêm gạo mắm cho các em đủ sống một thời gian, vì về ngoài NT đang lộn xộn lắm. Riêng tôi phải về vì dưới phòng Giáo dục, “chánh quyền mới đã tiếp quản” và cho người đi lùng sục từng nhà kêu gọi các Thầy cô giáo “không di tản” phải ra trình diện gấp. Anh tôi nói có một nhóm người đã ra tận đèo Rù Rì để đón mừng “Cách mạng"(?), và hú hồn vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó.  Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để hãm hiếp (?). Về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường, nhà xí v..v…Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi, cùng lúc, những căn cứ quân sự, những cơ sở chính quyền, nhà dân bị bỏ trống, đã bị nhiều nhóm người khác nhau đến “hôi của” đốt phá. Thành phố đã hỗn loạn giờ thêm cảnh điêu tàn, nhếch nhác..
Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “tháng tư đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố. Những chiếc xe “molotova” kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc trên đường, trên xe chở đầy những bộ đội mặc quần áo màu cứt ngựa và nón cối đội đầu, cả người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn “quân giải phóng” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện  ăn mừng chiến thắng (?).
Giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó truyền đi qua làn sóng đài phát thanh, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình, và phát thanh những bài hát có lời "ca tụng bác Hồ" với giọng the thé đi lên, đi lên chói óc. Những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối mặt ngơ ngơ ngáo ngáo, nhìn xiên nhìn xéo trầm trồ, xuýt xoa, cứ vừa đi vừa nói chuyện với nhau bằng chất giọng lơ lớ như người miền núi mà thở dài ngao ngán và tự hỏi: những người chiến thắng đây sao?. Mặc dù người thành phố đã cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.
Chuỗi ngày tiếp theo thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng tư đen đúng nghĩa. Thành phố trống vắng, hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập, giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe. Đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi sách báo, tài liệu, của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang (nhà tôi đã chôn nguyên một “thùng phuy” sách báo cũ đủ loại ở sân sau nhà, về sau đào lên cho bạn bè...mượn coi, và bị ...mất hết). 
Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom vào mỗi đêm, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ“Mặt trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh, “quân giải phóng” ra rả loan tin “bọn Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Ngụy miền Nam ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “cán bộ xây dựng nông thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi vào Nam, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện sẽ được “khoan hồng”, đã bị “cách mạng dẫn độ” về T.Hoà và bị “chặt đầu” không chút nương tay. Ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để  ráp lại cho nguyên vẹn hình hàihầu mai kia còn... “ăn cúng”. Có người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội” bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương, dù người bị mất cắp “năn nỉ van xin bộ đội khoan hồng đừng xử bắn”. Nhưng những con người vô cảm kia vẫn thi hành mệnh lệnh. Người dân thành phố cảm nhận được nỗi mất mát tột cùng nhưng không biết làm gì hơn. 
Những Thầy Cô giáo như chúng tôi, vào những ngày sau đó, buổi sáng bị bắt buộc phải trở lại trường để “học tập chinh trị”. Nhưng buổi chiều không đến trường, cứ khoảng hai giờ là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, khu nhà ở “cải lộ tuyến” hoặc khu Đại Điền xin ngủ nhờ qua đêm, chọn những gia đình có “hầm trú ẩn”. Vì cha mẹ già sợ bom đạn từ “phe ta” trở về thả bom, tai bay họa gửi chẳng biết đâu mà tránh. 
Dù đã đi khỏi thành phố, nhưng nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng phải chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Ngụy” không còn trở lại thăm viếng tặng bom. 
Hỡi ơi! Khi “rút chạy”, những người “có thẩm quyền” đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, như tài liệu văn phòng, những hồ sơ cần thiết, hay những cây cầu chiến lược để xe giặc khỏi đi qua. Giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến Thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người “tị nạn” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học lớp năm của cô Q hay Y(?), phía bên dãy trường Sư phạm Nha Trang (hồi đó S P N T chỉ có hai lớp học, nên họ dùng mấy phòng của trường Nam, và chúng tôi là những thầy cô giáo dạy và “chấm điểm”cho môn “sư phạm thực hành”), vì quả đạn trúng sập căn phòng . 
Buổi sáng trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn tên T.(có chồng là sĩ quan Hải quân đã không liên lạc được) bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc ròngvì đường vắng tanh đến lạnh người, lại tủi thân, xót phận của người bỗng chốc thành kẻ thua cuộc, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp, thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng….
Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua. Những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của tháng tư đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” luôn đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô giáo phải đến trường, nhưng có lúc mới đi đến giữa đường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi trên làn sóng đài phát thanh chát chúa oang oang: “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của bọn Ngụy tại Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…”thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!”. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng. 
Ôi Tháng Tư Đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó. Cho đến một ngày cuối tháng tư cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của “phe thắng trận” với “đại thắng mùa Xuân”! Những ngày mà “đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai béo che khuất nẻo tương lai” bắt đầu một chế độ mới. Khi mà nửa đêm về sáng của ngày mồng một tháng 5, người dân thành phố Nha trang đã bị những “cách mạng 30” đến gõ cửa từng nhà, kêu gọi tập trung tại sân vận động để “chào mừng lễ lao động” nhưng thật sự là ăn mừng chiến thắng, khi mà những loa phóng thanh bắt đầu chỉa vào nhà dân lúc 5 giờ sáng, bắt người dân phải nghe những lời ca…chói óc, the thé ca tụng “bác và đảng” (những Thầy Cô giáo về sau cũng phải hát thuộc lòng những bài hát đó ở trong trường để dạy lại cho học trò, nếu còn...đứng lớp). Những bản tin thắng trận, những “tội ác Mỹ Ngụy”…v…v được loan tải từng giờ, nghe mà ớn lạnh. Tiếp theo là những ngày ăn cơm độn với gạo mục, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu đi cửa hàng lương thực chờ chực cả nửa ngày mới mua được vài ký rau muống già….. Người thì bị đi tù mút chỉ không biết ngày ra, quá nhiều gia đình ly tán. Người tuổi trẻ bị bắt vào đội “thanh niên xung phong” lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn, chịu bao nỗi khổ ảỉ đắng cay. Đã vậy thêm lớp người mới mang băng đỏ, chuyên đi lùng sục bắt bớ những người “chưa chịu tuân thủ” lệnh của chính quyền mới, vào nhà vơ vét tài sản của dân lấy cớ tịch thu “sản phẩm đồi trụy của Mỹ Ngụy”...vv..vv,  đã tạo thêm nỗi kinh hoàng cho những người dân ở thành phố vừa bị đổi chủ…, những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….
                                                Lê Thị Hoài Niệm 
                                                 Tháng Tư Đen 2016


~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___

Posted by: "Nhat Lung"

Sunday, April 10, 2016

Sài Gòn Sau Ngày Bị Giặc Chiếm 1-5-1975

From: "Ho Dinh
Sent: Saturday, April 9, 2016 12:34 PM
Subject: [DDCL] Sài Gòn sau ngày bị giặc chiếm - MG

 


--
Kính Chuyển
MG

Sài Gòn Sau Ngày Bị Giặc Chiếm
1-5-1975
MƯỜNG GIANG


          Vài giờ, sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean, rời nóc bằng của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN, để bay ra biển Ðông, lên hạm về nước trong danh dự. Cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch “ nước mắt trước cơn mưa “ là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm.

           Ðây cũng là thời khắc mà tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Q.Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các Ðơn Vị Miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975. Ðây là giờ qui định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp đồng, với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Ðó cũng là thời gian lộ mặt của các đội Biệt Ðộng, Ðặc công.. từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Ðó là giờ qui định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..
         
          Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN, do cọng sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo cảnh chiến tranh, để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất. Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Ðại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp, miên viễn bị bia miệng nguyễn rũa.), như những thành phố tại Nga Sô Viết, trong thời kỳ cách mạng tháng mười năm 1917. Cũng nhờ cách mạng, giải phóng nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước, trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa, để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ, trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi, từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Ðông Ðức, Ðông Âu tan hàng, trước chủ nghĩa tự do, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.

          Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh trong suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất , đều viết : ‘Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Ðông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kệp, nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi, ngay cả trí thức nhà báo khao bảng, cũng phải đi ăn mày.. ’ ’ ’ Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.

          Củng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào Trung tâm quyền lực nhất của Nam VN. Ðó là Dinh Ðộc Lập, mà mới vài giờ trước đây, chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức. Nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt, tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ, tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.

           Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa xuạn ? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày ‘ Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt ‘, qua các tác phẩm mang tên ‘ Mùa Xuân Ðại Thắng, Ánh Sáng của lịch sử .. ’ ’ ’

          Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian Miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương tây thân cộng lúc đó, quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường, để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn, nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Tho, chị Bình, chị Ðịnh.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do..

           Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung, di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán , cảnh Miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cưc, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại, nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy, để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ, đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?

          Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó, để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập 304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sỹ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Ðến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào.. thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, trên vãn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễn xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.
         
"... buồn đã khắc trên từng con phố nhỏ
đường đổi tên, nhà cũng vắng người thương
bạn bè xưa giờ lạc khắp mười phương
trường lớp cũ, cũng dãi dầu hoang phế

quên sao được tháng tư đen máu lệ
người hại người bằng độc lập hòa bình
người giết người với súng đạn đồng minh
mồ vô chủ, biển xác người trôi giạt

tháng tư đen, quê hương mình tan nát
triệu mẹ già, khóc biệt đám con thơ
tuổi hoa niên, căng nhựa sống đợi chờ
đã héo úa vì thân trai thời loạn

tháng tư đen, triệu người sôi lửa hận
vết thương lòng thêm rách nát tả tơi
ta đứng khóc nhìn biển rộng mù khơi
tìm nhân ảnh trên tình người sắp cạn.."

          Và ngay khi Sài Gòn vừa lọt vào tay giặc, tháng 5-1975 VC lập Ủy ban quân quản thủ đô và Ủy ban cách mạng tại các tỉnh, ra lệnh phong tỏa ngân hàng và chiếm đoạt tất cả các xí nghiệp cả nước, công hay tư, từ lớn tới nhỏ. Bắt đầu từ đó, các xí nghiệp được điều hành bởi một thành phần quản ly mơi, gồm toàn cán bộ cọng sản miền Bắc hay tập kết. Riêng chủ nhân thực sự của xí nghiệp thì giữ vai trò ‘ cố vấn kỹ thuật’. Ðồng thời ra lệnh kiểm kê hết các cơ sở công nghiệp nhỏ và nhà buôn. nhưng ác liệt nhất vẫn là hai đợt cướp của, qua cái danh từ mỹ lệ : Ðánh Tư Sản Mại Bản .

          Vào tháng 9-1975, VC ra lệnh bắt giam hay quản thúc tại nhà, tất cả đại kỷ nghệ gia, thương gia, chủ cao ốc, khách sạn, nhà hàng, nhà in, tiệm sách báo.. tất cả hơn 100 người. Họ bị đuổi ra khỏi cửa, sau khi toàn bộ tài sản gồm nhà cửa, xí nghiệp, xe cộ, tiền bạc vàng ngọc .. bị đảng trấn lột hết. Ðồng lúc là đợt đổi tiền đầu tiền. Cũng từ đó đồng bạc VNCH không còn giá trị và được đổi thành tiền Mặt Trận, tối đa mỗi gia đình được 200 đồng ( tương đương 100.000 tiền VNCH). Theo VC, miền Nam lúc đó có hai loại tư bản là Tư sản thương nghiệp bao gồm đại thương gia, trung thương gia, chủ tiệm ăn. được đảng gán tội bóc lột nhân dân, đầu cơ tích trử để trục lợi, nên phải có tội .Còn giới buôn bán nhỏ và các tiểu công nghệ.. là thành phần sản xuất có ích cho xã hội chủ nghĩa nhưng cũng phải được cải tạo để theo đúng đường lối của chế độ đề ra.

          Từ tháng 3 -5/1978, để tiêu diệt và xóa sổ những gì còn lại của nền kinh tế VNCH trước năm 1975, VC lại đánh tư bản miền Nam đợt 2 vào ngày 23-3-1978, vô cùng qui mô và ác liệt, chẳng những tại thủ đô Sài Gòn, mà ở khắp các thành thị từ vỉ tuyến 17 vào tận Cà Mâu, Rạch Giá, Hà Tiên. Lần này coi như vĩnh tuyệt, vì tất cả tài sản của người miền Nam, từ tiền bạc, vàng ngọc, nhà cửa, cơ sở thương mại, lều nước mắm, nhà máy xay lúa, ghe thuyền đánh cá, xe đò, xe vận tải và các loại xe nhỏ.. đều bị đảng cướp giựt, tịch biên một cách công khai.

           Tàn nhẩn hơn, đảng còn ra lệnh cho những nạn nhân tay trắng này, trong vòng một tháng phải ra khỏi Sài Gòn, để đi kinh tế mới. Riêng tại Sài Gòn, tính đến ngày 3-5-1978 đã có hơn 30.000 người, bị đuổi khỏi mái ấm gia đình và nơi chôn nhao cắt rốn, để vất vưởng tha phương tới các vùng gọi là kinh tế mới, được thiết lập sát biên giới Việt-Miên trong các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long,An Xuyên, An Giang, Ðồng Tháp Mười, Châu Ðốc Lâm Ðồng.. hay gần hơn nếu còn chút tiền chạy chọt, sẽ được đưa tới các nông trường tập thể Lê Minh Xuân, Nhị Xuân, Thái Mỹ, Phạm Văn Cội 1 và 2, ở Củ Chi và Hậu Nghĩa.

          Tóm lại ở đâu đồng bào cũng lâm vào tuyệt lộ, dù là công nhân tại các nông trường với đồng lương chết đói. Riêng chủ nhân xe đò, ghe bầu, tàu đánh cá, xe vận tải.. được xem là thành phần tư sản dân tộc nên trở thành xí nghiệp công tư hợp doanh nhưng do nhà nước quản lý, cán bộ đảng làm giám đốc, còn người chủ thật sự, thì lên chức cố vấn kỷ thuật. Tuy nhiên giới này còn được chút an ủi, là được cho phép ở lai thủ đô, có hộ khẩu tem phiếu và hưởng qui chế công nhân viên nhà nước, từ 60-85 đồng bạc Hồ. Có một ít được lãnh lương đồng hóa chuyên viên, lương 105 đồng. Nhưng lở hết rồi, có không muốn cũng đành chịu. Sau rốt là những người buôn bán nhỏ, được đảng cho hành nghề trong các khu vực tập trung, với giá cả đã có sẳn.

          Ngày 25-4-1978, thủ tướng Phạm Văn Ðồng đã ký một nghị định tuyệt mật, mang số 78, quyết định thống nhất tiền tệ cả nước và được thi hành bắt đầu ngày 3-5-1978. Cũng Phạm Văn Ðồng ký thêm một nghị định ngày 31-3-1978 , bãi bỏ tư thương chuyễn vận hàng hóa từ nông thôn ra thành thị. Chính sách bế quan tỏa cảng, phong tỏa thành phố này, với mục đích làm tê liệt giao thông giữa các tỉnh, chia các vùng đất ở miền Nam của VNCH thành các quốc gia riêng biệt.

          Tất cả theo đúng đề cương định hướng của Lê Duẩn, muốn biến mỗi huyện là một đơn vị kinh tế thời bình và là một Sô Viết Nghệ Tĩnh , một đơn vị chiến đấu trong thời loạn. Nhưng trên hết là phải cô lập thủ đô Sài Gòn với các tỉnh miền Nam, qua thiên la địa võng kiểm soát trên bộ cũng như đường thủy. Tóm lại chỉ mới mấy năm Sài Gòn bị mất tên, VC đã đạt được mục đích cách mạng, là bần cùng hóa giới tư sản thủ đô, ăn mày hóa cả miền Nam, hủy bỏ nên kinh tế thị trường để  thay thế bằng chính sách kinh tế hoạch định quốc doanh đem từ miền bắc vào. Kết quả tất cả hàng hóa và sản phẩm tại các tỉnh thị ngoài Sài Gòn, bị ứ đọng vì không xuất tỉnh được nên cuối cùng phải bán tháo đổ, rẽ mạt cho NHÀ NƯỚC. Từ đó đảng lại chở những thứ này về Sài Gòn, bày bán trong các cửa hàng, xí nghiệp, khu chợ của đồng bào vừa bị tịch biên, với sự độc quyền

          Nhưng võ quít dầy có móng tay nhọn, kẻ cướp luôn gặp bà già, đó là một chân lý. VC độc ác, bất lương, bạo tàn nhưng lại quá ngu si, luôn tưởng mọi người im lặng trước hành động thảo khấu của đảng và cán bộ, là đã đồng tình và sợ chúng. Vì vậy chúng lại càng tham lam, hấp tấp, đem các luật lệ rừng rú thú vật của cái gọi là xã hội chủ nghĩa, cùng với chính sách tập thể hóa cưởng bách đất đại, để khống chế và nắm độc quyền kinh tế của người miền Nam ở thành thị cũng như nông thôn.

           Tức nước vỡ bờ, VC bị dội ngược vào tường, vì gặp phải sự chống đối của toàn thể đồng bào VNCH, chẳng những tại Sài Gòn-Chợ Lớn mà ngay cả nông thôn miền Nam. Hậu quả nông dân không bán nông sản cho đảng theo gia rẽ mat, khiến cho hệ thống thương nghiệp quốc doanh xập tiêm vì khan hiếm nhu yếu phẩm, làm cho giá cả tăng vọt. Một sớ lớn nông dân tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nại lý do sưu cao thế nặng, nên tự ý bỏ ruộng đất hoang không thèm canh tác. Do trên nạn chợ đen, chợ trời phát triển khắp nơi với tình trạng lạm phát, dù khắp nơi đầy nghẹt các trạm kiểm soát nhưng hàng chui từ ngoài vẫn đổ về Sài Gòn, đủ cả gạo thịt cá rau quả, vì đã móc ngoặt, hối lộ, bỏ chân với công an và cán bộ địa phương..

          Tình trạng dân đói lại càng bi thảm hơn, trước thảm cảnh của những gia đình bị đuổi lên vùng kinh tế mới, nhất là ở các chốn ma thiêng nước độc sát biên giới Việt-Miên, do đói rách, tật bệnh, nên lại liều chết quay về Sài Gòn, sống cảnh đầu đường xó chợ. Trong số này, phần lớn là thành phần quân, công, cán, cảnh và cả thương phế binh VNCH. Vì CS Hà Nội luôn coi Miền Nam như một thuộc địa, nên khi vào được Sai Gòn nhờ may mắn, đã vơ vét hết các chiến lợi phẩm về Bắc, kể cả những nguyên vật liệu rất cần thiết cho sự phát triển nền công kỷ nghệ VN. Từ sau năm 1977, hầu hết các cơ sở công kỷ nghệ luyện kim, dệt, chế biến thưc phẩm tại Sài Gòn và vùng phụ cận, lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng vì nguyên liệu đã kiệt quệ. Ðây cũng là thời gian VC bị thế giơi bên ngoài, từ Mỹ, Trung Cộng, Nhật , các nước trong Hiệp Hội Ðông Nam A.. cho tới Ấn Ðộ, Liên Âu.. tẩy chay và quay mặt, trước những hành động thực dân trong nước, cũng như đã công khai làm nô lệ cho Liên Bang Sô Viết tại Châu Á.

          Ngày 9-6-1980, Trương Như Tảng bộ trưởng  trong chính phủ  GPMN, chạy thoát ra ngoài, tới Ba Lê họp báo, tố cáo cọng sản Hà Nội tham tàn bạo ác, ngu dốt rừng rú, nên chỉ mới một thời gian ngắn cai trị Miền Nam, đã làm cho Sài Gòn sụp đổ toàn diện về kinh tế, thiếu thốn lương thực và tệ nạn tham nhũng bất công cửa quyền, đã khiến cho hầu hết các công ty hợp doanh còn lại khánh tận vì thuế theo luật rừng. Cũng nhờ đảng quyết tâm cải tạo kinh tế, mà dân nghèo càng nghèo, bất công bất bình đẳng xã hội càng trầm trong gấp trăm lần trước ngày 30-4-1975, vì sự ham muốn hưởng thụ vất chất tiện nghi, của cán bộ đảng từ trên xuống dưới, nghĩa là chỉ cần có tiền đút lót, thì việc gì cũng tốt, cũng xong.

          Ðể lấy lại nềm tin cứu đảng, ngày 3-2-1980, nhân kỷ niêm thành lập 50 năm đệ tam cọng sản quốc tế, tổng bí thư Lê Duẩn đòi diệt trừ nạn tham nhũng, hối lộ, lạm quyền và hứa tận diệt, qua chính sách ‘ ba lợi ích’, lại tạo cơ hội thêm cho cán đảng tham ô lộng quyền, móc ngoặt với gian thương đem hàng hóa trong các cửa hàng quốc doanh bán ra thị trường chợ đen. Ba Tàu Chợ Lớn lại trổi dậy, đóng vai trung gian các nghiêp vụ mua bán chui, giữa các Ba Tàu Hồng Kông, Ðài Loan, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, bằng cách chở hàng hóa bằng thuyền tàu tới tận hải phận VN, để đổi chác vàng, mỹ kim hoặc các thổ sản VN như gạo, tôm cá đông lạnh.. Nhờ các dịch vụ chui béo bở này, mà các cán đảng giàu to nhanh chóng, trở thành những tư bản đỏ, trong xã nghĩa thiên đường. Cuộc dành ăn , đã khiến hai phe đảng giáo điều và đảng canh tân, thanh toán công khai đẳm máu tại Sài Gòn, làm Bắc Bộ Phủ phải xét lại vì đã nóng mặt, trong cảnh trâu cột nhìn trâu ăn, cũng thấy thèm.

          Cuộc đối đầu giữa hai nhóm tư bản đỏ Hà Nội và Sài Gòn, thật sự đã bùng nổ, sau kỳ đại hội đảng lần thứ V (27-31/3/1982), qua nhiều thay đổi chính trị nội bộ, khiến thủ tướng Phạm Văn Ðồng, lại phải cải tổ nội các lần thứ ba (1980-1982) , có 6 cán bộ trung ương đảng bị loại khỏi bộ chính trị, trong số này có Nguyễn Lam, Trần Phương, Ðinh Ðức Thiện,Nguyễn Thành Thơ và Võ Nguyên Giáp. Riêng Võ Văn Kiệt bị bứng gốc Thành Ủy Thành Hồ, về Hà Nội ngồi chơi sơi nước, trong chức vụ phó thủ tướng kiêm chủ tịch ủy ban kế hoạch nhà nước, kể cả tướng công an Mai Chí Thọ (mới theo bác về chầu tổ Mac-Lê) cũng bị lung lay địa vị.

          Phó thủ tướng Ðổ Mười được đảng giao thi hành chính sách sửa sai tại thành Hồ, với nhiệm vụ đánh tư sản thương nghiệp, trừng trị cán đảng hủ hóa tham ô, bắt đầu thi hành vào tháng 5-1983. Mục đích cũng chỉ là triệt tiêu các cửa hàng IMEX tại các quận trong thành Hồ, vì lúc đó tất cả hàng hóa xuất nhập đều do cửa hàng trung ương IMEX tại đưởng Nguyễn Huệ độc quyền. Cùng lúc Hà Nội ban hành nhiều sắc thuế nặng nề, đánh vào giới tiểu thương tại Chợ Bến Thành và các khu thương mại trong Quận Nhất, khiến cho nhiều cơ sở phải xập tiệm như Nhà Hàng Chí Tài, Tài Nam, Paris, Cola.., đành hiến cho đảng, sau đó thành công ty hợp doanh.

           Ðộc hiểm hơn, Ðổ Mười còn mở chiến dịch đánh giới tư thương bán lẽ, hàng rong trên vệ đường, viện cớ chỉnh trang thành phố. Ðối với đồng bào có thân nhân nước ngoài, Ðổ Mười ban lệnh hạn chế số quà cáp và qui định tiền nhận được, phải bỏ vào quỹ tiết kiệm. Hành động quái quĩ này, khiên cho ngoại viện của Việt kiều tụt giãm trầm trọng, vì không ai muốn của mồ hôi nước mắt , lọt vào tay đảng. Trong dịp này Ðổ Mười đã thanh toán được nhiều ngàn tư bản đỏ, trong đó cộm nhất có giám đốc xí nghiệp liên hiệp Cửu Long,bị tịch thu trên 20 ký lô vàng ròng. Cùng với nhiền cán đảng cao cấp tham ô trong các cửa hàng IMEX như Cholimex, Sidimex,Gidimex..

          Mặc kệ cho đồng bào cả nước bất mãn vì sưu cao thuế nặng, lạm phát, khan hiếm thực phẩm, thất nghiệp và tham ô càng lộng hành, Hà Nội vẫn theo đúng đường hướng TÂN CHÍNH SÁCH (NEP) của Liên Xô đề ra, ban hành nghị quyết của bộ chính trị trong phiên họp ngày 17-12-1984 để tập thể hóa đất đai miền Nam và kiểm soát tư thương. Thêm vào, là nghị quyết số 8-1985,bãi bỏ chế độ bao cấp, ấn định lại giá hang quốc doanh gần bằng giá tại thị trường.

          Cuối cùng là ÐỔI TIỀN MỚI lần thứ ba, vào ngày 14-9-1985, làm cho tiền Hồ lần nữa bị phá giá tới 90%, so với tiền trước. Ðây cũng là cơ hội để đảng Việt Cộng có cơ hội vàng ròng, đẽ ra chính sách buôn bán nô lệ mới trong thế kỷ XX, một mặt đảng đầy ải đồng bào mạt rệp vì bị cướp cạn tài sản qua ba đợt đánh tư sản và đổi tiền, tới các vùng đất ma thiêng nước độc, trên cao nguyên và sát biên giới để mở các đồn điền cao su, trà, cà phê.được trả bằng lương công nhân viên chết đói. Nhưng quan trọng nhất là xuất người làm vật lao động , để đổi lấy ngoại tệ tại các nước Liên Xô, Ðông Ðức, Tiệp Khắc.. mà theo thống kê đã có tới cả trăm ngàn người. Tuy nhiên tất cả kế hoạch của đảng hầu như thất bại hoàn toàn, dân chúng nghèo Sài Gòn vẫn bám trụ tại chổ, mua hàng chui tại chợ trời chợ đen để sống, mà không cần vào tem phiếu tq5i cửa hàng quốc doanh. Nền kinh tế chợ trời-chợ đen phát triển lên tận mây xanh, giúp cho người nghèo tại thủ đô cũng như các thành phố lớn khác của miền Nam, khồng thèm đi kinh tế mới, mặc cho công an bộ đội hù dọa, bắt bớ và khủng bố.

- Sài Gòn bây giờ cái gì cũng có :

          Như lời Tú Trinh quảng cáo, Sài Gòn bây giờ, qua danh xưng Thành Hồ cái gì cũng có, sau khi đảng VC lâm vào đường cùng ngay lúc thành đồng xã nghĩa Liên Xố và Ðông Âu tan rã và sụp đổ, cúp hết nguồn viện trợ nuôi sống Bắc Bộ Phủ. Ðói và gần chết, nên đảng VC đành mở cửa, trãi thảm đỏ chẳng những quì rước tư bản đỏ trắng, mà ngay cả kẻ thù không đội trời chung là Hoa Kỳ và Người Việt ti nạn khắp thế giới, một thời từng bị Hà Nội phỉ báng, chưỉ bới là những thành phần phản quốc, cặn bã của xã hội,trốn ra nước ngoài gái thì làm điếm, trai ăn cướp lưu manh., đâu có chừa ai, dù là kỹ sư, bác sĩ, tướng tá, nhà văn, nhà báo, kể cả sư cha và me Mỹ-Pháp

          Nghèo đói tuyệt vọng, đã đẩy mọi tầng lớp đồng bào vào cuối đường hầm, nên họ chỉ còn biết tin vào những may rũi cuộc đời, như rũ nhau đi tìm vàng ở Hiếu Liêm ( Phước Long), Tà Pao (Bình Tuy), Ba Thê (An Giang).. để mong một sự đổi đời. Ðây cũng là cơ hội để cho bọn kinh doanh thần thánh ma quỉ hốt bạc, qua những màn thông điệp, phán quyết, sấm truyền. Trong khi đó đâu đâu cũng có những ông bà cô cậu, thần thông quãng đại, chuyên môn chữa bệnh bằng bùa phép, qua các bậc tu hành lừng danh như Ðại Ðạo Tiên Cô, Thầy Bùa, Thầy Mo, Thầy Tư Nước Lạnh.. thầy cô nào tiếng tăm cũng lừng lẫy, chẳng những ở thủ đô mà còn vang dội cả nước. Tất cả đều là sản phẩm của thời mở cửa đổi mới, khiến cho người dân chẳng những đói lạnh mà còn mất hết niềm tin cuộc đời, nên phần lớn bị bệnh tâm thần, mộng du, tỷ lệ người bệnh chỉ thua A Phú Hản mà thôi.

           Ngành du lịch bắt đầu phát triển, mà cao điểm từ năm 1995, với sự hợp tác của các công ty du lịch ngoại quốc như EW và A.I.O tour (Japan), Ðài Loan.. trụ sở đặt tại Imex cũ, đường Nguyễn Huệ, đã bị cháy ngày 14-10-1991. Kèm theo trong dịch vụ béo bở này của Hà Nội, là dịch vụ kinh doanh phim SEX. Trong khi đó, thành Hồ cũng tưng bừng nạn tẩu tán vàng, đô la trong nước, ra ngoại quốc nhất là các nước Ðồng Nam Á, qua các cửa khẩu ở biên giới Hoa Việt, Nghệ An, Tây Ninh, Long An, Châu Ðốc.. tất cả đều của bọn tư bản đỏ, cán bộ gốc, chuyển ra ngoại quốc rữa thành tiền sạch, trước khi gửi tiếp vào các ngân hàng quốc tế.. nhất là Thụy Sĩ hay chuyển ngân cho Việt kiều tại Hoa Kỳ, Úc, Canada, Châu Âu.. để mở tiệm vàng, ra báo, mở đài phát thanh, tàu đánh cá, mua nhà.. Rồi thì những dịch vụ làm giấy tờ giả mạo, trong các chương trình ODP, HO, Con lai, kết hôn.. tràn lan khắp Miền Nam, nhất là tại thành Hồ.. giúp cho một số lớn can bộ và gia đình Việt Cộng, sau khi tham nhũng tom góp được một tài sản lớn, mua giấy tờ giả mạo, cưới vợ chồng giả, để trốn ra hải ngoại hưởng thụ..

          Phú quý sinh lễ nghĩa, giàu có thì phải xài tiền, không những chỉ có cán đảng, tư bản đỏ, bọn thương buôn tư bản ngoại quốc, mà cả Việt Kiều bôn phương về, vung tiền qua cửa sổ, để phanh thây xé xác những người con gái, đàn bà nghèo vô tội VN, vì tiền phải bán thân cho thú vật tại các tụ điểm ăn chơi hay trá hình ở các khách sạn hạng sang Bông Sen, Bến Thành, Cửu Long, Hướng Dương, Hải Âu, Hoa Sen, Lê Lai, Hữu Nghị,.. đồng lúc với những trung tâm du hí Bình Quới 1-2, Ðầm Sen, Hồ Kỳ Hòa và Suối Tiên. Nơi nào dù ở trong khách sạn hay ngoài trời, đảng qua thân xác của người phụ nử VN, tha hồ trấn lột những con thiêu thân, quyết lòng vung tiền, để trả thù dân tộc.

          Thành Hồ cái gì cũng có mà bó tay không thể giải quyết được, vẫn là tham nhũng, tệ doan xã hội và nạn nhân mãn. Ðể giải quyết, đảng theo Mao-Ðặng-Giang-Hồ, ban hành chính sách cai đẽ, từ sau trận mùa hè đỏ lửa 1972, do Ðại Tứơng Anh Hùng Ðiện Biên là Võ Nguyên Giáp phụ trách, qua hàm Phó Thủ Tướng đảng VC. Theo lệnh, mỗi gia đình chỉ được tối đa 2 con, sau đó được phá thai hợp pháp. Ðối với Hoa kiều từ trước tới nay tại thủ đô, vẫn sống riêng biệt như một nước khác nước VN, ở Chợ Lớn theo thống kê năm 1958 đã có 600.000 người, chiếm tỷ lệ 75% Hoa Kiều cả nước. Sau ngày 30-4-1975, Hoa Kiều Chợ Lớn lập tức phản Ðài Loan, theo Trung Cộng để dựa hơi hù VC nhưng vẫn bị đảng hốt sach qua ba lần đánh tư sản và đổi tiền. Sau đó Hoa Kiều càng thê thãm hơn, khi VC và TC trở mặt, một số nghèo bị đi kinh tế mới, trong lúc những kẻ có tiền chung vàng cho đảng để được chính thức xuất ngoại, lên tới 250.000 người, trong đó người Tàu chiếm tới 85%. Nhưng Hoa đi bớt, đã có Liên Xô và các nước Ðông Âu đổ xô vào thành Hồ từ năm 1977 nhưng tập trung tại các căn cứ cũ cuả Mỹ ở trong phi trường Tân Sơn Nhất, kể cả du hý cũng được dành riêng ở các khách sang sang trọng như Cửu Long (Majestic), Thống Nhất (Carevelle), Hữu Nghị (Palace) và Bến Thành (Rex)..

          Nhưng Tàu đi rồi Tàu lại về, chẳng những Hoa kiều mà còn đủ Tàu trắng, Tàu đỏ. Tất cả đang làm chủ thành Hồ như trước tháng 4-1975 đã khống chế mọi sinh hoạt của Sài Gòn. Ba mưới hai năm qua, thành Hồ là thế đó, cho nên người Việt dù có thương nhớ Sai Gòn tới đứt ruột, vẫn không ai muốn nhắc tới cái tên Hồ Chí Minh đang hiếp dâm Hòn Ngọc Viễn Ðông., dù biết chắc sớm muộn gì thủ đô yêu dấu cũng được mang tên Sài Gòn như tiền nhân ta đã gọi từ hơn ba trăm năm trước .

          Ngày 29-4-2008, toàn bộ Bắc Bộ Phủ trải thảm đỏ để đón ‘ Ðuốc Máu ‘ của giặc Tàu tới Sài Gòn ra Hoàng Sa, trong sự căm phẩn của đồng bào cả nước.

          Sài Gòn sau ngày 1 tháng 5 năm 1975 bị VC cưởng chiếm còn nhiều chuyện la viết làm sao cho hết đưọc ?


Xóm Cồn Hạ Uy Di
tháng 4-2016
MƯỜNG GIANG
         


__._,_.___

Posted by: Dinh Mac






On Tuesday, March 15, 2016 5:40 AM, " vneagle_11@yahoo.com    wrote:

 


                                                                        30- 04- 2016

Tưởng Niệm Cố  Tổng Thống  Ngô Ðình Diệm & Các Chiến Sĩ  QL/VNCH  Ðã Vị Quốc Vong Thân  



                           



 

 
On Sunday, November 8, 2015 11:35 PM, Lac Viet <> wrote:  

TT Ngô Ðình Diệm Và Chính Sách
Của Chính Quyền Kennedy - TS Nguyễn Anh Tuấn 





TT NGÔ ĐÌNH DIỆM --  CÁC TƯỚNG LÃNH QLVNCH ... Vị Quốc Vong Thân

 Ngày 30 tháng Tư ...  Khóc thương quê hương điêu tàn... Khóc cho những chiến hữu anh dũng đã chết trong lao tù CS .







................................




Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm & Các Chiến Sĩ QL/VNCH Ðã Vị Quốc Vong Thân  

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link