Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label Y Học Thường Thức. Show all posts
Showing posts with label Y Học Thường Thức. Show all posts

Monday, November 12, 2012

BÁC SĨ NGUYỄN Ý ĐỨC - MỘT KẺ LÁ MẶT, LÁ TRÁI ?!


 

BÁC SĨ NGUYỄN Ý ĐỨC - MỘT KẺ LÁ MẶT, LÁ TRÁI ?!
 
NGUYỄN THIẾU NHẪN
 
Dẫn nhập: Mới đây, trên các diễn đàn điện tử toàn cầu, bác sĩ Nguyễn Ý Đức có phổ biến bản tin “Lương y bất lương tri (?)” có nội dung kể lại chuyện xin lỗi của Hiệp hội Y sĩ nước Đức về những thử nghiệm mà các bác sĩ Đức Quốc Xã đã thực hiện với dân Do Thái trong các trại tập trung vào thời kỳ Hiller nắm quyền từ năm 1933-1945.
 
Cuối bài viết, bác sĩ Nguyễn Ý Đức viết:
 
“Phải chi những ai gây ra đấu tố giết hại địa chủ, lập ra những trại tập trung tù đầy hành xác người cùng dòng máu Tiên Rồng cũng có lời SORRY tương tự thì lòng người chắc sẽ hòa thuận hơn, để cùng nhau góp phần xây dựng quê hương đất nước”.
 
Có thực bác sĩ Nguyễn Ý Đức là “một lương y có lương tri” khi viết những dòng chữ như thế?!
 
Hay đây chỉ là cách chạy tội của một người tay trót đã nhúng chàm?! 
 
Theo chúng tôi được biết, năm 2009, ký giả Hồng Phúc (Lê Hồng Long) tố cáo đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại của ông Ngô Ngọc Hùng, em của bà Ngô Thị Hiền, ở DC liên lạc với VC ở Ba Lan để “chiêu hồi” VC - qua lời giới thiệu của bác sĩ Nguyễn Ý Đức, người viết rất nhiều bài về y khoa được đăng trên rất nhiều báo giấy ở hải ngoại.
 
Chúng tôi cũng được biết khi về tham dự đại hội Việt kiều trước đây tại Hà Nội, bác sĩ Nguyễn Ý Đức cũng đã được Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch của  CSVN  tổ chức ra mắt sách “Sức Khoẻ của Người Cao Niên”.
 
Theo quan niệm của chúng tôi, bác sĩ Nguyễn Ý Đức với những việc làm “lá mặt, lá trái” của ông ta mới là nguy hiểm cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Bởi vì “Minh thương dị đoá/Ám tiễn nan phòng!” (Dịch nghĩa: Giáo ngoài sáng dễ né/Tên trong tối khó ngừa  (Mỹ Lan).
 
Những loại “trí thức” như Nguyễn Hữu Liêm, Vũ Đức Vượng, Tú Gàn Nguyễn Cần, Trần Kiêm Đoàn, Trần Chung Ngọc, Lê Trọng Văn… này nọ không nguy hiểm bằng loại người như bác sĩ Nguyễn Ý Đức. Bởi vì, sau lớp vỏ bọc nhung là những kiến thức y khoa là mủi dao kịch độc đâm vào cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản của ông bác sĩ “lá mặt, lá trái” này.
Xin mời bạn đọc đọc bài viết sau đây.
 
*
Cách đây 7 năm, theo tin báo chí, khắp nơi đã tổ chức tiệc gây quỹ để yểm trợ những người trẻ Việt Nam ra ứng cử vào các chức vụ dân cử tại Hoa Kỳ vào ngày 2-11-2004 sắp tới.
 
Trong một buổi tiệc gây quỹ yểm trợ cho luật sư Trần Thái Văn do cộng đồng Dallas Fort Worth, Texas tổ chức đã thành công tốt đẹp. Theo tường thuật của bài báo thì, “Sau phần tâm tình chung chung về việc tranh cử, tranh đấu, vinh danh lá cờ vàng đầu tiên tại Cali, vận động Hội đồng thành phố cấm các phái đoàn VC vào thành phố Westminster v.v… luật sư Trần Thái Văn đã được cử tọa tưởng thưởng bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt.
 
Phần cuối của bữa cơm gây quỹ là phần trả lời một số câu hỏi từ phía cử tọa. Một lần nữa, luật sư Trần Thái Văn đã trổ tài đối đáp khéo léo liên quan nhiều vấn đề khác nhau. Việc nói tiếng Việt lưu loát của anh là một điểm son đáng ghi nhận.
 
Cuối cùng - một lời góp ý, tâm tình hơn là một câu hỏi của bác sĩ Nguyễn Ý Đức: “Tôi tin rằng luật sư sẽ đắc cử một khi được Đảng Cộng Hòa đưa ra tranh cử. Năm 1954, chúng tôi được bố mẹ đưa vào Nam vì không thể sống với cộng sản. Năm 1975, chúng tôi lại đưa con cái một lần nữa ra đi lánh nạn cộng sản. Thế nhưng bây giờ tuổi đã già, chỉ mong ở thế hệ trẻ tiếp tục đấu tranh cho quê nhà sớm có tự do dân chủ là điều tối cần. Chính luật sư và các bạn trẻ đã đứng lên giữ lại căn cước của chúng ta, đó là Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.”(do Lão Móc in đậm) Nói xong bác sĩ Đức đã mang ra một xấp cờ Vàng  và cờ Mỹ phân phát cho mọi người và nhắc nhở: “Đó chính là căn cước của chúng ta.”
 
Chắc chắn mọi người sẽ hết sức ngợi khen lời phát biểu “thiên kinh, địa nghĩa” của bác sĩ Nguyễn Ý Đức là ông ta đã ca tụng luật sư Trần Thái Văn và ca tụng những người trẻ tuổi đã đứng lên giữ lại căn cước của chúng ta qua việc đem Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và cờ Mỹ phân phát ở buổi cơm gây quỹ cho luật sư Trần Thái Văn và nhắc nhở với mọi người:
 
“Đó là căn cước của chúng ta.”
 
Thực tế, chuyện vậy mà không phải vậy!
 
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức chỉ sử dụng Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ như tấm bình phong để che đậy bộ mặt thật mà ông ta đã hành xử khi được Trung tâm William Joiner (WJC) tuyển chọn cho chương trình “((Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” được WJC dịch ra là “Tái Xây Dựng Diện Mạo Và Quê Hương Người Việt Ở Nước Ngoài”, niên khóa 2001-2002 cùng với ông nhà văn quân đội “chạy trốn tổ quốc” Hoàng Khởi Phong  và ông nhà văn “ăn cơm Quốc gia thờ ma Việt Cộng” Nguyễn Mộng Giác.
 
Theo WJC, ông Nguyễn Ý Đức là “bác sĩ Gia đình và Lão khoa, sáng lập viên tổ chức Cộng đồng Việt Nam tại Baton Rouge và phụ cận.”
 
Như trên đã viết, nếu chỉ đọc qua bản tin gây quỹ được tổ chức ở một nhà hàng ở Arlington, Texas, ai cũng thấy bác sĩ Nguyễn Ý Đức là người trí thức rất “ưu thời, mẫn thế”, sau 30 năm định cư ở Hoa Kỳ mà vẫn nặng lòng với Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, nhắc nhở mọi người hãy nhớ đó là căn cước của chúng ta!
 
Nhưng đó chỉ là cái mặt nạ bên ngoài của ông bác sĩ Nguyễn Ý Đức. Để  biết rõ mặt thật của ông bác sĩ này, xin mời độc giả đọc những trích đoạn trong bài viết “Chương Trình Học Bổng Nhân Văn Quỹ Rockefeller (Rockefeller Foundation Humanities Fellowship) Mục Đích& Nội Dung& Tuyển Chọn Nghiên Cứu Viên (Goal& Purport& Selection) của ông Nguyễn Hữu Luyện, một trong những nguyên đơn đã đứng ra kiện Trung Tâm William Joiner (WJC) vì Trung Tâm này đã thuê mướn 2 cán bộ VC là Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi viết lại căn cước của người Việt Quốc Gia tỵ nạn CS trên khắp thế giới.
 
Ông Nguyễn Hữu Luyện đã viết như sau:
 
“… Hoàng Ngọc Hiến đã lượm ở đâu những tác phẩm văn học hải ngoại mà không ai biết tới để trích dẫn những đau khổ của người Việt tỵ nạn CS như sau:
“Đọc thơ của những tác giả Việt kiều mới hình dung được nỗi buồn ly hương biệt xứ của họ. Nỗi đau thốt lên thành những tiếng kêu xé lòng…”
Bên cạnh những tiếng kêu đau khổ xé lòng “giáo sư” Hoàng Ngọc Hiến là những mảnh đời trai tráng đang trôi nổi vô định nơi đất khách quê người như ông Hiến mô tả:
“Trong bài thơ “Nguyễn Bính” của Nguyễn Bá Chung, hai câu thơ: ‘Nửa đời mới biết công danh hão/Giầy cỏ gươm cùn đến trắng tay’, ta có thể hiểu với ý nghĩa thời sự là… và những chàng trai cùng thế hệ đương long đong nơi đất khách quê người.”
Hoàng Ngọc Hiến còn cố chứng minh rằng tuổi trẻ hải ngoại cũng mang tâm trạng đau buồn như Hiến vừa mô tả:
“… họ [tuổi trẻ hải ngoại] may mắn hay hẩm hiu? May mắn sao có những buổi có đứa ngồi bãi đậu xa một mình, nét mặt buồn rầu kêu nhớ Tết Việt Nam… nhưng làm sao vơi được những khắc khoải đau buồn của những kẻ ly hương biệt xứ.”
Hai nhà “học giả” đại bịp này đang cố gắng dùng chương trình của WJC để làm cái việc gọi là “làm rõ căn cước dân tộc trong tâm hồn cộng đồng người Việt hải ngoại” bằng cách vắt nặn những lời tự thú của người hải ngoại như sau:
“Chúng tôi là những kẻ bại trận trong cuộc nội chiến, những tàn dư của một đạo quân và xã hội bại trận, gần một triệu linh hồn bị bứng trồng vào một môi trường hoàn toàn xa lạ…”
Qua lời tự thú đó, Hiến dẫn đến hiện tượng kinh hoàng trong đầu người tỵ nạn:
“Qua thư nhà tôi thấy mình còn tốt phước hơn nhiều người. Như anh tôi, như bạn bè tôi đang học tập cải tạo, có thằng đã chết. Ở đó tù tội, hành xác, hành tinh thần, địa ngục triền miên. Vậy mà tôi không thấy sướng khi ở đây. Địa ngục Việt Nam tôi trốn được. Nhưng còn cái địa ngục tôi mang kè kè trong đầu, tôi biết trốn ở đâu.”
Sau khi dùng thủ thuật bài ba lá để đưa ra những hình ảnh đau đớn kinh hoàng của người tỵ nạn CS, Hiến đưa ra một lối thoát cho những nạn nhân này của Hiến:
“… với chủ trương trở về cội nguồn, bằng con đường hòa hợp dân tộc, phá vỡ mọi biên cương, mọi định kiến, hướng tầm nhìn về tương lai, đặt lại tiền đồ dân tộc trên hận thù…” (do Lão Móc in đậm) Hoàng Ngọc Hiến cố gieo vào đầu người đọc ở những thế hệ sau hình ảnh lớp người di tản nay đã già nua, sống trong buồn thảm kinh hoàng như mang cả cái địa ngục ở trong đầu, cùng với cái bi kịch thiếu quê hương… Đám già này trở nên mất trí. Trong lĩnh vực văn học, những cái do Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi viết ra, chỉ là cách viết theo quan điểm của người viết mà thôi. Để bảo đảm giá trị cho những gì hai “học giả” này đã viết,  VC đã cho WJC “dụ” một nhân vật nào đó, có thẩm quyền y tế về khoa “người già” để xác nhận những gì Hiến và Chi đã viết.
Vì vậy WJC mới mời bác sĩ Nguyễn Ý Đức viết bài “Tìm Hiểu Về Người Cao Niên Việt Nam Tại Hoa Kỳ”.
 
Theo ông Nguyễn Hữu Luyện thì: “Thật là khó hiểu, vì chương trình nghiên cứu này đã hoàn thành từ tháng 9-2003, mà bây giờ là tháng 12 khi bác sĩ Đức gửi bài nhờ sửa sau khi bị dư luận lên án.”
 
Ông Nguyễn Hữu Luyện sau khi đọc bài bác sĩ Nguyễn Ý Đức kết luận người già Việt Nam ở Hoa Kỳ bị bệnh hoạn cả tâm thần lẫn thể xác đã có những nhận xét như sau:
“Bài viết của BS Đức chỉ có 14 trang, và là bài nộp chính thức [final project], viết theo cách thông thường như một bài luận văn với những sai lầm rất sơ đẳng. Xin mời quý vị đọc:
 
“… Tới nước Mỹ vào đợt đầu hoặc các đợt kế tiếp, hiện nay người chủ gia đình hầu như đều vào tuổi ngoài 60. Một số đông người cao tuổi Việt Nam đều có sức khoẻ từ kém tới trung bình vì những lý do như sau:
a.Hầu hết trải qua trên phần tư thế kỷ sống trong và liên hệ trực tiếp tới cuộc chiến tàn hại tại Việt Nam.
d. Họ mang nhiều bệnh kinh niên, tâm thần cũng như thế xác:
e. Bệnh thể xác (Chữ “thể xác” là từ ngữ mang ý nghĩa khinh miệt. Đáng lẽ ra BS Đức nên dùng chữ cơ thể hoặc thân thể cho thanh nhã và tôn trọng những người già này.)
f. Bệnh tâm thần: Con số người già VN tại Hoa Kỳ bị bệnh tâm thần cũng khá cao mà vấn đề chính là trầm cảm hoặc khổn lực do chấn động. Nguyên nhân nói chung là mất mát quê hương, tài sản, nghề nghiệp, thân nhân, bạn bè; những khó khăn thích nghi trong nếp sống mới; những bực bội vì gia phong đảo ngược… Bệnh ít được phát hiện vì người Việt vốn kín đáo, dè dặt không muốn nói ra khó khăn của mình, không quen với khoa tâm thần cũng như ít tin tưởng ở phương thức cố vấn, điều trị… [Phần quy trách cho hậu quả nhà tù VC] Tâm thần họ bị hoảng loạn, trí não suy nhược. Khi họ được nhập cảnh Hoa Kỳ, họ rất khó khăn hội nhập, không học được tiếng Anh. Một số đông phụ thuộc vào chương trình an sinh xã hội hoặc con cái, nhưng đa số đều cố gắng đi làm. Hiện nay có nhiều ngàn người khó khăn thi vào quốc tịch Hoa Kỳ vì kém Anh văn (trang 9).
3. Khó khăn vì sư kỳ thị mầu da, chủng tộc.
Dù đã có nhiều tiến bộ trong lãnh vực này, nhưng người Mỹ thiểu số, đặc biệt là dân châu Á vẫn chịu nhiều kỳ thị trong mọi lãnh vực. Một người già VN không thể nào được hưởng đầy đủ sự chăm sóc như người Mỹ da trắng ở bệnh viện, ở nhà dưỡng lão; khi cần sự bảo vệ của giới chức an ninh thì phải đợi lâu hơn mới được phục vụ; dù là được coi như thiểu số nhưng khi xin cho con cháu học chương trình đặc biệt thì bị xếp vào nhóm Mỹ da trắng với tiêu chuẩn cao hơn… Và còn nhiều thiệt thòi, phân biệt khác nữa chỉ vì họ không phải là dân da trắng hoặc ít nhất cũng là da đen.”
 
Ông Nguyễn Hữu Luyện đã có những nhận xét như sau về việc tìm hiểu những người già VN của bác sĩ Nguyễn Ý Đức, được WJC giới thiệu là “bác sĩ Gia đình và Lão khoa” (nhưng không cho biết là có đang hành nghề hay không) và là “sáng lập viên tổ chức Cộng đồng Việt Nam Baton Rouge và vùng phụ cận”:
1.     BS Đức nói rằng nguyên nhân của bệnh tâm thần nói chung là do mất mát quê hương, tài sản, nghề nghiệp, thân nhân, bạn bè thì hoàn toàn sai. Hai học giả CS nói như vậy thì được và đúng với vai trò lừa bịp của họ, vì họ cố tình miệt thị người tỵ nạn CS nên họ cố tình mô tả sai lạc sự thật. BS Đức là người tỵ nạn CS thì phải hiểu sự thật là thế hệ tỵ nạn già nua này tự nguyện bỏ nước ra đi, nửa triệu người chết trên đường đi tìm tự do, mà lớp lớp người vẫn cứ ồ ạt ra đi. Lớp người di tản ra đi để chờ này trở lại quê hương an bình, tự do, hạnh phúc, họ không mang tâm trạng buồn khổ và xót xa như những người tù bị đầy ải biệt xứ. Tâm trạng của những người già này giống như người chủ nhà phải ra khỏi căn nhà của mình khi căn nhà đó bị ô nhiễm vi trùng dịch bệnh nguy hiểm, và họ đợi sau khi tẩy uế xong, họ sẽ dọn về sống trong căn nhà hạnh phúc đó.
2.     Trải qua 25 năm hay 55 năm chiến tranh đi nữa thì những ông già này cũng là cựu quân nhân QLVNCH, một đạo quân có truyền thống chiến đấu bảo vệ lãnh thổ của chính mình để chống chủ nghĩa CS xâm lăng trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Khi về già thì những kỷ niệm chinh chiến là những kỷ niệm hào hùng để mấy ông già này vui vẻ ôn lại cho con cháu, bạn bè. Hai học giả CS nói rằng hình ảnh chiến tranh kinh hoàng đã làm lớp người già bị sợ hãi đến sinh ra bệnh tâm thần vì họ cố tình mô tả khinh miệt thế hệ già. Sao BS Đức lại kết luận như vậy. Nếu QLVNCH là một bọn lính đánh thuê thì vì không có lý tưởng, không có trách nhiệm, 25 năm chinh chiến có thể trở nên bạc nhược và vì sợ hãi cảnh chiến trường mới có thể hoảng loạn tâm thần như BS Đức nói.
3.     BS Đức viết về vấn đề cực kỳ quan trọng đến phẩm giá của cả thế hệ di tản mà không hề đưa ra một tài liệu tham khảo, thống kê hoặc đích thân khảo sát theo đúng phương pháp nghiên cứu. Nếu BS Đức dùng phương pháp khảo sát như làm “sample” [chọn điển hình]  rồi làm “generalization” [khái quát hóa] thì ít nhất BS Đức cũng thấy phải có một tỷ lệ nào đó còn tỉnh táo và còn tiếp tục hoạt động và sống bình thường, có lẽ nào toàn bộ thế hệ di tản sống như “cục thịt”, ở VN thì bị VC kỳ thị chính trị, chạy sang Hoa Kỳ thì bị người Mỹ kỳ thị chủng tộc, chịu đựng đau khổ, nhục nhã đến mang bệnh tâm thần. Ít nhất thì BS Đức cũng biết có hai người không bị kỳ thị chủng tộc là bản thân BS Đức và phu nhân (do tác giả bài này in đậm) Như vậy sao BS không nói cho hậu thế biết?
4.     Vấn đề kỳ thị màu da là VC đang muốn rêu rao để hạ thấp hay làm nhục thế hệ di tản bỏ nước ra đi làm thân tôi mọi xứ người. Nhưng VC vì biết rõ đời sống xã hội và luật pháp Hoa Kỳ nên không dám nói.  Nay được một vị BS nói ra thay cho chúng thì chúng mừng biết bao. Chắc BS Đức quên rằng kể từ cuộc “March on Washington” của 300 ngàn người da đen với rất nhiều người da trắng đi trong hàng ngũ biểu tình để ủng hộ vào năm 1963, và khi Tiến sĩ Martin Luther King đọc bài diễn văn lịch sử “Tôi mang một giấc mơ – I have a dream” tại Đài Tưởng niệm cố Tổng Thống Lincoln là hồi chuông báo tử của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Cái chết của Martin Luther King vào tháng 4-1968 đã dẫn đến việc lấy ngày sinh nhật của Tiến sĩ Martin Luther King làm ngày lễ nghỉ trên toàn quốc. Kỳ thị màu da, chủng tộc là những vi phạm luật pháp nghiêm trọng do đó không một người Mỹ trắng nào dám làm. Tôi tin rằng BS Đức không thể chứng minh được lời ông nói. Một bằng chứng hiển nhiên là WJC kỳ thị về employment đối với cộng đồng người Việt nên đã bị khởi tố trước Tòa án, và WJC đang phải vất vả đối phó, Giám đốc WJC, Tiến sĩ Kevin Bowen và các viên chức cao cấp của Trung Tâm đã phải đi khai cung nhiều lần để chờ tòa xét xử. Như vậy làm sao có thể kỳ thị chủng tộc khi “hatred crime” trở thành tội hình sự. Affirmative Action là một chính sách phải áp dụng nghiêm khắc. Kỳ thị theo BS Đức là xảy ra một cách có hệ thống rồi. Điều này là một lầm lẫn rất có hại cho bản thân ông Đức vì ông Đức không thể chứng minh được lời ông đã nói. Ngày nay Hoa Kỳ không những có luật bảo vệ các nhóm thiểu số, mà còn có chính sách ưu đãi những nhóm này để khỏi bị thiệt thòi so với nhóm da trắng. Kỳ thị có thể còn tồn tại trong phạm vi giữa cá nhân và trong giới hạn nhỏ. Luật pháp sẽ can thiệp ngay tức khắc.
5.     Việc BS Đức nói con em người châu Á phải xếp loại ngang hàng người da trắng khi xin học các chương trình đặc biệt. Điều đó đúng, nhưng nó là lẽ công bằng và hoàn toàn hợp lý nếu BS Đức chịu nghiên cứu trước khi viết: Vì tỷ lệ con em của Asian group dự vào các chương trình này ĐÔNG hay NHIỀU hơn dân da trắng  [tính theo tỷ lệ dân số của nhóm dân Mỹ gốc Châu Á này đối với dân da trắng]. Hơn nữa, nhiều trí thức trong nhóm thiểu số đã thấy hổ thẹn vì họ nhận học vị do ưu đãi, không phải do năng lực, nên nhiều người không muốn công nhận các đặc ân đó để giữ giá trị cho học vị của họ đối với người da trắng.
6.     Mong sao BS Đức xét lại toàn bộ bài viết để nói lên sự thật cho hậu thế nhìn thấy cha ông chúng là ai, và sống như thế nào!
 
*
 
Nhà văn Diệu Tần,  cựu Đệ Nhất Phó Chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trong “Bản văn số 07, ngày 21-3-2004” của “Chương Trình Hỗ Trợ Vụ Kiện WJC” có đoạn viết:
“Chúng tôi được đọc trước bài sơ thảo của bác sĩ đó viết do WJC phân công: “Người già Việt Nam ở Mỹ”. Bài viết hoàn toàn u ám, tiêu cực, chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, quên đi mặt tích cực, quên đi nguyên do chính khiến người già bị đủ thứ bệnh đó là do kẻ nào gây ra. Trong bài cũng có những dòng đụng chạm đến cộng sản, nhưng đây là những đụng chạm có cho phép, hoặc sẽ bị kiểm duyệt bỏ. Chúng tôi chắc chắn rằng những công chức, quân nhân Miền Nam chúng ta đã bị cộng sản tù đầy, hành hạ, đọc bài viết này sẽ vô cùng phẫn nộ.”
Điều đáng nói ở đây là đã 30 năm cầm quyền, Việt Cộng vẫn không đưa được lá cờ của chúng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Cờ của chúng đi tới đâu cũng bị chính người Việt Nam phỉ nhổ tới đó. Nếu lớp người già mang bệnh kinh niên cả tâm thần lẫn thể xác như BS Nguyễn Ý Đức nói thì ai đấu tranh, ai truyền lại ý thức đấu tranh cho tự do của Việt Nam cho thế hệ trẻ? Vụ Trần Trường ở California, vụ đài truyền hình SBS ở Úc, ai đã trực tiếp đấu tranh và hướng dẫn thế hệ trẻ? Không ai chối cãi, thế hệ già có những người bệnh hoạn cả tâm thần lẫn thân thể, nhưng tỷ lệ là bao nhiêu phần trăm? Những người già không bệnh hoạn thì sống như thế nào? Làm gì? Đã đạt được những thành quả gì? Bản thân BS Nguyễn Ý Đức cũng nằm trong số những người già hải ngoại, ông có bị đau khổ vì bị kỳ thị màu da không? Nếu có thì vì sao ông lại được mang danh là hội viên của những hội lớn, nổi tiếng của giới trí thức Hoa Kỳ?”
Và ông Nguyễn Hữu Luyện đã kết luận về việc làm của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức như sau:
 
“WJC dùng BS Nguyễn Ý Đức như một thẩm quyền xác nhận về tình trạng tâm thần của người già với hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) mà BS Đức dịch là “trầm cảm hoặc khổn lực”, hoàn toàn ăn khớp với luận điệu của Hiến và Chi. Đây là một hành động vô tình (?) vô cùng tai hại cho vị trí lịch sử thế hệ di tản. Và cũng chính vì lẽ đó, chúng ta phải cương quyết bằng bất cứ giá nào, phải vô hiệu hóa toàn bộ chương trình nghiên cứu đầy gian manh và tội ác này. Đồng thời đưa vào kho tàng văn học và văn hóa của Hoa Kỳ cũng như của thế giới một tài liệu chân chính về cộng đồng người Việt tỵ nạn CS trên khắp thế giới.” (*)
 
*
Qua tường trình của báo chí cũng như qua trích đoạn bài viết của ông Nguyễn Hữu Luyện, người ta thấy rõ bác sĩ Nguyễn Ý Đức là người có hai bộ mặt.
Trong hoạt động cộng đồng, bác sĩ Nguyễn Ý Đức đã đeo chiếc mặt nạ của người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản ngợi ca luật sư Trần Thái Văn, một ứng cử viên vào chức vụ Dân biểu tại tiểu bang California, kêu gọi giới trẻ hãy giữ vững căn cước của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản là Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.
Cùng lúc, bác sĩ Nguyễn Ý Đức có một bộ mặt khác là bộ mặt của một người trí thức “xanh vỏ, đỏ lòng” tiếp tay với bọn phản chiến Mỹ và bọn tay sai Việt Cộng trong WJC thực hiện âm mưu nhuộm đỏ căn cước và vị trí người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản trên khắp thế giới với bài viết “Tìm Hiểu Về Người Cao Niên Việt Nam Tại Hoa Kỳ”.
 
*
Trong văn học Hoa Kỳ có truyện “Dr. Jekyll and Mr. Hyde” của nhà văn Robert Louis Stevenon (1886) là một truyện nổi tiếng và rất phổ biến ở Mỹ, mô tả một nhân vật có 2 bộ mặt trái ngược, một là Bác sĩ Jekyll thì rất đàng hoàng tử tế nhưng khi bác sĩ Jekyll trở thành ông Hyde (dấu mặt Jekyll) thì y rất tàn bạo, bất nhân, xấu xa đủ thứ - Mỹ gọi là a good-evil dichotomy tức là “một kẻ lá mặt lá trái.”
 
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức “bảnh” hơn bác sĩ Jekyll của nhà văn Robert Louis Stevenon nhiều: bác sĩ Nguyễn Ý Đức chẳng cần giấu mặt, cũng chẳng cần phải thay tên, đổi họ mà vẫn giở được trò lá mặt, lá trái trước mặt bàng dân thiên hạ một cách ngon lành các cái!
 
(*) “WJC âm mưu nhuộm đỏ căn cước và vị trí người Việt tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới” do “Nhóm ủng hộ vụ kiện WJC” xuất bản năm 2004.
 
NGUYỄN THIẾU NHẪN
 
(Trích trong NGUYỄN THIẾU NHẪN TUYỂN TẬP, TẬP I đã phát hành trong tháng 1 năm 2010).
Mua sách xin liên lạc với tác giả qua email: laomoc247@gmail.com
        
       

Saturday, September 22, 2012

Sạn Mật


Sạn Mật

 

 
 
From: Thomas An
kinh chuyen tiep
 
 

Sạn Mật

Lan Hương viết theo tài liệu báo Mayo Clinic 5/2006)
Nếu bạn thỉnh thoảng lại đau bụng phía ngang với dạ dầy, dưới gan 1 chút, rất khó chịu nhiều khi lại buồn nôn nữa thì rất có thể là bạn bị sạn mật. Sạn mật rất thông thường cứ 12 người Mỹ thì lại một người bị sạn mật và mỗi năm có thêm 1 triệu người bị bệnh này và bạn phải đi khám bác sĩ ngay vì để lâu ngày sạn lớn ra càng nguy hiểm hơn.

Mật là gì ?

 
Mật là một chất có mầu xanh lá cây do gan tiết ra để đánh tan chất mỡ và giúp tiêu hoá thức ăn. Túi mật hình trái lê, nằm ngay dưới là gan để chứa mật từ gan tiết ra. Khi cơ thể cần mật để tiêu hoá thì túi mật co thắt, bóp vào và tiết ra vào ruột non qua những ống dẫn mật li ti.
 
Khi mật trong túi có vấn đề hoá học thiếu cân bình, thì sẽ vón lại thành chất cứng, lâu ngày thành sạn có thể nhỏ bé tí như hạt cát đến lớn nhất bằng quả banh golf. Túi mật có thể chứa một viên sạn hay cả trăm viên tùy theo trường hợp. Có 2 loại sạn mật:
 
1.- Loại sạn mật do cholesterol: Loại này thành hình là do những cholesterol mà mật không tiêu hoá được, cô đọng lại. Khoảng 80% sạn mật tìm thấy trong người sinh sống ở Mỹ và Âu Châu là loại này.
2.- Loại sạn mật có mầu sắc: do bệnh nhân có bệnh về máu và gan.
Xem [hình phiá trên] người ta nhận thất là khi túi mật bóp và tiết ra mật thì sạn mật cũng ra theo, nếu sạn mật quá lớn thì nó chặn lại tại những ống dẫn mật nêngây nên đau đớn khó chịu phải giải phẫu ngay.
 
Khoảng 30,40 năm trước thì người ta chỉ mổ túi mật ra để lấy viên sạn mật ra rồi khâu lại, nhưng có nhiều trường hợp chỉ vài năm sau túi mật lại có thêm sạn mật nữa, phải mổ đi mổ lại. Về sau thì y khoa kết luận là nên cắt túi mật đi luôn để trừ hậu hoạn.
 
15, 20 năm trước thì người ta phải giải phẫu lớn nghĩa là rạch 1 đường dài 10, 20 cm trên bụng mới lấy túi mật ra được, bệnh nhân phải nằm nhà thương cả tuần lễ và phải nghỉ dưỡng bệnh ở nhà chừng 1,2 tháng để trị vết thương. Bây giờ họ cũng dùng kiểu giải phẫu "cũ" này nếu túi mật đã bị sưng to.
Ngày nay [cứ theo hình dưới đây] thì họ đục 4 cái lỗ, một lỗ để đút giây video camera chiếu hình lên màn ảnh, một lỗ để đút giây đèn vào soi, một lỗ nhìn, một lỗ sỏ kéo vào để cắt. Kỹ thuật giải phẫu tân tiến này chỉ cần hơn 1 tiếng đồng hồ và bệnh nhân có thể ra về trong ngày và đi làm trở lại trong vòng 2-3 ngày.

Tại sao có sạn mật

 
Có nhiều yếu tố gây nên sạn mật. Một là có nhiều cholesterol (mỡ) trong mật vì mỡ rất khó tan và nếu trong mật lại có nhiều mỡ quá thì làm sao mật có giờ thanh toán mỡ được cho kịp vì vậy nó đóng thành sạn. Thêm vào nữa là nếu túi mật lúc nào cũng đầy mật mà không chảy vào ruột non thì nó sẽ đông lại và đóng thành sạn. Ngoài ra còn có nhiều yếu tố như:
a.- Phái tính: Đàn bà có cơ nguy bị sạn thân gấp đôi đàn ông vì kích thích tố nữ (estrogen) có nhiều mỡ trong mật, thêm vào nữa là những thuốc ngừa thai làm tăng số lượng mỡ trong mật.
b.- Lên cân quá mức: Mập quá cũng làm tăng số lượng mỡ trong mật và làm cản trở việc co bóp túi đẩy mật ra ngoài.
c.- Ăn uống: Nếu ăn uống nhiều mỡ quá và ít chất sơ cũng làm tăng mỡ trong mật.
d.- Dùng thuốc chống cholesterol: Nếu dùng các loại thuốc giảm cholesterol như TRICOR hay LOPID cũng làm tăng xác xuất có sạn mật vì thuốc ảnh hưởng đến mật.
e.- Tuổi tác: Càng già càng có nhiều cơ hội có nhiều cholesterol trong mật.
f.- Di truyền: Gia đình có người có sạn mật cũng sẽ ảnh hưởng di truyền đến người khác.
g.- Sắc tộc: Người Mỹ da đỏ đứng đầu sau đó đến người gốc Mễ Tây Cơ là 2 sắc dân có nhiều sạn mật nhất tại Hoa Kỳ.

Khi nào cần chữa trị ngay

 
Khi túi mật co thắt để bài tiết mật vào ruột non, thì một viên sạn hay nhiều viên sạn theo nhau chạy ra không có gì trở ngại cả, trừ phi viên sạn quá lớn làm nghẽn ống chuyển mật, làm bệnh nhân đau nhói không chịu được ở phần bụng trên, lan ra cả sau lưng và bả vai kéo dài từ 15 phút đến 1 vài giờ.
 
Sau đó đến màn nôn mửa, nóng, lạnh, mắt trắng da vàng, nước tiểu mầu đậm, phân mầu lợt lạt.
 
Nếu bạn có những triệu chứng như vậy thì vào nhà thương ngay. Có thể ít giờ sau, cơn đau sẽ qua đi nhưng túi mật có thể bị nhiễm trùng và bị bể ra nếu viên sạn vẫn chặn lối. Và nếu bị chặn thì lá lách cũng có thể bị sưng, có thể gây ra chết chóc.
 
Muốn chẩn bệnh sạn mật, thừờng phải thử máu để xem có bị nhiễm trùng không sau đó làm "ultrasound" là phương pháp hữu hiệu nhất để tìm sạn mật. Một cách khác là dùng một sợi giây có gắn máy chụp hình, chuyền từ cổ họng xuống để xem có viên sạn nào chặn lối ống dẫn mật vào ruột non không, nếu có thì họ có thể lấy ra ngay. Còn một cách là MRI (magnetic resonance imaging).

gallstone-symptoms-in-women 

 

Những cách chữa trị sạn mật

 
Nếu sạn mật không gây ra đau đớn hay biến chứng gì thì không cần chữa trị. Còn những viên sạn khuấy rối gây ra đau đớn thì cách tốt nhất là cắt tuí mật đi, vì túi mật không phải là một cơ phận thiết yếu của con người, nếu không cắt đi mà chỉ lấy sạn ra thì ít lâu sau sạn sẽ trở lại. Giải phẫu lấy túi mật rất thông thường tại Hoa Kỳ.

Con người sống không có túi mật ra sao

 
Sau khi cắt túi mật, thì gan vẫn bài tiết mật như thường nhưng thay vì mật được dự trữ trong túi mật thì chẩy thẳng vào các ống dẫn vào ruột non. Trong trạng thái "mất túi mật" này thì sẽ đi đại tiện nhiều hơn và phân sẽ lỏng hơn khi trước rồi sẽ trở lại bình thường. Nếu không trở lại bình thường và vẫn tiếp tục bị "tiêu chảy" thì phải nên khám bác sĩ để xin thuốc trợ mật và lá lách.

 

Friday, September 14, 2012

Mùa Hè - Uống Chanh Dây ...

Mùa Hè - Uống Chanh Dây ...
Nguyễn Viết Tân


Không biết cái ông bà nào đã đặt cho loại trái này là chanh dây. Sự thực nó chẳng dây mơ rễ má gì với họ hàng nhà chanh như cam bưởi tắc quít, lại leo sàn và có vòi quấn như dây mướp; hương vị cũng chẳng giống chanh một chút nào, ngoại trừ nó có vị chua, thế mà người ta gọi nó là chanh dây. Tên La tinh nó là Passion fruit, lá tẽ ra như hình chân vịt, hoa xòe tròn như cái tán, màu tím xen lẫn trắng trông thật đẹp.

Có ai nhớ hồi xưa ở VN có loại dưa tây không? Đó đó, hoa chanh dây y hệt như vậy và nhỏ hơn, nhưng không có hương thơm bằng hoa dưa tây. Trái này lớn bằng trái trứng gà, nếu chăm sóc tốt thì cũng bằng trứng ngỗng là cùng, thế mà có người "nổ" rằng cô ta trồng được trái lớn bằng quả cam! Trời ơi là nổ banh ta lông luôn.

Thời gian gần đây trên Net có quá nhiều người cứ nói cây nọ cây kia trị bá bịnh, hôm sau lại thấy có người nói ăn, hoặc uống cây đó sẽ bị bịnh. Đúng là những người rỗi hơi.

Tôi là người không tin giai nào gái nào, cứ bụng tin rốn cho chắc ăn, ngoại trừ 3 thứ:

-Thứ nhứt là rau má: Tôi bị tăng xông máu quá cao, tới trên 180 mà không cảm thấy nhức đầu chóng mặt chi cả, nhưng BS nói đó là silent killer nghen, vì áp lực trên mạch máu quá lớn dễ bị vỡ mạch và lúc đó là stroke, là liệt nửa người, là méo miệng, là đi khặc khừ khặc khò... và nếu nặng thì sẽ được ngồi xe lăn hoặc chết đứ đự không kịp trối trăng.

Tuy BS có cho thuốc nhưng tôi cứ quên uống hoài, cho đến một bữa kia, sau khi uống một ly nước rau má bự tổ bà nái, tôi đo thử thì máu tụt xuống dưới 100.

Cũng chưa tin hẳn, tôi ra vườn bứt một rổ, xay ra, lọc nước, bỏ vô từng chai nước lọc, đông đá để uống dần, ngày một ly nhỏ và hiện nay vẫn giữ ở 120. Đi khám thì BS nói tốt lắm rồi, vì trên 60 tuổi thì như vậy là vừa. Nên nhớ là phải thái nhỏ ra, đừng để nguyên cộng lá rau má mà bỏ vô máy xay sinh tố, kẻo nó cháy máy thì nói sao xui.

-Thứ hai là trái chà là. Người vùng Trung Đông ăn trái này rất nhiều và tỷ lệ dân số bị ung thư xuống gần zero.

-Thứ ba là trái chanh dây. Theo truyền thuyết thì bà Eva đã dụ ông Adam ăn trái táo, nhưng thực ra đó là trái passion fruit này đây. Uống nước này vừa thơm ngon, vừa chống được bịnh ung thư lại thông minh hơn người và bồi bổ cho trí óc nữa.

Có lẽ không đâu hợp với loại chanh dây này hơn vùng Nam Cali, nó xanh tốt quanh năm và trái thì lúc lỉu, nếu có giàn cho nó leo thoải mái thì mỗi mắt lá là một trái.

Theo sách vở mà tôi học được, thì đất miền nào ít mưa sẽ tốt hơn nơi mưa nhiều, bởi vì độ phì của đất không bị ngấm sâu vô lòng đất, những loại rễ chùm, rau quả sẽ không đủ sâu để hút lấy chất bổ nuôi dưỡng cây.

Nếu vậy thì ta phải bón phân. Ngoại trừ phân chuồng cần phải để hoai, chứ khi nó còn tươi, bón nhiều vào gốc cây nó sẽ bị xót mà chết, thì phần đông chúng ta bón phân hoá học.

Đơn giản và để dễ nhớ nhất là loại gì bón phân gì (?)
Trên bao phân có ghi hàng chữ số: 12-16-08.
-Số 12 đầu là làm cho tốt lá.
-Số 16 giữa là cho hoa và trái.
-Số 08 cuối là cho rễ và củ.

Như vậy khi muốn cho vườn cỏ trước nhà xanh lá, ta phải mua phân có số đầu lớn nhất thí dụ: 30-10-10.

Nếu cần hoa và trái cho nhiều, cho lớn thì 16-30-10.

Nếu trồng khoai lang, đậu phọng thì 10-10-30.

Tóm lại cây cối cũng có 3 vòng đo như phụ nữ, muốn vòng nào tốt thì mua phân có số lớn cho vòng đó: Lá- quả- rễ.

Chanh dây trồng bằng gì?
Có hai cách: Giâm cành và gieo hột.
Lấy một ít hột phơi khô, gieo trong cái ly xốp có để top soil, tưới nước luôn ẩm thì chừng một tuần sẽ có cây con.

Giâm cành thì tiện lợi và nhanh nhất. Cắt một đoạn giây khá già, vùi trong đất, nó sẽ lên nhanh và chừng một năm sau sẽ có trái, còn nếu gieo hột thì sẽ lâu có trái hơn.

Đây là loại lưu niên, không phải trồng lại mỗi năm.

Đừng tưởng có một loại thôi nghen, nhiều thứ lắm đó, nếu bạn mua đại thì không biết trái nó sẽ ra sao, chỉ có một cách chắc chắn là lấy giống từ dây nào mà trái to và thơm, chứ có rất nhiều loại khi pha ra nước chỉ có vị chua chứ chẳng thơm tho gì.

Vài năm trước đây, bạn tôi cho một dây cao chừng gang tay, nó leo ra nhanh quá, trèo lên cả bụi tre là ngà và đóng trái đầy trên đó, nên cây tre chịu không nổi, oằn xuống sân trước nhà trông bê bối quá. Trái nhiều lại mất công đi cho, nhứt là phải gửi cho bà con nơi xa, mỗi thùng tốn hết hơn mười đô cũng xót dạ lắm.

Năm nay tôi quyết định trảm bớt, chỉ để một nhánh cho vui, ai dè còn một nhánh khuất nữa, nó len lén bò lên bức tường freeway, bò dài ra chừng 20m, trái buông xuống quá trời là nhiều. Thứ này càng tráng nắng nó lại càng xanh tốt.

Từ lúc ra hoa cho đến khi chín chừng hơn một tháng, thường thì khi già nó sẽ tự rụng, đem vô nhà ít ngày nó sẽ chín, vỏ nhăn nheo như vú bà già, lúc đó nó mới thơm kịch liệt.

Hột chanh dây giống như hột trái hồng tiên (chùm bao, nhãn lồng) nhưng to hơn nhiều, cũng có lớp cơm bao quanh hột, vị chua chua.

Phải biết cách pha, nếu không thì không đạt được vị thơm ngon của chanh dây.

Cắt một đầu quả chanh, dùng muỗng cà phê mà moi hết hột ra bỏ trong máy xay sinh tố, nhấn rẹt rẹt vài cái rồi ngưng, vì nếu xay nữa, hột nó nát bét ra như hạt cát, đen thùi lùi thì coi mất phê. Nhớ đổ vô kha khá nước để một trái cỡ lớn pha ra được một ly.

Có nhiều người múc hột ra, cho vô ly nước dầm dầm, pha đường rồi uống. Làm vậy trông ly nước chán lắm, mà không thơm chút nào.

Dùng cái vợt nhúng bánh phở mà lược hột ra. Lúc này nước có màu vàng tươi của nước cam, thơm mùi giống như trái đào, cộng với mùi trái khóm. Pha đường nhiều hay ít là tuỳ mỗi người.

Khi pha xong, chế vô chai nước suối, nên bỏ ngay vô tủ đá, mỗi lần dùng thì lấy ra một chai, tan đá đến đâu, uống đến đó. Nếu bỏ chai vô tủ lạnh, một lát nước cốt đọng xuống dưới, thì khi uống phải xóc lên cho đều. Nước rau má cũng nên làm như thế.

Để kết thúc bài này, tôi đề nghị nhà nào có chút vườn, hãy trồng một giàn chanh dây, vừa lấy bóng mát vừa có loại nước giải khát ngon lành uống trong mùa hè, chứ ba cái thứ nước ngọt, nước tăng lực bán ngoài chợ toàn là hoá chất chứ không tốt chút nào đâu.

Nguyễn Viết Tân

Saturday, September 8, 2012

TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT



gỏ̃i các Cụ đọc chỏi chủ̃ rất to và dể đọc.....

Subject: Fw: TUỔI GIÀ

CẦN XEM, KHÔNG NÊN BỎ QUA.

 


TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT


 


THỜI BÁO ON LINE  
9 JULY 2011 Fr:
 
Bieu Nguyen*Paul Van
 tuoi gia
 
Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì.

 Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc,  làm việc dễ dàng 
 
Khi già tình yêu cũng không  còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì  thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi.

Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.   
 
Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình.
 
Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng.
 
Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí.
    
 
Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa.

     Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị.
 
Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ.
     Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.
 
Nhiều người  trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc.
 
Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào.

     Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cộng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.
 
    Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt.
 
Vợ  chồng cũng có khi  bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau.
 
Tuổi nầy các bà cũng  thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được.
    Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai,  khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông.

    Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác.

Tuoi gia 2pingouins
Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn.

Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn.
 
Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau ,cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau,  không gây gổ sao được? 
 
Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân.
 
Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.

    Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. 

     Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

     Lúc nầy, không  còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ , thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.

       Mối lo âu về tài chánh cũng nhẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa.
 
 Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó  đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.
      Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.
    Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí.
 
Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn.
     Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng.
      Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. 
       Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe.
 
Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn.
 
Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như  đi chơi, chứ không phải "đi cày" như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì  về nhà nghỉ ngơi.
    Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm.
 
Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này?  Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì.
 
Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi.
 
Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.
    Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống  trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn.
 
Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể.
 
Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt.
 
Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi.
 
Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:


chim dep chet
 
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi ...

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm.
 
Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai.
 
Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước.
 
Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường.
 
Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an.
 
Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy.
 
Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó.
 
Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao? 
     Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ.
 
Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được.
 
Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ.
 
Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi...

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link