Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label VNCH. Show all posts
Showing posts with label VNCH. Show all posts

Wednesday, April 24, 2013

Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng.






Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng.


 


 

 

Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng qua ghi chép của một Tình Báo Mỹ

 

 

 

Không chê người đáng khen
Không khen người đáng chê


James E Parker Jr., tác giả cuốn sách “Last Man Out – A Personal Account of the Vietnam War”,” là một giới chức tình báo của CIA rời khỏi Việt Nam cuối cùng vào ngày 1 tháng 5 (1975) sau mười năm phục vụ, giai đoạn đầu với vai trò một quân nhân, và giai đoạn sau trong ngành tình báo Hoa Kỳ.
 
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tác giả tự hào là “I was among the first men in and I was the last man out” và cuốn sách trên được Đô Đốc Elmo Zumwalt, vị Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ trẻ tuổi nhứt trong lịch sử hiện đại, đánh giá là “sống động và thuyết phục… Một bổ sung quan trọng cho nền văn học kỷ nguyên Việt Nam.” Được biết thêm, Đô Đốc Elmo Zumwalt trong thời kỳ cuộc chiến Việt Nam leo thang là chỉ huy trưởng Chiến Dịch SEALORDS (Southeast Asia Lake Ocean River and Delta Strategy) phát xuất từ Căn Cứ Năm Căn (Cà Mau). Và qua thời “Việt Nam hóa Chiến tranh,” ông đề xuất và thi hành kế hoạch ACTO (Accelerate Turnover to the Vietnam) nhằm chuyển giao và trang bị quân cụ hải quân nhanh chóng cho Việt Nam (Theo “Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam” của Nguyễn Kỳ Phong).

Đặc biệt trong “Last Man Out” rải rác trong nhiều chương, tác giả đề cập, qua ghi chép và nhận xét, đến nhiều nhân vật quân sự tên tuổi mà ông có nhiều cơ hội và thời gian làm việc chung, như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn. Tác giả mô tả tướng Nguyễn Khoa Nam điềm đạm, làm việc mẫn cán, chu toàn trọng trách tướng chỉ huy…
Tướng Trần Văn Hai thâm trầm, khép kín, hút thuốc nhiều, và có vẻ ít nhiều định kiến với các cố vấn, giới chức Mỹ. Nhưng vị tướng này có tài quân sự, đã cho tác giả biết trước vào ngày 22 tháng 4 là Sàigòn đã bị Cộng Sản bao vây rồi sẽ “mất trong 7 ngày” sau đó, căn cứ theo sự thẩm định và ước đoán tình hình quân sự và những biến chuyển chính trị rất xấu cho miền Nam vào lúc bấy giờ. Tướng Hai nghiêm mặt, nâng cao ly cà phê được đặt trong chiếc bình giữ ấm, mời tác giả cụng ly để cầu nguyện cho những chiến sĩ đã hy sinh và chúc lành cho nhau …
 
Tác giả dành cho Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (trong sách in là Canh, có lẽ tác giả quên cách viết chữ Cẩn) sự cảm mến nồng hậu. Trước khi làm tỉnh trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã nổi tiếng với những chiến công, nhứt là những trận đánh giải vây cho An Lộc, và một phần bên mặt bị thương, dù đã giải phẫu chỉnh hình vẫn còn để lại vết sẹo dài dọc theo hàm. Tác giả nhận xét Đại Tá Cẩn là “lính của lính, can trường và thanh liêm” (he was a soldier’s soldier, brave and incorruptible).



Người hùng tử thủ An Lộc, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (TLSĐ5BB) bắt tay Đại tá Tư Lệnh Phó SĐND trên đỉnh đồi Đồng Long ngày 12 tháng 6/1972.


Riêng Tướng Lê Văn Hưng, tác giả James E. Parker, Jr. ghi lại nhiều chi tiết hơn.

Trong suốt thời gian về làm việc tại vùng châu thổ Cửu Long (Vùng 4), chủ yếu tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận, tác giả do vai trò “case officer” trong ngành CIA nên luôn có dịp gặp Tướng Hưng. Ngày đầu tiên diện kiến ông Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tác giả “hơi lấy làm lạ” về cách đánh giặc và điều quân của Tướng Hưng là “thủ nhiều hơn công” khi đôi bên trao đổi và thảo luận, về kế hoạch quân sự trong vùng. “Tại sao lại đánh một trận chiến đang thua?” tác giả thắc mắc thì tướng Hưng cười và hỏi lại: “Tôi còn có những lựa chọn gì nữa đâu?” rồi chậm rãi nói tiếp – “Đây là đất nước của tôi.”

Sau nhiều tháng liên tục làm việc để lập mạng lưới tình báo tại vùng châu thổ, tác giả ghi nhận tướng Hưng dành rất nhiều thời giờ cho việc trận mạc: Sáng sớm thường đáp trực thăng đi thị sát và trao đổi với các đơn vị trưởng địa phương. Trở về họp tổng kết tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn và thỉnh thoảng họp khẩn về đêm. Càng về sau tác giả mới hiểu ra thêm tổng quan (outlook) của một ông tướng Việt Nam trong cuộc chiến giữa những người Việt Nam ngay trên quê hương của mình. Tướng Hưng tin rằng sự chiến đấu thực sự cho vùng châu thổ đang diễn tiến ở những nơi khác, có thể trong các cuộc họp hành ở Sài Gòn. Vả lại, là một người theo đạo Phật, ông tin vào định mệnh, những gì xảy ra với những hậu quả gì đem đến đều là sự an bài, xếp đặt trong vạn vật cả.

Tuy nhiên, tháng 2 năm 1975, theo đòi hỏi của cấp trên từ Cần Thơ và Sài Gòn, Tướng Hưng đã phát lệnh tấn công một lực lượng quân sự trọng yếu của Cộng Sản tại mạn đông của tỉnh Chương Thiện, nằm trong một mật khu lâu đời thuộc rừng U Minh
 
– Theo tác giả, đây là chiến dịch động binh lớn nhứt và khổ cực nhứt của Tướng Hưng với những điều kiện khó khăn và phương tiện hạn hẹp.
 
Chỉ còn cách tấn công địch theo lối “liệu cơm mà gắp mắm” thiếu hụt đủ thứ: Phi vụ không quân hạn chế nên không vận chuyển kịp thời các quân cụ, khí giới nặng, điều động nhanh các đơn vị chiến đấu tấn kích thần tốc. Quân đội Hoa Kỳ tuy để lại nhiều súng đại bác nhưng thiếu đạn, còn nhiều mìn claymore nhưng không có đủ bộ phận khởi động (activators), còn nhiều loại đạn dược, nhưng ngòi nổ đã tịt! Tuy vậy nhờ sự chỉ huy tài giỏi, sự can trường và thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lực lượng cộng sản Bắc Việt đã bị đẩy lùi sâu vào rừng U-Minh khi kết thúc chiến dịch.
 
Trận đánh lớn như vậy hẳn nhiên chiến trường tàn cuộc phải tang tóc, sự chết chóc và thương tật cả đôi bên phải nhiều. Tác giả ngậm ngùi ghi chép tâm trạng Tướng Hưng trong hoàn cảnh tàn cuộc chiến đó: General Hưng was not sure if he had, in fact, secured the net advantage. He had used much of his limited resources. For what? ...
 
He suffered extensive casualties.
 
Tướng Hưng không biết chắc là trong thực tế mình có thắng lợi thực sự hay không. Ông ta gần như đã xả láng những gì còn có trong tay. Để cho gì đây? Ông đã chịu đựng bao thứ tai ương.

Trong con người võ tướng còn có một văn nhân. Tác giả đã sống với Tướng Hưng những buổi chiều đằm thắm: Hỏi thăm chuyện gia đình, bàn chuyện nước Mỹ, chuyện thời sự, thảo luận văn chương. Kiến thức ông tướng uyên bác, nhiều nhà văn và tác phẩm văn chương Mỹ ông đề cập phần tác giả còn chưa đọc tới dù rằng là “mọt sách” đọc không dưới hai ba cuốn sách mỗi tuần.
 
Còn Tướng Hưng ưa kể chuyện lịch sử Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương. Ông ăn nói cân nhắc, từ tốn, luôn tươi cười, ngay cả những khi tranh luận các vấn đề quan trọng. Tướng Hưng có được những nét tự tin đặc biệt và quanh người ông như toát ra vẻ thanh thản, trầm tĩnh. Tánh tình khả ái, rất dễ gây được cảm tình của mọi người từ ông tướng đã thu phục “con tim” của một điệp viên Mỹ, tạo thành tình bạn thân thiết giữa hai người.

Và tác giả đã dành riêng phần lời bạt (Epilogue) để kể lại cái chết bi tráng, thương cảm của tướng Lê Văn Hưng. Dưới đây là phần dịch của Lời Bạt.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đúng lúc 7 giờ tối, Tướng Hưng, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là người bạn của tôi, đã nhắn gọi vợ ông đến văn phòng làm việc tại Cần Thơ.
 
Tướng Hưng cho vợ biết là có mười người dân địa phương đến thỉnh cầu ông đừng chống trả với lực lượng Việt Cộng đang tiến quân vô thành phố. Họ nói bọn Cộng Sản sẽ pháo kích nát Cần Thơ thành đống gạch vụn và gây thương vong cho nhiều dân lành.
 
 Tướng Hưng nói với vợ rằng ông hiểu rõ chuyện đó và đồng ý sẽ không để thành phố Cần Thơ biến thành một bãi chiến trường tuyệt vọng.
 
Ông cũng cho biết kế hoạch khẩn cấp rút lui cùng một số thuộc hạ vào một mật khu xa xôi vùng châu thổ đã hẹn trước, nơi sự sống khó tồn tại. Đầu hàng giặc không phải là một giải pháp lựa chọn.

Tướng Hưng cũng không hề nghĩ tới việc diện kiến và thảo luận với một quan chức Việt Cộng trách nhiệm trong vùng, Thượng Tá Hoàng Văn Thạch, để bàn giao vùng Châu thổ Nam Bộ cho Cộng Sản. Ông không bỏ nước để thoát thân.
 
Ông có một trách nhiệm với những quân nhân đã dành mạng sống của họ ở lại vị trí trấn thủ.
 
 Ông đã ở lại bằng một lựa chọn vinh dự. Ông phải tự quyết định sinh mạng của mình.

Vợ của Tướng Hưng bật khóc và năn nỉ ông hãy suy tính lại. “Tại sao mình không thể bỏ ra ngoại quốc giống như những người khác?,” bà hỏi chồng.

Tướng Hưng lập lại lần nữa với vợ về trách nhiệm riêng đối với xứ sở và binh lính. Ông ôn tồn và chậm rãi nối tiếp: “Mình đừng để anh bị mất lòng kiên định. Giờ đây cứ đánh tiếp cũng chỉ đem lại rắc rối và mất mát không những cho gia đình và bà con mình, mà còn cho binh lính và dân lành nữa. Và anh không muốn thấy mặt thằng Cộng Sản nào hết.”
Rồi Tướng Hưng đứng dậy, ôm vợ vào lòng, và rớt nước mắt. Sau cùng, ông nói cùng vợ: “Lẹ lên đi mình, tới mời Má và dẫn các con vô đây gặp anh.”
Khi người Má vợ và các con bước vô văn phòng làm việc của ông rồi, Tướng Hưng nói lời chia tay và cúi xuống hôn từng đứa con.

Bên ngoài văn phòng, nhiều sĩ quan và binh lính thuộc cấp lần lượt kéo tới, đứng sắp hàng ngoài sân, chờ đợi lệnh.

Tướng Hưng tuyên bố việc chiến đấu đã chấm dứt. Ông nói, nước đã mất là do lãnh đạo kém tại Sài Gòn, và xin thuộc cấp tha thứ lỗi cho ông, nếu như cá nhân ông đã có những lỗi lầm nào đó. Bầu không khí xung quanh nặng nề. “Tôi xin chấp nhận cái chết. Vĩnh biệt các anh em,” Tướng Hưng dứt câu.

Tướng Hưng đưa tay lên chào và đưa tay bắt từng người một. Ông yêu cầu mọi người ra về. Một vài quân nhân vẫn đứng tại chỗ không chịu lui bước, nên tướng Hưng buộc lòng phải bước tới đẩy và giục họ về. Rồi ông bảo vợ đừng có nài nỉ thêm điều gì nữa và chỉ một mình bước vô văn phòng làm việc.

Chỉ trong khoảnh khắc sau đó vang lên một tiếng súng nổ. Tướng Hưng đã tự sát bằng súng. (Hết trích)

Sau phần Lời Bạt, và xếp cuối trang sách “Last Man Out” James E. Parker Jr. đã chọn bài thơ của một chiến binh Mỹ ẩn danh (Làm tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam, khoảng năm 1969). Từ và ý bài thơ hoa mỹ, lãng mạn và phảng phất siêu thoát, nhưng dứt bằng một câu thơ đầy hào khí tang bồng hồ thỉ như khí tiết của những chiến sĩ, hiệp khách Đông Phương:

Do not stand by my grave and weep:
I am not there. I do not sleep…
I am a thousand winds that blow
I am the diamond’s glint on snow
I am the sunlight on ripened grain
I am the gentle autumn’s rain
When you awake in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circle flight
Do not stand by my grave and cry:
I am not there. I did not die.

Tạm dịch nghĩa:
Đừng đứng bên mộ anh và nhỏ lệ:
Anh không ở trong mộ này. Anh không ngủ đâu em.
Anh là ngàn ngọn gió thổi khắp phương trời
Anh là kim cương lấp lánh trên tuyết lạnh
Anh là ánh nắng nhuộm vàng hạt lúa chín
Anh là giọt mưa của trời thu êm ả
Khi em thức giấc lúc ban mai thinh lặng
Anh là lực xua đàn chim vụt bay cao
Những cánh chim lặng lẽ lượn những đường vòng
Đừng đứng bên mộ anh và khóc lóc:
Anh không ở trong mộ này. Anh không chết đâu em.

Bài thơ không tựa và tác giả ẩn danh trên, tác giả James E. Parker Jr. xếp liền ngay sau phần mô tả cái chết của Tướng Hưng để xem như vòng hoa tang cho một ông tướng cốt cách hào hoa. Bởi vì trong đời thường và trong quân ngũ, tướng Hưng vẫn không giấu được ngay cả dưới lớp quân phục những nét nho nhã và dáng hào hoa của một người đàn ông.
 
Nhiều người nhận xét, Tướng Lê Văn Hưng “có tướng quan văn hơn là võ tướng,” chẳng qua ông quan văn này phải khoác chiến y, áo giáp đỡ đạn trong thời chiến và trên chiến trường mà thôi! Tướng Hưng cũng có tiếng là “người chịu chơi,” nhứt là thời còn trai trẻ, sĩ quan còn mang lon cấp úy, cấp tá, nhiều phen “quậy tới bến” sau chiến trận được về lại hậu cứ nghỉ ngơi. Ôi, đó là những năm anh còn trẻ của một người trai thời ly loạn sống nay chết mai. Thiết nghĩ không ai quá khắt khe đối với ông tướng.

Nhưng rồi ông tướng không mấy năm sau đó cũng có cơ hội, gặp thời thế để trả nợ chí trai và làm đẹp non sông: Khí tiết Lê Văn Hưng đã thăng hoa giữa chiến trường Bình Long và hoa anh hùng Lê Văn Hưng đã nở đẹp tại phòng tuyến An Lộc. Và rồi hấp hối theo vận nước, phút cuối Lê Tướng Quân đã chọn cái chết bi hùng để trở thành bất tử trong lịch sử và quân sử Việt Nam.

Với dụng ý vinh danh và tưởng niệm tướng Lê Văn Hưng, nơi trang cuối của tác phẩm “Last Man Out,” tác giả James E Parker, Jr. chính vì vậy đã xếp bài thơ không tựa, không tên tác giả với câu thơ chấm dứt:
I am not there. I did not die.

Và sau chót, một câu lập ngôn được xem như quân huấn của danh tướng Douglas MacArthur:

“Duty, Honor, Country.”





Friday, April 5, 2013

Từ Chiến Trường Khe Sanh đến Chiến Dịch Tết Mậu Thân


 

 

Biên Khảo:  

Từ Chiến Trường Khe Sanh đến Chiến Dịch Tết Mậu Thân

Phan Đức Minh

 ( Thân tặng các chiến hữu cuả tôi đang định cư nơi hải ngoại )

***
1.- Tình hình tổng quát : Vào cuối năm 1967, các mặt trận khắp 4 Vùng Chiến Thuật tại Nam Việt Nam bùng nổ những trận đánh dữ dội, chứng tỏ mức độ “ leo thang “ cuả chính sách quân sự cuả Hoa Kỳ tại miền đất nước xa xôi này đã lên đến tột đỉnh . Tuy nhiên, tình hình quân sự tại đây không có gì sáng suả, tốt đẹp như sự mong muốn cuả Ngũ Giác Đài, Quốc Hội, cuả Chính Phủ cũng như nhiều Tướng Lãnh Hoa Kỳ, đã từng hưá hẹn, cam kết với nhân dân, Quốc Hội và dư luận truyền thông Hoa Kỳ khi quân đội tác chiến được ào ạt và liên tục đổ vào Việt Nam.

2.- Oanh tạc Miền Bắc Việt Nam :
* Ngày 30 - 9 - 1967 : Phi cơ chiến đấu thuộc Hải Quân Hoa Kỳ oanh tạc dữ dội Cưả Cấm, cách Đông Bắc Hải Phòng 4 dậm, điểm tập trung tầu bè vận chuyển đồ tiếp liệu, quân trang, vũ khí cho lực lượng cộng sản, chính quy và chủ lực địa phương đang chiến đấu tại Miền Nam. Đồng thời không quân Mỹ cũng đánh phá căn cứ không quân cộng sản tại Kiến An, dành cho các phi cơ MIG viện trợ từ Liên Sô, các trại binh cũng tại vùng này, và phá huỷ kho chưá nhiên liệu Phúc Lợi, gần thành phố Vinh.

* Ngày 2 - 10 -1967 : Không quân Mỹ mở rộng mức độ đánh phá Miền Bắc Việt Nam , nhắm vào các cầu, đường vận chuyển thực phẩm, quân trang, vũ khí đưa từ Trung Quốc sang, nhắm vào vùng biên giới phiá Bắc.
Trong lúc này, Thượng Nghị Sĩ John Sherman Cooper ( Cộng Hoà ) thúc giục Chính Phủ Hoa Kỳ phải tìm cách mở đường thương nghị với cộng sản ( để tìm ra lối thoát vì coi bộ không ăn được rồi ) với sự Ngưng oanh tạc Miền Bắc Việt Nam một cách vô điều kiện.
 
Ngược lại, Thượng Nghị Sĩ Gale McGee ( Dân Chủ ) lại bênh vực đường lối chiến tranh mà chính phủ Hoa Kỳ đang theo đuổi vì đó không phải chỉ là vấn đề an ninh cuả riêng khu vực Việt Nam mà còn cuả cả vùng Đông Nam Á Châu, không thể lui được. Thượng Nghị Sĩ Thomas Kuchel ( Cộng Hoà ) lên tiếng cảnh cáo “ Sự đơn phương ngưng oanh tạc Miền Bắc sẽ vô cùng nguy hiểm vì nó sẽ khuyến khích cộng sản Bắc Việt gia tăng vận chuyện phương tiện chiến tranh đổ vào Miền Nam “ . Những bất đồng tương tự như thế ngày càng thêm rõ rệt, sôi nổi trong Quốc Hội Hoa Kỳ.

Ngày 12 - 10 -1967 : Trong một cuộc họp báo, ngoại trưởng Dean Rusk đề nghị : Quốc Hội nên
tìm ra 1 giải pháp hoà bình tại Việt Nam, ngưng hay giới hạn mức độ oanh tạc Miền Bắc , vận động Liên Hiệp Quốc để đi đến một Hoà Hội Geneva mới ( ý nói Hoà Hội Geneva cũ là vụ người Pháp…tháo chạy hồi 1954, chia đôi đất nước Việt Nam.) Hà Nội thì đang tính chuyện sẽ đánh thắng và ăn lớn trong canh bạc này, khi biết rằng Quốc Hội, Chính Phủ và nhân dân Hoa Kỳ không cách nào chịu nổi cuộc chiến tranh… cù cưa, dai dẳng, tốn kém, mệt mỏi, nhất là không có chiến tuyến rõ ràng đễ Hoa Kỳ sử dụng cái ưu thế hoả lực cuả mình.
 
Cộng sản quốc tế, Hà Nội, Hồ Chí Minh và Tướng Võ Nguyên Giáp muốn đánh thắng cuộc chiến tranh này trên mặt trận chính yếu, không phải ở chiến trường Việt Nam mà là ở ngay nước Mỹ, tại Quốc Hội, trên đường phố và tại các trường Đại Học Hoa Kỳ, với sự tiếp tay cuả Đảng cộng sản Mỹ, tuy là cò con, nhưng rất được việc trên mặt trận chiến tranh tâm lý trên đất Mỹ, xuất phát từ các trường Đại Học, rồi đánh lan ra các đường phố.

3.- Phong trào phản chiến :
* Ngày 16 - 21 tháng 10 - 1967 : Những cuộc biểu tình cuả thanh niên, sinh viên bùng nổ trên các đường phố, và lan mạnh đi khắp nước Mỹ, chống lại chính sách quân dịch cuả chính phủ, đem lính đi đánh nhau ở Việt Nam xa xôi. Hàng trăm người đứng đầu, chủ mưu đã bị bắt. Điều này càng làm cho vấn đề chống chiến tranh Việt Nam thêm lớn mạnh. Cái tổ cuả nó là từ trường Đại Học Kent University, do một Giáo Sư, cán bộ cộng sản Mỹ lãnh đạo. Người ta biết chuyện này là khi Giáo Sư đó từ trần thì chính Tổng Bí Thư Đảng cộng sản Mỹ đã đọc điếu văn, ca ngợi công cuộc lãnh đạo sinh viên đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam một cách can truờng và thành công vĩ đại.

* Ngày 19 - 10 - 1967 : Thấy tình hình nội bộ nước Mỹ đã rơi đúng vào kế hoạch mong đợi cuả mình, cộng sản Hà Nội thẳng thừng bác bỏ ý muốn thương thuyết chấm dứt chiến tranh, được Tổng Thống Mỹ, Lyndon B. Johson , đề cập đến trong bài diễn văn đọc trước đó ít ngày tại San Antonio .

* Ngày 22 - 10 -1967 : Dân biểu Morris K Udall, trong một bài diễn văn đã chính thức lên tiếng xác nhận rằng Hoa Kỳ đang đi trên con đường lầm lẫn và nguy hiểm tại Việt Nam. Hoa Kỳ nên chấm dứt sự leo thang chiến tranh và lo chuyện đem những thanh niên Mỹ trở về, và giao trả cuộc chiến tranh đó cho những người Việt Nam (…the United States is on a mistaken and dangerous road in Vietnam and should stop escalation and start bringing American boys home and start turning this war back to the Vietnamese.)
* Ngày 24 - 25 tháng 10 - 1967 : Sinh viên biểu tình chống Dow Chemical Company, hãng chế tạo bom Napalm để đem đi sử dụng tại chiến trường Việt Nam.

* Ngày 29 - 10 - 1967 : Thấy tình hình thuận lợi, cộng sản tung quân cấp Trung Đoàn ( Regiment ) mở một cuộc tấn công thử sức, đánh thẳng vào căn cứ đóng quân cuả lực lượng đặc biệt Mỹ tại Lộc Ninh, nằm gần khu vực lãnh thổ an toàn hay cưả ngõ đi vào chiến khu cuả Việt Cộng, nhằm tạo thế mạnh cho những cuộc thương thảo, hoà đàm có thể diễn ra trong tương lai không xa. Mỹ tăng cường 1 Trung Đoàn cỡ 1,400 quân từ Sư Đoàn I Bộ Binh Mỹ. Quân hai bên đánh nhau xáp lá cà, chiếm giữ từng căn nhà, từng khu phố cuả thị trấn Lộc Ninh. Cuối cùng Việt Cộng chịu không nổi, đành rút quân khỏi Lộc Ninh với khoảng 2 Tiểu Đoàn bị tiêu diệt. Số khá đông phơi xác tại trận dưới sức mạnh cuả hỏa lực yểm trợ của không quân.

* Ngày 2 - 11 -1967 : Tổng Thống Johnson triệu tập 1 cuộc họp mật, gồm những nhân vật lãnh đạo có uy tín hàng đầu cuả quốc gia để yêu cầu các vị này tìm giúp một phương cách “ Làm thế nào để đoàn kết quốc gia “ ( President Johnson holds a secret meeting with some of the nation’s most prestigious leaders… Johnson asks them for advice on “ How to unite the country ?”. Nếu không, quân đội đang chiến đấu tại các mặt trận mà ở hậu phương, ngay trên đất nước Hoa Kỳ, thanh niên, sinh viên cùng nhiều tầng lớp dân chúng khác lại cứ liên tục biểu tình chống lại công việc chiến đấu, hao tổn sinh mạng và tiền bạc đó thì không thể nào chấp nhận được.

Nhiều thành viên cuả chính phủ Mỹ cũng như giới chính trị đã phải tính tới điều mà cộng sản Hà Nội mong muốn : Mỹ phải công nhận cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , con cờ cuả cộng sản Hà Nội tại Miền Nam, có quyền tham dự bình đẳng trong một cuộc Hội Nghị Hoà Đàm trong tương lai để giải quyết vấn đề chiến tranh tại Nam Việt Nam.
 
4.- Cộng sản tạo thế mạnh để chuẩn bị hoà dàm sẽ được đưa ra từ phiá đối phương :
* Từ ngày 3 đến 22 -11 - 1967 : Nhằm mục đích đẩy Hoa Kỳ và Nam Việt Nam phải ngồi vào bàn hội nghị có thể là ở Geneva Thụy Sĩ, hay Paris cuả Pháp, để giải quyết cuộc chiến tại Nam Việt Nam theo ý muốn cuả Hà Nội, giống như Hà Nội đã đẩy người Pháp phải ngồi vào bàn Hội Nghị hoà đàm hồi 1954 tại Geneva, chia đôi đất nước Việt Nam, cộng sản Hà Nội tung 4 Trung Đoàn ( Regiments ) khoảng 6,000 quân đánh thẳng vào 1 căn cứ quan trọng cuả Hoa Kỳ, căn cứ quân sự Dakto ở cao nguyên Trung Phần Việt Nam, cách Sài Gòn 280 dậm về hướng Bắc. Trước đây, cộng sản rất kỵ việc tấn công các căn cứ quân sự cuả Mỹ, một quân đội nhà giầu, mà hoả lực phòng thủ cũng như hoả lực yểm trợ cuả không quân và pháo binh rất là ghê gớm, kinh khủng.
 
Căn cứ này do gần 1,000 quân Mỹ trú đóng cho nên cộng sản dùng chiến thuật “ biển người “, lấy 6 đánh 1 , để mong dứt điểm chớp nhoáng. Chúng không ngờ Mỹ có thể tăng viện mau chóng, ồ ạt với một lực lượng 4,000 quân thuộc Sư Đoàn 4 Bộ Binh, và tăng viện thêm bằng Lữ Đoàn 173 không Kỵ. Cuộc chiến ác liệt và đẫm máu xẩy ra giưã đôi bên. Cộng sản phải bỏ phòng tuyến cuối cùng ở sườn đồi 875, truớc sức phản công cuả Lữ Đoàn 173 Không Kỵ, với sự yểm trợ dữ dội và quyết liệt cuả không quân. Dữ dội và quyết liệt đến nỗi chính ngay 30 quân nhân Mỹ cũng bị chiến đấu oanh tạc cơ cuả Mỹ tiêu diệt luôn cùng một lúc với quân cộng sản. Lữ Đoàn này đã chịu hy sinh 158 quân nhân cho cuộc phá vỡ tuyến phòng thủ cuối cùng cuả cộng sản tại ngọn đồi này.Phần cộng sản, đã “nướng” trọn 1 Trung Đoàn , trên 1 ngàn quân, cho trận đánh mang nhiều tham vọng liều lĩnh, điên cuồng.

* Ngày 6 và 7 - 11 - 1967 : Không quân Mỹ đánh tới tấp xuống các căn cứ quân sự, tiếp liệu cuả cộng sản ngay chung quanh Hà Nội và lên tận biên giới phiá Bắc, ngăn chặn các con đường tiếp tế dường bộ từ Trung Quốc sang Việt Nam. Hoa Kỳ cũng biết rằng sẽ phải vào bàn Hội Nghị tính chuyện hoà đàm nên khai thác tối đa ưu thế về hoả lực cuả không quân để tạo thế mạnh, trong khi đó, cộng sản tính chuyện phải đánh thắng một trận thật lớn nhắm vào căn cứ cuả quân đội Hoa Kỳ dù biết rằng hoả lực phòng thủ cuả quân đội “ nhà giầu cỡ nhất thế giới “ nó như thế nào. Đó là chưa nói đến hoả lực yểm trợ cuả những giàn pháo binh khủng khiếp cuả Mỹ, cuả pháo đài bay B-52 rải bom kín mặt đất, cuả các phản lực phóng pháo cơ cuả Mỹ sẵn sàng nhào tới xịt hoả tiễn mù trời, xối đại liên như tưới nước, thả bom săng đặc phủ lên đầu quân cộng sản…

* Ngày 11 -11 -1967 : Cộng sản Hà Nội chơi trội bằng một đòn Chiến tranh tâm lý là lựa chọn, và cho thả 3 tù binh Mỹ , đã được hoàn toàn tẩy não, sẵn sàng về nước tham gia chống chiến tranh Việt Nam, trong 1 buổi lễ long trọng, đầy tính cách tuyên truyền, tổ chức không phải tại Hà Nội, mà lại ở thủ đô Pnompenh cuả nước láng giềng Cambodia. Việt Cộng tuyên bố cho cả thế giới biết là 3 tù binh Mỹ này được phóng thích, trở về với gia đình để đáp ứng lại tinh thần đấu tranh cuả nhân dân Hoa Kỳ chống lại cuộc chiến ở Việt Nam, và cũng để bầy tỏ tinh thần ủng hộ cuộc đấu tranh can cường cuả những người bạn da đen tại Hoa Kỳ ( The Vietcong say the men were released in response to opposition to the war in the United States and also to express support for the “ courageous struggle “ of the Blacks in the United States… ).

* Ngày 14 -11 -1967 : Chỉ 3 ngày sau đó, 1 cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, được đa,ụ nổ bùng ra tại New York, 1 thành phố lớn, đông người, có nhiều cơ quan tai mắt cuả thế giới. Cuộc xô xát dữ dội đã xẩy ra giưã cảnh sát và đám đông biểu tình. Thế là ngọn lưả chống chiến tranh lại càng bùng lên mạnh hơn bao giờ. Quân đội còn tinh thần nào mà chiến đấu cho ai nưã đây? Hậu phương to lớn đã như vậy thì chỉ còn có nước tính bài… bỏ cuộc là “ thuận lòng dân nhất “.
 
 Có điều là bỏ cuộc cách nào cho được mắt với thiên hạ một chút cho ! Cộng sản quốc tế cũng như Hà Nội biết rõ cái tẩy này cho nên nó phải để Hà Nội đánh thắng 1 trận thật lớn, dù với giá nào, để bắt đối phương phải ngồi vào bàn Hội Nghị hoà đàm ở Geneva hay Paris cũng được, miễn là cộng sản Hà Nội đứng trên thế mạnh và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , con bài của Hà Nội tại Miền Nam, phải có quyền ngồi vào bàn Hội Nghị để bàn thảo và quyết định về vấn đề chính trị và quân sự cuả Nam Việt Nam, dù cho các Ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, 2 nhân vật lãnh đạo hàng đầu cuả chính quyền Việt Nam Cộng Hoà lúc đó từng lên tiếng phủ nhận vai trò cuả Mặt Trận này bất kể dưới hình thức nào.

* Ngày 29 - 11 -1967 : Trước sự bế tắc cuả cuộc chiến, trước sức phản chiến mạnh mẽ cuả dân chúng Mỹ, nhất là thanh niên, sinh viên, Ông Robert S. McNamara, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ hết còn lạc quan, tin tưởng ở sự chiến thắng cộng sản tại Nam Việt Nam như khi mới đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào chiến trường này hơn 2 năm về trước, đành xin từ chức, lui về hậu trường cuả tình hình chính trị rối beng, để làm chức vụ “ President of the World Bank “.

* Từ ngày 1 đến 7 - 12 - 1967 : Cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà theo dõi và bắt được Nguyễn Văn Huân , một cán bộ cao cấp, đại diện cuả Việt Cộng, từ vùng chiến khu vào, được CIA xếp đặt cho gặp Đại Sứ Mỹ Bunker để tính chuyện làm 1 cuộc “ đi đêm - Furtive agreement “ cho vấn đề Nam Việt Nam, giưã Mỹ và cộng sản. Chính giới Nam Việt Nam lên tiếng chỉ trích dữ dội Hoa Kỳ âm mưu phản bội người bạn đồng minh để đi đêm riêng lẻ và trực tiếp


Quân cộng sản vây quanh Khe Sanh

với cộng sản.
5.- Lựa chọn một Điện Biên Phủ thứ 2 :
* Từ 20 - 1 đến 14 - 4 / 1968 : Bộ Chính trị, cơ quan cao nhất cuả Cộng Sản Hà Nội cùng Quân Ủy Trung Ương quyết định chọn chiến trường Khe Sanh, 14 dặm về phiá Nam vĩ tuyến 17 và 6 dăỉm cách biên giới Lào để làm một Điện Biên Phủ thứ 2, một đòn dứt điểm, nhằm đánh xụp luôn tinh thần nhân dân Mỹ và đánh bại quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam như chúng đã từng đánh bại quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương 14 năm về trước.
 
 Căn cứ Khe Sanh này đã được Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ trấn giữ cả năm trước đó, nhằm kiểm soát các trục chuyển quân và vận chuyển quân nhu, vũ khí từ Bắc Việt vòng qua biên giới Lào rồi vào Nam Việt Nam. Trận đánh được mở đầu và thăm dò vào ngày 20 tháng 1 - 1968 bằng một lực lượng xung kích cuả cộng sản, theo đường hầm đào từ xa, thình lình tấn công tiêu diệt 1 Tiểu Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ đóng vị trí tiền đồn nằm về phiá Tây-Bắc cuả căn cứ này.
 
Thấy có thể đánh lớn được, ngay ngày hôm sau, Quân Ủy Trung Ương cộng sản cho quân chính quy Bắc Việt tràn ngập khu vực này trong khi pháo binh tầm xa ( cuả Liên Sô ) xối đạn như mưa bão khu vực chung quanh, đánh trúng vào kho chưá 1,500 tấn chất nổ cuả quân Mỹ tại đây. Cộng sản áp dụng “ chiến thuật mưa bão pháo binh - Tactic of Storm-beating Artillery ) y như hồi đánh Điện Biên Phủ năm 1954, làm tê liệt các giàn pháo binh cuả Pháp, khiến Đại tá Pirotti,
 
Chỉ Huy trưởng Pháo Binh cuả Pháp tại Điện Biên Phủ phải tháo chốt lựu đạn mà tự sát vì thấy mình bất lực, và pháo binh cuả mình bị tiêu diệt một cách tang thương. Tình trạng mưa bão pháo binh này cuả quân cộng sản quả có làm cho lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ trấn giữ căn cứ Khe sanh đành nằm yên cứng ngắc dưới giao thông hào và các ụ phòng thủ xây bằng bao cát ( An incessant barrage of storm-beating artillery keeps Khe Sanh’s Marines defenders pinned down in their trenches and bunkers ). Vì căn cứ Khe Sanh lúc này cần được tiếp tế bằng đường không vận ( giống như

Điện Biên Phủ ngày trước ) cho nên Trung Tướng Robert Cushman, Tư Lệnh chiến trường, không dám sử dụng lực lượng tác chiến cơ hữu cuả căn cứ để mong đánh

Quân đội Mỹ bên trong vòng đai Khe Sanh

lui các cuộc tấn công dữ dội cuả quân cộng sản đang tràn vào từ mọi phiá, mà chỉ phòng thủ để giữ trận địa, đồng thời yêu cầu không quân và pháo binh can thiệp ồ ạt trong suốt thời gian căn cứ bị bao vây ( … calling for massive artillery and air strikes, during the siege…). Người Pháp ở chiến trường Điện Biên Phủ 14 năm về trước, không có được sức mạnh yểm trợ dữ dội này cho nên đành bó tay chịu chết cả Tướng lẫn quân.
 
 Người Mỹ là “ Quân đội tân tiến, nhà giầu “ cho nên hơn hẳn người Pháp ở điểm này. Cộng sản Hà Nội tuy biết có sức không yểm ( Power of Air Protection ) , nhưng không thể ngờ rằng quân đội Mỹ lại có thể vượt quá xa người Pháp trên thế trận núi rừng hiểm hóc như thế này. Máy bay Mỹ ném xuống khu vực giao tranh mỗi ngày 5,000 trái bom mà sức công phá tương đương bằng 5 trái bom nguyên tử đã ném xuống Hiroshima hồi tháng 8 năm 1945, đánh gục sức chiến đấu cuả quân đội Nhật Bản “ bách chiến bách thắng “, để rồi sau trái bom thứ hai, đánh xuống Nagasaki thì quân đội Nhật Bản đành buông súng đầu hàng vô điều kiện (… U.S. planes dropping 5,000 bombs daily, explode the equivalent of five Hiroshima-sized atomic bombs in the area…) Khác hẳn với chiến trường Điện Biện Biên Phủ ngày trước: Quân cộng sản hoàn toàn vây chặt Điện Biên Phủ, quân Pháp không thể giải vây bằng lục quân, trong khi sức can thiệp yếu ớt cuả không quân Pháp bị hoả lực phòng không cuả cộng sản trên các ngọn đồi chung quanh hoàn toàn chế ngự, làm cho tê liệt, vô hiệu .
 
 Ở chiến trường Khe Sanh này, mọi sự đều khác xa. Chiến dịch Pegasus, giải vây căn cứ Khe Sanh cuả Mỹ mở màn từ đầu tháng 4- 1968 bằng Đệ Nhất Sư Đoàn Không Kỵ cuả Mỹ ( The Ist U.S. Air Cavalry Division ) cùng với 1 Tiểu Đoàn cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà ( An ARVN Battalion )- chắc là thông thạo trận địa hơn- từ ngoài tiến vào trận đánh bằng ngả Đông Nam, trong khi Sư Đoàn I Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tiến đánh về phiá Tây, tái lập lưu thông vận chuyển trên quốc lộ số 9. Cuộc giải vây hoàn toàn thành công, và quân cộng sản hoàn toàn thất bại trong âm mưu “ Đánh thắng 1 trận Điện Biên Phủ thứ 2 .“ ( Đây là súng cao xạ cuả Liên Sơ phá tan kế hoạch khơng vận cuả Pháp, gĩp phần tiêu diệt lực lượng pháo Binh cuả Đại Tá Piroti, chỉ huy pháo binh Pháp tại chiến trường Điẹn Biên Phủ ). Các cánh quân giải vây tiếp xúc được với nhau, đánh từ ngoài vào, và Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ bảo vệ căn cứ từ trong đánh ra, cộng với hoả lực yểm trợ kinh khủng cuả không quân. Chính nhật báo Nhân Dân ( cơ quan ngôn luận chính thức cuả cộng sản Hà Nội ) đã từng thúc đẩy Hà Nội nên coi chiến dịch tiến đánh Khe Sanh như một cơ hội lập lại chiến tích vẻ vang oanh liệt tại Điện Biên Phủ ngày trước để bắt người Mỹ phải chịu chung số phận với người Pháp ( Various statements in Nhan Dan, the North Vietnamese Communist Party newspaper, suggest that Hanoi sees Khe Sanh battle as an opportunity to re-enact its famous victory at Dien Bien Phu…).
Sau ít ngày đụng trận tại chiến trường Khe Sanh, cộng sản Hà Nội sớm nhận thức ra rằng thời thế đã đổi khác ngày xưa rất nhiều cho nên sẽ không thể nào biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ 2 được :
* Ngày xưa, hồi năm 1954, địch thủ cuả cộng sản Hà Nội tại chiến trường chính yếu là Pháp, mà quân đội và hoả lực không thể nào so bì với quân dội tân tiến, nhà giầu như Mỹ được.
* Lúc này, cuộc chiến đấu chống cộng sản cuả Quân Đội và nhân dân Miền Nam Việt Nam còn là một vấn đề khó khăn cho cộng sản trên nhiều mặt trận, nhiều lãnh vực liên kết với nhau. Hà Nội không thể chiến thắng toàn diện chỉ bằng một trận đánh như Điện Biên Phủ 14 năm về trước.
* Muốn chiến thắng toàn diện trên chiến truờng Nam Việt Nam, cộng sản Hà Nội bắt buộc phải nghĩ đến một trận đánh đại quy mô, đồng loạt trên khắp các mặt trận quân sự tại Nam Việt Nam, và điều quan trọng chính yếu là “ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam “ , con cờ cuả Hà Nội, phải huy động, lôi cuốn được dân chúng Miền Nam tham gia vào một cuộc “ Tổng nổi dậy -

General Uprising “ để tiêu diệt quân đội và lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, tạo thế mạnh tuyệt đối hầu

Không lực Mỹ yểm trợ mặt trận Khe Sanh

có thể giàn xếp toàn bộ vấn đề Nam Việt Nam ,theo sách lược cuả cộng sản Hà Nội cũng như cộng sản quốc tế ,với Hoa Kỳ là đối thủ đã mệt mỏi, rối loạn ở hậu phương, đang tìm đường rút chân ra khỏi cái “ Vũng lầy Việt Nam “

Chính do những nhận thức kể trên mà Cộng Sản Hà Nội, với sự chi viện tối đa cuả Liên Sô và Trung Quốc, cùng toàn thể khối cộng sản quốc tế đã phải gấp rút chuẩn bị và đi một nước cờ liều lĩnh, táo bạo, không ai có thể nghi ngờ một cách đúng mức được. Đó là : dùng chiến trường Khe Sanh để thu hút mọi sự chú ý, tập trung lực lượng đối phó cuả đối phương về vùng này, đồng thời mở vài cuộc tấn công nhằm vào Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà ở Cao Nguyên Trung Phần, cũng như ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long để rồi chuẩn bị tung ra một chiến dịch đại quy mô, phối hợp quân chính quy Bắc Việt với quân chủ lực Miền cuả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cùng các đơn vị đặc công nội thành tại các thành phố, thị trấn cuả các Thành và Tỉnh Uỷ cộng sản, lợi dụng cuộc hưu chiến vào giờ phút thiêng liêng cuả đêm Giao Thưà Tết Mậu Thân ( 1968 ) để bất ngờ mở cuộc tổng tấn công đều khắp vào 7 thành thị lớn nhất cuả Nam Việt Nam, và đánh chiếm 30 Tỉnh Lỵ cuả Nam Việt Nam từ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long cho đến tận vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17.
 
Trong lúc đó, cộng sản dùng pháo binh Liên Sô và hoả tiễn Trung Cộng bắn phá các căn cứ quân sự Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hoà, gây hoang mang tinh thần dân chúng cả nước, để cố tạo nên một cuộc “ Tổng nổi dậy “ cuả dân chúng Nam Việt Nam, mà cộng sản đánh giá là đã chán ghét chính quyền, căm thù… Mỹ ngụy đến mức cao độ, qua các cuộc biểu tình từ Huế đến Sài Gòn, đấu tranh chống Diệm-Nhu năm 1963, chống Nguyễn Khánh năm 1964, chống Thiệu-Kỳ-Có năm 1966 vv… Cộng sản Hà Nội đã lầm lẫn lớn để cho rằng dân chúng chống lại chính quyền đương thời ở Nam Việt Nam , trong bầu không khí có ít nhiều tinh thần tự do, dân chủ, có nghiã là dân chúng Nam Việt Nam ưa thích, nghiêng

Quân đội VNCH tái chiếm Huế

theo cộng sản. Cộng sản đã lầm to ! Một số dân chúng chống chính quyền Nam Việt Nam là quyền và ý muốn cuả họ, nhưng hoàn toàn không phải vì họ ưa thích, muốn đi theo cộng sản. Cộng sản tấn công ngay vào Thủ Đô Sài Gòn, chiếm giữ nhiều cứ điểm quan trọng, nhằm lật đổ chính quyền từ Trung ương,

dùng đài phát thanh, truyền hình để huy động dân chúng Tổng nổi dậy lập chính quyền nhân dân . Tiểu đội cảm tử quân cộng sản, gồm 19 tên, liều mạng đánh thẳng vào Toà Đại Sứ Mỹ, cơ quan đầu não cuả Mỹ tại Việt Nam, chiếm giữ 1 khu vực cuả Toà Đại Sứ trong suốt 6 tiếng đồng hồ, cho tới khi quân nhẩy dù Mỹ được trực thăng vận đổ quân xuống ngay nóc nhà Toà Đại Sứ , quân cộng sản mới bị tiêu diệt hay bị đánh bật ra ngoài.
 
Cuối cùng, quân cộng sản đã bị liên quân Việt-Mỹ cũng như các lực lượng cảnh sát đánh bại ở Sài Gòn , sau 1 tuần lễ đánh nhau, giành từng khu phố, từng căn nhà, giống như trong phim ảnh Âu-Mỹ. Tại các thành phố, thị trấn khác, cộng sản đều bị Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đánh bại, phải tháo chạy, để lại nhiều xác chết, trong đó có nhiều quân chính quy Bắc Việt, được trang bị tối tân bằng tiểu liên xung kích AK cuả Liên Sô, Tiệp Khắc và Trung Cộng. Riêng thành phố Huế, cộng sản dựa lưng vào hậu phương to lớn là phiá bên kia vĩ tuyến 17, với những Sư Đoàn thiện chiến và danh tiếng , đã chiếm giữ được lâu nhất, gần 1 tháng trời, với ý định chiếm giữ vùng đất làm bàn đạp tiến sâu xuống miền Nam.
 
Chúng bắt giữ nhiều quân nhân, nhân viên chính quyền, đảng phái chống cộng, bắt đầu thiết lập chính quyền nhân dân, tính chuyện lâu dài. Khi cộng sản bị đánh bại ở khắp các nơi, từ Đà Nẵng trở vào đến tận đồng bằng sông Cửu Long thì ở Huế cộng sản cũng bị mất tinh thần, chống giữ không nổi sức tấn công giải phóng Huế cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà tại đây, dưới sự chỉ huy cuả Tướng Ngô Quang Trưởng, được tăng cường thêm bằng lực lượng Tổng trừ bị : Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, từ trong Nam đã rảnh tay, kéo ra. Cuối cùng, cộng sản đành phải tháo chạy khỏi thành phố Huế với những cứ điểm cố thủ, có những tên lính cộng sản bị xích chân vào những cỗ đại liên, bích kích pháo, để phải đánh đến chết, không được rút lui, bỏ chạy.

Phải bỏ chạy khỏi Huế, cộng sản cùng bọn tay sai nằm vùng, chống chính quyền ngày trước, bỏ vào bưng, nay trở về trả thù, điên cuồng thù hận. Chúng đã để lại những hình anh ghê rợn cuả cuộc tàn sát ghê tởm, kinh hoàng cuả cộng sản trong cuộc đánh chiếm Thành Phố Huế trong chiến dịch Tết Mậu Thân- 1968.

*

Bài viết này chỉ muốn nói lên: Sự liên hệ giưã Chiến Trường Khe Sanh và Chiến Dịch Tết Mậu Thân..
* Ở chiến trường Khe Sanh, cộng sản Hà Nội đã ước tính sai lầm khả năng phòng thủ cùng hỏa lực yểm trợ cuả quân đội Mỹ cho nên chúng đã hoàn toàn thất bại trong việc tạo nên một chiến thắng Điện Biên Phủ thứ 2. Cộng sản đành tranh thủ tình hình, dùng Chiến trường Khe Sanh để làm một Kế nghi Binh ( Diversionary Strategem ) đánh lưà liên quân Việt-Mỹ tập trung sức mạnh vào vùng này để rồi chúng tung ra một chiến dịch quyết định, đại quy mô hòng dứt điểm là Chiến Dịch Tết Mậu Thân.

* Trong chiến dịch Tết Mậu Thân , cộng sản lại ước tính sai lầm tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường cuả Quân Đội và Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa, tinh thần chống Cộng cuả dân chúng Miền Nam cho nên chúng đã thất bại trong việc tạo nên một cuộc “Võ Trang Tổng Nổi Dậy-Armed General Uprising” cuả dân chúng cùng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, hòng đập tan Quân Đội và chính quyền Việt Nam Cộng Hoà vào ngay thời điểm đó.
 
Phải đợi thêm 8 năm sau, tức là tới năm 1975, với tình hình thuận lợi hơn, với sự yểm trợ hết mình cuả cộng sản quốc tế, quân đội Mỹ bỏ “ Tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á “ ra đi theo Hiệp định Paris 1973, Việt Nam Cộng Hoà bị cắt hoàn toàn viện trợ quân sự và kinh tế, cộng thêm những âm mưu quốc tế trong “ Ván bài Việt Nam “cộng sản Hà Nội mới thực hiện được những gì mà chúng mong ước có thể đạt được ngay từ khi chúng tung ra những trận đánh táo bạo tại Chiến Trường Khe Sanh cũng như bất chấp thoả hiệp ngưng bắn, liều lĩnh, điên cuồng tung ra Chiến dịch Tổng Công Kích Tết Mậu Thân ( 1968 ) trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Tuy nhiên, ta phải công nhận 1 điều : Chiến dịch Tết Mậu Thân ( 1968 ), cộng sản Hà Nội đã thất bại quân sự nặng nề trước tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của quân dân miền Nam Việt Nam tại chiến trường này, nhưng trái lại, tại đất nước Hoa Kỳ, từ Quốc Hội, chính phủ cho đến các giới chính trị cũng như đối với đông đảo dân chúng Mỹ, thì cộng sản Hà Nội đã thực sự chiến thắng, đã làm tan rã hoàn toàn ý chí... chiến thắng, hay bảo vệ cái Tiền Đồn chống Cộng tại Nam Việt Nam như lúc bắt đầu đổ đại quân tác chiến ( combattant forces ) vào mảnh đất xa xôi, nhỏ bé này hồi năm 1965 tại ...đầu cầu Chu Lai, Đà Nẵng để tính đến chuyện bắt buộc phải ra đi.. dù là ra đi không một chút vinh quang, danh dự....

San Diego, California
Phan Đức Minh

Tài liệu tham khảo :

· The World Almanac of The Vietnam War .- John S. Brownman ( General Editor ).- Bison Books

Corp.- New York - 1985.

· Vietnam : The History & The Tactics .- Ashley Brown & Adrian Gilbert .- Orbis Publishing Limited . –

London - 1982.

* Vietnam Order of Battle .- Shelby L. Stanton .- Galahad Books .- New York - 1986.

* Battles of Vietnam War .- Patrick Jennings .- Exeter Books .- New York - 1985.

 

Cuối tháng 3/75 tuyến đầu thất thủ [1]


 

 

Cuối tháng 3/75 tuyến đầu thất thủ [1]


 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (trái)

Trọng Đạt

 

Tình hình chung

Sau tháng 1/1973 VC vẫn tiếp tục vi phạm Hiệp định Paris, cuộc chiến vẫn tiếp diễn nhưng VNCH còn đủ mạnh, khoảng cuối 1973 Hạ viện Mỹ bắt đầu cắt giảm viện trợ 50% mỗi năm 1974, 1975 khiến miền Nam ngày càng suy yếu, CS ngày càng mạnh hơn . Ông Nguyễn đức Phương dựa theo M.Maclear (Vietnam: The ten Thousand Day war) cho biết vào ngày mất Ban Mê Thuột 13/3/1975 Hạ viện Mỹ bác bỏ 300 triệu viện trợ bổ túc cho VNCH do TT Ford đệ trình. Đại sứ Martin cũng thông báo cho TT Thiệu biết quân viện cho năm tới (1976) sẽ không được chuẩn chi (Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 732). Tin sét đánh đã khiến TT Thiệu mất tinh thần để rồi đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.

Nói trắng ra Hạ Viện Mỹ đã cạn tầu ráo máng buộc miền nam VN phải đầu hàng CS. Trong khi tại chính trường nước Mỹ vấn đề VN không được ai quan tâm tới, chỉ còn TT Ford và người phụ tá Kissinger cố gắng một cách tuyệt vọng để xin chút phương tiện cho VNCH. Vào lúc này đảng Dân Chủ nắm đại đa số Quốc hội Mỹ (67% Hạ viện và 60% Thượng viện), họ chống chiến tranh VN tích cực, đảng nọ phá đảng kia, bao giờ cũng vậy, ai cũng đều biết cả. Theo nhận xét của Kissinger (Years of Renewal trang 464) thì TT Ford không tìm được giải pháp nào để thoát ra khỏi sự bế tắc, thảm kịch không thể nào tránh khỏi.

(… there were no easy, heretofore undiscovered way out of this morass…

The tragedy had become simply inevitable.)

Gerald Ford chẳng khác nào một ông Tổng thống bù nhìn, lại nữa ông đã không do dân bầu, lên thay thế TT Nixon khi mà đảng Cộng Hòa bị mất quá nhiều uy tín qua vụ tai tiếng Watergate.

Tình hình miền nam VN lúc này quá u ám, Hoa Kỳ đã bắt tay được Trung Cộng tháng 2/1972 và hòa được với Sô Viết tháng 5/1972, thuyết Domino không còn ý nghĩa. Bây giờ là lúc họ quẳng cái miếng xương Đông Dương đi, được Cộng sản quốc tế khuyến khích, Hà Nội mừng rú vội chạy lại vồ ngay lấy. Năm 2006 trên internet tôi thấy có người hỏi cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn:

“Chúng ta đã biết trước là thua tại sao vẫn đánh để khiến bao nhiêu người chết thảm?”

Một câu hỏi thật khó có câu trả lời…

Tối 29/3/1975 đài phát thanh BBC Luân Đôn cho biết Đà Nẵng đã thất thủ, một trăm ngàn quân bị bắt làm tù binh, đó cũng là ngày sụp đổ của toàn bộ Quân khu I, hung tin ghê gớm ấy đã khiến cho cả nước kinh hoàng: Quân khu I nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ và thiện chiến nhất của VNCH, bốn Sư đoàn chính qui chủ lực, bốn Liên đoàn Biệt động quân đã hoàn toàn tan rã sau 9 ngày cầm cự và triệt thoái. Mặc dù nay nhiều bí mật về cuộc lui binh đã được tiết lộ, Bộ Tổng tham mưu VNCH, các vị Tướng lãnh, các giới chức quân sự liên hệ đã bạch hóa diễn tiến của trận chiến bi thảm này, các nhà nghiên cứu quân sử, các nhân chứng, ký giả chiến trường… đã biên soạn, kể lại diễn tiến của mặt trận vùng Hoả tuyến nhưng người ta tưởng như nó vẫn còn nhiều điều bí ẩn và khó hiểu, chưa bao giờ trong cuộc chiến tranh Quốc -Cộng giai đoạn 1960-1975 một lực lượng to lớn của miền Nam lại có thể thua nhanh đến thế. Cũng có người cho rằng tấn thảm kịch này bắt nguồn từ ảnh hưởng của những yếu tố chính trị hơn là về quân sự.

Các tài liệu, sách báo nói về cuộc lui binh Quân đoàn I của Bộ tổng tham mưu Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Thiếu Tướng Hoàng Lạc, nhà nghiên cứu quân sử Nguyễn Đức Phương, ký giả chiến trường Phạm Huấn và những lời thuật lại của các nhân chứng … nói chung không hoàn toàn giống nhau, có khi còn trái ngược nhau là khác.

Quân khu I là một giải đất dài và hẹp hình cán chảo chạy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam, gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng tín, Quảng Ngãi, dân số vào khoảng ba triệu người. So với các Quân khu khác Vùng Một nhỏ hẹp nhất, đây là nơi tiếp giáp với Bắc Việt, chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nên cũng gọi là vùng Hoả tuyến. Từ sau khi ký hiệp định Paris, nửa triệu quân đồng minh đã rút đi, VNCH một mình phải gánh vác toàn bộ chiến trường. Lãnh thổ quá rộng, không đủ lực lượng trấn giữ nên tại đây VNCH chỉ còn kiểm soát được phần đất nằm phía bên phải của giải đất theo chiều dọc tức là phía Đông, còn phía Tây do Cộng thuộc quyền kiểm soát của CSBV. Dần dần VNCH chỉ còn những tỉnh lỵ và thị xã và các quận do sự lấn chiếm theo lối tầm ăn dâu của địch, kể từ sau ngày 19/3/1975, nếu nhìn trên bản đồ quân sự (Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối VNCH trang 166) ta sẽ thấy miền Nam chỉ còn kiểm soát được vào khoảng gần một phần ba (1/3) diện tích Quân khu 1.

Năm 1972 Quân khu I đã là một chiến trường lớn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt đẫm máu giữa các đại đơn vị của hai miền Nam Bắc .Vì tình hình sôi động đặc biệt của vùng hỏa tuyến ngoài ba Sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn, TT Thiệu còn cho hai Sư đoàn tổng trừ bị Nhẩy Dù và Thủy quân lục chiến ra đóng tăng cường. Đạn dược tiếp liệu ngày càng thiếu thốn bi đát, theo ông Cao Văn Viên (sách đã dẫn trang 92) từ tháng 7/1974 hoả lực miền Nam giảm hơn 70% và vào tháng 2/1975, đạn tồn kho các loại súng tại kho Trung ương chỉ còn đủ cung ứng khoảng một tháng (30 ngày).

Miền Nam không được Mỹ yểm trợ B52; tiếp liệu, đạn dược đã gần kiệt quệ, tài khóa 1974, 1975 bị cắt giảm 50% mỗi năm (Kissinger, Years of Renewal trang 472). Ngay từ cuối tháng 12/1974 khi BV xử dụng ba sư đoàn tấn công Phước Long, pháo binh VNCH tại đây đã phải đếm từng viên đạn để tiết kiệm hầu còn đủ chiến đấu (Kissinger, Years of Renewal, trang 490)

Trong khi ấy CS quốc tế vẫn tiếp tục viện trợ dồi dào cho BV. Theo BBCVietnamese.com ngày 10-5-2006, viện trợ quân sự CS quốc tế cho BV giai đoạn 1969-1972 là 684,666 tấn vũ khí, giai đoạn 1973-1975 là 649,246 tấn vũ khí coi như không thay đổi. Từ tháng 12/1974 Nga Sô đã viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp bốn lần hơn trước (Kissinger, Years of Renewal trang 481).

Nhìn sơ các con số và các dữ kiện trên chúng ta cũng đủ biết ai sẽ thắng , ai thua, về điểm này Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn có nói

Xin nhắc lại một lần nữa, nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ của Miền Nam là không có viện trợ (phương tiện chiến tranh)

(Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975, trang 406)

Cuối năm 1974 tình hình chiến sự ở Quân khu I yên lặng được một thời gian, VNCH đẩy lui cuộc tấn công của BV vào đồng bằng Tây Nam Đà Nẵng, CSBV có lợi thế về địa hình, vì gần hậu cần miền Bắc, họ được bổ sung quân số và tiếp liệu thuận lợi. Từ tháng 6 cho tới cuối năm 1974 các lực lượng Quân đoàn I của VNCH bị tổn thất trong các trận giao tranh không được bổ sung nên quân số thiếu hụt. Quân khu 1 được chia làm hai khu Bắc và Nam, Bắc gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền Bộ Tư lệnh tiền phương do Trung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy, ba tỉnh còn lại Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi do Tư lệnh Quân đoàn Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trực tiếp chỉ huy.

Bố trí chủ lực quân VNCH như sau:

-Sư đoàn Nhẩy Dù vàTQLC, Lữ đoàn 1 Thiết kỵ từ Bắc Thừa Thiên lên tới Nam sông Thạch Hãn kéo dài sang phía Tây Quảng Trị.

Lực lượng cơ hữu của Quân khu và các Liên đoàn Biệt động quân bảo vệ các tỉnh còn lại:

- Sư đoàn 1BB và Liên đoàn 15 Biệt động quân đóng tại Thừa Thiên.

- Sư đoàn 3 BB và Liên đoàn 14 BĐQ đóng tại Đà Nẵng, Quảng Nam.

- Sư đoàn 2 BB và hai liên đoàn 11, 12 BĐQ bảo vệ Quảng Tín, Quảng Ngãi.

(Theo Nguyễn đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 751)

Các đơn vị yểm trợ gồm trên 10 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn phòng không, một lữ đoàn thiết kỵ. Hải quân gồm các giang đoàn xung phong, trục lôi, tuần thám tại Thuận An, các duyên đoàn tại Cửa Việt, tại Thuận An, Tư Hiền… Sư đoàn 1 Không quân đóng tại Đà Nẵng. Quân số của Quân đoàn vào khoảng 90,000 chủ lực và 75,000 địa phương quân, nghĩa quân, số gồm cả thành phần không tác chiến. Đây chỉ là con số lý thuyết, trên thực tế thì thấp hơn không được như vậy vì nhiều lý do.

Lực lượng Cộng sản tại Quân khu I chia hai địa bàn hoạt động lấy đèo Hải Vân làm ranh giới do các Tướng Lê Tư Đồng, Nguyễn Hữu An, Chu Huy Mân chỉ huy. Theo tác giả Nguyễn Đức Phương tại đây Bắc việt có 7 sư đoàn (324B, 325, 320B, 312, 304, 711, 2) và 3 Trung đoàn độc lập tổng cộng vào khoảng 8 sư đoàn (Sách đã dẫn trang 752).

Theo ông Cao Văn Viên, tại đây BV có 5 sư đoàn (341, 325C, 324B, 304, 711), 10 trung đoàn độc lập (52, 4, 5, 6, 27, 31, 48, 51, 270, 271), 3 Trung đoàn đặc công (5, 45, 126), toàn bộ vào khoảng hơn 8 Sư đoàn. Lực lượng cơ giới yểm trợ gồm 3 Trung đoàn xe tăng, 12 Trung đoàn phòng không, 8 Trung đoàn pháo binh (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 160).

Theo Nguyễn Đức Phương lực lượng địch tổng cộng vào khoảng 71,000 người. Bắc Việt có ưu thế về vũ khí đạn dược hơn VNCH rất nhiều, chủ lực quân coi như gấp hai.

Diễn tiến của mặt trận

Trong khi mở chiến dịch Ban Mê Thuột, CSBV tại Quân khu I cũng xâm nhập đánh phá các nơi để cầm chân quân đội VNCH như tại Quảng Trị, họ chiếm quận Hải Lăng Bắc Thừa Thiên, xâm nhập các xã ven biển Thừa Thiên. Phía Nam đánh các cao điểm của Sư đoàn I, tấn công tuyến sông Bồ nhưng bị đẩy lui bỏ lại 200 xác chết, tại Quảng Tín địch chiếm 2 quận Tiên phước, Hậu Đức ngày 10/3 bắn phá tỉnh lỵ Tam Kỳ…

Ngày 11/3, sau khi CS tấn công chiếm Ban mê Thuột một ngày, Tổng thống Thiệu triệu tập phiên họp tại Dinh Độc Lập, có mặt Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang. TT Thiệu cho biết trước tình hình khó khăn do quân viện bị cắt giảm, áp lực địch mạnh, ta chỉ có thể giữ được Quân khu III, Quân Khu IV và một vài tỉnh duyên hải QK I và QK II, QK I chỉ giữ Huế và Đà Nẵng (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 129, 130, 131)

Trong lúc tình hình quân sự có vẻ không thuận lợi cho ta thì theo yêu cầu của TT Thiệu, Bộ TTM lệnh cho Tướng Trưởng trả Sư đoàn Nhẩy Dù về Trung ương.

Ngày 13/3 TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng về Sài Gòn họp Hội Đồng an ninh Quốc gia, thành phần gồm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Thiệu cho biết tình hình khó khăn do cắt giảm quân viện, ông không tin Mỹ sẽ can thiệp dù Cộng Sản tấn công miền Nam nên phải tái phối trí lực lượng, rút quân bỏ những miền cao nguyên rừng núi để giữ những vùng mầu mỡ còn hơn đứng chung chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản.

Ngày 14/3 Tướng Trưởng về Quân đoàn I họp tham mưu, thảo luận kế hoạch tái phối trí, Nhẩy Dù sẽ rút về Sài Gòn, hôm sau Liên đoàn 14 BĐQ nhận vùng trách nhiệm của Lữ đoàn TQLC 369 tại Quảng Trị để Lữ đoàn này về Phú Lộc thay Lữ đoàn Dù, một lữ đoàn TQLC sẽ chịu trách nhiệm khu vực sông Bồ để bảo vệ Huế.

Ngày 17/3 Lữ đoàn 258 TQLC sẽ rời Quảng Trị để về Đà Nẵng thay lữ đoàn 2 Dù. Dân chúng sợ hãi đã di tản ồ ạt trên quốc lộ Một từ mấy ngày nay làm cản trở việc điều quân tái phối trí.

Ngày 18/3 Thủ tướng Trần Thiện Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vấn đề dân tỵ nạn, ông cho Tướng Trưởng biết sẽ không tăng viện Quân khu I vì tình hình Quân khu III nghiêm trọng, Việt Cộng đánh Dầu Tiếng, áp lực Tây Ninh, Long Khánh, Bình Tuy…

Ngày 19/3 Tướng Trưởng được triệu về Sài Gòn họp lần thứ hai, thành phần phiên họp cũng như lần trước nhưng có thêm Phó tổng thống Trần Văn Hương. Tướng Trưởng trình bầy hai kế hoạch lui binh:

Kế hoạch Một: các đơn vị sẽ theo Quốc lộ Một từ Huế, Chu lai về Đà Nẵng, trong trường hợp Quốc lộ Một bị cắt thì sẽ theo kế hoạch Hai.

Kế hoạch Hai: Các lực lượng Quân đoàn sẽ tập trung tại ba cứ điểm Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, tầu Hải quân sẽ chuyên chở lính từ Huế, Chu Lai về Đà Nẵng. Trong cả hai kế hoạch Đà Nẵng là điểm phòng thủ chánh, điểm tựa cuối cùng, Tướng Trưởng đề nghị giữ cả ba cứ điểm để phân tán lực lượng địch và gây tổn thất tối đa cho Việt Cộng, ông Thiệu cho biết giữ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Ông Cao Văn Viên cho rằng kế hoạch của Tướng Trưởng là hợp lý.

“Kế hoạch lui quân của Quân đoàn 1 soạn thảo rất hợp lý và đầy đủ, gồm kế hoạch dự phòng để đối phó với những bất ngờ do địch gây ra. Khi trận chiến khai diễn như Kế Hoạch Hai dự trù và các đơn vị của Quân đoàn 1 rút hết về Đà Nẵng, chúng ta chỉ còn hai hành động phải làm: Cố thủ tại chỗ hoặc rút bằng đường biển nếu tình thế bắt buộc. Như vậy vào thời điểm trên, đâu còn cần đến kế hoạch dự phòng nào khác”

(Những Ngày Cuối Của VNCH Trang 163)

Thật ra kế hoạch nghe thì hay nhưng thực hiện được lại không phải dễ, thực tế rất phũ phàng, BV tấn công gấp rút, dân chúng di tản làm náo loạn khiến binh sĩ mất tinh thần. TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng cố gắng giữ được tất cả những phần đất có trong tay sau đó ông bảo Tướng Quang soạn bài hiệu triệu trên đài phát thanh Huế để trấn an dân chúng, quyết bảo vệ Huế đến cùng. Buổi họp này không thấy nói đến triệt thoái mà chỉ là kế hoạch co cụm để giữ đất.

Ngày 19/3 Quảng Trị bỏ ngỏ, chi đoàn Thiết giáp, liên đoàn 14 BĐQ rút về bên này Mỹ chánh lập phòng tuyến mới. Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh vào Quân khu. Theo Tướng Hoàng Lạc, Giám mục Phạm Ngọc Chi địa phận Đà Nẵng và Giám mục Nguyễn Kim Điền khuyên không nên đổ máu vô ích vì các siêu cường đã sắp đặt cả rồi.

Sáng 20/3 Tướng Trưởng bay ra bộ chỉ huy tiền phương họp các cấp chỉ huy bàn kế hoạch phòng thủ Huế như Tổng thống ra lệnh phải giữ bằng mọi giá. Tình hình mặt trận tương đối còn tốt đẹp, các đơn vị hoàn hảo, tinh thần cao duy trì được kỷ luật, ai nấy đồng lòng tử thủ, dân chúng di tản nhiều. Tướng Trưởng lạc quan khi thấy Huế phòng thủ tốt. Trưa hôm đó ông Thiệu đọc hiệu triệu dân trên đài phát thanh Huế. Đến chiều khi về tới Đà Nẵng TướngTrưởng nhận được lệnh của dinh Độc Lập chỉ giữ Đà Nẵng thôi nếu tình hình bó buộc, ông Thiệu lý luận Quân đoàn I không đủ lính để bảo vệ cả ba cứ điểm Chu lai, Huế và Đà Nẵng. Tướng Trưởng được quyền tùy cơ ứng biến.

Quân khu I ngày một nguy ngập, Cộng quân đã bắt đấu tấn công mạnh theo thế gọng kìm từ trên Quảng Trị đánh xuống và từ dưới Quảng Ngãi đánh lên, dân chúng chạy loạn ồ ạt từ Huế kéo về Đà Nẵng, từ Quảng Nam Quảng Ngãi kéo lên. Ngày 21/3 địch tấn công Phú Lộc, áp lực mạnh trên Quốc lộ Một, dân tản cư đông như kiến từ Huế về Đà nẵng. Sư đoàn I VNCH có pháo binh và không quân yểm trợ đẩy lui cuộc tấn công của BV nhưng họ có ưu thế về lực lượng nên Sư đoàn 1 cầm cự đến trưa ngày 22 thì thất thủ, Trung đoàn 1 BB (SĐ1) và Liên đoàn 15 Biệt động quân bị đẩy lui, một khúc đường Quốc lộ Một bị cô lập, Trung đoàn I bị thiệt hại nặng, Tướng Trưởng ra lệnh thu gọn tuyến phòng thủ Huế.

Dân chúng và quân cụ bắt đầu được chở bằng tầu ra khỏi Đà Nẵng, ngày 23/3 Việt Cộng pháo kích Huế rời rạc không gây thiệt hại gì nhiều nhưng khiến dân chúng hốt hoảng náo động như hỗn loạn. Tại phía Nam Vùng Một tình hình nguy ngập khi quận Hậu Đức, Tiên Phước thuộc Quảng Tín bị Việt cộng chiếm, Sư đoàn 2 và Liên đoàn 12 BĐQ chặn được áp lực địch tấn công về Tam Kỳ và các vùng duyên hải. Trước áp lực dồn dập của Cộng quân Tướng Trưởng ra lệnh di tản 2 quận Sơn Trà, Trà Bồng Quảng Ngãi, những tiền đồn xa tiếp tế cũng được di tản, Tướng Trưởng cho gom các lực lượng rời rạc lại để bảo vệ những điểm trọng yếu vào trận cuối cùng. Sự chỉnh đốn của Tướng Trưởng đem lại chút bình yên gượng gạo cho 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín trong 2 ngày.

Sáng ngày 24/3 tại phía Nam Quân khu 1, BV tấn công mạnh tại Quảng Tín, Sư đoàn 711, Trung đoàn 52 BV và xe tăng đánh Tam Kỳ, đặc công đột nhập tỉnh lỵ thả tù gây rối loạn đến trưa thì Tam Kỳ thất thủ. Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 3 VNCH từ Quảng Nam được lệnh tiến về Quảng Tín để giúp Địa phương quân chạy từ Tam Kỳ về. Tam kỳ mất, dân ùn ùn chạy về Đà Nẵng. Tại Quảng Ngãi Cộng quân tấn công dữ dội, đặc công và địa phương quân Việt Cộng tại Quảng Ngãi tấn công phi trường, các cơ sở hành chánh quân sự Quảng Ngãi. Đường Quốc lộ Một từ Quảng Ngãi tới Chu lai bị cắt đứt, đường ra biển bị cô lập, chỉ trong một ngày tình hình Quân khu 1 rối loạn đến mức không còn kiểm soát được nữa. Quân đoàn chấp thuận cho tiểu khu Quảng Ngãi mở đường máu về Chu Lai nhưng chỉ có vài đơn vị về được.

Ngày 25/3 tất cả các đơn vị Quân đoàn I tụ lại 3 phòng tuyến chính: Chu Lai phía nam, Đà Nẵng ở giữa và Huế phía Bắc, các lực lượng của Quân đoàn I bị thiệt hại nhiều khi di tản về các phòng tuyến này, tinh thần binh sĩ xuống thấp, ai nấy chán nản chưa bao giờ trong đời chinh chiến họ thấy tuyệt vọng như hiện nay. Trong tình thế khó khăn Tướng Trưởng lại nhận thêm một lệnh nữa từ dinh Độc Lập, TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng dùng ba Sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn: SĐ1, SĐ2, SĐ3 để phòng thủ Đà Nẵng, Sư đoàn TQLC đóng vai trừ bị. Đêm đó Tướng Trưởng cho Sư đoàn I và các đơn vị quanh Huế rút về Đà Nẵng, ông lệnh cho Sư đoàn 2, Chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ rút ra Cù Lao Ré, một đảo ngoài khơi Chu lai. Hai tầu dương vận hạm đón Sư đoàn 2 tại Chu lai đưa về Cù Lao Ré, cuộc vận chuyển thành công hơn mặc dù có hỗn loạn nhưng một nửa quân số của Sư đoàn 2 đã lên tầu đưa về Bình Tuy, chính phủ tuyên bố Huế và Chu lai thất thủ ngày 25/3.

Các lực lượng Huế bắt đầu di tản, Sư đoàn I và các đơn vị cơ hữu rút ra cửa Tư Hiền. Hải quân và công binh sẽ bắc cầu để quân di tản đi ngược vào đất liền rồi dùng đường bộ về Đà Nẵng. Sư đoàn TQLC và các đơn vị trực thuộc sẽ triệt thoái bằng tầu Hải quân. Sáng ngày 26/3 biển sóng to làm đình trệ cuộc vận chuyển, cầu nối giữa Tư Hiền và đường bộ chưa hoàn tất. Đến trưa thủy triều dâng cao không thể vượt biển được trong khi ấy Cộng quân đuổi theo nã pháo vào cửa Tư Hiền và các địa điểm tập trung gây nhiều thiệt hại, hỗn loạn diễn ra không còn quân kỷ, Sư đoàn I tan rã tại đây chỉ có một phần ba về được đến Đà nẵng, tới nơi họ rã ngũ đi tìm thân nhân.

Trong khi đó thì Lữ đoàn kỵ binh với hơn 100 thiết giáp các loại từ mặt trận Bắc Huế tiến về cửa Thuận An, theo sau là các đơn vị pháo binh với hằng trăm khẩu pháo, TQLC, BĐQ, ĐPQ từ tuyến sông Bồ đang lũ lượt kéo về, hỗn loạn lại diễn ra. Hai tầu dương vận hạm đến cửa Thuận An để chở TQLC, tầu hải vận đĩnh và quân vận đĩnh chở người từ bờ ra dương vận hạm.

Sư đoàn 325 CS chuyển vào Quảng Nam phối hợp với sư đoàn 304 CS tấn công Đà Nẵng, Sư đoàn 2 CS cũng tiến về thành phố. Quân đội VNCH lập phòng tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng, phía Tây 2 lữ đoàn TQLC, phía Nam Sư đoàn 3 và ĐPQ Quảng Nam. Ngày 27/3/1975 các cuộc phòng thủ Đà Nẵng thành ra vô hiệu trước sự hỗn loạn, Cộng quân dồn nỗ lực bao vây thành phố. Từ bắc Đà Nẵng hai Sư đoàn 324B và 325C CSBV cùng với Trung đoàn xe tăng và hai Trung đoàn pháo tiến dọc theo thung lũng Voi bao vây thành phố. Phía Nam Sư đoàn 711, 304 BV tiến chiếm Đại Lộc và Dục Đức, Đà Nẵng đã nằm trong tầm pháo của quân thù. Tại thành phố lớn thứ hai của miền nam này Quân đoàn I chỉ còn có Sư đoàn 3 và 2 lữ đoàn TQLC, các Sư đoàn 1 và 2 đã bị rã ngũ trên đường triệt thoái, một phần đã được tầu chở ra khơi, lực lượng không đủ để đương đầu với áp lực quá đông của BV, lại nữa thành phồ với hằng triệu người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát được.

Sáng ngày 28/3/1975 Tướng Trưởng họp khẩn cấp các đơn vị trưởng ban hành một số biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị các đơn vị di tản trong thành phố nhưng ta không còn đủ quân tác chiến để thực hiện kế hoạch này. Các quân nhân có mặt được sung vào các đơn vị tác chiến nhưng không đủ để bù vào thiệt hại do cuộc triệt thoái gây ra. Trưa 28/3 Phòng 2 thuộc Bộ TTM cho Quân đoàn I biết Cộng quân có thể tấn công trong đêm, Sư đoàn I Không quân được lệnh di tản về Phù Cát, Phan Rang, Quân đoàn I ban lệnh ứng chiến tại các tuyến phòng thủ. Hai giờ trưa các xã ấp quanh Đà Nẵng đã lọt vào tay Cộng quân. Địa phương quân, nghĩa quân tan rã, binh sĩ rã ngũ rời đơn vị.

CSBV pháo phi trường, căn cứ Hải quân khi trời vừa tối rất dữ dội và chính xác nhờ những toán đặc công, tiền pháo viên chỉ điểm hướng dẫn. Tướng Trưởng vội báo cáo về Bộ Tổng tham mưu và gọi cho Tổng thống Thiệu xin di tản bằng đường biển. Tướng Thiệu không ra lệnh rõ ràng chỉ hỏi vu vơ nếu di tản thì có thể được bao nhiêu. Pháo kích của BV khiến cho liên lạc giữa Sài Gòn và Đà Nẵng bị cắt đứt, Tướng Trưởng lập tức ra lệnh bỏ Đà Nẵng, ông họp với Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư lệnh Hải quân vùng I và các cấp chỉ huy để hẹn địa điểm rút quân tại chân đèo Hải Vân , núi Non Nước và cửa khẩu Hội An.

Rạng sáng ngày 29/3/1975 sương mù bao phủ dọc theo bờ biển, ngoài khơi tầu đã có mặt ở điểm hẹn, thủy triều thấp tầu không vào bờ được, binh sĩ phải lội ra biển. Cuộc di tản êm xuôi cho đến khi khi BV phát hiện bèn pháo kích vào địa điểm tập trung quân và tầu ngoài khơi gây nhiều thiệt hại, đoàn tầu di tản được khoảng 6,000 TQLC, 3,000 lính Sư đoàn 3 và nhiều đơn vị khác.

Đà Nẵng được coi như thất thủ ngày 29/3/1975. Có tài liệu cho biết VNCH mất 130 máy bay tại Đà Nẵng. Năm 1976 Tướng Trưởng trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6,000 TQLC, non nửa lực lượng của Sư đoàn và 4,000 quân thuộc các binh chủng khác đã được tầu bè cứu thoát. Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư lệnh Sư đoàn 3 cho biết trong số 12,000 người của Sư đoàn 3 chỉ có 5,000 đến được điểm tập trung và sau cùng chỉ có 1,000 người lên được tầu. Tổng cộng có 70,000 người dân được cứu thoát và 16 ngàn lính, 4 Sư đoàn kể cả TQLC bị thiệt hại nặng nề không thể gọi là đơn vị chiến đấu được nữa. Tất cả quân trang quân dụng, vũ khí, xe tăng đại bác… của Quân khu I coi như mất hết.

Quân khu I thất thủ một cách dễ dàng trong khoảng 10 ngày, không có lực lượng nào được tổ chức để đánh chận hậu, đánh trì hoãn khi Quân đoàn di tản. Cuộc lui binh thất bại hoàn toàn được coi tồi tệ hơn so với Quân đoàn II, hỗn loạn gấp bội phần, sự thiệt hại về nhân mạng cao hơn cuộc triệt thoái tại Tây nguyên nhiều.

© Trọng Đạt

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link