Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM. Show all posts
Showing posts with label PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM. Show all posts

Sunday, August 31, 2014

Tư Lệnh Mỹ ở Á Châu-TBD kêu gọi TQ hành động tương xứng vai trò lãnh đạo khu vực


Tư Lệnh Mỹ ở Á Châu-TBD kêu gọi TQ hành động tương xứng vai trò lãnh đạo khu vực

Sự thật đen tối của thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn với đàn bà


Tư Lệnh Quân đội Mỹ khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Đô Đốc Samuel Locklear
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • TQ hoan nghênh VN bồi thường các nạn nhân các vụ biểu tình bạo động
  • Bà Bùi Thị Minh Hằng bị kết án 3 năm tù giam
  • Đặc phái viên Lê Hồng Anh nói gì với quan chức Trung Quốc?
  • Mỹ ‘quan ngại sâu sắc’ về bản án của 3 nhà hoạt động ở Đồng Tháp

Ðường dẫn

29.08.2014
Đô Đốc Samuel Locklear nói Trung Quốc nên hành động như một lãnh đạo khu vực và tiếp tay giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong Biển Đông.

Bản tin hôm nay của AP trích dẫn tuyên bố của Đô Đốc Locklear hôm thứ năm nói rằng Bắc Kinh nên từ bỏ những hành động hồi gần đây để khẳng định chủ quyền trên hầu như toàn bộ khu vực có tầm quan trọng chiến lược này, những hành động mà theo ông, có tính cách khiêu khích.
Đô Đốc Locklear nói rằng trong khi Trung Quốc tin rằng họ có cơ sở lịch sử vững chắc để đòi chủ quyền vùng biển này, các nước khác cũng có niềm tin vững chắc không kém về chủ quyền của họ đối với khu vực đó.

Nói chuyện với các ký giả tại Trung tâm Đông Tây có trụ sở tại Honolulu, Tư Lệnh Quân đội Mỹ tại khu vực Á Châu-Thái Bình Dương phát biểu:
“Trung Quốc là một lãnh đạo trong khu vực, một lãnh đạo trên thế giới. Họ có trách nhiệm lãnh đạo trong cuộc tranh chấp, để đạt một giải pháp tương nhượng về những vấn đề nan giải này với các nước láng giềng.”

Ông Locklear nói tất cả những nước đòi chủ quyền phải tránh các hành động có tính khiêu khích, và tìm một giải pháp cho vấn đề mà không dùng tới các biện pháp hù dọa.

Báo The Washington Times thuật lời của Đô Đốc Locklear nói rằng Trung Quốc đã khích động, và tạo bất ổn trong khu vực. Đô Đốc Locklear  nói rằng trong tư cách một lãnh đạo khu vực và nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tương lai, Trung Quốc phải “có trách nhiệm lãnh đạo và tạo ra một môi trường an ninh trong khu vực. Thẳng thắn mà nói, quan điểm của tôi là Bắc Kinh đã làm ngược lại trong mấy năm gần đây.”

Ông liệt kê một loạt hành động của Bắc Kinh đã làm leo thang tranh chấp, kể cả “điều giàn khoan dầu vào các vùng biển gần Việt Nam, nạo vét biển quanh các quần đảo và bãi san hô, ra các luật lệ mới để cai quản các vùng tranh chấp, và thái độ miễn cưỡng, không muốn giải quyết vấn đề tại các diễn đàn pháp lý quốc tế.”

Đô Đốc Locklear nói nếu nhìn lại quãng thời gian một năm qua, ta thấy rằng Bắc Kinh đã đạt tiến bộ đáng kể trong việc thay đổi hiện trạng theo hướng có lợi cho họ. Ông nói Trung Quốc có thể có những lập luận có tính thuyết phục, nhưng nước này cần phải đặt những lập luận ấy trong một khuôn sườn pháp lý hiện đại.

Ông nói yêu cầu của Hoa Kỳ là Bắc Kinh phải minh bạch hơn. Họ nghĩ họ có những lý luận vững chắc, nhưng chúng ta không thể biết chắc cho tới khi các lý luận đó được đưa ra mổ xẻ tại một diễn đàn quốc tế.

Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại khu vực Á Châu-Thái bình dương khẳng định rằng tất cả các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông phải tránh các hành động có tính khiêu khích, và tìm một giải pháp tương nhượng, mà mọi bên đều cảm thấy hài lòng.

Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei là các nước khác cũng tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông.

Đánh giá các quan hệ Mỹ-Trung nói chung tại buổi họp báo ở Trung Tâm Đông –Tây ở Honolulu, Đô Đốc Locklear nói các quan hệ ấy về phần lớn, tới 80% là tích cực. Tuy nhiên những lời chỉ trích của ông như vừa kể, theo tờ báo TheWashington Times, là “một chỉ dấu cho thấy nỗi bực dọc với Bắc Kinh trong quân đội Hoa Kỳ đang gia tăng.”

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ - VOA, Chủ tịch Hội Đông Tây, Tiến sĩ Charles E. Morrison nói ông hy vọng xung đột quân sự sẽ không xảy ra. Điều cần thiết, theo Tiến sĩ Morrison, là khu vực Á Châu-Thái bình dương phải dồn nỗ lực để phát triển các tổ chức vùng, các cơ chế để giải quyết tranh chấp và phát triển hòa bình, tương tự như những điều mà Châu Âu đã thực hiện thành công sau hai cuộc Thế Chiến. Tiến sĩ Morrison:

“Chúng ta không đề cập tới xung đột quân sự trong khu vực, tôi hy vọng thế, điều mà chúng ta nói tới là những nỗ lực để thiết lập những định chế khu vực và định chế toàn cầu, và Hoa Kỳ tham gia rất tích cực vào các nỗ lực này. 

Theo cách nhìn của tôi thì trong thế kỷ 20 vừa qua, đã xảy ra hai cuộc thế chiến xuất phát từ Âu Châu, bây giờ dân chúng ở Pháp, ở Đức, ở Ý, và cả Mỹ nữa, họ không thể hình dung đất nước họ sẽ rơi vào chiến tranh. Họ đã thiết lập rất nhiều định chế sau này trở thành những dấu ấn của một cộng đồng quốc tế bền vững. Tôi cho rằng đây là một thách thức lớn đối với khu vực Á Châu-Thái bình dương trong thế kỷ 21. 

Chúng ta phải xây dựng các quan hệ như thế nào để chiến tranh trở thành một ý niệm không bao giờ có thể xảy ra. Đây là thách thức mà Hoa Kỳ sẽ tham gia hết mình để thực hiện, bởi vì mặc dù Hoa Kỳ về mặt địa lý không thuộc lục địa Á Châu, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích và những liên hệ mật thiết về mọi mặt kinh tế, xã hội, v..v.. với Á Châu, và sẽ tiếp tục có mặt trong tương lai của khu vực này.”

Thưa quý vị, Tiến sĩ Charles Morrison là Chủ tịch Hội Đông-Tây, một trong những viện nghiên cứu chính sách lớn nhất khu vực Châu Á-Thái bình dương.

Nguồn: AP, Washington Times, Xinhua, VOA Interview

Công nghiệp phụ trợ: “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ”

Vũ Hoàng, RFA
2014-08-29

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
08292014-vuhoang.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Hkg8686356.jpg
Triển lãm xe công nghiệp Trung Quốc được lắp ráp tại VN hôm 12/6/2013, tại Hà Nội
 AFP photo




Thời gian gần đây, Việt Nam nhắc nhiều đến một yếu tố quan trọng để đưa nền kinh tế ra khỏi sự ảnh hưởng, lệ thuộc vào Trung Quốc và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu đó là đẩy mạnh những ngành “công nghiệp hỗ trợ”.

Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ được hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu và công cụ sản xuất hay sản phẩm tiêu dùng.

Trong cuốn “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam" G.S Trần Văn Thọ chỉ ra rằng “công nghiệp hỗ trợ” rất quan trọng vì ngoài việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chiều rộng và chiều sâu, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và tạo thêm việc làm một cách hiệu quả.
Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam. 

TS Trần Văn Hải
Vì lẽ đó, nếu công nghiệp hỗ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh, khó thu hút được các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh Biển Đông còn nhiều phức tạp, việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc chứa đựng nhiều rủi ro, bất ổn vì thế ngành công nghiệp hỗ trợ càng có vai trò lớn hơn, nhằm đảm bảo tính chủ động của nền kinh tế quốc nội.

Thậm chí nhiều vị còn cho rằng “công nghiệp hỗ trợ” này phải mang tính chất “xương sống” của nền công nghiệp quốc gia.
Thế nhưng, trên thực tế ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa cất cánh và chưa được chú trọng đầu tư dù rằng đã có những quy hoạch phát triển do Chính phủ phê duyệt từ cách đây hàng chục năm.

Đánh giá chung về ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, T.S Trần Văn Hải, nguyên là giảng viên bộ môn Kinh tế ở một trường đại học tại Hà Nội hiện đang làm tư vấn về đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài nhận xét:

“Những ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam. Đơn giản, họ chỉ lắp ráp các sản phẩm công nghiệp ở trong nước, rồi sau đó mang đi xuất khẩu.

Chính vấn đề đó, nó giúp cho Việt Nam trong chuỗi sản phẩm không lớn. Cũng chính vì đặc tính trên nên giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm không nhiều.”

Ngoài ra, T.S Hải lấy thí dụ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hay Malaysia những ngành công nghiệp hỗ trợ có vị trí rất quan trọng để phát triển nền công nghiệp trong nước, những quốc gia trên ưu tiên phát triển những ngành này từ những ngày đầu thực hiện công nghiệp hóa tại nước họ.
Kết quả là xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng ở những quốc gia trên có sự phân công lao động hợp lý và hiệu quả.

Nghịch lý Việt Nam

Nếu nhìn vào bức tranh chung, có thể nhận thấy vai trò của ngành công nghiệp trong nước hiện tại tạo ra giá trị gia tăng không nhiều trong chuỗi sản phẩm, vì thế phần đóng góp của Việt Nam không cao, chỉ được coi như “phần ngọn” trong khi “phần gốc” lại là hàng hóa nhập khẩu về từ một bên thứ ba.
Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất.
GS Vũ Văn Hóa

Chính điều này được giáo sư Vũ Văn Hóa gọi bằng cái tên “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ” ông phân tích:
“Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất, dệt may chẳng hạn, tăng trưởng của nó theo thông báo thì tương đối lớn trong xuất khẩu thế nhưng từ nguyên liệu là vải đến tất cả các việc tạo ra một cái áo, ngay cả mẫu mã cũng phải nhập ở nước ngoài. Như vậy Việt Nam chỉ có mỗi cái chi phí nhân công là chính mà chi phí nhân công của Việt Nam lại quá rẻ.”

Trong một buổi thảo luận gần đây về ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, G.S T.S Võ Thanh Thu của trường Đại học Kinh tế TPHCM đã phát biểu với truyền thông trong nước rằng “Việt Nam sắp đi hết chặng đường 30 năm đổi mới kinh tế, nhưng chỉ mới xây dựng được nền công nghiệp gia công mang tính phụ thuộc.

Nền kinh tế Việt Nam đứng trước một nghịch lý đó là nguyên liệu trong nước có khả năng cung cấp được thì hầu hết xuất khẩu thô như nông sản, than đá… công nghiệp chủ lực mang lại ngoại tệ cho đất nước chủ yếu gia công lắp ráp từ nguyên liệu nước ngoài, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển.”

Với hai điểm cơ bản thứ nhất là thoát khỏi sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, tăng cường tính chủ động cho nền kinh tế, và thứ hai là tăng cường giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu cũng như FDI, do đó, việc đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ hẳn là lúc cần phải được đẩy nhanh. 

Vậy những gì Việt Nam cần phải làm lúc này:
“Hiện nay các doanh nghiệp tư nhân không có điều kiện để mà khai thác các thị trường mặc dù họ vẫn có thể có cơ hội ở đâu đó thị trường trong nước, thị trường bên ngoài hoặc tạo thành các doanh nghiệp mang tính chất cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài để tham gia vào các liên kết.

Cũng có thể là ban đầu ở vị trí thấp hoặc cung cấp một số sản phẩm thôi về sau nâng cấp dần để có thể tham gia sâu hơn vào những giá trị trong khu vực và toàn cầu.”
Vừa rồi là lời nhận xét của bà Phạm Chi Lan trong một lần phỏng vấn gần đây với chúng tôi khi nói về làm sao để thúc đẩy vai trò khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt động của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Theo số liệu thống kê, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện với quy mô sản xuất nhỏ, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm và chiếm tới hơn 97% số doanh nghiệp ở Việt Nam.

Nhiều chuyên gia cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là biện pháp hữu hiệu nhất để đối phó với khủng hoảng kinh tế cũng như khiến nền kinh tế nội địa chủ động hơn.

Bên cạnh biện pháp tăng cường vai trò của những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi sản xuất, việc đẩy mạnh vai trò của công nghiệp hỗ trợ cũng khiến môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài, khiến họ không còn phải lo lắng vấn đề nhập khẩu linh kiện, thiết bị phụ trợ hay các dịch vụ đi kèm từ một nước thứ ba.

Và cuối cùng khi một nền công nghiệp phụ trợ phát triển cũng sẽ đẩy mạnh tiến trình chuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất.

Có thể nhận thấy tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trong khu vực, thế nhưng để ngành công nghiệp này phát huy tối đa hiệu quả thì còn là câu chuyện dài vì như lời T.S Trần Du Lịch nhận xét: “Bàn bạc bao nhiêu, cuối cùng cũng chỉ là những tài liệu cất trong hộc bàn.”


Thursday, May 1, 2014

“Đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự”


“Đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự”

Theo VnEconomy
Nguyên Hà
Ông Trương Đình Tuyển phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân - Ảnh: CK.
Ông Trương Đình Tuyển phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân – Ảnh: CK.

“Tôi nghĩ, đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự. Bản chất của nhà nước mang tính quan liêu, và để khắc phục quan liêu thì cần phát huy vai trò của xã hội dân sự”.

Rất ngắn gọn, song ý kiến phát biểu của nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển nhận được nhiều tiếng vỗ tay hưởng ứng tại ngày làm việc thứ hai (29/4) của Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2014, diễn ra tại Hạ Long (Quảng Ninh), với nội dung chính là bàn thảo về cải cách thể chế.
Theo ông Tuyển, thể chế kinh tế thị trường hiện đại phải bao gồm thị trường, nhà nước và xã hội dân sự.

“Hiện nay ta đang cấm kỵ dùng cụm từ xã hội dân sự, tôi đồ rằng chúng ta kỵ cụm từ này cũng như từng kỵ thể chế kinh tế thị trường vì coi đó là cấu trúc kinh tế của kinh tế tư bản. Và bây giờ mình đang coi xã hội dân sự là sản phẩm của nền chính trị tư sản. Đã đến lúc phải thấy xã hội dân sự là sản phẩm của sự phát triển dân chủ, mà sự phát triển dân chủ có tính quy luật”, ông Tuyển nói.

Vẫn theo nguyên Bộ trưởng, thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đề cập dân chủ là xu thế khách quan trong sự phát triển của loài người. Mà đã thừa nhận là xu thế khách quan thì phải mở rộng dân chủ và đương nhiên phải tôn trọng vai trò của xã hội dân sự.
“Nếu xã hội dân sự có thể tham gia xây dựng chính sách, phản biện chính sách và giám sát quá trình thực hiện thì nó sẽ hỗ trợ khắc phục những hạn chế của thị trường và sự quan liêu của nhà nước”, ông Tuyển khẳng định sự cần thiết thừa nhận xã hội dân sự.

Kiến nghị các giải pháp đẩy nhanh cải cách thể chế, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Lê Xuân Bá đề nghị nhanh chóng ban hành luật về biểu tình và ban hành luật về xã hội dân sự, bởi theo ông, đó là quyền của dân, không có gì phải e ngại.

Cũng đề cập đến vai trò của xã hội dân sự trong phát biểu của ông Tuyển, chuyên gia Phạm Chi Lan đề nghị Quốc hội cần có cơ chế để lắng nghe tiếng nói thực sự của dân.
“Đại biểu tiếp xúc cử tri còn hình thức lắm, tôi 72 tuổi mà chưa một lần được đi tiếp xúc với đại biểu tôi bầu với tư cách là cử tri bình thường. Trong số các vị do chính mình bầu ra đến nay tôi cũng chỉ nhớ tên một vi, còn các vị khác hoàn toàn không nhớ gì cả”, bà Lan nói.

Bên lề Diễn đàn, một số ý kiến cũng bày tỏ đồng tình với quan điểm của ông Trương Đình Tuyển.

Chuyên gia Lê Đăng Doanh cho rằng xã hội dân sự Việt Nam đã phát triển và cần phải chấp nhận nó. Các tổ chức xã hội cần được trao quyền tham gia xây dựng, phản biện, giám sát thực thi chính sách và cho họ cả cái quyền được tham gia tố tụng tại tòa án. “Nếu được trao quyền và có khung khổ pháp luật thì tự họ phải hoạt động nghiêm túc”, ông Doanh nhìn nhận.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, một xã hội kém phát triển như Việt Nam thì sự tham gia của xã hội dân sự vào cải cách thể chế là chưa thực sự phù hợp.

Ai sẽ làm chủ nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?

Nguyễn Hữu Quý
Sau gần 20 năm kiên định với cơ chế quản lý “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, một khái niệm, một cơ chế mơ hồ lẫn trên lý thuyết, và thất bại trên thực tiễn; thì hôm nay, những người lãnh đạo Việt Nam, mặc dù chưa chính thức công bố từ bỏ nó, nhưng có thế đã chuẩn bị cho sự cáo chung đối với đường lối sai lầm này.

Báo “Người đồng hành” (NDH), trong bài viết “Bộ trưởng Tài chính: Có thể cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm cổ phần chi phối” (1), đăng ngày 28.4.2014, dẫn lời Bộ trưởng Tài Chính, ông Đinh Tiến Dũng, trong một cuộc phỏng vấn của tờ Nikkei nhân chuyến thăm Nhật Bản vừa qua, bài báo cho biết:
“(NDH) Việt Nam đang xem xét nới room cho nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết từ mức 49% lên tận 60%, tờ nhật báo Nikkei của Nhật Bản dẫn lời Bộ trưởng Tài chính Việt Nam Đinh Tiến Dũng đưa tin”.

Rõ ràng, sức ép để được gia nhập là thành viên của TPP là rất lớn, bởi việc gia nhập TPP có thể là con bài cuối để cứu vãn nền kinh tế đang trên đà sụp đổ của Việt Nam. Sở dĩ có thể nhận định như vậy, vì ở cuối bài, bài báo viết:
“Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết Chính phủ đang đẩy mạnh công cuộc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và các công cuộc cải cách khác, trong đó có việc giảm rào cản đối với dòng vốn nước ngoài, nhằm tạo điều kiện cho nỗ lực tham gia Hiệp định TPP”.

Ngược thời gian, cách đây 15 năm, tức là năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 103/1999/NĐ-CP, “Về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước”(2); Tuy nhiên, thời kỳ đó đang là thời kỳ cao điểm về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nguồn tài nguyên chưa đến mức đã bán đến cạn kiệt như hiện nay, cho nên áp lực để cổ phần đối với DNNN chưa cấp thiết. Chính vì vậy, các nhóm lợi ích vẫn cố duy trì DNNN, là nơi để tham nhũng, chia chác quyền lợi theo lối “tư duy nhiệm kỳ” cố hữu do thể chế tạo nên…

Nên mừng hay nên lo, ai hưởng lợi?
Dễ dàng để nhận thấy rằng, đến thời điểm này, nếu “cho nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết từ mức 49% lên tận 60%”, thì Trung Quốc sẽ là nước đầu tiên hưởng lợi, vì họ đã gần như làm chủ nền kinh tế Việt Nam khoảng trên dưới cả chục năm nay.

Chẳng hạn: Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, nhưng năm 2013, Công ty Cổ phần Vinacafe Biên Hòa, đã để cho một doanh nghiệp Trung Quốc chi 40 triệu USD để trở thành cổ đông lớn, và để cho nước ngoài chiếm cổ phần đến 76,5%, trong khi đây là doanh nghiệp ăn nên làm ra, với lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm 2013 là 115 tỷ đồng (3); ở Việt Nam hiện nay, không dễ gì có doanh nghiệp đạt được lợi nhuận như thế, việc bán cổ phần của Công ty Cổ phần Vinacafe Biên Hòa là rất đáng ngờ và đáng để suy ngẫm!

Nếu như tới đây, Chính phủ Việt Nam không có một Hội đồng cấp Nhà nước để theo dõi, quản lý quá trình Cổ phần hóa các DNNN theo chủ trương đã đề ra, thì rất có thể, sẽ có sự bắt tay giữa các Chủ doanh nghiệp này với cá nhân và tổ chức nước ngoài để gửi giá và ăn chia, lại quả…
Một lần nữa, tài sản quốc gia lại bị thất thoát thông qua việc Cổ phần hóa lần này. Người ta sẵn sàng hạ giá trị tài sản của doanh nghiệp xuống hàng chục, thậm chí là hàng trăm lần so với giá trị thực… hưởng lợi sẽ là cá nhân hoặc các tổ chức nước ngoài mua DNNN.
Với lợi thế mà Trung Quốc đã tạo dựng được trên đất nước Việt Nam (kinh tế, chính trị, ngoại giao…), không còn nghi ngờ gì nữa, với chủ trương trên, thì Trung Quốc sẽ thâu tóm hầu hết các doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong thời gian tới.

Và đương nhiên, Trung Quốc sẽ làm chủ nền kinh tế Việt Nam.

Sự khai tử của nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, và cơ chế quản lý “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Dễ dàng nhận thấy, nếu như Nghị định số 103/1999/NĐ-CP (nói trên) mà được thực hiện một cách nghiêm túc, thì chỉ cần trong khoảng vài năm, hoặc muộn là 5 năm (1999-2004), thì việc tiến hành cổ phần hóa DNNN đã xong; và như vậy, kinh tế Việt Nam không rơi vào cảnh sắp bị phá sản như bây giờ. Cũng do không phát triển được nội lực, cho nên, hiện tại, bức tranh về nợ công của Việt Nam, “Nếu tính đủ, nợ công phải lên tới gần 100% GDP. Tỷ lệ an toàn theo báo cáo hiện nay là 55,7% và ‘theo quy định’. Điều này chứa đựng nguy cơ ảo tưởng về mức độ an toàn của sự rủi ro”; Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đã phát biểu như thế tại “Diễn đàn Kinh tế mùa xuân”, khai mạc sáng (28/4) tại TP Hạ Long(4).

Cũng vì nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, cho nên, bị các nhóm lợi ích thâu tóm, làm cho quá trình Cổ phần hóa DNNN không diễn ra được, để rồi đến hôm nay phải chịu hậu quả.

Rõ ràng, việc Cổ phần hóa, trong đó để nhà đầu tư nước ngoài được chiếm đến 60% cổ phần (tức nắm phần chi phối, hay được toàn quyền quyết định đối với doanh nghiệp), là một thất bại của Việt Nam ở tầm quốc gia. Quan điểm này cũng chính thức khai tử chủ trương “thành phần kinh tế Nhà nước làm chủ đạo”; hay nói một cách rộng hơn, cơ chế quản lý “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã bị chính Đảng cộng sản Việt Nam bắt đầu khai tử.
Nhìn từ phương diện dân chủ hóa Đất nước, thì đây là tín hiệu tốt.

Đâu là hy vọng?
Sự kiện này (để nhà đầu tư nước ngoài được chiếm đến 60% trong DNNN) mang tính hai mặt mà ta có thể nhận thấy:
1. Việc Cổ phần hóa DNNN bị chậm mất 15 năm, cùng với sự bảo thủ, sai lầm trong nhiều chủ trương khác, đã đưa Đảng cộng sản Việt Nam đến sự bế tắc toàn diện như hiện nay.

2. Đảng cộng sản Việt Nam (vô hình dung) đã thừa nhận thất bại trong điều hành kinh tế đất nước. Nếu như ai cũng biết rằng “Các tập đoàn và tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia”(5), thì đây là thất bại toàn diện, thậm chí là nguy hiểm với đất nước.

3. Hy vọng người Việt Nam, đặc biệt là Việt kiều ở Mỹ, có đủ năng lực về tài chính để tham gia mua lại cổ phần, hạn chế tối đa để Trung Quốc thâu tóm kinh tế Việt Nam. Đồng thời, Chính phủ có chính sách ưu tiên đối với Việt kiều trong sự kiện này.

4. Hy vọng, người Nhật với sự nhìn xa trông rộng và tiềm lực tài chính của mình, sẽ có những hành động thiết thực để có thể cân bằng với người Trung Quốc trong vấn đề này.
29.4.2014
N.H.Q

Xã hội dân sự, có gì mà ngại?

Nguyễn Vạn Phú
Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2014 là một diễn đàn về kinh tế, nơi tập hợp các chuyên gia chủ yếu trong lãnh vực kinh tế để thảo luận chuyện kinh tế. Thế nhưng điều đọng lại với tôi là người theo dõi sự kiện này lại là phát biểu của cựu Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển về… xã hội dân sự.
Ông nói và được báo VnEconomy trích đăng: “Tôi nghĩ, đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự. Bản chất của nhà nước mang tính quan liêu, và để khắc phục quan liêu thì cần phát huy vai trò của xã hội dân sự”.

Có lẽ với nhiều người khác, điều ngạc nhiên với họ là vì sao phải thừa nhận xã hội dân sự trong khi nó tồn tại khách quan bất kể ý thức chủ quan của bất kỳ ai.

Ông Tuyển, một lần nữa, lại nói ngay vào bản chất của vấn đề “xã hội dân sự” tại Việt Nam: “Hiện nay ta đang cấm kỵ dùng cụm từ xã hội dân sự, tôi đồ rằng chúng ta kỵ cụm từ này cũng như từng kỵ thể chế kinh tế thị trường vì coi đó là cấu trúc kinh tế của kinh tế tư bản. Và bây giờ mình đang coi xã hội dân sự là sản phẩm của nền chính trị tư sản. Đã đến lúc phải thấy xã hội dân sự là sản phẩm của sự phát triển dân chủ, mà sự phát triển dân chủ có tính quy luật”.

Đúng là trong một thời gian dài, không hiểu do đâu, vì ai mà khái niệm “xã hội dân sự” trở thành một “taboo [điều cấm kỵ]” trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống, có dùng thì phải biến báo thành từ khác như xã hội công dân. 

Ở đây có lẽ phải nói ngay một điều có thể trở thành nguyên tắc ngay được: Nên chấm dứt chuyện cấm bằng lệnh miệng hay truyền miệng; nó vừa “tam sao thất bổn” vừa dễ bị kẻ xấu lợi dụng, nó đi ngược lại nguyên tắc công khai minh bạch của quản lý nhà nước. Giả dụ “xã hội dân sự” là điều không được bàn luận thì phải dựa trên một cơ sở pháp lý nào đó, bằng văn bản hẳn hoi, chứ như thời gian qua, nếu ai đó cất công đi tìm hiểu vì sao “xã hội dân sự” được ông Tuyển khẳng định là đang bị cấm kỵ thì có lẽ sẽ không ai tìm ra.

Thực tế, nhiều bài viết của những người đảm nhận các trọng trách trong lãnh vực văn hóa tư tưởng vẫn sử dụng, vẫn bàn về “xã hội dân sự” một cách bình thường, thậm chí còn xem đó là một góc độ để phát huy nền chính trị dân chủ ở nước ta. Tôi lấy ví dụ một cách ngẫu nhiên bài của TS Đỗ Minh Cương (Ban Tổ chức Trung ương) đăng trên tạp chí Cộng sản có đoạn: “… thực hiện sự đồng thuận giữa chế độ chính trị với xã hội dân sự, giữa các tổ chức chính trị với các tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân để hạn chế các tệ nạn của bộ máy công quyền (quan liêu, tham nhũng, lãng phí…) và phát huy được năng lực tự quản, tính chủ động, tích cực về chính trị của nhân dân.” (NV nhấn mạnh).

Hay một đoạn trích khác của tác giả Trần Ngọc Hiên cũng đăng trên tạp chí Cộng sản: ”Sự ra đời Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là kết quả tất yếu do nghiên cứu phát triển của kinh tế thị trường. Ở đâu có kinh tế thị trường thì ở đó phải có Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Ba bộ phận đó cấu thành hệ thống của một thể chế kinh tế chính trị, mà sự hoàn thiện của hệ thống thể chế hoàn toàn chỉ dựa vào sự liên hệ tương tác với nhau giữa ba bộ phận. Đó chính là quá trình phát triển chế độ dân chủ. Không hình thành hệ thống với ba bộ phận và không có quy chế liên hệ tương tác thì thể chế kinh tế chính trị chỉ dừng lại ở mong muốn chủ quan, kinh tế thị trường sẽ trở nên hoang dại. Thể chế Nhà nước sẽ sa vào quan liêu, tham nhũng nặng nề”. (NV nhấn mạnh).

Chừng đó cũng đủ thấy con ngáo ộp “xã hội dân sự” bị cấm đoán bằng con đường nào đó chỉ là ý muốn của những cá nhân nào đó, do không hiểu rõ vấn đề, lại lo sợ khi thấy người ta lạm dụng cụm từ này vào nghĩa khác.

Nhưng nếu gặp trường hợp cứ cho là có sự lợi dụng cụm từ “xã hội dân sự” vào chuyện kích động người dân vì mục đích hay động cơ được xem là xấu thì tại sao không để những tiếng nói phản biện tranh luận lại để cuối cùng mọi người hiểu đúng về vai trò của xã hội dân sự trong quá trình phát triển đất nước?

Có rất nhiều cách hiểu, cách nhìn về xã hội dân sự nhưng với tôi đây chỉ là nơi mà con người cùng nhau thiết lập các mối quan hệ không bị chi phối bởi luật lệ chính thống nữa. Chuyện bác sĩ nhận phong bì, chuyện giáo viên o ép học sinh học thêm, chuyện ca sĩ ăn mặc phản cảm… làm sao luật lệ nhà nước bao quát cho hết được. 

Vì thế mới đẻ ra những hội đoàn như y sĩ đoàn để duy trì giềng mối đạo đức trong giới bác sĩ và từ đó bảo vệ cho cả cộng đồng y bác sĩ, như nghiệp đoàn giáo chức để cùng nhau thỏa thuận những ranh giới đạo đức mà người thầy đúng nghĩa không được vượt qua, như hội nghề nghiệp của các diễn viên, nghệ sĩ để cùng nhau giữ lấy thanh danh… Cái đó có gì là xấu? Có gì phải lo ngại? Có gì phải cấm đoán.

Đó còn là nơi người dân giám sát hoạt động của nhà nước, của quan chức coi thử có phục vụ lợi ích cho toàn xã hội hay chỉ lo cho một nhóm lợi ích nào đó. Đó còn là nơi các quan điểm khác nhau cọ xát để tìm ra chân lý vì không ai có thể độc quyền về chân lý mãi mãi.

 Ở góc độ này, dù muốn dù không xã hội dân sự vẫn đang hoạt động mạnh mẽ qua sự phản biện của công luận hay báo chí trước các vấn đề của xã hội. Kinh tế thị trường luôn ưu ái cho người có tài sản; nhà nước luôn có xu hướng sử dụng quyền lực để tiện lợi cho việc quản lý nên dễ rơi vào chỗ lạm quyền; quan chức thì dễ rơi vào cạm bẫy quyền lực và tiền bạc.

 Vì vậy nền kinh tế thị trường mà không có sự lớn mạnh của một xã hội dân sự để làm cái thắng cho sự tham lam, lạm quyền, tham nhũng thì đúng là nền kinh tế ấy sẽ chỉ là biểu hiện của một dạng chủ nghĩa tư bản hoang dã.
Xã hội dân sự – thật sự có gì mà phải ngại?



Monday, April 14, 2014

PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM

 


PT CĐVN: về việc chính quyền VN thả các nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung và Vi Đức Hồi

PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM
Thông cáo báo chí của Con Đường Việt Nam
về việc chính quyền Việt Nam trả tự do cho các nhà hoạt động
Nguyễn Tiến Trung và Vi Đức Hồi 
Hình ảnh mới nhất của Nguyễn Tiến Trung tại nhà riêng, ngày 12/04/2014.

Hà Nội, 12/4/2014 - Phong trào Con đường Việt Nam nhận được tin các nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung và Vi Đức Hồi vừa được trả tự do ngày 12-4 theo lệnh đặc xá của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Chúng tôi cho rằng đây là một chuyển biến tích cực về quyền con người ở Việt Nam, vốn là mục tiêu hoạt động của PT CĐVN kể từ khi được thành lập đến nay.

Chúng tôi hoan nghênh động thái này của chính quyền Việt Nam và cho rằng, việc trả tự do cho các nhà hoạt động này là kết quả của những nỗ lực đấu tranh không mệt mỏi vì quyền con người của đồng bào trong nước và nước ngoài, trong đó có các nhà hoạt động và các tổ chức đấu tranh. Chúng tôi cũng lưu ý rằng, hiện nay vẫn còn hàng trăm tù nhân lương tâm tại Việt Nam và các hồ sơ của các nhà hoạt động Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng cùng nhiều nhà hoạt động khác vẫn đang là tâm điểm thu hút các nỗ lực đấu tranh và các sức ép trong, ngoài nước. PT CĐVN sẽ tiếp tục đấu tranh không chỉ cho sự tự do của các nhà hoạt động này mà còn cho sự tôn trọng tuyệt đối các quyền con người của mọi người dân Việt Nam.

Động thái trả tự do cho một số tù nhân lương tâm gần đây của chính quyền chứng tỏ tính hiệu quả của các hoạt động đấu tranh dân sự, ôn hòa và bất bạo động. Chúng tôi cũng kêu gọi các nhà hoạt động và các tổ chức dân sự đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ quyền con người của mình để cải thiện tình hình nhân quyền vốn vẫn đang ở mức nghiêm trọng của Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam chấm dứt các hành vi sách nhiễu và kiểm soát trái pháp luật đối với các nhà hoạt động dân sự, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để xã hội dân sự ở Việt Nam hình thành và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.  

Ngày 12 tháng Tư, năm 2014
TM. Phong trào Con Đường Việt Nam
Nguyễn Xuân Ngãi
 ----------- oOo -----------


THE VIETNAM PATH MOVEMENT
Press Release regarding the Vietnamese government’s
release of activists Nguyen Tien Trung and Vi Duc Hoi
  
Hanoi, 4/12/2014 - The Vietnam Path Movement has received news of activists Nguyen Tien Trung  and Vi Duc Hoi being released from prison today following an order signed by Vietnam President Truong Tan Sang.  We believe the release of these two activists is a positive change toward human rights in Vietnam, which is the main operational objective of the Vietnam Path Movement ever since the movement is founded.

We welcome this decision by the government of Vietnam and believe that recent release of activists is the result of the relentless struggle for human rights by people from within the country and abroad, which includes the activists themselves and many other organizations.  We also want to note that there are hundreds of prisoners of conscience who are still imprisoned in Vietnam. Profiles of activists Tran Huynh Duy Thuc, Le Quoc Quan, Dinh Nguyen Kha, Nguyen Van Hai (Dieu Cay), Ta Phong Tan, Bui Thi Minh Hang, and many others are still the main focus for struggles and pressures both domestically and abroad.  The Vietnam Path Movement will not only continue to fight for the freedom of activists but also for the absolute respect for human rights of all citizens of Vietnam.

The recent release of some prisoners of conscience by Vietnam government proved are proofs for the efficient of peaceful and non-violent struggle.  We encourage activists and civil groups to further promote activities aiming for the protection and improvement of human rights, which is still a serious concern in Vietnam.  Meanwhile, we urge the government of Vietnam to terminate all acts of harassment and unlawful control/monitor toward civil activists, create a legal and broader corridor for civil society in Vietnam to form and contribute toward the overall development of the country.

April 12, 2014
On behalf of the Vietnam Path Movement
Nguyen Xuan Ngai



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link