Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label VIETNAM. Show all posts
Showing posts with label VIETNAM. Show all posts

Monday, April 22, 2013

Tháng Tư, chết và sống!


 

 

----- Forwarded Message ----
From: Patrick Willay <
To



 

Tháng Tư, chết và sống!

Huy Phương


Chết không phải là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

(Chúc Thư)

Trong một cuộc phỏng vấn với một sĩ quan VNCH đã trải qua những giờ phút kinh hoàng trên bãi biển An Dương vào ngày 26 Tháng Ba, 1975, khi một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị kẹt lại trên bờ biển, trước mặt là biển cả chỉ có một chiếc tàu nhỏ hải quân vào đón thương binh, sau lưng là quân thù và đạn pháo, phần lớn những người lính thất trận đã bị “chết cạn” trên bờ biển tại đây hay bị bắt làm tù binh, tôi đã đặt câu hỏi với người lính còn sống sót đến hôm nay, là điều gì khiến cho ông suy nghĩ nhất, sau ba mươi tám năm dài trôi qua?

Thẻ bài tử sĩ tìm thấy trên bãi biển An Dương. (Hình: Huy Phương)

Ðiều ông nói có thể khi mới nghe qua, chúng ta ngạc nhiên, nhưng nghĩ lại nghe thật giản dị, nhưng không khỏi xót xa:

“Ðiều ân hận của tôi là đã không được chết!”

Tôi nghĩ rằng câu nói của ông, người lính già, trong giờ phút nhắc lại chuyện cả một quân đội tan rã, bao nhiêu người đã nằm lại trên những con đường lui binh, trên những bờ biển tuyệt vọng của miền Nam, là một câu nói phát xuất từ đáy lòng, không khoa trương hay đại ngôn chút nào, bởi sự sống có trăm nghìn lần khó khăn hơn sự chết!

Bản năng sinh tồn của mọi loài là cố bám lấy sự sống. Chúng ta cũng không trách ai những ngày hỗn loạn, tìm được một chỗ trên trực thăng hay ra đi với toàn bộ gia đình an toàn trên một chiến hạm ra khơi trong khi xe tăng của địch quân đã vào đến Sài Gòn. Khi những con tàu rời bến Khánh Hội, khi những chiếc trực thăng đã bốc lên cao giữa một thủ đô đang hứng chịu những quả đạn pháo kích cùng với cảnh hỗn loạn của một giờ thất thủ, ở những nơi nào đó, có những người lính đang tuân thủ lệnh chỉ huy giữ đất một phút không rời, hay thất vọng đành quàng vai ôm nhau, chia chung cái chết.

Ba mươi tám năm sau, những người còn sống sót, bằng cách này hay cách khác, lần lượt ra khỏi đất nước, đã thật sự còn sống không hay cũng như đã chết. Có những vị tướng đã chết lẫm liệt, cho những ông tướng khác sống cuộc đời tầm thường trên đất khách, ngày hai buổi sáng chiều và chết quạnh quẽ, hay thậm chí còn quay về bợ đỡ kẻ thù.

Có những người lính đã chết trong những giờ cuối cùng để cho chiến hữu họ được sống, qua ngày đoạn tháng, trở về trên những con đường tắm máu ngày xưa, nhưng đầu óc trống rỗng, ngu ngơ như những người mất trí nhớ. Có những người còn thân thể còn lành lặn nhưng tâm thần tê liệt, trở lại rong chơi giữa số phận nghiệt ngã của đồng đội què cụt quanh mình.

Trở lại câu trả lời của người lính già, ông nói ngày xưa, nếu nằm lại với anh em trên bãi biển, cái chết đến một cách thật dễ dàng, nhưng cái sống bao nhiêu năm nay quả là khó, vì không biết sống thế nào cho đáng sống, cho khỏi hổ thẹn với chính mình, nhất là khi nghĩ đến những người đã chết ngay trước mặt mình, đã chết ngay sau lưng khi mình đã may mắn được ra đi.

Sống phải chăng không dễ, vì sự sống còn mang nặng nghĩa vụ với những người đã chết.

Chúng tôi xin nhắc lại một câu chuyện cũ. Ngày 21 Tháng Sáu, 1945, khi quân đội Nhật không giữ được Okinawa, tại bộ tư lệnh của đơn vị tại Mabumi, Tướng Mitsuri Ushijima đã viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo, trước khi tiến hành việc mổ bụng tự sát, ông đã nói với Ðại Tá Hiromichi Yahara:

“Ðại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng đây là lệnh từ cấp chỉ huy của ông!”

Yahara do đó là sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Ðánh Vì Okinawa.” Như vậy, sống còn phải chăng cũng là một nghĩa vụ?


Bia mộ 132 tử sĩ. (Hình: Tố Thuận)


Lòng dũng cảm không chỉ dành cho những vị anh hùng đã tự sát. Sống cũng cần lòng dũng cảm. Từ ba mươi tám năm nay có những người sống trong sợ hãi, tê cứng tứ chi và đầu óc. Họ sợ khi trở về Việt Nam bị công an làm khó dễ, họ sợ con cái của họ còn ở bên kia sẽ bị liên lụy, họ sợ sẽ không được trở về để thăm viếng người thân, nếu ở bên này họ có một cử chỉ hay lời nói nào chống lại hay gây bất lợi cho chế độ trong nước. Toàn là những cái sợ cho lợi lộc của bản thân. Chúng tôi cũng xin nói thêm đây không phải là một người dân bình thường, tình cờ một đêm nọ, có mặt trên bãi biển, là điểm hẹn của những người vượt biển, nên bị lùa xuống ghe, bất đắc dĩ phải bỏ nước ra đi, mà họ là những người quyết định chọn cái chết để tìm con đường sống, hay đã đánh đổi bằng những năm tháng tù đày khốn khổ nơi chốn rừng thiêng nước độc. Họ cũng không phải là những người lính vô danh, những người này có hoạt động trong các hội đoàn, có tên tuổi, có chức vị.

Một lần tôi có hẹn phỏng vấn với một cán bộ xây dựng nông thôn trên một chương trình truyền hình về quá trình hoạt động của đơn vị ông trước năm 1975. Trước giờ thu hình, tôi gọi điện thoại cho ông, ở đầu dây bên kia, vợ ông trả lời “ông không có nhà.” Tôi ngỡ rằng ông đang trên đường đến đài truyền hình, nhưng khi tôi xưng danh tánh, bà vợ cho tôi biết “ông đã đi xa - out of town!” Trời đất! Mới hôm qua đây, ông “ừ è” với tôi, mà chỉ trong thời gian, chưa đến 24 tiếng đồng hồ, ông đã trốn chạy một buổi phỏng vấn, cũng là trốn chạy cái dĩ vãng mà ông thường tự cho là hào hùng ngày xưa, chỉ vì một nỗi sợ hãi nào đó, mà bản thân ông không đủ can đảm nói thật với tôi là ông sợ.

Một người nữa đang sống, bề ngoài có vẻ hào hùng nhưng còn sợ hãi. Ðây là một cựu sĩ quan có chức vụ trong một hội đoàn cựu quân nhân, và vào dịp Tháng Tư năm nay, tôi muốn mời ông lên một chương trình nói về những ngày “lui binh.” Ðến giờ thu hình, không thấy ông đến, sốt ruột, tôi gọi cho ông. Ông trả lời vắn tắt, trong khi đèn đuốc, sân quay, chuyên viên và cả tôi đang chờ ông: “Tôi bận, không đến được!”

Ông biết truyền thông đi xa, có khi về tận bên kia, cẩn thận ẩn mình đi là tốt. Có điều tôi không hiểu sao ông lại dấn thân đi làm việc cộng đồng, trong khi lòng ông đầy sự sợ hãi. Ông muốn về Việt Nam chăng, hay là ông còn mẹ, còn em mà ông lấy cớ muốn bảo vệ họ, sự sợ hãi lớn lao đến dường ấy hay sao? Bây giờ mà cái bóng ma cộng sản còn lởn vởn bao trùm lên đời sống của ông, một người đã cao bay xa chạy, trong khi tuổi trẻ ở trong nước, những người dân bị phản bội, sống giữa kìm kẹp tù đày, vẫn không hề biết sợ hãi là gì!

Tướng McArthur nói: “Old soldiers never die; they just fade away - Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi.” Chết đã đành, sống mà phai nhạt, mờ dần trong quên lãng như cỏ cây, thì còn gì buồn hơn nữa!

Chết và sống, điều gì khó hơn?


__

Sunday, December 9, 2012

Bức tranh Úc: Người Việt


 

TT Duy FWD

Happy Holidays

Bức tranh Úc: Người Việt

Nguyễn Hưng Quốc


Hiện nay, có khoảng gần bốn triệu người Việt Nam đang sống rải rác trên hơn 100 quốc gia trên thế giới.

Nhiều nhất là ở Mỹ (theo cuộc điều tra dân số năm 2010 là 1.548.449 người); kế tiếp là Cambodia (khoảng trên 700.000 người; chiếm 5% dân số cả nước); Pháp (khoảng 300.000 người); Trung Quốc (khoảng 280.000 người); Đài Loan (khoảng 190.000 người, bao gồm khoảng 80.000 công nhân lao động và 110.000 phụ nữ lấy chồng Đài Loan). Úc đứng vào hạng thứ 6 với 185.000 người; cao hơn Canada, hạng thứ 7, một chút (180.000 người).

Bảng liệt kê do Tiến sĩ Long S. Lê biên soạn dưới đây có thể giúp chúng ta có cái nhìn tương đối bao quát về tình hình
di trú của người Việt ở hải ngoại.


​​

Khác với Pháp, nơi lịch sử di dân của người Việt bắt đầu khá sớm, nhiều nhất là ở thời điểm bắt đầu chiến tranh thế giới lần thứ hai - lúc chính phủ Pháp ào ạt tuyển lính Việt Nam để đánh nhau với Đức, Úc, cho đến năm 1975, vẫn còn khá xa lạ với người Việt Nam. Trước biến cố tháng 4/1975, trên cả nước Úc, chỉ có khoảng 700 người Việt sinh sống, bao gồm ba thành phần chính: sinh viên du học, phụ nữ Việt lấy chồng Úc, và một số trẻ mồ côi được các gia đình Úc nhận nuôi.

Ngay sau khi miền Nam bị sụp đổ, số người Việt tại Úc bỗng tăng vọt. Từ năm 1976 đến 1981, có 56 chiếc tàu với 2.100 người tị nạn đi từ Việt Nam đến thẳng nước Úc. Tuy nhiên, phần lớn các thuyền nhân được nhận định cư tại Úc sau khi đến một quốc gia nào đó gần Việt Nam, như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines. Làn sóng tị nạn đầu tiên được nhập vào Úc là năm 1980 với 12.915 người. Sau đó, số người đến Úc vẫn gia tăng, tuy nhiên, phần lớn qua ngả đoàn tụ gia đình hơn là thuyền nhân từ các trại tị nạn ở các nước láng giềng của Việt Nam.

Dưới đây là bảng thống kê số người Việt Nam định cư tại Úc qua các cuộc điều tra dân số Úc từ năm 1976 đến nay:

Năm kiểm tra dân số
Người sinh ở Việt Nam
1976
2.427
1981
41.096
1986
83.028
1991
121.813
2001
154.831
2006
159.850
2011
185.000


Có thể nói, tuy dân số cộng đồng người Việt tại Úc chỉ đứng hàng thứ sáu trên thế giới, tuy nhiên, đó lại là cộng đồng người Việt tị nạn đứng hàng thứ hai, chỉ sau Mỹ, và trên Canada. Nhìn vào bảng dưới đây, chúng ta sẽ thấy Úc
nhận người tị nạn nhiều hơn bất cứ nước nào khác, trừ Mỹ.

Nước đến định cư
Kiểu ra đi
Bằng tàu hoặc đi bộ
ODP (Orderly Departure Program)
Tổng cộng
Úc
14.70%
7.69%
11.62%
Canada
13.66
9.67
11.9
Pháp
3.58
3.25
3.44
Mỹ
56.26
72.89
63.57
Các nước khác (bao gồm các nước Âu châu, Nhật và New Zealand)
11.8
6.5
9.47
Tổng cộng
100.00%
100.00%
100.00%


Tuy nhiên, đó chỉ là giai đoạn đầu. Gần đây, như hầu hết các nơi khác, tính chất tị nạn ấy càng lúc càng loãng nhạt dần. Thế vào đó là những người di dân, phần lớn là các sinh viên, sau khi tốt nghiệp, xin ở lại Úc theo diện tay nghề; hoặc là người sang Úc theo diện đoàn tụ gia đình (với con cái hoặc với người phối ngẫu có quốc tịch Úc).

Ví dụ trong tài khóa 2010-2011, có 4.709 người Việt được nhận thường trú tại Úc. Trong số đó, có 1.383 người được nhận vì có tay nghề cao, chiếm 29%; 3.323 người được nhận vì được bảo lãnh, trong đó 2/3 là do người phối ngẫu có quốc tịch Úc bảo lãnh, chiếm 71%. So với các sắc dân khác, số người được bảo lãnh sang Úc chiếm tỉ lệ khá cao (6.1% trên tổng số 54.000 người được nhận từ khắp thế giới); nhưng số người được ở lại vì có tay nghề cao lại thấp, chỉ có 1.2% tổng số di dân.

Ngoài những người có quốc tịch hoặc được thường trú, ở Úc còn có khá nhiều người Việt có visa ngắn hạn. Ví dụ, vào ngày 30 tháng 6 năm 2011, có 16.340 du học sinh Việt Nam tại Úc. Với con số ấy, Việt Nam đứng hạng thứ tư trong tất cả các nước có du học sinh tại Úc. Cũng trong năm 2011, có 23.906 người Việt Nam đến Úc với tư cách du khách. (Xem Country Profile: Vietnam trên trang web của Australian Department of Immigration and Citizenship).

Cộng đồng người Việt tại Úc khá già. Tuổi trung bình là 42.1, cao hơn tuổi tác trung bình của người Úc đến 5 năm. Về phái tính cũng có sự chênh lệch đáng kể: Nữ chiếm 53% trong khi nam chỉ có 47%. Tỉ lệ thất nghiệp là 7.2%, cao hơn mức trung bình của cả nước là 5.2%. Nghề nghiệp chính là lao động chân tay (19%); kỹ thuật viên và buôn bán chiếm 18%; những người có trình độ chuyên môn chiếm 17%.

Người Việt tại Úc, như ở phần lớn các nước khác, có khuynh hướng sống tập trung, gần nhau. Và cũng giống như hầu hết các cộng đồng di dân khác, thích cư ngụ ở những khu vực có mức độ đô thị hóa và kỹ nghệ hóa cao. Hai tiểu bang có đông người Việt nhất cũng là hai tiểu bang lớn nhất nước Úc (New South Wales, 40%; và Victoria, 36%). Ở hai tiểu bang ấy, người Việt thích sống ở hai thành phố lớn nhất (Ở New South Wales là Sydney, và ở Victoria là Melbourne). Rất ít người Việt sống ở các vùng quê, xa trung tâm của thành phố cũng như của tiểu bang.


​​
Ở đâu có đông người Việt nhất định ở đó sẽ có những trung tâm thương mại với các tiệm ăn đủ loại, từ phở đến bún bò, hủ tiếu, cơm tấm sườn bì… và các tiệm tạp hóa, ở đó, hầu như người ta có thể tìm thấy mọi thứ cần thiết cho các bữa ăn của người Việt. Trước năm 1975, nghe nói nhiều sinh viên du học ở nước ngoài thèm nước mắm độ chỉ muốn bỏ học để quay về Việt Nam. Bây giờ, ở các khu chợ người Việt tại Úc (cũng như ở Mỹ, Canada, Pháp…), hầu như không thiếu một món gì. Có khi còn đa dạng hơn ở Việt Nam. Đa dạng chủ yếu nhờ có nhiều nguồn: Không phải chỉ có hàng nhập từ Việt Nam mà còn có cả hàng nhập nhiều nước Á châu khác. Nhiều nhất là từ Thái Lan.

Và, có lẽ từ nước… lạ nữa.

Không thể tránh được.

Saturday, November 10, 2012

Ấp Chiến Lược Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa


Subject: Ấp Chiến Lược Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa

 
 
Những ai đã sống vào thời tổng thống Ngô Đình Diệm đều nhớ rằng ông Diệm xây dựng ấp chiến lược theo cách thức của một tướng người Anh Stewart (?) sau khi ông tướng này thành công trong việc tách rời du kích cộng sản với dân lành ở Mã Lai và đã tiêu diệt hết du kích cộng sản.
Sau khi giết anh em ông Diệm, tên Việt gian Dương Văn Minh tức thì phá bỏ ấp chiến lược để cộng sản dẽ hoạt động, đưa đến việc mất miền Nam.

Ấp ChiếnLược
Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Khi nói đến Ấp Chiến Lược, thì chỉ những người đã từng sống ở trong các vòng đai của Ấp Chiến Lược vào thời kỳ đầu của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa; NHƯNG, phải có một lương tâm trong sáng, một tấm lòng chân thành, thì họ mới viết lại những gì mà họ đã chứng kiến một cách trung thực.
Vậy, để lớp trẻ sau này, còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng; bởi vậy, nên người viết xin phép tác giả Nguyễn Đức Cung để được trích đoạn trong bài:
Xây dựng ấp chiến lược
Bộ sưu tập tem Ấp Chiến Lược phát hành ngày 26/10/1962
"Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ lụy trong chiến tranh Việt Nam" như sau:
 
1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.
Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ Nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong Chính Sách An Dân của mình.
 
Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478 người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.
 
Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa và một khi đã bị giải thể, hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân, mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh. Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tỉnh Man Tiểu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863, Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã ghi lại như sau:
 
"Mới đặt chức Tiểu phủ sứ ở cơ Tỉnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thứ án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho.
 
Đến đây, chuẩn cho thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thiếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo, ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ, ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thử sức dân." [9]
 
 
Thành phố đổ nát
Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược, nhằm giải quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào Nam, và sau đó, để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái hoạt động ở các vùng nông thôn miền Nam.
 
Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống vì ở trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố:
 
* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).
 
* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một Bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).
Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).
 
* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ liên hệ với ngành nông nghiệp địa phương.
 
* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)
 
Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.
 
Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh."
Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản".
 
Và kế đến, người viết cũng xin phép tác giả Trần An Phương Nam: Gia đình CB/XDNT Bắc Cali, để cũng được trích đoạn trong bài:
 
"Từ quốc sách Ấp Chiến Lược đến chương trình Xây dựng Nông Thôn" như sau:
 
"Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là “lấy nông thôn bao vây thành thị” nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như trận địa chiến hay vận động chiến v.v...
 
Nắm vững được sách lược của địch. Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.
 
 Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc quản lý Ấp do một Ban trị sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng vệ dân sự phối hợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.
 
Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả, công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!"
 
Trên đây, là những trích đoạn đã viết về Ấp Chiến Lược, của hai vị tác giả Nguyễn Đức Cung và Trần An Phương Nam; riêng người viết bài này, trước đây, cũng đã có viết qua bài: Những Mùa Xuân Qua có một đoạn về Ấp Chiến Lược như sau:
 
Mô hình của một Ấp Chiến Lược:
Tại quê tôi, ấp chiến luợc là những vòng đai có hai vòng rào gai rừng, ở giữa hai vòng rào là những giao thông hào sâu quá đầu nguời, rộng hơn hai mét, do dân làng cùng nhau đào, dưới lòng giao thông hào có cắm chông làm bằng những gốc tre già đã được vót nhọn, sắc, có ba cạnh. Còn vòng rào là những tấm gai cứng nhọn, có bề rộng hai mét, bề cao hơn hai mét được ghép lại. Chúng tôi xin nhắc rằng: Vì để bảo vệ tánh mạng và tài sản của chính gia đình của mình nên mọi người dân quê đều hưởng ứng, họ rất vui vẻ với công việc này. Đặc biệt là lớp thanh niên, với những nụ cười, tiếng hát với nhau trong lúc cùng nhau thực hiện Ấp Chiến Luợc.
 
 Ngoài ra, dân lành còn dùng những chiếc thùng thiếc, loại thùng đựng dầu hỏa, hoặc thùng gánh nước đã bị hỏng, đem đục lỗ, cột dây thừng nhỏ đuợc tết bằng những sợi mây rừng; ban đêm sau 20 giờ Chiến Sĩ Dân Vệ đóng cổng ấp lại, rồi họ đem giăng dọc theo bờ rào Ấp Chiến Luợc và các lối đi ở bìa vuờn, để ngăn bước chân của Việt cộng nằm vùng ban đêm thường lẻn xuống giết hại dân lành và cuớp gạo, muối của dân mang lên rừng để sống. Bọn trẻ như chúng tôi thì khoái đi giăng thùng lắm, chúng tôi đòi Chiến Sĩ Dân Vệ phải cho chúng tôi đi theo, giăng thùng xong chúng tôi còn trông cho có ai đó, hoặc con vật gì nó vướng dây để được đánh mõ còn nếu được "la làng" thì càng thích hơn nữa.
 
Tôi vẫn nhớ mãi về những năm tháng ấy thật vui, tôi nhớ dân quê tôi còn "phát minh" ra phong trào đánh mõ và la làng. Ngoài các trạm gác đêm của cá Chiến Sĩ Dân Vệ, thì nhà nào cũng sắm ra nhiều chiếc mõ tre; mỗi khi có tiếng thùng đổ thì mọi nguời đánh mõ ba hồi một dùi; nghĩa là đánh ba hồi dài, sau đó đánh một tiếng, còn nếu thấy có bóng dáng nguời xuầt hiện thì đánh mõ hồi một; nghĩa là đánh một hồi rất gấp, rồi kèm theo chỉ một tiếng.
 
Lúc đó mọi nguời không ai đuợc đi lại phải chờ cho các Chiến Sĩ Dân Vệ kiểm tra xem tại sao thùng đổ, nếu là Việt cộng nằm vùng xuất hiện, thì các Chiến Sĩ Dân Vệ sẽ tri hô và mọi nguời đồng thanh la làng: “Cộng sản bớ làng, cộng sản bớ làng”; sau đó, dân làng tay cầm chiếc gậy có sợi dây thừng cuộn ở phía trên, tay cầm đuốc sáng trưng để vây bắt Việt cộng.
 
Chính vì thế, mà tôi nhớ người dân đã bắt đuợc bốn cán bộ VC nằm vùng, nhưng tôi chỉ nhớ tên hai nguời là Duơng Đình Tú và Đỗ Luyện, cả hai đuợc đưa ra tòa sau đó họ ra Côn Đảo, đến khi trao trả tù binh họ chọn con đuờng ra Bắc. Còn nếu do một con chó thì họ sẽ la to: "Bà con ơi! chó vuớng thùng, đừng đánh nữa", thì dân làng họ mới thôi đánh mõ.
 
Một kỷ niệm mà không phải riêng tôi, mà có lẽ còn hai "nạn nhân" trong cuộc chắc chắn khó quên: Ấy là vào một đêm có đôi tình nhân đã hẹn hò nhau ở bìa vuờn, chắc họ đã ra đó lúc chưa giăng thùng, nên đến khuya khi họ quay về nhà, chẳng may họ đã vuớng phải dây và thùng thi nhau đổ, khi các anh Dân Vệ kiểm tra thì có bóng hai nguời họ hô: “Đứng im”; lúc ấy có tiếng cả hai xưng tên và nói: "Tụi em đây, xin các anh đừng bắn".
 
Nhưng lúc ấy, dân làng đã đèn đuốc sẵn sàng, hai nguời mắc cỡ quá nên đứng im không dám nhúc nhích trông rất tội nghiệp. Sau đó, đôi tình nhân ấy không hiểu tại sao họ lại chia tay. Bây giờ hai nguời đều có gia đình riêng, ở cùng làng đã có cháu nội, ngoại. Cô gái vuớng thùng năm xưa hiện nay lại là chị chồng của em gái tôi.
 
Tôi vẫn nhớ hoài những đêm vui kỷ niệm; ngày ấy, đêm nào bọn trẻ con trong làng cũng trông mong cho có ai đó, hay con chó, con mèo vuớng thùng để đuợc đánh mõ, vì cả làng đều đánh mõ hòa với tiếng trống ở các trụ sở thôn làng, nghe thật vui tai, chúng tôi đứa nào cũng thích, cũng đòi cha mẹ sắm cho những chiếc mõ thật tốt, kêu thật to. Chúng tôi thích đánh mõ, đánh dai lắm, cho đến khi các Chiến Sĩ Dân Vệ đã la to lên: "Chó vuớng thùng, bà con ơi đừng đánh mõ nữa" các anh cứ la, còn chúng tôi thì vẫn cố đánh thêm mấy hồi nữa, vì mấy khi thùng đổ để đuợc đánh mõ đâu.
 
Hậu quả của việc phá bỏ Ấp Chiến Lược:
Mùa xuân năm 1964, Quê hương tôi không còn thanh bình nữa; bởi lúc ấy, Nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã sụp đổ. Ấp chiến lược bị phá bỏ, vì như mọi người đều biết, từ thưở xa xưa tổ tiên chúng ta ở thôn quê quanh vườn người ta thường trồng tre, gai làm bờ rào, còn nhà thì có bờ dậu có cửa ngõ, làng thì có cổng làng, mục đích để phòng gian, như bài thơ "Cổng Làng" của Thi sĩ Bàng Bá Lân đã viết:
"Chiều hôm đón mát cổng làng
Gió hiu hiu thổi mây vàng êm trôi
Đồng quê vờn lượn chân Trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn
Ráng hồng lơ lững mây son
Mặt trời thức giấc véo von chim chào
Cổng Làng rộng mở ồn ào
Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"
Như vậy, từ thưở xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã từng xây dựng Làng, có Cổng Làng mà mỗi đêm thường được đóng, để bảo vệ dân làng, và mỗi ngày khi: "Mặt Trời thức giấc véo von chim chào" thì "Cổng làng rộng mở ồn ào" để cho những "Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"; huống thay là trong thời chiến tranh, lúc cái "Mặt trận giải phóng miền Nam" do cộng sản Hà Nội cho ra đời, thì những kẻ vì ngu xuẩn hay cố tình kia lại ra lệnh phá bỏ Ấp Chiến Lược, là phá bỏ mọi trở ngại, khó khăn để cho Việt cộng đánh chiếm các làng thôn một cách dễ dàng.
 
Tôi đã chứng kiến những ngày Xuân 1964, đầy khói lửa, hoang tàn, từng đoàn người bồng bế, hoặc gánh con thơ chạy trốn, dân quê tôi họ đã biết rất rõ về cái gọi là “Giải phóng miền Nam “ vì cũng những người trong làng trước kia họ biết rõ là đảng viên cộng sản, sau đó họ biệt tích, rồi một ngày họ bỗng dưng từ trên núi trở về lại tự xưng là "Giải phóng miền Nam", nên dân quê tôi đã phân biệt Quốc, Cộng là hể ở trên núi xuống là cộng sản, chúng nói gì họ cũng không nghe, thấy bóng dáng cộng sản đâu là họ đều cõng - gánh con thơ tìm đường chạy trốn.
 
Kể từ đó, khi Ấp Chiến Lược bị phá bỏ, thì quê tôi, quận Tiên Phước gồm 15 xã, mà việt cộng đã chiếm hết 11 xã, chỉ còn có 4 xã nằm chung quanh quận lỵ, mà chẳng có xã nào còn nguyên vẹn, vì xã nào cũng mất một vài thôn; riêng xã Phước Thạnh, tức làng Thạnh Bình-Tiên Giang Thượng, gốm có 7 thôn, nhưng Việt cộng đã đánh chiếm mất 6 thôn, chỉ còn 1 thôn Đại Trung, nằm bên bờ Tiên Giang Hạ.
 
Và với những gì tôi đã viết trước đây, là hồi ức của một thời thơ ấu không hề biết thêu dệt; nghĩa là viết một cách vô cùng trung thực, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó, chứ không phải là văn chương.
 
Vì vậy, một lần nữa, người viết muốn lập lại là chỉ mong ước để cho lớp trẻ sau này còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng.
 
Pháp quốc, 20/10/2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
 

Saturday, November 3, 2012

LỄ GIỖ LẦN THỨ 49 CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM


 




 

LỄ GIỖ LẦN THỨ 49 CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

TrúcGiang/CaoGia

Lễ Giỗ Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm Lần Thứ 49 tại Westminster, Thứ Bảy, ngày 27-10-2012 để tưởng nhớ công đức vị Khai Sáng Nền Đệ I Cộng Hòa (VNCH 1954- 1963) suốt 9 năm thanh bình, thịnh trị, chủ quyền quốc gia dân tộc có kỷ cương.

 

Do vận nước đi vào chu kỳ bất hạnh của lịch sử, hay do bọn con buôn chính trị tại Whashington, cố tranh chiếc ghế tổng thống nhiệm kỳ hai của Kennedy. Đã bất chấp những những đạo đức, những gía trị nhân bản thiêng liêng đi ngược lại cái chân lý của những vị Tổng Thống Mỹ tiên khởi khai sinh nền dân chủ ưu việt nhất thế giới. TT Kennedy người hành xữ một việc làm phi đạo đức, phi nhân bản, một sai phạm lớn lao trên chủ quyền của giới lãnh đạo những nước đồng minh trong tầm ảnh hưởng; thế nên TT Kennedy không thoát khỏi cái chết sau đó 23 ngày bởi bàn tay vấy người công chính vô tội theo quy luật "Thiện, ác đáo đầu chung hữu báo" vậy !

 

Do tham vọng lợi danh, tham tiền, hay do tinh thần vô thức dân tộc của cái đám hèn tướng xuất xứ từ bọn lính thực dân Pháp, là nguồn gốc của những tên đánh thuê vô Tổ Quốc? Đã cam tâm làm tay sai, làm những tên Việt gian, những tên đồ tể giết người, thảm sát vị Tổng Thống hợp hiến, anh minh, liêm khiết có một không hai của dân tộc; không vợ không con. Suốt đời tận tụy với dân, với nước, không có một tài khoản nào cất giấu trong các ngân hàng nước ngoài như các tổng thống đương thời tại Á Châu.

 

Sở dĩ, vì tinh thần yêu nướ, vì chủ quyền quốc gia và lý tưởng dân tộc, đất nước vừa thoát ách thực dân Pháp, TT Ngô Đình Diệm cương quyết chống lại bất cứ những thế lực nào của thực dân, đế quốc xen vào nội bộ để áp đặt và thao túng. Đó là nguyên ủy chính khiến những bàn tay lông lá vấy máu của bọn ngoại nhân với sự đồng loã tiếp tay của bọn phản tướng tay sai đưa tới cuộc lật đổ TT Diệm và các bào đệ Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn cùng những vị tư lịnh tài ba của quân đội. Những tấm gương dũng liệt tận trung báo quốc như Đại Tá Nguyễn Quang Tung tư lịnh lực lượng Đặc Biệt và bào đệ Nguyễn Quang Triệu tham mưu trưởng LLĐB, Đại Tá Hồ Tấn Quyền tư lịnh Hải Quân cùng nhiều quân dân chính đã vị quốc vong thân. Cuộc chính biến đó, đưa dân tộc vào vực thẩm kể từ cái ngày 1-11-1963, chúng mệnh danh là cách mạng, và tiếp theo sau là những cuộc đổ quân ào ạt của Mỹ. Sự kiện nầy giúp tập đoàn CS Hồ Chính Minh trương cờ chính nghĩa chống Mỹ cứu nước. kết quả tang thương đó trút xuống đầu dân tộc là bọn CSHN vô thần nhuộm đỏ miền Nam vào ngày 30-4-1975. Cũng chính tên Việt gian Dương Văn Minh nầy đạo diễn thêm một lần nữa.

 

Cố TT Ngô Đình Diệm, một ấm gương phi thường, sáng chói đến thiên thu trên trang sử Việt. Dù những thế lực ngoại nhân cùng bọn Việt gian uốn cong, bóp méo, ngụy trá bịp bợm, vu cáo để chạy tội, thì ánh sánh mặt trời công lý đã vén lên, hàng ngàn bức văn kiện mật tại tòa Bạch Ốc đã bạch hóa. Chẳng những dân tộc Việt Nam tiếc thương kính ngưỡng TT Diệm, mà các giáo sư sử học khắp thế giới tại các Đại Học lừng danh thẫm định như sau:

 

- TS FX. Winter là Gs Đại Học Goergia đã dày công biên khảo... . và đặt ngay nghi vấn: “Tại sao TT Kennedy lại lật đổ TT Ngô Đình Diệm, một người bạn, đồng minh của Hoa Kỳ từ chín năm, là một Tổng Thống hợp hiến? Ông tự hỏi: lý do nào đã thúc đẩy Kennedy lấy một quyết định “ô danh” và “điên rồ” như vậy?

 

- Sử gia TS Eward Miller viết: Ngô Đình Diệm là một nhà yêu nước có hoài bảo. Nhà lãnh đạo miền Nam từ năm 1954 – 1963, thế giới đã nhận ra rằng là người lãnh đạo hàng đầu trong việc xây dựng một chính quyền quốc gia thoát khỏi ảnh hưởng thực dân Pháp, khác với Bảo Đại. Ông đã tìm ra một đường lối khác biệt và hơn hẵn con đường mà Hồ Chí Minh và ĐCS Việt Nam theo đuổi... .

 

- Giáo sư TS. Henry Fairbanks tóm tắt bối cảnh lịch sử nầy bằng lời lẽ khách quan rằng: Ông Diệm tìm kiếm và khôi phục những giá trị tinh hoa cổ truyền của dân tộc, kết hợp với văn minh phương Tây làm nền tảng cho con đường canh tân xứ sở, trong khi đó Hồ Chí Minh lại đi tìm và du nhập những học thuyết ngoại lai phi chính nghĩa. Và nhà sử học kết luận: Dưới ánh sáng công lý và cái nhìn khách quan của lịch sử thì cả thế giới nầy đều yêu mến các chiến sĩ yêu nước và lòng dũng cảm như ông Diệm ai ai cũng phải nễ trọng... .

 

Trở lại buổi Lễ Tưởng Niệm: Năm nay cụ Cao Xuân Vỹ tổ chức sớm hơn một tuần tại nhà thờ Westminster do ĐGM Mai Thanh Lương, Giám Mục Phó giáo phận Orange County chủ tế, cùng nhiều LM đồng tế. Sở dĩ cụ Vĩ tổ chức sớm để tuần kế các Tổ Chức Cộng Đồng và các đoàn thể Quốc Gia tổ chức Lễ Tưởng Niệm cố TT Ngô Đình Diệm và Bào Đệ tại Tượng Đài Việt Mỹ.




A GODDAM BUNCH OF THUGS

 

Trong nghi thức rước di ảnh từ dưới lên, những vị thân hào vận quốc phục, có trống, chiêng ngân vang hoà lẫn làm tăng vẻ trang nghiêm cho buổi lễ. Điều khiến cho mọi người chú ý và xúc động là hai toán rước Quân Kỳ dàn chào danh dự di ảnh cố TT Ngô Đình Diệm là toán Hải Quân, với quân phục trắng và toán lực lượng Đặc Biệt với quân phục xanh màu lá rừng; biểu tượng hình ảnh của hai vị tư lịnh “tận trung báo quốc” đó là Đại Tá Hồ Tấn Quyền tư lịnh Hải Quân đã từng bắn hạ máy bay của bọn phản loạn âm mưu đảo chánh năm 1961 thả bom dinh Độc Lập, và Đại Tá Nguyễn Quang Tung, tư lịnh lực lượng Đặc Biệt đã thể hiện cái khí phách con nhà tướng “uy vũ bất năng khuất” đã lớn tiếng quát mắng vào mặt loạn tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Tử Oai, Lê Văn Kim, Nguyễn Hữu Có ... cùng lũ tay sai trong buổi họp của cái gọi là “hội đồng quân nhân cách mạng”. Lời mắng vào mặt lũ phản quốc của ĐT Tung đi và lịch sử: “Chúng bây đeo lon, mặc áo, thụ hưởng phú qúy, lạy lục để được Tổng Thống ban ơn, mà nay lại dỡ trò bất nhân, bất nghĩa thế sao...!”. lấy cái chết kiêu dũng của bậc làm tướng để lưu danh quân sử và thiên thu cho hậu thế soi chung.

 


A GODDAM BUNCH OF THUGS

 

Mọi người đặc biệt xúc động; cụ Cao Xuân Vỹ năm nay 96 tuổi, thiếu 4 năm là tròn một thế kỷ, con người của chứng nhân lịch sử. (Ngài từng là phó thủ lãnh thanh niên nền Đệ Nhất Cộng Hòa được TT Diệm tín cẩn. Do đó, khi bắt đầu tiếng súng của quân đảo chánh thì cụ Cao Xuân Vỹ đã vội đưa xe đến rước TT Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu ở cửa hậu Dinh Gia Long đến nhà Mã Tuyên ở Chợ Lớn một cách an toàn.

 

Mặc dù tuổi cao, nhưng tinh thần rất mẫn cảm, tinh anh trên thể xác lão hóa bỡi ngọn gió thời gian tàn phá. Những bước đi khập khễnh, cần phải có người dìu. Ngài rất yếu, nhưng cố gắng qùy trước di ảnh cố TT Ngô Đình Diệm, những cái bái, lạy thật sâu (vì Ngài là đạo gia tiên) bày tỏ lòng cung kính, và nghẹn ngào trong nước mắt, những tiếng nói đứt quảng vì xúc động trong tiếng khóc. Cử chỉ nầy cũng khiến cho hàng ngàn con tim của quan khách và giáo dân cảm xúc đến ứa lệ.

 

TrúcGiang/CaoGia  

                                                                        

Bài Thơ NỖI LÒNG (Ngô Đình Diệm)

(Bài thơ này được trích trong sách "Hồn Non Nước" của Nữ sĩ Lê Bạch Lựu, xuất bản năm 1994, trang 43 và cũng được đăng trong cuốn "Ngô Đình Diệm và Chủ Nghĩa Dân Tộc" của Minh Võ, trang 47 với bài họa của Tôn Thất Tuệ).


Gươm đàn nửa gánh quảy sang sông,

Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không.

Xe muối (*) nặng nề thương vó ký,

Đường mây rộng rãi tiếc chim hồng.

Vá trời lấp biển, người đâu tá?

Bán lợi mua danh, chợ vẫn đông!

Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế,

Cắm sào đợi nước, thuở nào trong?

 

            Ngô Đình Diệm(1953)

 

 




 

 

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link