Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label một tình yêu bất tử.. Show all posts
Showing posts with label một tình yêu bất tử.. Show all posts

Tuesday, January 8, 2013

LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA


 

LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA


» Tác giả: Trần Gia Phụng
» Dịch giả:
» Thể lọai: Điểm nóng
» Số lần xem: 15533

1. Bài I
Lời người viết: Sau khi bài “Mặt trời không bao giờ lặn bên trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ” được đăng trên báo và đưa lên web, có một độc giả tự xưng là du học sinh Việt Nam gởi e-mail cho người viết và đưa ra hai câu hỏi: 1) Tại sao người viết nói rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện năm 1948 chứ không phải 1954 khi đất nước bị chia hai? 2)...Nếu người viết bảo rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính nghĩa thì người viết giải thích như thế nào về biến cố 1975? Xin cảm ơn anh du học sinh đã đặt câu hỏi. Sau đây là bài trả lời câu hỏi thứ nhất. Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trong số báo sau.
 
1.- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
 
Năm 1945, sau thế chiến thứ hai, Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), nhanh tay chiếm được chính quyền. Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) quyết định thoái vị và trao quyền lại cho mặt trận VM. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ra mắt chính phủ lâm thời, chọn cờ của mặt trận VM là Cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.
 
Không đầy mười ngày sau, trung ương đảng CSĐD họp tại Hà Nội ngày 11-9-1945 đưa ra chủ trương VM độc quyền cai trị đất nước. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) [Về sau, đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục việc nầy qua điều 4 hiến pháp năm 1992.]
 
Để bảo đảm độc tôn quyền lực, về đối nội, VM thực hiện kế hoạch mà VM gọi là “giết tiềm lực” hay “tiêu diệt tiềm lực”, tức là tiêu diệt tất cả các đảng phái và tất cả các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, tất cả những người có khả năng nhưng không cộng tác với VM, có thể nguy hiểm cho VM hay trở thành đối thủ của VM trong tương lai.
 
Về đối ngoại, VM nhượng bộ các lực lượng nước ngoài để rảnh tay đối phó với các lực lượng đối kháng trong nước, nhằm duy trì việc độc quyền chính trị. Khi Pháp gởi lực lượng, theo quân Anh tái chiếm miền Nam, rồi tiến ra Bắc nhằm thay thế quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng, VM liên tục nhượng bộ. Thấy VM yếu kém, ngày 18-12-1946, Pháp buộc VM phải giao quyền kiểm soát an ninh Hà Nội cho Pháp. Hồ Chí Minh họp trung ương đảng CSĐD tại Vạn Phúc (Hà Nội) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp tối 19-12-1946. (Một nhóm tác giả, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.) Không thể để Pháp bắt và cũng không thể bỏ trốn nhục nhã, quyết định của hội nghị Vạn Phúc nhằm tạo cơ hội cho các nhà lãnh đạo VM và đảng CSĐD thoát thân ra khỏi Hà Nội một cách chính thức. Thế là chiến tranh không tuyên chiến xảy ra.
 
Trong khi chiến tranh tiếp diễn, VM tiếp tục chủ trương “giết tiềm lực”. Trong các năm 1945, 1946, 1947 trên toàn quốc, VM giết khoảng 100,000 người ở tất cả các cấp từ trung ương xuống tới địa phương làng xã. Đứng đầu danh sách nầy là những nhân vật như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Trương Tử Anh …
 
Vì bản năng sinh tồn, những người theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản phải trốn tránh, bỏ ra nước ngoài, hoặc phải đến sinh sống tại vùng do Pháp tái chiếm khi Pháp trở lại Đông Dương, hay chẳng đặng đừng cộng tác với Pháp để thành lập tổ chức hành chánh địa phương tạm thời do Pháp bảo trợ, chống lại VM.
 
Ở Nam Kỳ, chính phủ Cộng hòa Lâm thời Nam Kỳ được thành lập tháng 6-1946, đổi thành chính phủ Nam Kỳ tự trị tháng 2-1947. Cũng trong tháng 2-1947, Pháp thành lập Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ tại Huế. Ra tới Hà Nội, Pháp thành lập Uỷ ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội, còn được gọi là Hội đồng An dân tháng 5-1947. Tháng 10-1947, ông Nguyễn Văn Xuân, thiếu tướng trong quân đội Pháp, đã từng được Hồ Chí Minh cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ VNDCCH ngày 2-9-1945, đứng ra thành lập chính phủ lâm thời Nam Kỳ.
 
Việt Minh kết án chung tất cả các tổ chức nầy là Việt gian, tay sai thực dân Pháp. Tuy nhiên nếu những người nầy không hợp tác với Pháp để chống VM cộng sản, bảo toàn sinh mạng của chính họ, thì không lẽ họ ngồi yên để chờ đợi VM tới bắt giết, như đã từng bắt giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi? Nếu Nguyễn Văn Xuân, một tướng lãnh trong quân đội Pháp, là tay sai của thực dân Pháp, thì tại sao Hồ Chí Minh lại cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ của Hồ Chí Minh?
 
2.- CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ XUẤT HIỆN
 
Trong khi đó, trong một chuyến công du cho chính phủ VM qua Trung Hoa tháng 3-1946, theo lời cựu hoàng Bảo Đại, cố vấn chính phủ VM, ông bị phái đoàn VM bỏ rơi ở lại Côn Minh (Kunming) tháng 4-1946. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 242.) Cựu hoàng tự ý thức rằng VM bỏ rơi ông có nghĩa là VM không còn cần đến ông nữa, nên cựu hoàng bắt đầu tách ra khỏi chính phủ VM, qua trú ngụ ở Hồng Kông. Các lãnh tụ trong các tổ chức hay đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc dần dần tập họp chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, yêu cầu cựu hoàng ra cầm quyền trở lại, nhằm tranh đấu giành độc lập và thống nhất đất nước.
 
Về phía Pháp, sau một thời gian thương thuyết với VM nhưng thất bại, Pháp thay đổi chính sách từ tháng 9-1947, quay qua thương thuyết với cựu hoàng Bảo Đại để tìm một giải pháp mới. Cao uỷ Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert gặp cựu hoàng Bảo Đại trên một chiếc tàu thả neo ở vịnh Hạ Long ngày 6-12-1947. Hai bên đồng ký bản thông cáo chung theo đó Pháp hứa trao trả độc lập cho Việt Nam và ngược lại Việt Nam hứa sẽ cộng tác và ưu tiên sử dụng chuyên viên Pháp trong công cuộc kiến thiết đất nước.
 
Sau cuộc nói chuyện sơ khởi trên đây, Bảo Đại qua Pháp tiếp tục vận động. Để tạo cơ chế hành chánh chung có thể nói chuyện với Pháp, khi trở về lại Hồng Kông, cựu hoàng uỷ cho Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam. Nguyễn Văn Xuân được Hội nghị các giới cầm quyền do Pháp bảo trợ và đại diện các đoàn thể, các đảng phái tại ba miền Bắc Trung, Nam Việt Nam, họp tại Sài Gòn ngày 20-5-1948, đồng ý ủng hộ làm thủ tướng.
 
Ngày 1-6-1948 Nguyễn Văn Xuân chính thức công bố chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam gồm đầy đủ đại diện Bắc, Trung và Nam Việt Nam. Hôm sau, 2-6-1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố “Pháp quy lâm thời” (Statut provisoire), quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ ở giữa, quốc ca là bài “Tiếng gọi sinh viên”, sau đổi là “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước.
 
Khi chuẩn bị lập chính phủ, Nguyễn Văn Xuân đã cho trưng cầu ý kiến về việc chọn quốc kỳ. Lúc đó có năm lá cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp, dễ thực hiện.
 
Quốc kỳ mới do thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố hình chữ nhật, chiều cao bằng hai phần ba chiều ngang, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau, chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. Chiều cao chia thành 3 phần bằng nhau. Ở phần giữa, ba sọc đỏ nằm xen kẻ với hai sọc vàng, tất cả năm sọc đều bằng nhau.
 
Ngày 8-3-1949 cựu hoàng Bảo Đại ký với tổng thống Pháp là Vincent Auriol hiệp định Élysée, tại Paris, theo đó chính phủ Pháp chính thức giải kết hòa ước bảo hộ năm 1884, Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Sau những thủ tục pháp lý đưa Nam Kỳ, vốn là thuộc địa của Pháp, sáp nhập trở lại vào lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là đất nước được thống nhất, Bảo Đại trở về Việt Nam lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng cuối tháng 4-1949.
 
Lúc đó, trên đất nước Việt Nam có hai chính phủ. Chính phủ QGVN ở các thành phố và vùng nông thôn phụ cận. Chính phủ VNDCCH ở núi cao, rừng sâu và bưng biền. Khu vực cai trị của hai bên không có giới tuyến rõ rệt. Hai chính phủ theo hai đường lối hoàn toàn đối kháng nhau. Chính phủ QGVN chủ trương tự do dân chủ, đa đảng tuy có phần hạn chế vì chiến tranh, và dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc. Chính phủ VNDCCH chủ trương độc tài toàn trị, độc đảng và dựa trên nền văn hóa Mác-xít. Hai chính phủ được tượng trưng bằng hai lá cờ cũng đối nghịch nhau: Cờ vàng ba sọc đỏ và Cờ đỏ sao vàng.
 
Về phía QGVN, do đặc trính tự do dân chủ, nhiều chính phủ kế tiếp nhau cầm quyền. Cuối cùng, năm 1954 quốc trưởng Bảo Đại cử Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Ngô Đình Diệm chính thức chấp chánh từ ngày 7-7-1954 (ngày Song thất). Hai tuần sau, hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở sông Bến Hải (vĩ tuyến 17), VNDCCH ở phía bắc và QGVN ở phía nam.
 
Ông Diệm ổn định tình hình miền Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống ngày 26-10-1955. Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị. Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia.
 
Lá Cờ vàng ba sọc đỏ được miền Nam sử dụng cho đến năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn của Quốc tế cộng sản, cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4.
 
Như thế, lá Cờ vàng ba sọc đỏ đã xuất hiện từ năm 1948 trên toàn quốc, chứ không phải chỉ xuất hiện sau năm 1954, ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai. Lá Cờ vàng ba sọc đỏ hoàn toàn đối nghịch với lá Cờ đỏ sao vàng chẳng những về màu sắc, nhưng quan trọng nhất đối nghịch cả về ý nghĩa chính trị. Một bên, Cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho tự do dân chủ và dân tộc; một bên, Cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho độc tài, đảng trị và quốc tế cộng sản.
 
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 04-04-2009)
 
Tội ác cuả đảng cộng sản Việt Nam
 

Thursday, October 11, 2012

Người đẹp trong những bức tranh nổi tiếng


 

Người đẹp trong những bức tranh nổi tiếng


- Vẻ đẹp của người phụ nữ luôn là đề tài mê đắm các họa sỹ. Trong những bức tranh nổi tiếng, vẻ đẹp phụ nữ có khi được thần thánh hóa, có lúc trở nên kỳ quặc, đôi khi lại bí ẩn- thách thức những nhà bình tranh suốt hàng thế kỷ...


Leon Francois Comerre (Pháp)

Nhắc đến tranh chân dung khắc hoạ phụ nữ, người ta không thể không nhắc tới một trong những tên tuổi lớn của nền mỹ thuật Pháp - hoạ sĩ Leon Francois Comerre. Trong sự nghiệp hội hoạ của mình, ông nổi tiếng với những bức tranh khắc hoạ dung nhan của những người phụ nữ Pháp xinh đẹp như nữ thần. Trong tranh của Comerre có một vẻ bí ẩn, huyền hoặc mang hơi hướng phương Đông.

Bức thiếu nữ bên hoa hồng

Bức thiếu nữ bên hoa hồng

Bức La Belle Liseuse

Bức La Belle Liseuse

Bức La Favorite

Bức La Favorite

Chân dung nàng vũ nữ Rosita Mauri

Chân dung nàng vũ nữ Rosita Mauri

Vẻ đẹp bình minh

Vẻ đẹp bình minh

Leonardo da Vinci (Ý)

Vẻ đẹp bình minh


Mona Lisa là bức chân dung nổi tiếng bậc nhất thế giới. Được vẽ từ thế kỷ 16 bằng sơn dầu trong thời kì Phục Hưng, tác phẩm hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre, Paris, Pháp. Nó là bức tranh nổi tiếng và mang tính hình tượng nhất trên thế giới. Sự mơ hồ trong nét mặt của người mẫu, không khí hư ảo trong tranh là những tính chất mới lạ góp phần tạo nên sức mê hoặc của nàng Mona Lisa. Đây là bức tranh nổi tiếng nhất từng bị đánh cắp, nhưng may mắn sau đó nó đã được tìm thấy và trả về cho viện bảo tàng Louvre. Ít tác phẩm nghệ thuật nào có được vinh dự trở thành chủ đề nghiên cứu và được bắt chước nhiều như bức tranh khắc hoạ nàng Mona Lisa .

Johannes Vermeer (Hà Lan)

Người đẹp trong những bức tranh nổi tiếng


Bức Cô gái đeo khuyên ngọc trai (Girl with a Pearl Earring) là một trong những bức hoạ thành công nhất của danh hoạ người Hà Lan Johannes Vermeer. Bức hoạ còn có tên gọi thứ hai là “Nàng Mona Lisa của Hà Lan”.

John Singer Sargent (Mỹ)

Vẻ đẹp bình minh


John Singer Sargent là một trong những hoạ sĩ vẽ tranh chân dung thành công nhất trong lịch sử mỹ thuật Mỹ. Bức chân dung này được vẽ vào thời kỳ đầu khởi nghiệp của Sargent trên đất Pháp. Ông hy vọng bức tranh sẽ giúp ông nổi tiếng tại thủ đô Paris hoa lệ và quả thực nó đã khiến ông được dư luận biết tới.

Khi đó hoạ sĩ đã mời quý bà Virginie Gautreau, một người đẹp nổi tiếng tại Paris và là phu nhân của một chủ nhà băng lớn làm mẫu cho bức tranh mà ông đặt nhiều kỳ vọng cũng như dồn tâm sức thực hiện. Bức tranh thực tế đã đặc tả thành công vẻ đẹp của người phụ nữ thượng lưu với nét thanh nhã, quý phái. Nhưng khi được mang trưng bày ở triển lãm Paris Salon năm 1884, dư luận đã “dậy sóng” vì chiếc váy táo bạo này, nó hoàn toàn không che vai và hững hờ ôm lấy phần ngực. Ngoài ra, làn da trắng nhợt nhạt của quý bà Virginie Gautreau khiến dư luận vì bà như một… xác chết. Họ quay lưng lại với tác phẩm nghệ thuật này và Sargent đành chữa cháy bằng cách vẽ thêm hai chiếc quai áo vắt qua vai để thêm phần “chắc chắn” cho bộ váy. Sau sự kiện đó, bà Virginie đã không xuất hiện trước công chúng nữa và hoạ sĩ Sargent cũng nhanh chóng rời khỏi Paris, kết thúc giấc mơ nổi tiếng trên đất Pháp.

Pablo Picasso (Tây Ban Nha)

Vẻ đẹp bình minh


Những bức hoạ của Picasso về nàng Dora Maar khó có thể nói là những bức chân dung khắc hoạ người đẹp dù thật tình nàng nổi tiếng là một phụ nữ đẹp. Dora Maar có một cuộc tình duyên kéo dài 10 năm với danh hoạ Picasso. Nàng là một trong rất nhiều phụ nữ từng được vị hoạ sĩ đa tình này đưa vào những tác phẩm tranh chân dung của ông, tuy vậy, những bức vẽ nàng Maar vẫn được đánh ra cao nhất.

Vẻ đẹp bình minh


Nữ nhiếp ảnh gia, nhà thơ, hoạ sĩ xinh đẹp người Pháp thường xuất hiện trong các tác phẩm của Picasso trong giai đoạn từ 1936-1944 khi tình duyên của hai người còn mặn nồng. Mối tình của họ đã đem lại nhiều nước mắt và đau khổ cho Dora Maar bởi tính khí thất thường của Picasso. Đối với Picasso, Maar là người phụ nữ đau khổ và ông đã từng đặt tên cho một bức tranh vẽ Maar là Weeping Woman (Người phụ nữ lau nước mắt). Để thể hiện tình yêu giành cho Maar, ông vẽ chân dung bà theo phong cách đặc trưng Picasso. Nhưng Maar thường nói rằng: “Tất cả những bức chân dung mà Picasso nói vẽ về tôi đều là nói dối. Đó đều là ông ấy cả đấy. Là Picasso, không phải Dora Maar tôi đâu.”

Hồ Bích Ngọc


Hồ Bích Ngọc

__._,_.___

Monday, September 17, 2012

Que nha, que nguoi`, que My, que Viet Nam ?!?!?!

Que nha, que nguoi`, que My, que Viet Nam ?!?!?!
Phat Tran Nguyen
----------
Một bài viết hay dành cho những người Việt tại hải ngoại…

Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến.
Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào?
Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu.
Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc.
Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.
Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng.
Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu.
Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.

Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai.
Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”.
Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.
Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn.
Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt.
Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước.
Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

"Khi về đổi họ thay tên.
"Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng".

Mời bạn thưởng-thức Tiếng Hạt Trong Trăng

Mời bạn thưởng-thức Tiếng Hạt Trong Trăng
do Lính Thủy sưu-tầm và kèm Youtube ;
Cảm ơn bạn TRINH HUYNH đã chia xẻ ./.
TTKh.
From: trinh huynh
Subject: Tiếng hạc trong trăng
Tiếng hạc trong trăng
Línhthủy sưu tầm và kèm Youtube :
Cảnh đẹp mùa Thu đầy thiền vị với hình ảnh đàn chim hạc do Mary Nguyễn săn ảnh và Sương Lam thực hiện video.






"Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn , oanh đưa , những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ , duyên thừa , có thế thôi
Đá mòn , rêu nhạt
Nước chảy , huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ đây xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ."
(Tống Biệt - Tản Đà )




...Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi.
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữa hạn
Đành không trải hết được lòng ta.
(Ta về - Tô Thùy Yên )




Hạc xưa ngủ cội hoàng hoa
Về chơi ngang núi mặc tà dương bay ...
( Từ Hoa)




" Nước non man mác về đâu tá
Bè bạn lơ thơ sót mấy người
Đời loạn đi về như hạc độc
Tuổi già hình dáng tựa mây côi "
( Cảm hứng - Nguyễn Khuyến )



....Bến tiễn chia xuân sắc
Trời xa lấp cố hương
Hạc về người chẳng thấy
Cây biếc lạnh ngàn sương
( Tương giang dạ bạc
Đêm đâu thuyền trên sông Tương Giang - Nguyễn Du )
Dịch thơ: Quách Tấn)




... Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
( Phạm Thiên Thư )


Giời hết một mùa đông
Gió bên thềm thổi mãi
Qua rồi muà ân ái
Ðàn sếu đã sang sông.
Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa
Nhìn nhau và lệ ứa
Một ngày một cách xa.
( Một mùa đông - Lưu Trọng Lư )

Loading
From the Agencies: Japanese red-crowned cranes fly out of their winter roost
Lính thủy has shared a video with you on YouTube:
Cảnh đẹp mùa Thu đầy thiền vị với hình ảnh đàn chim hạc do Mary Nguyễn săn ảnh và Sương Lam thực hiện video.

Tuesday, September 11, 2012

Giá trị cuộc sống VẠN SỰ DO TÂM

Mọi sự xuất phát từ “Tâm” là một chân lý. Tâm thiện không những mang lại an bình cho chính bản thân mà còn gieo rắc niềm vui cho kẻ chung quanh. VN hiệnđược thống trị bằng một nhóm người “vô tâm” do đó cả nước luôn cónhững cơn sốt “lo”: Lo thất nghiệp, lo đói, lo không tiền mua xăng, lo không tiền đóng cho CA, cho trường học của con...và nhiều cái “lo”khác...

Thien Thanh

Giá trị cuộc sống
VẠN SỰ DO TÂM
Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người :
- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù..
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá…
Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực đểyêu thương, mà còn :
- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với vợ chồng, anh em, chị em.
 

Monday, September 10, 2012

Trái dừa đặc biệt


 

 

Đúng là trò đùa của Tạo Hóa! 
Sao không nghe nói có ăn được không?

Tặng SH Lộc thêm một số hình:

 


__

 


 


 

 

 

H


 

 


 

 


Coco de Mer chỉ mọc trên hai hòn đảo nầy


Hoa đực

 


Hoa cái


 


 



_


 


 


This incredible extraordinary seed of Coco de Mer palm - which grows only on Praslin - is the symbol of Seychelles .

 



Male Coco de Mer

________

The Coco-de-Mer (Lodoicea maldivica) is a slow-growing palm that can grow ninety feet tall with leaves up to twelve feet wide. Our five year old plant only has two leaves. It is endemic to the Praslin and Curieuse Islands of the Seychelles . The Coco-de-Mer is considered threatened in the wild and is rare in cultivation. Most spectacular is its fruits containing the largest seed in the world (that you can see on the soil surface), weighing up to fifty pounds.

 

 

_________________________________

 

Von: Tan Loc
<

Cc:

Betreff: FW: Trái dừa đặc biệt .

Datum: Sat, 08 Sep 2012 16:02:00 +0200

 

 


EH BEN!
--- On Sat, 9/8/12, kim t wrote:

From: kim t
Subject: FW: Trái dừa đặc biệt .
To:
Received: Saturday, September 8, 2012, 6:42 AM


Subject: Fwd:
Trái dừa đặc biệt .
From: soe17
Date: Fri, 7 Sep 2012 23:58:08 -0400
 

Trái dừa đặc biệt


 
Quả dừa hình vòng 3 phụ nữ với “chỗ kín” được thiên nhiên miêu tả rất chân thực.
 Loại dừa được công nhận lớn nhất thế giới này có tên là Coco de Mer, chỉ mọc ở Vallee de Mai trên đảo Praslin (phía Tây Nam Ấn Độ Dương).
 
 
Trung bình 1 quả dừa nặng khoảng 23 đến 30kg, cao từ 25 đến 34 cm và dài khoảng từ 7 đến 10 cm.
 Trung bình một quả dừa được bán với giá 300 bảng Anh.

Quả dừa Coco de Mer

Sở dĩ được ưa chuộng như vậy là vì dừa Coco de Mer có vẻ ngoài rất “nhạy cảm”. Nó vừa giống vòng 3 của người phụ nữ lại vừa mang đặc điểm "vùng 1" hết sức chân thực.
Nói về nguồn gốc của loại dừa này, người bản địa đưa ra hai phiên bản khác nhau. 
Một câu chuyện được kể vào năm 1519 khi ngư dân đi bắt cá đã phát hiện loại quả hình dáng kỳ lạ trôi nổi trên biển.
 Họ cho rằng đây là loài thực vật sống ở đại dương và đặt lên là dừa biển. Tới năm 1743, người ta đã phát hiện trên đảo có những cây lớn mọc ra trái này và mới biết đây thực tế chỉ là quả dừa trên cạn.

Có nhiều cách lý giải nguồn gốc của loại quả này

Câu chuyện còn lại mang nhiều màu sắc ly kỳ, thần thoại: 
đảo Praslin thuộc khi hậu nhiệt đới, nhiều mưa, cây dừa phát triển tươi tốt.
 Những đêm "phong ba bão bùng"cũng là thời điểm "hẹn hò" tốt nhất của "cây đực và cây cái" để tạo ra loại quả đặc biệt này. Những tiếng lào xào trong gió của từng tán lá dừa được người dân gọi là "âm thanh thân mật".
 Người chứng kiến khoảnh khắc này có thể gặp nhiều điều xui xẻo hoặc những sự cố oái oăm kỳ lạ.
 Chính vì thế từ trước đế nay chưa có ai dám "theo dõi" cây dừa trong những đêm mưa bão.


Cận cảnh trái dừa "nhạy cảm" này:

Quả dừa hình vòng 3 và chỗ kín của người phụ nữ


Mặt cắt

 
 
=
 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link