Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label Việt Cộng và bọn tay sai VC. Show all posts
Showing posts with label Việt Cộng và bọn tay sai VC. Show all posts

Saturday, May 7, 2016

Nỗi ám ảnh của quá khứ


Nỗi ám ảnh của quá khứ

GS Trần Quốc Vượng 

Con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù có no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn! Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuổi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: dối trên và nịnh trên, lừa dưới và nạt dưới!

…Và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).
Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!
Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó…
Trần Quốc Vượng
Nước Việt Nam ta hiện là một quốc gia kém phát triển về mọi mặt, vừa lạc hậu, vừa lạc điệu với một thế giới nhìn chung đã và đang phát triển rất nhanh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ 20.
Tạm bỏ qua một bên mọi sự “giải thích”, nào đổ tội cho phong kiến đế quốc, thực dân bành trướng, thiên tai, địch hoạ, chiến tranh, cách mạng, nào viện dẫn sai lầm chủ quan của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia mấy chục năm qua, v.v. tình trạng ấy là không bình thường, gây nên một bức xúc tâm lý, một nỗi đau thân thể, một nhức nhối thân xác và tâm linh, buộc KẺ SĨ và NGƯỜI DÂN, vừa gian khổ kiếm sống, vừa suy nghĩ đêm ngày, tìm cách khắc phục và vượt qua tình trạng tủi nhục này…

Có ĐỘC LẬP rồi chăng, nhưng hoạ LỆ THUỘC vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế…
Có THỐNG NHẤT rồi chăng, nhưng mầm CHIA RẼ mọc rễ sâu xa, nào Bắc / Nam, nào Cộng sản / không Cộng sản…
Điều chắc chắn, là NHÂN DÂN chưa có HẠNH PHÚC, TỰ DO thực sự.

Với biết bao hệ luỵ của một cuộc chiến kéo dài, buộc ràng tới 3 thế hệ người Việt Nam (và rất nhiều quốc gia liên đới), lạ một điều (mà sao lại là lạ nhỉ?), là từ “người thua” đến “kẻ thắng”, giờ đây, ai ai cũng mang một mặc cảm hoành đoạt (complexe de frustration), nói nôm na là MẤT MÁT. Trước hết là NGƯỜI DÂN THƯỜNG.

Người ra đi hàng triệu, bỏ xác ngoài biển khơi hàng ngàn, vạn, biết bao em gái ta, chị ta, cả mẹ ta nữa… bị kẻ hải tặc khốn kiếp dày vò làm nhục! Chưa nói đến của cải, ai còn sống thì đều cảm thấy mất quê hương!

Người ở lại, hàng chục triệu nông dân bỗng dưng cảm thấy mất đất, không có quyền tự do hành xử trên “mảnh đất ông bà”, trong khuôn viên do chính tay mình tạo dựng; hàng triệu công nhân mất việc, thất nghiệp hay bị kém sử dụng (sous-emploi), sống ngất ngư, lây lất qua ngày…
Trí thức, thì tản mác, bị lãng phí thảm hại, trừ một số rất ít kẻ xu thời (đời nào chẳng có?), người nào cũng cảm thấy mất tự do tư tưởng và sáng tạo.

Một tình trạng như thế, chỉ có lợi cho lũ gian manh. Một cuộc “đổi đời” kỳ cục như thế, mà nếu cứ nhất định muốn gọi nó, muốn gọi đó, là “cách mạng”, thì là một cuộc cách mạng đã mất phương hướng. Phương hướng là cái tiêu ngữ trên mỗi đầu trang giấy, từ sau Tháng Tám 1945: ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Cho nên phải nghĩ lại, phải bình tâm mà nghĩ lại, nói theo thời thượng từ giữa thập kỷ 80, là phải ĐỔI MỚI TƯ DUY.
Tư duy là công việc của mỗi CON NGƯỜI, vì về bản chất, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức và vì có tư duy, có ý thức mà được / phải có quyền tự do lựa chọn mô hình hành động, cho chính mình (tự do cá nhân), cho chính cộng đồng mình (nhà mình, làng mình, nước mình…) và phải / được chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn đó.

Tôi rất thân và rất quí Nguyễn Huy Thiệp, hẳn thế, nhưng chính vì thế mà tôi không thể nào đồng ý với anh khi anh trả lời phỏng vấn báo Libération là “Tôi đã sống như một con thú”. Con thú làm sao mà biết viết, biết in Tướng về hưu, Phẩm tiết…? Lẽ tất nhiên là tôi hiểu cái “ý tại ngôn ngoại” của anh: Cái mặt bằng kinh tế xã hội của một Việt Nam hiện nay trên đó “anh phải sống”, sự ràng buộc của “cơ chế”? v.v.

Tôi nhớ lại, ngày 12-1-1983, trong buổi họp kỷ niệm 40 năm ra đời “Đề cương Văn hoá Việt Nam”, ông Trường Chinh – tác giả chính của cái “Đề cương” đó – đã nói với các “nhà khoa học xã hội” Việt Nam: “Nếu không có một điều kiện tối thiểu về vật chất để sinh sống thì con người có thể trở thành con thú!”. Điều đó chẳng có gì mới lạ, vì bằng kinh nghiệm nghiệm sinh, nhiều nhà trí thức chúng tôi đã nghĩ và nói thế từ lâu; điều mới và lạ, là cho đến tận lúc ấy, một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam mới nói ra như thế! Mà con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù có no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn! 

Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuổi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: dối trên và nịnh trên, lừa dưới và nạt dưới!
Tôi nhớ lại, khoảng mười năm trước đây, một người học trò và là bạn bè của tôi, trước khi đi Nga làm luận án Phó tiến sĩ sử học, trong buổi “tiệc bia” tiễn biệt thầy trò, bè bạn, đã ngỏ với tôi lời “khuyên” tâm sự: “Nếu như thầy mà cũng “đầu hàng cơ chế” nữa là bọn em mất nhờ đấy!”. 

Anh ấy ở Nga 4 năm, về nước với bằng xanh Phó tiến sĩ, thẻ đỏ đảng viện và, gia nhập “cơ chế”, trở thành “người lãnh đạo” của tôi hôm nay! Tôi chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Tôi chọn lựa cho mình một hướng đi: Gia nhập “Câu lạc bộ những người thích đùa”. Tôi thường nói đùa như người Hà Nội vẫn thường đùa anh ấy:

– Cậu là đảng viên nhưng mà tốt!
Câu nói đùa, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” và hơn nữa, với câu nói ấy, có thể bị “quy chụp” là “phản động”.
Tôi có một anh bạn, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở “hàn vi”, lại cũng làm việc dưới một mái trường Đại Học trên ba chục năm trường, cùng “leo thang” rất chậm, từ “tập sự trợ lý” đến full professor, chair-department; anh là con “quan lớn”, em của “nguỵ lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn làm “hàng mẫu không bán” kiểu như ông Bùi Tín vừa làm ồn ào giới truyền thông một dạo – nhưng khác ông ta là cho đến nay anh không gửi “kiến nghị” kiến nghiếc gì, nói năng với TRÊN, với DƯỚI bao giờ cũng “chừng mực”, chẳng “theo đuôi” mà cũng chẳng là “dissident” của chế độ. Anh thường bảo tôi: thì về cơ bản cũng nghĩ như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần tốt”, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng đủ bị “quy” là “phản ứng giai cấp” rồi! O.K.! Anh cứ sống kiểu anh, tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có mỗi một điều thôi, là vì vậy và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).
Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!

Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó…
* * *
Báo Đoàn kết của một cộng đồng người Việt Nam bên Pháp đưa tin: Vào cuối năm ngoái (1990), có một ông Ủy viên Bộ chính trị kiêm Bí thư thường trực Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhân sang Paris dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, có tập hợp Việt kiều lại để nói chuyện. Trong khoảng 2 tiếng, ông chỉ “nói” mà không “nghe”, lại còn bảo: “Sống ở nước ngoài, biết gì chuyện trong nước, tuổi 40-50 trở xuống – nghĩa là vào hạng tuổi con cháu ông – biết gì mà góp ý kiến!”. Xem chừng bà con Việt kiều, nhất là anh chị em “trí thức”, bực mình với ông lắm.
Tôi là “trí thức” ở trong nước, ở Hà Nội nữa, nghe những lời lẽ ấy “quen tai” rồi.
Cũng ông ấy, lúc còn làm “Bí thư Thành uỷ” Hà Nội, khi thấy báo Quân đội nhân dân 1987 công bố “Bức thư ngỏ gởi ông Chủ tịch thành phố Hà Nội” của tôi, nói về việc “Phá hoại các di tích lịch sử của Thủ đô” đã cho triệu tôi lên trụ sở Thành uỷ và “thân mật” bảo – Nếu anh là công nhân, anh nói (nôm na, tục tằn) kiểu đó tôi còn hiểu được, đằng này anh là Giáo sư, là trí thức, sao lại nói (nôm na, “toạc móng heo, treo móng giò”) kiểu – Nếu anh nói thế, “tôi” thì “tôi” nghe được, nhưng những “người khác”, họ không nghe được! Từ nay anh nên “thay đổi” cái “giọng nói” của anh đi!

– Đảng bảo: “Trí thức là của Công Nông và cũng là Công Nông”, vậy nếu công nhân – theo ông – nói được như vậy thì trí thức cũng nói được như vậy. Có gì – theo ông – là khác nhau giữa giọng “trí thức” và giọng “công nhân”?
– Ông không khác gì người khác. Nếu theo ông, ông “nghe được” vậy thì người khác cũng phải nghe được. Vậy tôi chả việc gì phải “đổi giọng” cả!

Thực ra, tôi biết thừa cái “giọng tôi” chính ông nghe không được nên ông mới “góp ý” cho tôi, nhưng ông lại cố tình đổ cho là người khác nghe không được, hơn nữa ông lại cố tách “tôi” ra khỏi công nhân, “đề cao” tôi là “trí thức”, để chỉ cốt răn dạy tôi: Với vị thế của anh, anh không được ăn nói với chúng tôi (những nhà lãnh đạo) bằng cái giọng như vậy! 

Bà xã tôi lúc ấy còn sống và là giáo viên Trường Trung học Trưng Vương nổi danh ở Hà Nội – nghe tin tôi được / bị phải gọi lên Thành uỷ, lấy làm lo lắng lắm, bảo tôi (“giọng” bà ấy bao giờ cũng vậy, con gái nhà “tư sản Hà Nội” mà): Anh lên đấy, liệu mà ăn mà nói! Anh có sao, chỉ khổ vợ con! Chùa Một Cột có bị phá để làm Bảo tàng Lăng Bác, nếu có hại thì hại cả nước, đâu dính gì đến riêng anh mà anh cứ “la làng” lên, một con én chẳng làm nổi mùa xuân, “ăn cái giải gì” mà cứ nói, chỉ khổ vào thân; có cái giấy Úc mời sang kỷ niệm 200 năm nước “nó” đấy, khéo các “bố” ấy lại không cho đi, vợ con Ôi, làm “thằng người Việt Nam”, làm “trí thức Việt Nam” biết bao là “hệ luỵ”.

Tôi đưa chuyện HỌC TRÒ, BÈ BẠN, VỢ CON dàn trải trên mặt giấy đâu phải để “nói xấu” họ, nhất là nói về vợ tôi – nay đã mất, cầu cho linh hồn bà ấy tiêu diêu miền cực lạc – mà trong tâm khảm tôi, bao giờ tôi cũng cảm thấy mình xấu tính hơn bè bạn – vợ con – học trò. Tôi chỉ muốn nói về thân phận trí thức ở cái nước Việt Nam mang cái nhãn hiệu Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa mà thực ra là còn đang rất kém phát triển này: ông Ủy viên Bộ chính trị ấy, kiêm Bí thư Trung ương này, kiêm Bí thư thành phố này… ai chả nghĩ là ông ấy cộng sản hơn ai hết nhưng thực ra thì ứng xử của ông ấy từ Hà Nội đến Paris lại “gia trưởng”, “nho giáo cuối mùa” hơn ai hết!
Khổ vậy đó, Cho nên giáo sư Alexander Woodside, từ góc trời tây bắc của xứ tuyết Canada mới hạ một câu về cách mạng Việt Nam: “The spiritual and cultural milieu from which the vietnamese revolution sprang was both confucian and communist” (Cái môi trường tâm linh và văn hoá mà từ đấy cách mạng Việt Nam phóng tới là cả Khổng Nho và Cộng sản).
* * *
Ông giáo sư Từ Chi một trong những bạn bè thân thiết của tôi từ một cậu tú ở Huế đi Nam tiến ngay sau ngày 23 tháng 9 và trở thành cộng sản rồi năm 54 trở về học đại học để trở thành một nhà dân tộc học. Ông đi làm chuyên gia ở Tây Phi, thương một người con gái Hà Nội nhà nghèo vì chiến tranh mà lưu lạc mãi sang tận bờ sông Niger. 

Ông quyết đưa người phụ nữ bất hạnh đó trở về Tổ quốc chỉ bằng cách kết hôn với nhau, dù ông biết trước rằng hành động dấn thân ấy ông phải về nước trước thời hạn. Và cho đến 25 năm sau, ông không bao giờ được ra nước ngoài, dù ông, không có bất cứ một hành vi gì phạm pháp. Cái án được phán quyết không theo “Luật hôn nhân và gia đình” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1960, mà là theo đạo lý hủ Nho.

Về nước năm 65 qua ngã Moscow ông dừng chân ở đó 5 ngày. Gặp tôi ở quán cà phê Sính, ông rỉ tai tôi: “Chế độ Xô Viết không thể nào viable” (nguyên văn có nghĩa: không thể “thọ” được). Đấy là lời tiên tri đúng trước 1/4 thế kỷ! Vì sao NƯỚC và ĐẢNG có những người trí thức giỏi đến thế mà bây giờ cả NƯỚC, cả ĐẢNG đều lâm vào tình huống “khủng hoảng toàn diện”?
Từ năm 65, cứ mỗi lần nghe thấy lời khuyến dụ tôi vào Đảng, ông lại bảo tôi: “Tuỳ ông đấy, nhưng… nếu ông có vào thì đừng để người ta đuổi ông ra!”. Ông biết kỷ luật của Đảng ông là “kỷ luật sắt” mà tôi thì ông cũng biết quá rõ tôi là người “tự do”, tính ưa phóng khoáng, là người “bất cơ” (không chịu ràng buộc) theo chữ dùng để đánh giá mình của nhà sử gia họ Tư Mã bên Tàu!

Tôi hỏi ý kiến ông về tính chất Cách mạng Việt Nam. Ông trả lời: Cụ Hồ bảo nước mình là một nước nông nghiệp, dân tộc mình là một dân tộc nông dân. Cứ đấy mà suy, thì cuộc “Cách mạng” bây giờ hẳn vẫn là một cuộc khởi nghĩa nông dân. Khác chăng là trước, khởi nghĩa nông dân do một số nhà nho xuất thân nông dân như Quận He, như Cao Bá Quát cầm đầu, bây giờ là do những người cộng sản cũng xuất thân ở nông thôn và có căn tính nhà nho, như cụ Hồ, như ông Trường Chinh… lãnh đạo. Ông đọc bài ông Nguyễn Khắc Viện rồi chứ, Confucianisme et Marxisme (La Pensée, No 105, Octobre 1962). Ông Viện là cộng sản và là con cụ nghè Nguyễn Khắc Niêm đấy!

Đầu thế kỷ XX, trong xã hội yêu nước vẫn âm ỉ một chủ nghĩa yêu nước xóm làng (village patriotism, chữ của Alexander Woodside). Yêu nước chống Pháp kiểu Nho của cụ Phan Bội Châu thất bại ở 2 thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Và dòng trí thức Nho gia tàn  lụi. Một số con cháu nhà Nho, một số con cháu nông dân, một số con cháu nhà công thương mới trở thành lớp trí thức Tây học. Một số ấy chấp nhận le fait colonial và trở thành công chức cho Tây, như ông cụ ông Kỹ sư canh nông, như ông cụ tôi (Bác sĩ)… Một số khác, yêu nước hơn, mong áp dụng ở Việt Nam những lý tưởng Mác-Lê thế kỷ XIX.

Cái chủ nghĩa quốc gia của kiểu tư sản mà ông Nguyễn Thái Học, ông Xứ Nhu, kể cả cậu ruột ông đã khởi xướng ở Việt Nam Quốc dân đảng thì đã bị thực dân vùi dập khủng bố tan hoang từ thập kỷ 30. Còn lại cái chủ nghĩa quốc tế của Mác Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những nhà cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme. 

Người cộng sản Việt Nam có căn tính nông dân – Nho giáo đã gần Dân hơn người tiểu tư sản Tây học ở thành thị. Họ đã vận động và tổ chức được phong trào nông dân và toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, làm cách mạng tháng Tám thành công. Kháng chiến là sự nối dài của Cách mạng tháng Tám.
Kháng chiến đã thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã bị hoá giải.
* * *
Dưới thời quân chủ – nông dân – nho giáo, ở Viễn Đông, có một ước mơ ĐẠI ĐỒNG. “Thế giới ĐẠI ĐỒNG, thiên hạ vi CÔNG”. Ở đầu thập kỷ 20, trong một bài viết, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái chủ nghĩa ĐẠI ĐỒNG của Khổng Nho ấy rất gần với chủ nghĩa Cộng sản. Alexander Woodside nhận xét: Ông Mao phê phán rất dữ dằn Khổng Nho còn ông Hồ rất nhẹ nhàng với Nho Khổng. Xây “đời sống mới” năm 46, ông Hồ nêu khẩu hiệu của Nho Khổng: CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH CHÍ CÔNG VÔ TƯ. Dạy đạo đức cho cán bộ, ông Hồ lấy câu Nho Tống: “Tiên ưu hậu lạc”. Về giáo dục xã hội, ông cũng dùng câu có sẵn của Khổng Mạnh, đại loại như “Bất hoạn bần nhi hoạn bất quân…” (Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng…) hay là “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, v.v. và v.v. Đến di chúc, ông cũng đưa vào một câu trích dẫn của Đỗ Phủ đời Đường: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Thơ chữ Hán của ông, có nhiều câu, y phỏng theo Đường thi…

Nhưng cái mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin hay kiểu Mao (Staline Mao hoá) dù đã ít nhiều Hồ hoá, Việt Nam hoá cũng tỏ ra không thành công trước thực tiễn “bướng bỉnh” của một nước Việt Nam nhỏ bé – tiểu nông.

Người Cộng sản Việt Nam đã lầm khi tưởng rằng dù với cơ cấu kỹ thuật cũ, ít thay đổi, cứ làm đại việc công hữu hoá (quốc hữu hoá, tập thể hoá, hợp tác hoá…) thì vẫn xoá bỏ được áp bức bóc lột, cải tạo xã hội chủ nghĩa thành công. Hoá ra là một công thức đơn giản hơn:
CÔNG HỮU HOÁ + CHUYÊN CHÍNH (VÔ SẢN) = (QUÁ ĐỘ sang) CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tôi và ông Từ Chi bàn mãi về chuyện này. Sau thời công xã nguyên thuỷ, chế độ áp bức bóc lột đầu tiên nảy sinh ở đất Việt với chế độ “thủ lĩnh địa phương”, lang đạo, phia tạo (tiếng Anh tạm dịch là local chieftains) khi ruộng đất còn gần như y nguyên là “của công” nhưng “dân đen” là tiểu nông tản mạn còn thủ lĩnh giữ quyền “thế tập” theo dòng máu. Dân gian nói giản dị:
Trống làng ai đánh thì thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng!

Thì giờ đây, ruộng hợp tác, của kho hợp tác, bọn bí thư, chủ nhiệm, kiểm soát đều ở trong một cơ sở Đảng chuyên chính, chúng sẽ “vẫy vùng” thành riêng thôi! Ba năm liền 76-79 tôi đi Định Công Thanh Hoá, khảo cổ (ngày), khảo kim (đêm). Và 3 ngày liền cuối năm 79, tôi thuyết trình trước Tỉnh ủy Thanh Hoá về sự phá sản của mô hình làng Định Công (người ta tuyên bố “Định Công hoá” toàn tỉnh Thanh Hoá, với bài báo tràng giang “Bài học Định Công” của Bí thư Trung ương Tố Hữu). 

Thính giả cứ bỏ dần trước sự “vắng mặt” của Bí thư, Phó bí thư Tỉnh uỷ (người ta phải “nhìn Trên” để định thế ứng xử). Còn một ông thường vụ phụ trách tuyên huấn kiên trì nghe 3 ngày, để sau này khi Định Công phá sản hoàn toàn, đã khoa trương tuyên bố, chứng tỏ ta đây sáng suốt hơn các nhà lãnh đạo khác:
– “Lúc bấy giờ (79), ai dám nghe Trần Quốc Vượng nói, ngoài tôi?” (ông ấy bây giờ là Bí thư Đảng uỷ Bộ Văn hoá Thông tin).

Năm 82 tôi đi Liên Xô thuyết trình khoa học. Bài viết của tôi bằng tiếng Việt, Dương Tường dịch sang tiếng Anh, Từ Chi dịch sang tiếng Pháp, bà Nona Nguyễn Tài Cẩn dịch sang tiếng Nga. Bà Nona bảo: bài của anh hay lắm, nhưng thuyết trình ở Paris thì hợp hơn, nói với trí thức nước tôi (Liên Xô), họ không hoan nghênh đâu! Mà quả nhiên!

Về nước, tôi briefing cho bạn bè nghe về Liên Xô và nói lén qua hơi men: “Dứt khoát hỏng!” Và đấy là lần duy nhất tôi “được” đi Liên Xô. Đầu năm 83, giáo sư Phạm Huy Thông cho đăng bài của tôi lên trang đầu Tập san Khảo cổ học (1). Đảng uỷ Uỷ ban Khoa học Xã hội viết bản báo cáo dài lên Ban Tuyên huấn Trung ương quy kết tôi 4 tội:
– Chống chủ nghĩa Mác-Lê: vì tôi bảo: Công hữu hoá có thể đẻ ra bóc lột.
– Chống công nghiệp hoá: vì tôi bảo: Nông nghiệp phải / còn là mặt trận sản xuất hàng đầu.
– Chống đấu tranh giai cấp: vì tôi bảo: Nông dân khởi nghĩa – ngay cả ăn cướp – cũng không đánh vào người làng mà chủ yếu đi cướp nơi khác và đánh vào Quan.
– Chống chuyên chính vô sản: vì tôi bảo: Chuyên quyền đẻ ra tham nhũng.
Vụ án “văn tự” này kéo dài 3 năm, không có kết luận. 3 năm tôi được “ngồi nhà”, khỏi đi Tây và nói tiếng Tây! Cuối năm 86, khi Đại hội VI đảng Cộng sản Việt Nam kết luận lại trong nghị quyết là Nông nghiệp là “mặt trận hàng đầu”, Giáo sư Phạm mỉa mai ở trụ sở Uỷ ban Khoa học Xã hội: Thế bây giờ Đảng uỷ đúng hay Trần Quốc Vượng đúng?

Nhưng “nỗi ám ảnh của quá khứ” vẫn không tha người làm Sử như tôi (mà nói theo nhà Phật thì kiếp này còn là “quả” của kiếp trước kia mà). Năm 85, nhân năm “quốc tế người già”, ông Nguyễn Hữu Thọ nhờ người nói tôi viết bài “Truyền thống người già Việt Nam”. Báo Đại đoàn kết của ông không “đoàn kết” nổi bài của tôi, tôi nhờ báo Tổ quốc của ông Nguyễn Xiển đăng dùm. Rồi năm 86 có hội Khoẻ Phù Đổng của Đoàn Thanh niên, ông Bí thư T.N. nhờ tôi viết bài “Phù Đổng khoẻ”. Mùa hè nóng bỏng 86, trước Đại hội VI 5 tháng, ông Bí thư Trung ương Đảng phụ trách tư tưởng H.T. đem hai bài của tôi ra “chửi bới” giữa Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, đề bạt Nguyễn Khắc Viện, Trần Quốc Vượng, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng là 4 trí thức chống đối. Ông Giàu, thầy học cũ của tôi, đâm thư kiện. Ông H.T. biên thư trả lời (tôi còn giữ làm “chứng từ thanh toán”) bảo: Tôi không động đến anh, tôi chỉ động đến Trần Quốc Vượng, vì anh ta viết “Các vua Trần nhường ngôi” ám chỉ đòi chúng tôi rút lui, và viết “Thánh Gióng bay lên trời” ám thị chúng tôi đánh giặc xong còn cứ ngồi lại giành quyền vị…! Khốn khổ, vì sao các ông ấy cứ “mỗi lời là một vận vào khó nghe” như vậy? Hay là tại dân gian “nói cạnh” các cụ: Có tật giật mình?
* * *
Xã hội Việt Nam truyền thống cũ có nhiều nét hay, vẻ đẹp nên ở cạnh nước lớn, bị xâm lăng, đô hộ, đè nén hàng ngàn năm vẫn trỗi dậy phục hưng dân tộc, “trở thành chính mình”. Nhưng xã hội quân chủ – nông dân – nho giáo từ sau thế kỷ XV có nhiều “khuyết tật trong cấu trúc” – nói theo các nhà khoa học hôm nay:
Ở trong NHÀ thì có thỏi GIA TRƯỞNG, tuy tâm niệm “con hơn cha là nhà có phúc” mà vẫn không thích “ngựa non háu đá”, “trứng khôn hơn vịt”.
Ở trong LÀNG thì có nạn CƯỜNG HÀO, với tinh thần ngôi thứ, chiếu trên, chiếu dưới, “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”.

Ở trong VÙNG thì có nạn SỨ QUÂN, thủ lĩnh vùng thích “nghênh ngang một cõi”, gặp dịp là sẵn sàng “rạch đôi sơn hà”.

Ở cả NƯỚC thì có nạn QUAN LIÊU, quan tham nhũng, tân quan tân chính sách, luật không bằng lệ, kiện thì cứ kiện nhưng “chờ được vạ má đã sưng”, nên chỉ cứng đầu thì dại, “không ngoan” nhất là “luồn cúi” và trí thức “lớn” thì cũng tự an ủi “gặp thời thế thế thời phải thế”. Vì ngoài thì “bế môn toả cảng”, trong thì “chuyên quyền độc đoán”, cho nên sĩ khí ắt phải bạc nhược.

Thế giới giờ đây thay đổi đã nhiều. Song trong nước mình thì chưa đổi được bao nhiêu. “Nỗi ám ảnh của Quá khứ” vẫn còn đè nặng.

Chỉ còn một cách để “đổi đời” cho DÂN, cho NƯỚC: Đó là xây dựng một chế độ dân chủ, một nhà nước pháp quyền, một nền kinh tế công – nông nghiệp với thị trường tự do, một tư tưởng cởi mở, rộng dung, khoáng đạt, tự do, một nền văn hoá đa dạng, giữ cho được bản sắc tốt đẹp của dân tộc nhưng biết hoà nhập với thế giới, với nhân gian…

Tóm một chữ thì không phải là chữ “ĐẤU” mà là chữ “HOÀ”: HOÀ BÌNH, HOÀ HỢP, HOÀ THUẬN, HOÀ GIẢI…
Chẳng những NHÂN HOÀ mà cả NHIÊN HOÀ (hoà hợp với thiên nhiên, tự nhiên)
“Hoà nhi bất đồng”… mong lắm thay!
T.Q.V.                                                                              
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, August 31, 2014

Chính quyền cộng sản Việt Nam: nhũn với quốc tế, rắn với dân




Chính quyền cộng sản Việt Nam: nhũn với quốc tế, rắn với dân

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 30 tháng 8, 2014

Sau khi toà phúc thẩm y án tù và tăng đôi số tiền phạt đối với Ls. Lê Quốc Quân, chị Dương Hà, vợ anh Cù Huy Hà Vũ, nhắn qua Skype cho tôi, tỏ ý lo rằng đây là dấu hiệu chính quyền Việt Nam đang cứng rắn hơn và có thể sẽ không trả tự do cho anh Vũ như đã hứa hẹn với Hoa Kỳ từ nhiều tháng trước.

Tôi nhắn lại: “Hai chuyện khác nhau. Hoàn toàn không ảnh hưởng đến trường hợp của anh Vũ.”

Trong thâm tâm, tôi nghĩ việc y án đối với Lê Quốc Quân báo hiệu anh Vũ sắp ra khỏi tù.

Hai bản mặt 

Chính quyền Việt Nam đang ở trong thế phải cầu cạnh một số quyền lợi từ quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, nên muốn tỏ vẻ “biết điều”: Chúng tôi sẵn sàng đáp ứng mối quan tâm của quý vị. Cùng lúc, với dân, nhất là thành phần đấu tranh nhân quyền và dân chủ, họ phải tỏ ra “cứng rắn” để giữ thế độc tôn: Chế độ không lùi bước trước áp lực quốc tế; chớ tưởng bở mà làm mạnh. Mỗi hành động “biết điều” với quốc tế đều phải được cân bằng bởi một thể hiện “cứng rắn” để dằn mặt dân trong nước.

Một hồ sơ có công dụng “dằn mặt” nếu hội đủ 2 yếu tố: (1) Đang được các thành phần trong nước lên tiếng yểm trợ mạnh mẽ; (2) Có sự vận động ầm ĩ ở hải ngoại nhưng chưa có hậu thuẫn quốc tế, nên không đe doạ đến các quyền lợi mà chính quyền đang mưu cầu từ quốc tế.

Đối nội, hồ sơ như vậy có tác dụng đánh phủ đầu các thành phần tranh đấu, chứng tỏ rằng họ càng làm mạnh thì càng phản tác dụng, và đừng trông chờ gì vào sự can thiệp quốc tế vì chính quyền Việt Nam bất chấp. Đối ngoại, chính quyền không lo phản ứng bất lợi của quốc tế vì hồ sơ không là điều kiện để đổi lấy quyền lợi; quốc tế cùng lắm sẽ phản đối suông, và tâm lý bất lợi nếu có sẽ được giải toả khi chính quyền trả tự do cho số hồ sơ đang được quốc tế quan tâm.

Hồ sơ của Lê Quốc Quân nằm đúng vào trường hợp này: Ở trong nước có nhiều buổi thắp nến cầu nguyện, nhiều đợt biểu tình đòi trả tự do và đông người ở các nơi kéo về dự phiên toà; ở ngoài thì Mẹ đi lặn lội đến nhiều quốc gia cầu cứu cho con trong nhiều tháng trời, nhưng hồ sơ chưa được quan tâm đáng kể bởi chính giới quốc tế (thậm chí, lúc ấy chưa có một dân biểu nào “đỡ đầu”) và không gắn liền với bất kỳ quyền lợi nào mà chế độ đang cầu cạnh từ quốc tế. Đó là hồ sơ lý tưởng để chính quyền dùng vào mục đích “dằn mặt” dân. 
Kế hoá giải

Tháng 7 năm 2013, BPSOS đề ra chiến dịch Đòi Tự Do Cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam. Chúng tôi vận động để gắn liền việc trả tự do vô điều kiện cho tất cả TNLT với việc cho Việt Nam tham gia TPP. Đó là về chiến lược.

Về chiến thuật, chúng tôi lập 3 danh sách:

(1) Danh sách 1 gồm khoảng 20 TNLT ở mức ưu tiên tối cao và gắn liền với các quyền lợi mà Việt Nam đang cầu cạnh từ Hoa Kỳ.

(2) Danh sách 2 gồm khoảng 200 TNLT đã được quốc tế phối kiểm.

(3) Danh sách 3 gồm khoảng 200 TNLT có tên nhưng chưa được quốc tế phối kiểm và công nhận.

Chúng tôi giữ Danh sách 1 tương đối ngắn để tập trung được sự chú ý và can thiệp của quốc tế. Danh sách này gồm những TNLT tiêu biểu như Ts. Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày, Blogger Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Tiến Trung, Lm. Nguyễn Văn Lý, Ms. Dương Kim Khải, Ông Nguyễn Văn Lía (PGHH), Trần Huỳnh Duy Thức, Ls. Lê Quốc Quân…

Chúng tôi vận động quốc tế, thật mạnh nhưng thật im ắng, cho Danh Sách 1. Và rồi cứ mỗi TNLT trong đó được tự do thì chúng tôi lại đôn người từ Danh Sách 2 lên. Chẳng hạn, sau khi Đỗ Thị Minh Hạnh được tự do thì chúng tôi đôn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương thay thế; khi Nguyễn Tiến Trung tự do thì Ms. Nguyễn Công Chính thế chỗ. Như thế Danh Sách 1 lúc nào cũng có khoảng 20 TNLT ở mức ưu tiên tối cao.

Tương tự, khi một TNLT trong Danh Sách 3 được quốc tế phối kiểm và công nhận thì chúng tôi đưa vào Danh Sách 2.

Với phương cách này, chính quyền Việt Nam không thể chỉ trả tự do cho một ít hồ sơ đang được quốc tế quan tâm, vì tất cả TNLT đều sẽ tuần tự được đưa vào Danh Sách 1. Nếu muốn thoát áp lực quốc tế, chính quyền không những phải trả tự do cho tất cả TNLT mà không bắt giam thêm.

Im lặng là vàng

Giới lãnh đạo Việt Nam độc tài và có thể độc ác nhưng đủ thông minh để toan tính lợi hại. Nếu lợi ít mà hại nhiều thì họ không làm. Do đó, khi thực hiện chiến dịch Đòi Tự Do Cho TNLT Việt Nam, chúng tôi giảm công dụng “dằn mặt” và đồng thời tăng tổn hại nếu chính quyền không trả tự do cho TNLT, mà ưu tiên là những người trong Danh Sách 1. Chẳng hạn, khi chị Dương Hà sang Mỹ tháng 7 năm ngoái, chúng tôi sắp xếp để chị gặp nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ, giới chức Bộ Ngoại Giao, và nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế nhưng hoàn toàn kín tiếng. Tôi căn dặn chị Hà tránh mọi phát biểu hay gây tiếng ồn khi về nước. Sự im ắng ở cả ngoài và trong nước làm cho hồ sơ không có tác dụng “dằn mặt. Không những vậy, dùng nó để “dằn mặt” có thể phản tác dụng hoàn toàn vì sự tổn hại không thể giấu giếm: Hoa Kỳ cho biết là nếu không trả tự do sớm cho anh Vũ thì sẽ ảnh hưởng đến việc thảo luận hợp tác nguyên tử lực giữa 2 quốc gia.

Trường hợp Đỗ Thị Minh Hạnh thì khác. Chúng tôi cần vận động công khai để tranh thủ sự yểm trợ của các công đoàn Hoa Kỳ cho hồ sơ, mà kết quả là nó đã được gắn chặt với triển vọng TPP cho Việt Nam. Để giảm công dụng “dằn mặt”, chúng tôi căn dặn thân nhân tuyệt đối im ắng ở trong nước. Đồng thời giúp cho chính quyền Việt Nam hiểu rằng nếu dùng hồ sơ này vào mục đích “dằn mặt” thì sẽ tự gây tổn hải khôn lường: trên 150 dân biểu Hoa Kỳ chính thức lên tíếng chống TPP cho Việt Nam vì vi phạm quyền lao động và bắt giam những người tranh đấu cho quyền lao động mà Đỗ Thị Minh Hạnh là điển hình và nổi bật nhất.

Cùng thời gian Mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh vận động cho con gái Hoa Kỳ, thân nhân của 3 TNLT khác cũng đến Hoa Kỳ và rồi đi nhiều quốc gia khác để vận động. Chuyến đi này của họ đã được đưa tin rất nhiều về trong nước bởi giới blogger. Điều này đã giúp hồ sơ Đỗ Thị Minh Hạnh bị "chìm" đi ở trong nước, nghĩa là giảm công dụng “dằn mặt”.

Các hồ sơ của 3 TNLT này (Ls. Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức và Đinh Nguyên Kha) vừa thật nổi ở trong nước vừa không được cài vào quyền lợi nào mà Việt Nam đang cầu cạnh quốc tế cho nên trở thành lý tưởng cho chính quyền Việt Nam dùng để thị uy với dân.

Thấy vậy, chúng tôi quyết định tạm thời án binh bất động về hồ sơ Lê Quốc Quân và Trần Huỳnh Duy Thức dù họ ở trong Danh Sách 1. Khi tình hình tạm lắng, chúng tôi bắt đầu vận động trở lại, mà khởi đầu là vận động được 2 dân biểu Hoa Kỳ “đỡ đầu” cho 2 hồ sơ này.

Kết luận

Theo phân tích như trên, án tù rất nặng vừa mới đây cho Bà Bùi Thị Minh Hằng cũng là đòn của chính quyền “dằn mặt” dân. Hồ sơ này hội đủ cả 2 tiêu chuẩn cho công dụng “dằn mặt”. Còn Ông Nguyễn Văn Minh và Cô Nguyễn Thị Thuý Quỳnh bị kéo theo vì cùng vụ án. Tuần rồi, tôi có bàn với văn phòng DB Christopher Smith, Chủ Tịch tiểu ban về nhân quyền ở Hạ Viện Hoa Kỳ, là nên chuyển trọng tâm: thay vì tập trung vào Bà Hằng thì nên đôn trường hợp của Ông Minh lên đầu vì nó gắn liền với vấn đề tự do tôn giáo: cả gia đình theo Phật Giáo Hoà Hảo và nay cả 3 người đàn ông trong nhà đều là TNLT. Tự do tôn giáo đang là mũi nhọn quốc tế vận có thể đưa Việt Nam vào danh sách CPC và chặn đứng TPP. Nhưng phải chờ sự xôn xao ở trong nước lắng xuống thì mới có thể bắt đầu đẩy mạnh ở ngoài này.

Và cũng theo nhận định của tôi, án tù dành cho 3 người này báo hiệu đợt trả tự do sắp đến cho một số TNLT. Nó nằm trong kế cân bằng giữa “biết điều” với thế giới bên ngoài và “dằn mặt” dân ở trong nước. Biết kế của đối phương rồi thì chúng ta cũng biết mình phải làm gì, cách nào và khi nào.

Bài liên quan:

Lộ Trình Tranh Đấu Cho Tù Nhân Lương Tâm
http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2716


CPC cho Việt Nam: Chúng ta có thể 

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 29 tháng 8, 2014

http://machsong.org

Khi nói đến đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC, có người bi quan cho rằng sẽ chẳng đến đâu vì Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (BNG) cố tình bao che cho Việt Nam.

Nỗi lo này có phần đúng. Thay đổi chính sách đối ngoại của một đại cường với nhiều lĩnh vực lợi ích quốc gia không dễ. Nhưng rất sai nếu lẫn lộn “không dễ” với “không thể”. Là công dân của một nước dân chủ, người Mỹ gốc Việt có thể ảnh hưởng chính sách quốc gia, kể cả chính sách đối ngoại.

Và đây là một nguyên lý: Khi chính mình là một tác nhân ảnh hưởng kết quả thì ý chí sẽ quyết định phần lớn kết quả sẽ ra sao. Chủ bại và bó tay thì chắc chắn thất bại. Quyết chí thì có triển vọng thành công.

Trong tình huống khó khăn, bên cạnh quyết chí còn cần tài trí. Đó là sự am tường tình thế và luật chơi; đó là khả năng chuyển thế từ bế tắc thành thuận lợi; đó là sự khôn khéo giành phần chủ động và lấy sở trường của ta đọ với sở đoản của người; đó là sự chuẩn bị để nắm thời cơ và khai thác các yếu tố thuận lợi khi xảy ra. 
Thế cờ và luật chơi 

Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, thông qua năm 1998, đòi hỏi BNG hàng năm phải phúc trình Quốc Hội về tình trạng tự do tôn giáo ở từng quốc gia và cùng lúc chỉ định là “quốc gia cần quan tâm đặc biệt”, tức country of particular concern (CPC), quốc gia nào có tình trạng đàn áp tôn giáo vượt quá mức nhất định.

Vì trách nhiệm phúc trình và chỉ định giao cho cùng một nơi, nội dung phúc trình mất đi tính khách quan: bản phúc trình được gia giảm để giữ Việt Nam dưới mức phải chỉ định là CPC. Kết quả là nội dung nửa vời của bản phúc trình hàng năm gởi Quốc Hội: Hoạt động tôn giáo ở Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn nhưng có một số tiến bộ trong năm qua.

3 bước chuyển thế 


Muốn phá sự “nửa vời” này, chúng ta cần chứng minh tình trạng đàn áp tôn giáo ở Việt Nam vượt xa mức chỉ định CPC và đồng thời làm cho việc gia giảm quá đáng trở nên lộ liễu. Nghĩa là chỉ cần phúc trình gần đúng với thực trạng, thì sẽ khó tránh CPC cho Việt Nam. Muốn thế, chúng ta cần cùng lúc thực hiện 3 công tác.

Thứ nhất là thu thập chứng cớ đạt tiêu chuẩn quốc tế về phẩm và mức “áp đảo” về lượng. Đó là lý do từ hơn năm nay, chúng tôi dồn công sức, tài nguyên và thời giờ để đào tạo đội ngũ chuyên viên báo cáo vi phạm ở trong nước, và thành lập Ban Nghiên Cứu ở ngoài nước để hỗ trợ họ. Công tác này vẫn tiếp diễn.

Thứ hai là vô hiệu hoá các tổ chức tôn giáo quốc doanh hay quy phục để BNG không thể dùng thông tin của họ để “cân bằng” các thông tin bất lợi trong bản phúc trình. Công tác này đã phần lớn hoàn thành qua tuyên bố của Báo Cáo Viên LHQ về tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng tại buổi họp báo ở Hà Nội vừa qua, sau chuyến thị sát Việt Nam 11 ngày: phần lớn các tổ chức này phụ thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, cánh tay nối dài của Đảng Cộng Sản.

Cuối cùng là ngăn chặn sự gia giảm quá đáng các thông tin xác thực nhưng bất lợi cho Việt Nam. Công tác này đã tiến một bước dài qua chuyến thị sát của Báo Cáo Viên LHQ và sẽ hoàn tất khi bản phúc trình được chính thức nộp cho Hội Đồng Nhân Quyền LHQ vào tháng 3 sang năm, vừa kịp để chặn đầu bản phúc trình mà BNG sẽ nộp Quốc Hội khoảng 3 tháng sau đó. Bản phúc trình LHQ hứa hẹn sẽ cụ thể, chi tiết và mạnh mẽ hơn nhiều so với tuyên bố tại buổi họp báo kể trên. Nó thiết định mức chuẩn mà bản phúc trình của BNG không thể khác biệt quá đáng.

Trong thế cờ mới này, cách duy nhất để BNG tránh chỉ định CPC là áp lực Việt Nam phải thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo bằng cách xoá bỏ Nghị Định 92, chấm dứt việc ép bỏ đạo, ngưng mọi hành động sách nhiễu và khống chế các sinh hoạt tôn giáo độc lập dù là trực tiếp hay gián tiếp qua các tổ chức tôn giáo quốc doanh, cởi trói cho những tổ chức tôn giáo bị ép phải quy phục, và ngưng các hành động cưỡng chế tài sản và hạn chế hoạt động xã hội của các cộng đồng tôn giáo độc lập.

Chọn thế mạnh và dùng sở trường

Sức mạnh của chính quyền Việt Nam nằm ở lực lượng công an, hệ thống luật pháp tuỳ tiện, và mạng lưới chằng chịt các tổ chức và biện pháp kiểm soát người dân. Sở trường của họ là khống chế, đàn áp, bạo lực. Quốc nội là đất của họ, nơi họ nắm phần chủ động.

Chính trường Hoa Kỳ là đất của chúng ta. Thế mạnh của chúng ta nằm ở cương vị công dân của quốc gia đại cường mà chính quyền Việt Nam đang cầu cạnh. Sở trường của chúng ta là khai dụng quyền công dân lên chính quyền của mình để ảnh hưởng chính sách. Với một ít huấn luyện và thực tập, mỗi chúng ta đều có thể biến mình thành một “nhà vận động” hữu hiệu. Điều này đã được chứng minh qua các cuộc tổng vận động từ năm 2012 đến giờ.

Mở ra cuộc đọ sức trên trận địa mình chủ động, có thế mạnh, và khai dụng được sở trường sẽ tăng triển vọng thành công nhằm giải vây cho đồng bào ở trong nước. Sự việc chính quyền Việt Nam phải trả 30 nghìn Mỹ kim mỗi tháng cho công ty Podesta Group để đối phó với chúng ta cho thấy họ đang nao núng.

Nắm thời cơ

Giàn khoan HD-981 là một bước ngoặt lớn đẩy giới lãnh đạo Việt Nam vào thế kẹt và yếu hơn lúc nào hết: họ hoàn toàn trơ trụi -- không đồng minh, không điểm tựa, và ngày càng mất lòng dân – trong khi cơn bão khủng hoảng an ninh và kinh tế đang phủ kín bầu trời. Họ rất cần sự chống đỡ của Hoa Kỳ về quốc phòng và đang cầu cạnh được sớm tham gia Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) để thoát vực thẳm kinh tế.

Trong hơn năm rưỡi qua, chúng ta đã giăng một số nút chặn mà chỉ có sự cải thiện nhân quyền đáng kể và không thể quay lui mới tháo gỡ được. Và phải tháo gỡ trước cuối năm nay, bằng không thì quá trễ. Cánh cửa cơ hội cho TPP sẽ khép lại rất nhanh khi bước sang năm 2015 vì cả 2 đảng Cộng Hoà và Dân Chủ ngày càng ráo riết chuẩn b ịcho cuộc tranh cử tổng thống và không muốn mất phiếu vì các điều khoản TPP bị số đông quần chúng chống đối.

Chúng ta đang cài thêm nút chặn CPC, đến sau nhưng quan trọng hơn cả. Thời điểm chỉ định CPC là giữa năm 2015 và sự chỉ định này căn cứ trên tình trạng tự do tôn giáo của năm 2014 – thêm lý do để Việt Nam cần cải thiện chính sách tôn giáo trước cuối năm nay. Bằng không, cánh cửa cơ hội sẽ không chỉ khép nhanh mà sẽ đóng sập lại: Luật Hoa Kỳ hạn chế việc bán vũ khí sát thương cho và ký hợp đồng mậu dịch với các quốc gia bị chỉ định CPC.

Kết luận

Bài này có thông điệp kép.

Đối với đồng hương ở Hoa Kỳ và hải ngoại nói chung: hãy nhập cuộc, hãy dùng thế mạnh và sở trường quốc tế vận của mình để giải vây cho đồng bào đang bị vây hãm ở trong nước.

Đối với giới lãnh đạo Việt Nam: không tin, thì cứ chờ xem.




Báo Cáo Vi Phạm Tự Do Tôn Giáo và Tín Ngưỡng Với Quốc Tế
Ts. Nguyễn Đình Thắng
Ngày 26 tháng 8, 2014
http://machsong.org
Công bố sơ khởi của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng ngày 31 tháng 7 vừa qua đã tạo một yếu tố thuận lợi cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam nhanh chóng mở rộng không gian hoạt động tôn giáo độc lập: Quốc tế bắt đầu thấu hiểu thực trạng đàn áp tôn giáo đã được chính quyền Việt Nam khéo léo che đậy cho đến nay.
Yếu tố thứ hai là thế kẹt mà chính quyền Việt Nam đã rơi vào sau sự việc giàn khoan HD-981: Họ đang cần sự chống đỡ của quốc tế và đặc biệt của Hoa Kỳ trước sức ép của Trung Cộng. Chính quyền Việt Nam không thể xem thường sự lên tiếng của quốc tế nhưng chắc chắn sẽ tìm nhiều cách để giấu giếm sự thật.
Chúng ta cần giúp cho quốc tế, bao gồm các chính quyền dân chủ, các cơ quan LHQ, và các tổ chức nhân quyền trên thế giới, biết rõ các vi phạm tự do tôn giáo để can thiệp cấp thời cho các cá nhân hay cộng đồng tôn giáo đang gặp hiểm nguy và đồng thời tạo áp lực lâu dài lên chính quyền để phải thực sự tôn trọng tự do tôn giáo.

Trong mục đích này, đầu năm 2013 BPSOS bắt đầu đẩy mạnh 3 công tác phát triển “nội lực”, với cộng tác của một số tổ chức quốc tế:
(1) Hướng dẫn và huấn luyện về báo cáo vi phạm: Từ đầu năm 2013 BPSOS đã hướng dẫn nhiều cộng đồng tôn giáo thực hiện các bản báo cáo gửi LHQ cho cuộc Kiểm Điểm Định Kỳ Phổ Quát và chuẩn bị cho chuyến thị sát Việt Nam của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về quyền văn hoá vào cuối năm ngoái. Tính đến nay chúng tôi đã hướng dẫn và huấn luyện khoảng 100 nhân sự thuộc các cộng đồng tôn giáo độc lập về báo cáo vi phạm. Họ đã thực hiện các báo cáo phù hợp tiêu chuẩn và thủ tục của LHQ. Các báo cáo này đã giúp Báo Cáo Viên Đặc Biệt LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng chuẩn bị chuyến thị sát Việt Nam tháng 7 vừa rồi. Từ giờ đến cuối năm chúng tôi sẽ huấn luyện thêm 100 nhân sự thuộc nhiều cộng đồng tôn giáo độc lập. Song song, chúng tôi sẽ phổ biến các tài liệu huấn luyện để mọi người có thể “tự học” tại đây:http://dvov.org/vietnamese-language-documents/.
(2) Thành lập và phát triển Ban Nghiên Cứu ở hải ngoại: Để hỗ trợ cho công việc báo cáo vi phạm, BPSOS đã thành lập Nhóm Nghiên Cứu. Nhóm này rà soát và biên soạn lại các bản báo cáo từ trong nước cho phù hợp với tiêu chuẩn của LHQ, rồi phiên dịch sang Anh ngữ trước khi gởi đến các cơ quan LHQ, các chính quyền có ảnh hưởng và các tổ chức nhân quyền quốc tế. Sau khi Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ được hình thành, Nhóm Nghiên Cứu đã sáp nhập vào Ban Nghiên Cứu của Liên Minh. Ban này còn neo người và chúng tôi cầu mong sẽ có thêm nhiều người tình nguyện tham gia.
(3) Tạo năng lực và thế ảnh hưởng cho các tổ chức/nhóm tôn giáo liên đới ở hải ngoại: Mỗi cộng đồng tôn giáo ở trong nước cần có một tổ chức đồng tôn giáo ở hải ngoại để yểm trợ tinh thần và vật thể, để giúp Ban Nghiên Cứu về thông tin và từ ngữ chuyên biệt, và để làm nhịp cầu truyền thông và quốc tế vận giữa trong và ngoài.
Song song là 3 công tác “ngoại vận”:
(1) Giới thiệu các cộng đồng tôn giáo độc lập ở trong nước với thế giới: Đây là cách để vén tấm màn che phủ mà chế độ dùng trong bao năm qua để che mắt thế giới. Tháng 3 năm nay, BPSOS sắp xếp để LM Phan Văn Lợi và nữ Chánh Trị Sự Nguyễn Bạch Phụng của Cao Đài điều trần ở Quốc Hội Hoa Kỳ, qua Skype. Tháng 7 vừa rồi, chúng tôi lại sắp xếp cho 12 thành viên của các cộng đồng tôn giáo độc lập tiếp xúc với 4 toà đại sứ Mỹ, Anh, Úc và Na Uy. Tiếp ngay sau đó là khoảng 180 thành viên của các cộng đồng tôn giáo độc lập đã tiếp xúc với Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng ở nhiều nơi trong nước. Đầu tháng 8, 3 chức sắc Cao Đài đã tiếp xúc với TNS Robert Corker. Nhờ đã có kinh nghiệm báo cáo vi phạm theo tiêu chuẩn LHQ, các người tham gia các buổi họp trên đã trình bày rành rọt và giúp thế giới ngày càng nhìn thấy rõ hơn chính sách đàn áp tôn giáo rất khốc liệt nhưng được khéo che đậy ở Việt Nam.
(2) Kết nối các nhóm/tổ chức tôn giáo ở hải ngoại với quốc tế: Trong 2 năm 2013-2014, ngày càng nhiều các nhóm/tổ chức tôn giáo Việt Nam ở hải ngoại có quan hệ với các cộng đồng tôn giáo độc lập ở trong nước đã tham gia điều trần ở Quốc Hội, và họp thường xuyên với Bộ Ngoại Giao và Uỷ Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế. Họ chuyển đạt trực tiếp đến chính quyền Hoa Kỳ các thông tin và đề nghị của các cộng đồng tôn giáo độc lập ở trong nước. Giữa tháng 9 tới đây một phái đoàn đa tôn giáo lại sẽ họp với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
(3) Vận động sự yểm trợ của các tổ chức tôn giáo và tổ chức bảo vệ tự do tôn giáo quốc tế: Tương tự như cuộc vận động sự lên tiếng mạnh mẽ của nhiều công đoàn lao động Hoa Kỳ, BPSOS đang vận động khoảng 50 tổ chức Hoa Kỳ và Âu Châu quan tâm đến tự do tôn giáo quốc tế để tạo nên sức ép ngày càng tăng lên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Mục tiêu là đưa Việt Nam vào danh sách CPC vào tháng 7 sang năm. Bắt đầu đã có một số tổ chức hưởng ứng. Chẳng hạn, một số tổ chức Hoa Kỳ và quốc tế đã tham gia cùng với chúng tôi để vận động TNS Corker tiếp xúc với các chức sắc Cao Đài như kể trên. Xem:https://democraticvoicevn.files.wordpress.com/2014/07/irf-roundtable-vietnam-letter-ranking-member-corker.pdf vàhttps://democraticvoicevn.files.wordpress.com/2014/07/csw-letter-to-senate-foreign-relations-committee-senator-corker.pdf. Chúng tôi đang tạo cơ hội để một phái đoàn đa tôn giáo của người Việt sẽ tiếp xúc với khoảng 50 tổ chức kể trên tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 9 này.
Phần lớn các công tác “ngoại vận” ở trên đang được bàn giao cho Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ.
Chúng tôi quan niệm rằng, một khi nhất cử nhất động đàn áp tôn giáo ở Việt Nam đều bị quốc tế kiểm tra và lên án thì dù ngay cả bạo quyền cũng sẽ e dè hơn, nhất là khi nội tình đang bị rối rắm tứ bề nên phải cầu cạnh quốc tế. Muốn tận dụng cơ hội này, các cộng đồng tôn giáo ở trong nước cần phát triển khả năng báo cáo vi phạm và phát triển quan hệ trực tiếp với quốc tế, với sự yểm trợ của các nhóm/tổ chức đồng tôn giáo ở hải ngoại.
Bài liên quan:
Việt Nam: CPC, không TPP
Thời cơ cho tự do tôn giáo
Từ Biết đến Biết Cách
Báo Cáo Vi Phạm Nhân Quyền Với Uỷ Hội Về Tình Trạng Nữ Giới



Đời Mồ Côi

Em sinh ra đã không hề biết mẹ
Hàng ngày Em theo chị để ăn xin
Ngày đầu đường đêm ghế đá công viên
Sống lay lắt nhờ đồng tiền thiên hạ.


Nhiều khi đói sữa thay bằng nước lã
Hai chị em vật vã dạ cồn cào
Dế ve Sầu nướng lót dạ đêm thâu
Mong trời sáng xin cơm thừa hàng quán.


Cha chết sớm mẹ bị người ta bán
Sang bên Tàu vào động bán dâm
Nhà cửa ruộng nương
Đảng qui hoạch chẳng bồi thường
Nghe người nói cán bộ phường chia chác


Mình sống được nhờ tấm lòng cô bác
Nín đi nào chị sẽ hát ầu ơ
Mất mẹ cha đời đói rét bơ vơ
Đừng khóc nữa em thơ xin hãy hiểu.


Chuyện xui xẻo đẩy đưa đời cô lựu
Chị bị tông xe nằm ngất bên đường
Khi mọi người đưa chị đến nhà thương
Chị đã chết từ trên đường nhập viện.


Kẻ tông chị là đảng viên say xỉn
Sợ liên quan chúng đã biến vào đêm
Hết họ hàng giờ chỉ còn mình em
Nên ánh mắt mới buồn lên đến thế.


Anh xin lỗi mấy tháng rổi mới kể
Chỉ mong sao ánh mắt bé vơi buồn
Trẻ ăn mày không được đảng yêu thương
Nhưng còn có những trại cô nhi viện



Đây là thi đi siêu xa l tin tc, đâu phi chúng mun làm gì thì làm.

Linh Nguyên


               Cán Ngố Gộc đi thanh tra kiểm soát  ....Pó tay pó tay ! hết ý hết ý

Cùng nếm, ngửi, gõ với các bộ trưởng: Kim Tiến - Khôi Nguyên - La Thăng:
thugian07
Chị Kim Tiến, bộ chưởng Y tế đi kiểm tra thực phẩm ở chợ

thugian08
Anh Phạm Khôi Nguyên, bộ chưởng bộ Tài Nguyên và
Môi trường và bầu đoàn đi kiểm tra chất lượng môi trường"
thugian09
 Chỉ bọn quan chức Việt Nam mới có hành động kỳ quặc và ngu xuẩn thế này!
thugian10
Ối trời ơi là ông Tiến sĩ ! Ông nghè Phạm Khôi Nguyên ơi
thugian11
 Anh Đinh La Thăng, bộ chưởng bộ Rao Thông đi kiểm tra độ lún của mặt đường



CHÂN DUNG 'CÁC ĐẦY TỚ NHÂN DÂN'



Ngạo mạn, dâm ô chính là Lê Duẩn
Già mà lắm con là lão Đỗ Mười
Mưu mô quỷ quyệt là Lê Đức Anh
Nhẫn nhục sống lâu là Võ Nguyên Giáp
Chưa nói đã cười là Nguyễn Minh Triết
*

Giả danh Mác xít là Lê Khả Phiêu
Tham nhũng đớn hèn là cậu y tá (Nguyễn Tấn Dũng)
Ác thú lộng hành là Nguyễn Văn Hưởng
Gian manh, trí trá là Nguyễn Sinh Hùng
Cái gì cũng nhặt là Tô Huy Rứa
*
Không bộ nào chứa là Nguyễn Thiện Nhân
Vì gái quên thân là Nông Đức Mạnh
Thức thời, né tránh là Nguyễn Hải Chuyền
Miệng lưỡi dịu mềm là Vương Đình Huệ
Thiểu năng trí tuệ là Đinh La Thăng
*
Định hướng tối tăm là Nguyễn Phú Trọng
Ghét trung yêu nịnh là Lê Hồng Anh
Phát biểu lăng nhăng là Phạm Vũ Luận
Quen đánh giặc miệng là Trương Tấn Sang
Hán tặc chính danh là Hoàng Trung Hải
*
Thầy gét bạn khinh là Hồ Đức Việt
Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh
Đổi trắng thay đen là Trương Vĩnh Trọng
Triệt suy phù thịnh là Trần Đình Hoan
Đã dốt lại tham là Lê Thanh Hải
*
Ăn vụng nói dại là Đinh Thế Huynh
Cạn nghĩa cạn tình chính là Tô Lâm
Juda phản chúa là Nguyễn Đức Tri
Tình duyên lận đận là chị Kim Ngân
Vừa béo vừa dâm là Tòng Thị Phóng
*
Dối gian lật lọng là Vũ Văn Ninh
Lên chức nhờ cha là Nguyễn Thanh Nghị
Mặt người dạ thú là Phạm Quý Ngọ
Tính tình ba phải là Phạm Gia Khiêm
Chưa từng thanh liêm là Nguyễn Thế Thảo
*
Ăn tiền tàn bạo là Nguyễn Đức Nhanh
Chạy trốn an toàn là Dương Chí Dũng
Nghìn tỉ tham nhũng là Vinashin
‘Bà con’ Thủ Tướng là Phạm Thanh Bình
Ngậm thị ăn tiền là Vũ Huy Hoàng
*
Xôi thịt mê gái là Trịnh Đình Dũng
Lừa thầy phản bạn là Trương Hòa Bình
Cướp, Giết la làng là Thống đốc Bình
Ăn no kín tiếng là Cao Đức Phát
Móc ngoặc đi đêm là Ngô Xuân Dụ

Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)





Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link