[Attachment(s) from Vie^.t Si~ included below]
|
[Attachment(s) from Vie^.t Si~ included below]
|
Tưởng Năng Tiến (S.T.T.D Tưởng Năng Tiến )
Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng,
“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước...” - Tạ Phong Tần (Thành Viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do)
Lâu rồi, có bữa, tôi nghe nhà văn Vũ Thư Hiên (bùi ngùi) nhắc lại một kỷ niệm buồn ở Bất Bạt – Sơn Tây:
“Nơi tôi được đưa đến là một trại giam quân đội… Trên cái bàn gỗ mộc bụi bặm và mốc thếch lăn lóc mấy tờ Quân Đội Nhân dân nhàu nát. Tôi vồ lấy chúng, đọc ngấu nghiến để rồi thừ ra, thất vọng – tin tức trong báo chả nói với tôi điều gì mới.”
“Thời gian không đứng về phía chúng tôi. Những tờ báo giống y như những tờ này tôi đọc hàng ngày, một năm trước. Chúng sẽ giống như thế một năm sau, hoặc nhiều năm sau. Thế giới đã mắc bệnh bại liệt... Ngoài kia vẫn là đêm tối, chưa có gì hứa hẹn bình minh. Mà bây giờ đã là mùa hè năm 1969.”
(Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California:Văn Nghệ, 1997).
Khoảng thời gian mà Vũ Thư Hiên vồ vập và đọc ngấu nghiến mấy tờ báo Quân Đội Nhân Dân (rồi “thất vọng” và than rằng ““Thời gian không đứng về phía chúng tôi”) thì một công dân Việt Nam khác vừa mở mắt chào đời. Bà sinh ngày 15 tháng 9 năm 1968. Bốn mươi năm sau, với tư cách là một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, blogger Tạ Phong Tần đã dõng dạc tuyên bố:
“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước...”
“Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”
“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.”
Quan niệm đúng đắn và tích cực vừa nêu, tiếc thay, đã không được chia sẻ bởi những kẻ đang nắm quyền lực ở Việt Nam. Vốn đa nghi, và trí trá, giới người này có khuynh hướng xem blog (nói riêng) và web (nói chung) chỉ là “âm mưu của những con nhện” – những kẻ đang âm mưu “diễn biến hoà bình” – cần phải được theo dõi và kiểm soát, nếu được.
| Nhà báo tự do và blogger Tạ Phong Tần một ngày trước khi bị bắt đã tham dự khóa huấn luyện |
Tất nhiên là không thể được. Tầu còn bó tay thì nói chi ta. Chuyện quản lý internet ở nước bạn (“bốn tốt”) láng giềng, được giáo sư giáo sư Cao Huy Thuần tóm gọn, như sau: “80 mươi triệu con chuột thì mèo đâu ra mà bắt cho hết.”
Nhà nước Trung Hoa vĩ đại đã từng thành công mỹ mãn trong việc huy động dân chúng tiêu diệt vài tỉ con chim (sẻ) mà nay đang loay hoay không biết đối phó ra sao với mấy chục triệu con chuột (điện). Quyết tâm của họ, xem chừng, hơi thấp. Quyết tâm của ta, xem ra, cũng... không cao gì cho lắm!
Báo Công An Nhân Dân, số ra ngày 5 tháng 10 năm 2007, đã mô tả blog như là một thứ “hệ lụy” và “quản lý blog” là chuyện ... buộc cẳng chim trời:
“Theo ước tính từ Bộ Thông tin và Truyền thông, có khoảng 3 triệu blog tại Việt Nam. Và mỗi ngày có hàng chục ngàn blog mới được khai sinh và việc một người sử dụng nhiều blog với những mục đích khác nhau là hoàn toàn có thể. Đã có những phát sinh và hệ lụy từ blog...”
“Tuy nhiên, liệu có quản lý được không? Quản lý một blog mà danh tính của nó có thể thay đổi trong chớp mắt và những thông tin hiển thị không thực sự chính xác thì đó là cách buộc cẳng chim trời. Hầu hết các blog đều là dịch vụ của một nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, vì vậy việc quản lý sẽ càng trở nên nan giải hơn...”
“Trong bộn bề của những ngày bắt đầu Bộ Thông tin và Truyền thông, trong rất nhiều những vấn đề cần giải quyết và đưa ra những hướng dẫn cụ thể, đưa ra việc quản lý blog với những quy chế hướng dẫn cụ thể là điều chưa khả thi.”
Ủa, nói vậy thì chừng nào chuyện “quản lý blog” mới “khả thi” đây – mấy cha?
Câu trả lời tìm được vào gần một năm sau, khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Định 97/2008/NĐ-CP – về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet – vào ngày 28 tháng 8 năm 2008. Theo đó: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Hơn năm năm đã trôi qua, với thời gian số chuột ở nước ta – xem ra – có vẻ mỗi lúc một tăng gia, chứ không hề giảm. Ta không có tới tám mươi triệu con chuột (như Tầu) nhưng tính rẻ cũng cỡ đâu chừng... bốn triệu! Mèo đâu ra mà bắt cho hết, hả Trời?
CAM (công an mạng) lại không thể đào tạo dễ dàng như mấy ông bạn đồng nghiệp, bên ngành giao thông. Loại sau, khỏi cần huấn luyện, cứ quăng ra đường là tụi nó xông xáo đi ghi giấy phạt để... kiếm (them) chút cháo. Chớ còn rình bắt chuột (điện) thì đòi hỏi cần phải có nghiệp vụ khá cao mà lại chả được ăn cái... giải (rút) gì, ngoài số tiền lương... chết đói.
Bắt không hết thì đành dọa xuông thôi, kiểu như nông dân đặt mấy thằng bù nhìn trên những cánh đồng để hù đám chim trời vậy mà. Thử nghe lời ông Tom Cat – một vị quần chúng tự phát, trong thế giới internet – vừa đe những blogger ở Việt Nam, trên trang Dân Luận:
Anh Bùi Thanh Hiếu thân mến, có lẽ tôi không phải trình bày dài dòng với anh như với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, bởi vì những hoạt dộng của anh không vang tới Bộ Chính Trị như tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhưng ở mức độ thấp hơn, anh có 3 hoạt động khiến những người làm an nình và bảo vệ tư tưởng văn hóa đặc biệt khó chịu: đó là cổ vũ cho các hoạt đống chống đối ở Thái Hà, tham gia tích cực biểu tình, viết tập truyện ‘Đại Vệ Chí Dị’. Tôi xin mạn phép cảnh báo anh Hiếu là đã có quyết định chính thức của cơ quan chức năng để vô hiệu hóa anh. Tôi rất lấy làm tiếc về điều này, và thật sự tôi hy vọng với những dòng cảnh báo này anh sẽ chấm dứt hoàn toàn 3 hoạt dộng chống đối trên, như vậy thì cơ quan Công An có thể sẽ tha cho anh, tôi thật sự không muốn anh vào tù và bé Tí Hớn của anh thiếu vắng sự dạy bảo của người cha, rất mong anh suy nghĩ.
Trân trọng
Tom Cat
P/S: Tom Cat xin cảnh báo 2 người nữa cũng đang có nguy cơ rất cao bị ‘vô hiệu hóa’ đó là ông Nguyễn Hữu Vinh và ông Nguyễn Xuân Diện, xin hai ông biết rằng chính quyền đã hết kiên nhẫn với hai ông khi sự kiện tàu Bình Minh 02 đã trôi qua 7 tháng mà các ông vẫn muốn ‘restart’ các cuộc biểu tình nhằm mục đích gây rối. Nếu chỉ cần kích động thêm 1 lần biểu tình nữa thì hai ông sẽ bị vô hiệu hóa triệt để. Xin thật lòng cảnh báo.”
Mà “vô hiệu hoá” và “vô hiệu hoá triệt để” khác nhau làm sao vậy cà? Một đằng là vô tù; còn đằng khác (chắc) là vô nghĩa địa, sau khi (cho) xe đụng chết luôn hay sao? Đằng nào thì nghe cũng ghê thấy mẹ luôn. Tuy thế, qúi ông Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Vinh (dường như) đều bị nặng tai nên mọi lời đe doạ của quần chúng tự phát –Tom Cat – kể như nước đổ lá khoai!
Thế là Nhà Nước lại phải có biện pháp mạnh (hơn) theo như tin nghe được từ RFI, vào hôm 06 tháng 4 năm 2012:
“ Tại buổi hội thảo hôm thứ Sáu vừa qua, thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn đã tuyên bố rằng, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực Internet không còn phù hợp nữa, cho nên cần phải ‘bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế tài’, nhằm tạo hành lang pháp lý cho ‘sự phát triển bền vững của Internet’ ở Việt Nam. Nói cách khác, dự thảo nghị định mới đi xa hơn trong việc kiểm soát thông tin trên Internet ở Việt Nam.”
Nghe mà thấy thương quá sức, muốn ứa nước mắt luôn: "các văn bản pháp luật trong lĩnh vực Internet không còn phù hợp nữa, cho nên cần phải ‘bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế tài.”
Thời gian, rõ ràng, đã đứng về phía khác – phía của ông Vũ Thư Hiên và mọi người dân Việt, trong cũng như ngoài nước. Buộc cẳng chim trời hay buộc chỉ chân voi đều là những chuyện (rất) khó thành công.
– Ủa, không thành công thì thành nhân chớ có mất mát gì đâu mà sợ?
– Sợ chớ, theo luật tiến hoá thì đi tới mới có hy vọng thành nhân. Còn cố kìm giữ cả một dân tộc trong tăm tối, dốt nát và nghèo đói... là bước lùi. Bước lui thì chỉ có thể thành dã nhân thôi! Thì tui cũng tiện mịêng mà nói chơi cho vui vậy, chớ đừng có lo chuyện những người đang cầm quyền ở VN có thể biến cả dân tộc này thành ... vượn. Khoảng cách mà họ có thể tiếp tục bước lùi cũng chả còn được bao xa và bao lâu nữa đâu. Chắc chắn là không thể lâu như bản án hàng chục năm tù mà họ sắp áp đặt lên cuộc đời của những thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, trong đó có Tạ Phong Tần (*) Gió đã chuyển rồi!
Tưởng Năng Tiến
http://www.rfavietnam.com/node/1176
(*) Xin đón đọc Tuyển Tập Tạ Phong Tần, do tuần báo Trẻ Dallas, Texas xuất bản. Độc giả có thể đặt mua ngay từ bây giờ qua địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.
ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com
Thân tặng Bùi Thị Minh Hằng
Trói chân tay,chúng đưa em trở lại
Nơi sóng xanh như tình em thắm mãi
Núi hình gươm chém nát bão điên cuồng
Như chúng mình gan góc trụ quê hương
Trói chân tay chúng đưa em trở lại
Nơi tàu cướp hoành hành,dân chẳng hãi
Bao bạn bè cùng con dại chờ mong
Góp lửa cho đồng cỏ úa mênh mông.
Nguyễn Văn Khải - Ông già Ozon
Tiến sĩ Khải Ozon và chị Bùi Thị Minh Hằng phản đối Đài PTTH Hà Nội vu khống và xuyên tạc sự thật về những người biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lấn, cướp bóc và đánh đập ngư dân Việt Nam.
NIỀM TIN CỦA TRUNG QUỐC.
Niềm tin của TQ
Ngô Văn Lang 13/06/2011
Người Trung Quốc rất hiểu Việt Nam. Họ có mặt ở Việt Nam rất đông, với nhiều lí do: làm ăn buôn bán, hợp tác, và không loại trừ cả mục đích do thám. Gián điệp Trung Quốc đã có mặt ở Việt Nam từ thời An Dương Vương, chui vào tận nơi cao nhất của bộ máy cầm quyền. Không một người Việt nào lại không biết điều này. Thất bại của An Dương Vương đã mở đầu cho một ngàn năm Bắc thuộc đau khổ của cả dân tộc. Người Trung Quốc có thể nói tiếng Việt như người Việt. Kể cả những người không ở Việt Nam cũng rất hiểu Việt Nam vì họ nghiên cứu Việt Nam rất kỹ.

Trung Quốc hiểu rõ Việt Nam đương đại ở mấy điểm sau đây:
Việt Nam đang suy yếu về mọi phương diện. Biểu hiện dễ thấy nhất là về kinh tế: lạm phát tăng liên tục và chưa nhìn thấy khả năng kiềm chế và khắc phục. Nhiều vùng hiện nay đang lâm vào cảnh đói ăn.
Suy yếu về kinh tế tất yếu dẫn tới suy yếu về quân sự. Bởi lấy đâu ra ngân sách để đầu tư đúng mức cho quân sự. Trong khi đó thì thất thoát tài chính kinh hoàng diễn ra hàng ngày ở mọi lĩnh vực, mà một ví dụ điển hình giờ đây không ai còn có thể chối cãi là Vinashin.
Điều quan trọng là người Việt Nam đang suy yếu về tinh thần. Hiện nay chỉ có một bộ phận rất nhỏ trong tổng số hơn tám mươi lăm triệu người là còn dám phân tích, dám suy nghĩ, dám đối diện với thực tế và dám nắm bắt thực tế. Đại bộ phận hoặc bị tê liệt các khả năng ấy vì sợ hãi, hoặc các khả năng ấy bị bóp nghẹt từ trong trứng nước, đầu óc chỉ còn có thể tiếp nhận các chỉ thị một chiều từ trên xuống và thực hiện chỉ thị một cách vô điều kiện. Đa số người dân Việt Nam không quan tâm đến thực trạng của đất nước mình, không quan tâm đến những gì đang đe dọa cuộc sống của mình và vận mệnh của đất nước mình. Đa số đều thực hành triết lí: sống ngày nào biết ngày đó. Chính quyền tưởng đã thành công khi làm cho dân chúng sợ mình, nhưng đó là một sai lầm trầm trọng, vì giờ đây, khi phải đối diện với sự suy thoái kinh tế, đối diện với sự đe dọa của ngoại xâm, thì những người dân đó không còn đủ khả năng để ứng phó với tình hình. Trung Quốc không mong gì hơn điều đó.
Trung Quốc hiểu rằng, với cơ chế và cách thức vận hành xã hội hiện tại, năng lực của người Việt Nam bị suy yếu.
Các “năng lực”, “phẩm chất” hiện được đặc biệt phát triển ở người Việt Nam là:
- Khả năng lấy lòng người khác, làm hài lòng cấp trên.
- Khả năng chịu đựng, nhẫn nhục. Chữ “nhẫn” của Tàu được bày bán đầy ở Văn Miếu mỗi dịp xuân về, nhắc cho người Việt Nam biết rằng nhẫn nhục là con đường sống của họ. Họ tưởng rằng như vậy là khôn ngoan, nhưng kết cục là nhà nhà nhẫn nhục, người người nhẫn nhục sẽ có một quốc gia nhẫn nhục, hệ quả là sự suy yếu tập thể. Trung Quốc không mong gì hơn điều đó.
- “Năng lực” phục tùng, vâng lời. Đây là một “phẩm chất” được đánh giá cao trong hệ thống nhà nước. Những người thành công nhờ vâng lời tất yếu cũng muốn người khác phải vâng lời họ, họ sẽ kìm hãm những người có khuynh hướng hoạt động độc lập, có khả năng suy nghĩ độc lập. Vì thế, khi mà sự phục tùng được đề cao thì hiệu quả công việc bị sụt giảm, bộ máy nhà nước cồng kềnh và kìm hãm sự phát triển. Trung Quốc rất hài lòng trước hiện tượng này.
- Năng lực và nghệ thuật đưa hối lộ. Năng lực này được bồi dưỡng ngay từ khi thời thơ ấu, bắt đầu từ việc đưa phong bì cho giáo viên hay bác sĩ.
- Năng lực và nghệ thuật nhận hối lộ. Càng lên các cấp cao trong hệ thống quản lí thì năng lực này càng pháp triển. Trung Quốc hiểu rằng việc chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là nói cho có nói mà thôi, không bao giờ thực hiện được. Trung Quốc khuyến khích tham nhũng ở Việt Nam phát triển vì hiểu rằng nó sẽ thúc đẩy sự suy tàn nhanh chóng của đất nước này.
- Năng lực “ngu hóa”: tự làm cho mình ngu si, tự triệt tiêu khả năng suy nghĩ và khả năng nhận thức của mình. Phổ biến phương châm sống: “ngu si hưởng thái bình”. Hệ quả là nền kinh tế tuột dốc, giáo dục thảm hại. Nền giáo dục, thay vì giáo dục lòng can đảm, phát triển tư duy, thì lại gieo rắc nỗi sợ hãi và làm thui chột khả năng suy nghĩ độc lập của học sinh sinh viên. Và khi có chuyện xảy ra, đa số không còn có thể phân tích tình hình, không biết phải làm gì. Trung Quốc không mong gì hơn điều này.
Trung Quốc hoàn toàn hiểu rằng người Việt Nam suy yếu là do sợ hãi. Nỗi sợ hãi của người dân Việt Nam là điều kiện cho việc Trung Quốc thôn tính đất nước này. Người dân Việt Nam có thể không sợ Trung Quốc, nhưng lại rất sợ chính quyền của mình, không dám đi ngược lại các phán quyết của chính quyền. Một số rất ít người, đếm trên đầu ngón tay, dám hy sinh, dám chịu nguy hiểm để biểu hiện lòng yêu nước thì bị chính quyền đàn áp, bắt bớ, bỏ tù. Điều này khiến toàn bộ dân chúng còn lại càng thêm sợ hãi. Nỗi sợ hãi làm họ tê liệt đến mức họ không còn muốn tìm hiểu vì sao biểu tình chống Trung Quốc chiếm các hải đảo của mình mà lại bị ngăn cấm và bắt bớ. Họ không muốn, không dám tìm hiểu và họ để mặc cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm. Đó là những gì đã diễn ra sau những cuộc biểu tình năm 2007. Và triệt để hơn, người Việt Nam không muốn tìm hiểu về bất kỳ chuyện gì khác ngoài chuyện mưu sinh hàng ngày. Hoặc nếu có tìm hiểu thì cũng chỉ để bàn luận với nhau trong góc nhà, hay trong quán cà phê mà thôi, họ thụ động chấp nhận tất cả mọi thứ.
Trung Quốc cũng hiểu rõ rằng Việt Nam suy yếu là do những người có năng lực ở Việt Nam không được sử dụng, rằng nhiệt tình và năng lực, năng lượng của người Việt Nam đã bị tắt ngấm dưới làn sóng sợ hãi băng giá. Và chính quyền Việt Nam không tin ở công dân của họ. Mọi cố gắng phản biện nhằm gây dựng sự lớn mạnh cho quốc gia đều bị quy về tội chống phá nhà nước.
Vì thế Trung Quốc quyết định rằng đây là thời cơ ngàn vàng để thể hiện cho người láng giềng yếu kém Việt Nam thấy sức mạnh của mình. Và Trung Quốc đã chuẩn bị rất bài bản, rất cẩn thận cho quá trình thôn tính Việt Nam. Bắt đầu bằng sự thôn tính bộ phận: thuê hàng loạt rừng đầu nguồn ở những vị trí trọng yếu, nắm Tây Nguyên với cái cớ hợp pháp là khai thác bô xít, đầu tư nhiều công trình, nhiều cơ sở kinh doanh ở Việt Nam mà nhân công chủ yếu là người Trung Quốc. Thôn tính thị trường Việt Nam bằng hàng hóa Trung Quốc, và chủ yếu là hàng hóa chất lượng kém để đầu độc người Việt Nam, và với mục đích vô hiệu hóa nền sản xuất và kinh doanh của Việt Nam. Trung Quốc hiểu rằng hàng hóa không chỉ là hàng hóa, mà hàng hóa còn là văn hóa. Người Việt Nam hàng ngày dùng đồ Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng một cách từ từ nhưng sâu đậm bởi văn hóa Trung Quốc. Trung Quốc thôn tính truyền hình Việt Nam bằng vô số phim Trung Quốc, và đã thành công kinh khủng khi khiến cho thanh niên Việt Nam thuộc sử Trung Quốc hơn là sử Việt Nam. Đây quả là một tính toán mang tầm chiến lược và rất đáng nể phục: khi Trung Quốc thôn tính xong Việt Nam thì người Việt Nam không bị xa lạ với văn hóa Trung Quốc, sẽ cảm thấy Trung Quốc gần gũi với họ, gần gũi từ trong tâm thức.
Câu hỏi mà người Việt Nam phải đặt ra là: “Tại sao Trung Quốc lại thành công được như vậy?”. Nếu mỗi người Việt Nam đều đặt câu hỏi đó thì Trung Quốc có tài giỏi đến mấy cũng không thành công được. Nhưng người Việt Nam đã bị tê liệt khả năng đặt câu hỏi, tê liệt khả năng tìm hiểu và nhận thức.Vì người Việt Nam từ lâu đã bị cấm đặt câu hỏi, bị cấm tìm hiểu và bị cấm nhận thức về những gì bị cho là “nhạy cảm”, tự do ngôn luận và tự do báo chí bị bóp nghẹt. Vì người Việt Nam bị trừng phạt khi dám thử tìm hiểu, thử nhận thức. Than ôi, có cái gì mà không nhạy cảm đây? Người Việt Nam chỉ biết than mà không dám hành động.
Trung Quốc biết rõ như vậy. Cơ hội đang thuộc về Trung Quốc.
Trung Quốc hiểu rằng, không có thời cơ nào tốt hơn hiện nay, khi chính quyền và người dân Việt Nam sợ hãi lẫn nhau (chính quyền sợ nhân dân và nhân dân sợ chính quyền), khi thông tin bị bưng bít, người dân thờ ơ với vận mệnh đất nước, lãnh đạo bằng mọi giá bảo vệ quyền lợi cá nhân, tình trạng chung là không chịu suy nghĩ, không chịu hành động, không chịu thay đổi.
Trung Quốc hiểu rằng nhân dân Việt Nam đang mất lòng tin vào chính phủ. Bởi những biểu hiện hèn nhược của chính phủ và sự kém cỏi của chính phủ trong việc giải quyết tất cả mọi vấn đề. Vì thế mà Trung Quốc dám vào tận lãnh hải Việt Nam để tuyên bố rằng người Việt Nam xâm phạm chủ quyền của mình, dám hùng hồn tuyên bố điều dối trá đó trên báo chí quốc tế. Trung Quốc tin rằng sẽ thực hiện được giấc mộng thôn tính Việt Nam. Nếu ngư dân Việt Nam bị bắn chết mà chưa bao giờ Trung Quốc bị trừng phạt, nếu những người Việt Nam tiếp tục bị Trung Quốc giết chết mà chẳng có ai dám làm gì Trung Quốc, thì tại sao Trung Quốc không lấn tới?
Nhưng có một điều mà Trung Quốc không hiểu, hay chưa hiểu: những người Việt Nam mà Trung Quốc tưởng là hèn hạ và chỉ biết sợ hãi ấy, những người đó sẽ cho Trung Quốc biết thế nào là người Việt Nam thực sự. Vì đây cũng là thời cơ để người dân Việt Nam nhận thức, hiểu rõ chính mình, hiểu rõ chính phủ của mình, hiểu rõ “ông bạn” láng giềng. Thời cơ để người dân Việt Nam lấy lại sức mạnh của mình. Trung Quốc cứ thử xem, người Việt Nam sẽ chứng minh rằng mảnh đất này chính là linh hồn của họ. Lịch sử cho thấy, đôi khi có chuyện vua quan Việt Nam bán nước, nhưng nhân dân Việt Nam chưa bao giờ chịu mất nước.
28/5/2011
N. V. L.
Dấu Mũ Trong Chữ Quốc Ngữ
Nguyễn Phước Đáng
Dấu mũ là một ký hiệu hình nón lá [^], đặt trên chữ cái a hay o và e để chế thêm âm cho chữ quốc ngữ. Mẫu tự la-tinh không có các âm này.
Đặt trên a là chế thêm được âm â (qui ước đọc tên và âm của â là /ớ/)
Đặt trên o là chế thêm được âm ô (đọc giống như tiếng Bắc /ô/ = /dù/. Dù, tiếng Nam, có nghĩa là vật dùng để che mưa che nắng).
Đặt trên e là chế thêm được âm ê (đọc giống như tiếng ê ẩm).
Do vậy, nên dấu mũ có khi được gọi là dấu ớ, nếu nó được đặt trên /a/, hoặc gọi là dấu ô, nếu nó được đặt trên /o/, hoặc gọi là dấu ê, nếu nó được đặt trên e, nghĩa là người ta còn gọi dấu mũ theo tên âm mới được chế tạo.
Gọi là dấu mũ, chắc nhà ngôn ngữ đầu tiên đặt cho nó cái tên đó là người Bắc, vì người Nam gọi hình dạng nầy [^] là nón lá, hay mái nhà, chứ không gọi là mũ. Vả lại, hình dáng đó không phải là mũ. Cái mũ, vật đội trên đầu, không có hình dạng đó. Quí vị Bắc Kỳ có thấy như vậy không?
Năm 1997, tôi bắt đầu tập tành viết lách để tiêu pha thì giờ thừa mứa của tuổi già sống trên đất Mỹ nầy, để khuây khoả nỗi buồn nhớ quê nhà. Ban đầu viết để mình đọc, rồi bắt bén gởi đăng báo, rồi bạn bè xúi dại gom lại in thành sách. Hơn sáu mươi tuổi đầu rồi, có vắt con tim như vắt áo quần cũng chẳng tìm được một giọt máu háo thắng nào, nhưng tôi cũng mù mịt nghe lời xúi dại của bạn văn, để thân già còm cõi nầy cứ lún sâu mãi vào nghiệp dĩ văn chương, mà người nào may mắn lắm thì khi vùi nông dưới 3 tấc đất rồi, hoạ hoằn mới có người nhắc tới.
Lúc mới viết, tôi tưởng dễ dàng, nên viết trật chính tả tùm lum. Kỹ thuật viên của nhiều tờ báo hoặc hững hờ, lười biếng, hoặc nghĩ rằng ai nhào vô nghề văn bạc bẽo này đều giỏi chính tả, nên để nguyên con những lỗi đó của tôi nằm chình ình trên mặt báo. Thật ra cũng không phải nhiều lắm đâu. Nhưng lượm gom khắp nơi lại, sắp chung một chỗ trên trang giấy viết thư 8.5 x 11 thì trông cũng nhiều. Mười bài viết lúc đầu của tôi, đếm đi đếm lại có đâu chừng 20 lỗi chính tả. Trong đó có chừng hơn phân nửa là lỗi về dấu hỏi dấu ngã. Nhiều độc giả, trong đó có những người đọc thường và một số là nhà văn, nhà báo, nhà giáo, đều rộng lượng bỏ qua cho tôi. Nhưng xui xẻo, có một “học giả” khắt khe, nặng lời sỉ vả tôi, khi ổng thấy chữ Nửu-ước, Gia-nả-đại, giẩy (đành đạch), cải (vã), đở (túi), tỉnh (bơ), (nghĩ) kỷ,... mà tôi viết với dấu hỏi, cùng những chữ khác như: hăn (hái), (tóm) lượt, lòng (ngực), (khuyên) răng, cốc (nhái), (mạt) xác, (rời) rạt, (đường) mươn, dấu diếm,... Chỉ cần gom lại thành một đống, rồi kê ra trên mặt báo, không cần phê phán gì thêm, cũng đủ ê mặt người viết rồi, đàng này ông “học giả” đó ngoài chuyện tuyển chọn gom lại đưa lên báo, mà còn mạt sát hết lời. Ông dặn “...toà báo (khi đăng bài của NgPhĐ) nên chua thêm hàng chữ trẻ em không nên đọc hay là cần có cha mẹ kềm cặp khi đọc bài này...” Thấy mấy bài sau tôi viết trúng chữ mạt sát, ông nhắc nhở tôi: “...ông hãy theo đúng đạo lý thánh hiền, mỗi lần viết đến (hai chữ) mạt sát phải gọi tên thầy: ‘cám ơn thầy HVTr’ một tiếng”. Ông nhắc tôi như vậy, vì mấy chữ khác thì ông có nói miễn, còn hai chữ mạt sát thì ông không nói miễn câu “nhất tự vi sư bán tự vi sư” Ông viết đến 3-4 bài báo kể tội tôi viết sai chính tả, khuyên tôi “đừng nên viết nữa cho đến khi được một thầy giáo chính thống VNCH nhận đỡ đầu cho về lỗi chính tả”, vì tôi viết sai chính tả như vậy là “làm nhục nhã cho các thầy cô giáo,... làm nhục nhã cho cả tổ quốc bốn năm ngàn năm văn hiến” Tội lớn như vậy, tôi nghĩ, nếu ra toà án binh chắc phải thọ án tử hình hoặc chung thân. Tôi không viết đùa đâu. Đọc sách “Ngoài Cổng Lâu Đài” của tôi, xuất bản năm 2000, quí vị sẽ thấy ba bài viết đó của vị “học giả” có tên tuổi đàng hoàng.
Bị sỉ vả và được khuyên như vậy, tôi định bụng sẽ nghe lời ông “học giả” mà nghỉ viết. Nhưng bạn văn của tôi lại khuyên đừng. “Ông bạn vàng” của tôi nói:
- Một ông vừa là nhà văn vừa là nhà báo có bằng Master (Cao học = Phó Tiến Sĩ = Thạc sĩ) viết trong một bài báo câu “Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà” mà cũng đâu có sao. Ông mắc cỡ mà làm gì? Từ rày cẩn thận chính tả một chút là được rồi...
Tôi nghe lời bạn, trang bị cho mình bộ nhu liệu VNI. Tôi cài đặt <tự động sửa chính tả>. Tôi lên sẵn từ điển VNI, hồm đó để khi nào nghi ngờ chữ nào, tôi bật lên ngay, tra liền. Cẩn thận hơn, viết bài xong, tôi bấm cho máy sửa chính tả cái rẹt từ đầu đến cuối một lần nữa. Bài viết của tôi qua ba lần sửa chính tả, trong đó có hai lần bằng máy. Bạn đoán xem, tôi còn trật chính tả không?
- Thưa, còn! Tôi viết “lễ lạc”. Trong đầu nghĩ rằng “lễ” phải vui. Vậy “lạc” (có nghĩa là vui) đi theo “lễ” cũng phải vui. Vậy “lạc” phải viết /c/ phía sau mới đúng. Suy nghĩ "lô-gích" quá, phải không các bạn? Mình không nghi ngờ gì hết, nên không bật từ điển lên tra. Mình lại tin vào máy, nếu sai nó sẽ tự động sửa ngay lúc mình đang đánh máy chữ. Lần đó tôi không nhờ máy sửa chung kết (sửa lần sau cùng toàn bài khi viết xong), nên tôi bị sai chính tả chữ lễ lạt, viết /t/ mới đúng.
Chuyện buồn cười là máy cũng quên, cũng xao lãng. Mình đã “xết-ấp” tự động sửa chính tả mà nó không chịu tự động làm, chờ đến khi mình bấm máy nhắc sửa toàn bài nó mới nhớ ra. Máy nó không hoàn chỉnh được như mình nghĩ đâu! Máy chỉ sửa được chữ nào có chính tả duy nhứt và chữ đôi (viết có gạch nối) mà nó hiểu nghĩa mà thôi. Có nhiều chữ nó sửa thành ra trật nữa. Con chim gi, nó sẽ tự động sửa thành chim di. Câu viết này “chúng sanh sanh vào thời mạt pháp” nó sửa sanh thành xanh hết, vì mình viết không có dấu nối giữa chúng và sanh, nên nó tưởng là màu xanh xanh. Máy suy tư theo máy. Nó có lý của nó. Nhưng nhiều cái bất ngờ không lường trước được, nó làm mình chới với. Đừng tin nó 100%. Nó hỗ trợ mình được nhiều việc, nhưng mình vẫn phải coi chừng.
Nhờ ông “học giả” khó tánh, từ đó tôi thủ thế, sợ có tội với dân tộc có 5 ngàn năm văn hiến, nên tôi trang bị cùng mình. Do vậy mà bây giờ tôi bớt phạm lỗi chính tả. Bớt rất nhiều, nhưng không dám chắc là đã hết!
Bớt phạm lỗi, rồi đâm ra méo mó đôi mắt, tôi ưa thấy người khác bị lỗi chính tả, đến cái độ giống như thổi lông tìm vết vậy.
Mấy lúc gần đây tôi thấy dấu mũ, tôi muốn nói tới dấu [^] (= dấu /ớ/), hơi bị lạm phát. Người ta lấy nó đặt vô tội vạ trên vần ay, au. Gặp chữ nào có ay, au phía sau là người ta chụp chiếc nón lá lên đầu a ngay: Trà tầu, tầu hoả, Vũng Tầu, tầu lá, một con ngựa đau, cả tầu không ăn cỏ, mầu áo,...; dậy học, đi dậy, mất dậy...; bầy biện, số bẩy, chẩy nhão, xẩy ra, nhẩy múa, đầy ải...
Những chữ nầy đã được nhiều người viết, chứ không phải chỉ một người. Nếu cần chứng minh thì tôi có thể trưng ra tên tác giả, tên tác phẩm. Ngay trong bài nầy thì xin miễn chuyện đó.
Bệnh thêm dấu /ớ/ [^] đang lây lan tùm lum, độc giả dễ dàng tìm thấy hằng ngày trên sách báo.
Bấm từ điển Lê Ngọc Trụ – Lê Văn Đức trên computer, tôi không tìm thấy chữ tầu (có dấu ^). Tào /o/ thì có. Tào lao, Tào Tháo là /o/ đó!
Chữ /tàu/ ta đang dùng có nhiều nghĩa:
1- /Tàu/, chỉ những gì thuộc về nước Trung Hoa: Ba Tàu, trà Tàu, Tàu Chợ Lớn, chú chệt về Tàu,...;
2- /Tàu/, chỉ chiếc ghe lớn có gắn máy hay buồm đi trên sông, trên biển: Tàu buồm, giặc Tàu Ô, tàu chiến, Vũng tàu (chỗ tàu đậu),...;
3- /Tàu/, chỉ bẹ lá: Tàu chuối, tàu cau,...;
4- /Tàu/, chỉ chuồng ngựa: Cạn tàu ráo máng.
Tất cả đều không có dấu /ớ/ [^].
Tôi nghĩ, ta có thể chọn một hay hai chữ tàu trong số 4 nghĩa kể trên, như Tàu có nghĩa là Trung Hoa, đổi thành Tầu, chứ đừng mỗi người tự ý chuyển đổi thành tầu sạch trơn như đang xảy ra. Nói vậy, nhưng mình đừng đơn phương làm, cần hội ý, góp ý với nhau coi nên chọn chữ tàu nào mà cho thêm dấu ^, bằng cách viết bài đề nghị, gợi ý trên sách báo.
Mầu (có dấu ^) thì có, nhưng đó là: nhiệm mầu, phép mầu, thị Mầu. Còn màu sắc, màu mỡ, màu mè, da màu,... đâu viết có dấu ^ được.
Dậy (có dấu ^) thì có, nhưng đó là: đứng dậy, dậy giặc, nổi dậy, dậy mẩy, dậy thì... Mình đang có dạy và dậy phân biệt chữ và nghĩa rõ ràng, khác chính tả, khác nghĩa. Hà cớ gì, tội tình gì, mình đẩy dạy qua dậy luôn. Thực tế, hầu hết chúng ta nói dạy học, đi dạy, dạy dỗ với âm ay nhẹ nhàng, có cứng hơn âm ai, nhưng không nặng như âm ây. Có lẽ chỉ khi nào quạu lắm ta mới thêm dấu ^/ớ/ cho hả cơn giận mà thôi “Trời ơi! Đồ mất dậy!” (Và chỉ nên dùng tiếng /dậy/ trong câu nói, chứ không phải chữ viết, chỉ viết “mất dậy” khi rất cần ghi lại trung thực lời của người đang cơn điên tiết giận hờn mà thôi)
Bầy (có dấu ^) cũng có, nhưng đó là bầy cừu, bầy tôi, bầy trẻ, bầy hầy, bầy nhầy,... Cũng vậy, mình vừa có bày vừa có bầy khác chữ, khác nghĩa minh bạch. Vậy tại sao mình nhập một, cho thành bầy hết những từ: bày biện, trưng bày, bày hàng, giải bày, bày tỏ, bày đặt, bày trò, bày vẽ,...
Bẩy (có dấu ^) cũng có, nhưng với nghĩa nâng lên: bẩy cột nhà, đòn bẩy; hoặc với nghĩa ướt át, sình lầy: giậm bẩy đất ra. Còn số bảy, ba chìm bảy nỗi, thì không có dấu /ớ/ [^] được!
Trong chữ Việt không có chẩy, chỉ có chảy mà thôi: chảy máu, nước chảy, trôi chảy,...
Cũng vậy, trong tiếng Việt chưa có chữ xẩy, chỉ có xảy mà thôi. Tuy nhiên, cũng có người ngay lưỡi khít răng, xì hơi ra mà nói: “hết xẩy”. Chừng viết họ cuốn lưỡi lên viết “hết sẩy”. Tra từ điển thì quả thật đâu có “xẩy”, chỉ thấy “sẩy” mà thôi: sẩy tay, sẩy thai,...
Cũng vậy, tiếng Việt hiện đang dùng không có nhẩy (có dấu ^) chỉ có nhảy mà thôi. Nhảy được ghép chung với chừng gần 50 tiếng khác để tạo nên từ đôi, từ ba như: nhảy cẫng, nhảy dựng, nhảy xổm, nhảy đực, nhảy dù, nhảy cao, nhảy xa; nhảy cà tửng, nhảy lăng ba, nhảy lò cò...Tất cả đều không có dấu /ớ/ [^].
Đầy (có dấu ^) có trong tiếng Việt, nhưng đó là đầy đủ, đầy nhóc, đầy bụng, đầy tháng, đầy vun, đầy ứ, đầy tràn, đầy đặn, đầy dẫy... Còn đi đày, đày ải, đày xắt, đày tớ... thì không có dấu /ớ/ [^].
Cùng là dấu mũ, nhưng dấu mũ ^ trên o, dấu /ô/, thì được dùng rất cẩn trọng. Không ai viết: nước trông veo, trông nhà ngoài ngõ (có dấu mũ) cả. Và cũng chẳng người nào lấy chiếc nón lá ^ ra khỏi đầu o của các chữ: trông chờ, bánh phồng, độc giả,... (Có lần tôi cho con cóc, họ hàng với con nhái, đội mũ thành con cốc, bị kết tội là làm nhục nhã giáo giới, làm nhục nhã dân tộc). Nhưng với dấu mũ ^ trên a, dấu/ớ/[^], thì bây giờ nhiều nhà văn lại buông lơi, để nó tự do muốn đáp xuống đâu cứ đáp. Nguy hiểm là bệnh đó đang bị lây lan, tôi thấy dường như hơi nhanh, mà không ai lên tiếng ngăn cản cả.
Lạy trời! Mong những người thường thuận tay dùng dấu mũ trên a đừng xỉ vào mặt tôi mà mắng “Đồ vạch lá tìm sâu, thứ thổi lông kiếm(*) vết!”
San Jose, đầu Đông 2000 (22-12-2000)
(Trích từ sách "Quốc Ngữ Lưu Vong")