Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, May 9, 2012

Tây Nguyên: Thêm một số người bị bắt vì hoạt động « chống phá chính quyền »

Thứ tư 09 Tháng Năm 2012

Tây Nguyên: Thêm một số người bị bắt vì hoạt động « chống phá chính quyền »

DR

Thanh Phương

Theo tin từ báo chí trong nước, hôm qua, 08/05/2012, công an tỉnh Gia Lai, phối hợp với lực lượng cảnh sát cơ động Bộ Công an, đã bắt giữ một số người ở ba làng thuộc tỉnh Gia Lai, vì họ bị cáo buộc có « hoạt động chống phá chính quyền ». Cụ thể họ bị xem là “ lợi dụng tà đạo Hà Mòn để hoạt động Fulro”, chống phá chính quyền.

Theo cơ quan điều tra, người cầm đầu nhóm này khai nhận đã "tuyên truyền kêu gọi dân 3 làng tham gia hoạt động Fulro, lập Nhà nước riêng cho người Tây Nguyên do Ksor Kok làm tổng thống". Ksor Kok là một trong những người sáng lập tổ chức Montagnard Foundation, được coi như là tổ chức Fulro lưu vong, tại Hoa Kỳ.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai hôm qua đã khởi tố những người vừa bị bắt chiếu theo điều 87 Bộ luật Hình sự về tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc.

Tổ chức Fulro, nay đã bị giải tán, vẫn bị chính quyền Hà Nội cáo buộc là đã gây ra những vụ biểu tình bạo động tại Tây Nguyên từ năm 2001. Trong những năm 2001 và 2004, người dân thuộc nhiều sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đa số theo Thiên chúa giáo, đã biểu tình rầm rộ để phản đối các vụ trưng thu đất đai và đàn áp tôn giáo. Những cuộc biểu tình này đã bị đàn áp thô bạo, khiến hàng ngàn người đã phải chạy sang Cam Bốt tỵ nạn.

Cho tới nay, vùng Tây Nguyên vẫn bị kiểm soát rất chặt chẽ và rất ít phóng viên được đặt chân đến đây.

 

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Chuyện Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

08/05/12 |

Chuyện Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

Sau một thời gian dài Hà Nội tuyệt đối cách li nhà báo đối kháng Nguyễn Văn Hải, được thế giới bên ngoài biết dưới cái tên rất Việt Nam “Blogger Điếu Cày” để áp lực ông nhận tội “chống phá Nhà nước” không xong, hôm 14-4-2012 Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố Sài gòn thông cáo đã chuyển cáo trạng và toàn bộ hồ sơ vụ án của Blogger Điếu Cày sang Tòa Án Nhân Dân Sài gòn để ra tòa ngày 15/5 sắp tới. Cùng một hồ sơ, ngoài Blogger Điếu Cày, tòa còn xử 2 nhà báo khác là bà Tạ Phong Tần và ông Phan Thanh Hải.

Theo cáo trạng, cả ba bị can Nguyễn Văn Hải: sinh năm 1952, ngụ tại Quận 3, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày; Tạ Phong Tần: sinh năm 1968, quê Bạc Liêu; Phan Thanh Hải: sinh năm 1969, ngụ tại Quận Thủ Đức – Sài gòn đều bị truy tố với tội danh “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 2, điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Bản cáo trạng mô tả bà Tạ Phong Tần và nhà báo Phan Thanh Hải đã hợp tác viết bài cho diễn đàn “Câu Lạc bộ Nhà Báo Tự Do” của Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải. Ngoài ra bà Tạ Phong Tần còn thiết lập blog “Công lý và Sự thật”, và ông Phan Thanh Hải lập Blog “AnhBaSaigon” trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2011 đăng tải hằng trăm bài tự viết hoặc lấy từ các diễn đàn khác có nội dung chống phá Nhà nước như phê phán, nói xấu, lên án, kích động quần chúng tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.

Theo bản tin của phóng viên lề phải Phạm Dũng viết cho tờ báo “Người Lao Động” Ông Nguyễn Văn Hải nguyên là cựu quân nhân quân đội Cộng sản. Ông bị công an chận bắt nhiều lần trong thời gian từ ngày 9/12/2007 đến ngày 19/1/2008 khi ông tham dự các cuộc biểu tình chống chính sách giành dựt Biển Đông của Trung quốc. Ngày 20/4/2008 công an bắt giam ông để ngăn cản ông tham gia các cuộc biểu tình chống Trung quốc rước đuốc Thế Vận qua Sài gòn ngày 29/4. Và sau đó truy tố ông về tội … trốn thuế nhà. Ngày 10/9/2008 tòa án Sài gòn xử ông 2 năm 6 tháng tù tính từ ngày 20/4/2008. Ngày 20/10/2010 mãn hạn tù, Hà Nội ghép ông thêm tội “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và biệt giam ông ngoài quy định của luật pháp. Bà Dương Thị Tân, vợ ông Nguyễn văn Hải nhiều lần viết thư khiếu nại không được trả lời đến nỗi có lúc dư luận tưởng rằng ông đã chết.

Ngày 4/5/2012 các luật sư bào chữa và ba gia đình của Blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Văn Hải nhận được thư thông báo chính thức ngày 15/5 sẽ xử 3 bị can.

Ngay sau đó con trai của ông Điếu Cày gởi thư lên mạng cho biết đã được thăm cha và thông báo một số chi tiết liên quan đến sức khỏe của ông và một số nội dung về vụ án. Sức khỏe ông Nguyễn Văn Hải không được tốt vì thiếu thốn nhất là mắt kém vì trại giam không cho ông dùng kính. Ông Điếu Cày cho biết dù bị giam cách li với gia đình một thời gian dài để áp lực nhận tội ông vẫn không ký nhận bất cứ một tội nào. Ông cảnh giác dư luận và gia đình đừng nghe những gì do công an nói về ông.

Tuy nhiên, một ngày sau khi tống đạt cáo trạng chính quyền thu hồi giấy thông báo và hoãn vụ xử.

Tại sao chính quyền Hà Nội thu hồi lệnh xử ?

Có hai lý do làm cho giới chức cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam phải suy nghĩ: Thứ nhất là vụ lên tiếng của tổng thống Obama hôm 3/5 nhân ngày Tự Do Cho Báo Chí Thế Giới (World Press Freedom Day). Bản thông cáo nói rằng tổng thống Obama rất quan tâm đến trường hợp các nhà báo trên thế giới còn bị giam giữ như Mazen Dawrish tại Syria, nhà báo Điều Cày tại Việt Nam bị bắt từ năm 2008, nhà báo Dawit Isaak tại Eritrea, nhà báo Cesar Ricaurte của Ecuador, nhà báo lưu vong Natalya Radzini của Belarus và Blogger Yoani Sanchez của Cuba luôn luôn sống trong không khí khủng bố và đe dọa.

Lý do thứ hai là vụ ông luật sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng), một nhà đấu tranh cho nhân quyền tạiTrung quốc xin tị nạn tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. Ông Chen người tỉnh Sơn Đông. Con nhà nghèo sinh ra đã mù lòa, lớn lên cố gắng tự học và trở thành luật sư. Ông kiên trì chống chính sách mạnh tay của chính quyền địa phương buộc phá thai và ép phụ nữ chích thuốc vô sinh để thi hành chính sách “một con” của đảng Cộng sản. Cuối năm 2006 ông bị chính quyền Sơn Đông đưa ra tòa phạt 4 năm tù giam. Mãn hạn tù năm 2010 ông bị quản thúc tại gia có công an canh gác như một nhà tù suốt 19 tháng qua. Nhân bà bộ trưởng Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ Hillary Clinton đi Bắc Kinh dự Hội Nghị Chiến Lược và Kinh Tế Song phương (Strategic and Economic Dialogue) ngày 22/4 vừa qua ông trốn khỏi nhà, và trong khi nhảy qua tường vượt thoát ông té gãy chân. Ông cố gắng lết đến chỗ hẹn để được đồng bạn chở lên Bắc Kinh đến tị nạn tại toà đại sứ Hoa Kỳ.

Việc xin tị nạn của ông Chen làm cho Hoa Kỳ lúng túng. Sau 6 ngày dàn xếp, ông đại sứ Hoa Kỳ Gary Locke đích thân đưa ông Chen vào một bệnh viện của Trung quốc và cho biết chính phủ Trung quốc đã đồng ý cho ông Chen sau khi lành chân được sống tự do và đi học luật. Thế nhưng sau đó ông Chen nói ông không tin lời hứa của chính phủ Trung quốc, và trách tòa đại sứ Mỹ “mang con bỏ chợ”. Ông ngỏ ý xin đưa vợ con sang Hoa Kỳ tị nạn. Trong khi đó chính phủ Bắc Kinh tố cáo Hoa Kỳ đã xen vào chuyện nội bộ của Trung quốc. Câu chuyện nổ lớn và là một đề tài về sự đàn áp nhân quyền thô bạo trên thế giới của Trung quốc.

Trước thông cáo báo chí của tổng thống Obama và dư luận về vụ ông Chen, giới chức cao cấp tại Hà Nội thấy mang 3 nhà báo Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải và nhất là Blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải ra xử lúc này thật không ổn nên tạm gác lại.

Gác lại là phải. Nhưng rồi cũng phải mang ra xử. Với bàn tay của đảng trên đầu của công tố viện, trên cổ của quan tòa, bản án đã bỏ túi rồi. Mọi việc sẽ diễn ra như một vở tuồng. Ông Phan Thanh Hải nhận tội, có đơn xin khoan hồng phạt nhẹ. Bà Tạ Phong Tần và Nguyễn Văn Hải “ngoan cố” không nhận tội thì tính phạt nặng.

Nhưng đối với Blogger Điều Cày, trong hòan cảnh tế nhị này tôi đề nghị Nhà nước Cộng sản Việt Nam tính một cái án vừa đủ thời gian đảng đã giam giữ ông một cách trái phép rồi trả tự do cho ông ngay sau khi xử thì đó là một thái độ khôn ngoan, nhất cử lưỡng tiện.

Nhưng dù chọn thái độ nào đảng Cộng sản Việt Nam cũng phải trả lời trước công luận về hành động biệt giam ông Nguyễn Văn Hải ngoài luật pháp của một Nhà nước tự gọi là “Nhà nước pháp quyền”.

© Trần Bình Nam

May 7, 2012

© Đàn Chim Việt

Nước ép mãng cầu xiêm (Graviola :CHỮA UNG THƯ

Nước ép mãng cầu xiêm (Graviola :CHỮA UNG THƯ

"Nước ép mãng cầu xiêm (Graviola) có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư cao hơn 1000 lần so với liệu pháp hóa trị."

Kết quả nghiên cứu về loại quả này được đăng trên tờ Journal of Natural Products do một trường Ðại học ở Hàn Quốc thực hiện. Nhưng tại ...sao đến bây giờ chúng ta mới biết điều này? Các tập đoàn lớn bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu là vì họ muốn tổng hợp nó thành thuốc để thu lợi nhuận...

Những nghiên cứu về nước ép từ quả mãng cầu xiêm cho thấy đây là công cụ chữa ung thư an toàn, hiệu quả và có sẵn. Nó cũng bảo vệ hệ thống miễn dịch, tránh được một số bệnh truyền nhiễm. Ngoài việc chống ung thư, nước ép mãng cầu xiêm còn là tác nhân chống vi khuẩn, nhiễm nấm, chống ký sinh trùng đường ruột và giun sán, hạ thấp huyết áp, chống trầm cảm và những rối loạn tinh thần. Những phần khác của cây cũng rất hữu dụng.

Một nghiên cứu gần đây về nước ép từ quả mãng cầu xiêm cho thấy: Loại nước ép này là 1 liệu pháp chữa ung thư an toàn và hiệu quả, hoàn toàn từ thiên nhiên nên không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc. Bảo vệ hệ thống miễn dịch của bạn, tránh được một số bệnh truyền nhiễm. Giúp bạn thấy mạnh khỏe hơn trong quá trình chữa ung thư hay các bệnh khác. Tăng năng lượng và giúp bạn thấy lạc quan hơn. Thông tin này có làm bạn ngạc nhiên không? Nó đến từ một công ty dược lớn nhất nước Mỹ, và trái mãng cầu xiêm đã là mục tiêu nghiên cứu của hơn 20 phòng thí nghiệm khoa học từ những năm 1970.

May mắn, có một nhà khoa học bị lương tâm cắn rứt đã làm lộ câu chuyện về “trái cây phép lạ” cho những người có trọng trách trong y tế Mỹ. Khi viện Khoa học Y tế Mỹ nghe tin này, nó bắt đầu truy tìm những công trình nghiên cứu chống ung thư liên quan đến cây Graviola lấy từ khu rùng mưa Amazon của Brazil.

Năm 1976, Viện Ung thư Quốc gia Mỹ tiến hành cuộc nghiên cứu đầu tiên về loại cây này và kết quả cho thấy, lá và thân của Graviola tiêu diệt hữu hiệu các tế bào ác tính. Nhưng nghiên cứu vẫn chỉ được lưu hành nội bộ chứ không công bố ra ngoài. Sau đó 20 nghiên cứu độc lập khác của các công ty dược hay viện nghiên cứu ung thư do chính quyền tài trợ đều cho thấy khả năng trị ung thư của Graviola.
Tuy nhiên, vẫn không có ca thử nghiệm nào được tiến hành chính thức tại các bệnh viện. Chỉ đến khi nghiên cứu của Đại học Cơ đốc giáo Hàn Quốc đăng trên tạp san Journal of Natural Products khẳng định một hoá chất trong Graviola đã tiêu diệt các tế nào ung thư ruột nhanh gấp 10.000 lần hoá chất Adriamycin thường dùng trong hoá trị ung thư người ta mới vỡ lẽ. không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc. Điều quan trọng là không như các hoá chất điều trị ung thư khác, Graviola và nước ép mãng cầu xiêm không hề làm hại gì cho các tế bào khỏe mạnh và không có tác dụng phụ. Người bệnh thấy mạnh khỏe hơn trong quá trình chữa ung thư và các bệnh khác; năng lượng được tăng cường và sống lạc quan hơn.

Một nghiên cứu tại Đại học Purdue University sau đó cũng phát hiện ra lá mãng cầu xiêm có khả năng giết các tế bào ác tính của nhiều loại ung thư khác nhau như ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và tuyến tụy. 7 năm im lặng bị phá vỡ. Sự thật được phô bày. Hiện mãng cầu xiêm do thổ dân Brazil trồng hoặc sản phẩm bào chế từ nó đã có mặt nhiều ở Mỹ như một công cụ điều trị và ngăn ngừa ung thư. Một báo cáo đặc biệt có tên Beyond Chemotherapy: New Cancer Killers, Safe as Mother's Milk, do Viện Khoa học Y tế Mỹ công bố về Graviola đã xem loại cây này là “công cụ cách mạng hoá” chống ung thư.

Vì vậy, nếu nhà bạn có vườn rộng và thổ nhưỡng thích hợp, bạn nên trồng một cây mãng cầu xiêm trong sân. Nó sẽ có ích rất nhiều cho bạn và gia đình bạn.

Đã có bao nhiêu người thiệt mạng oan uổng khi công cụ chống ung thư hiệu quả này bị các công ty dược che giấu? Bây giờ bạn đã biết điều này thì hãy nói với những người bị ung thư mà bạn biết, và uống loại nước ép này để bảo vệ chính bạn!

Đừng quên bấm share nếu bạn thấy thông tin trên hữu ích :)
trích Bản dịch của Thảo Vy và Lương Thái Sỹ “SOUR SOP TREATS CANCER” See More

 

“Chất xanh” và “chất xám” người Việt nước ngoài: bên nào nặng hơn?

Chất xanh” và “chất xám” người Việt nước ngoài: bên nào nặng hơn?

TS Phạm Đỗ Chí


GS Trần Văn Thọ từ Đại học Waseda, Tokyo có sáng kiến tổ chức một hội thảo quốc tế quan trọng ở Tokyo về các vấn đề Biển Đông, gồm nhiều đại biểu là giáo sư và các nhà nghiên cứu sử học từ Trung Hoa lẫn Việt Nam. Có nhà nghiên cứu uy tín từ VN đã lên tiếng về một số bài thiếu giá trị và dữ kiện chắc chắn từ phía VN sang. Hình như thiếu hẳn sự có mặt của các giáo sư chính trị hay sử học và các nhà nghiên cứu có uy tín trong cộng đồng NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI, nhất là từ Mỹ. Phải chăng đây là lúc cần đặt lại vấn đề về vai trò và tiềm năng thật sự của khối cộng đồng hải ngoại, cách sửa soạn các công trình nghiên cứu cần thiết có giá trị, và lên tiếng ở những hội nghị hội thảo quốc tế có tầm vóc, đúng nơi và đúng lúc? Bài dưới đây xin bắt đầu góp ý về các vấn đề đó.


Mới đây nhân ngày 30-4-2012, một vị hữu trách về vấn đề người Việt ở nước ngoài đã lên tiếng về nhiều biện pháp mới dành cho kiều bào hải ngoại như gia hạn thị thực về thăm quê hương từ 3 tháng lên 6 tháng, hay về các biện pháp dễ dàng hơn cho các thủ tục kiều hối, mua nhà, đầu tư … Đây là những chuyện quan trọng, đáng quý, cần làm. Nhưng đều là những biện pháp ngiêng về “chất xanh”. Có ai còn nghĩ xa hơn về tăng cường đóng góp “chất xám” nơi những người ở xa?

Nếu tính toán một cách sát thực tế từ lượng kiều hối về Việt Nam hàng năm, ước tính số tiền gửi phản ảnh 10%-15% tiền kiếm được, thì thu nhập tổng cộng của khối người Việt ở nước ngoài có thể lên tới 50 tỷ USD, ở mức cao đạt bằng 50% tổng sản lượng quốc dân của Việt Nam.

Trong không khí những ngày này, tác giả đặt suy nghĩ về chuyện đoàn kết dân tộc ở một khía cạnh mới, dựa trên tiềm năng của khối người Việt toàn cầu. Và cũng từ đó, đề xuất về một khái niệm lý thuyết kinh tế là “tổng sản phẩm toàn cầu”, áp dụng cho cộng đồng người Việt toàn cầu hay các cộng đồng dân cư có nhiều người sinh sống làm việc ở các nước ngoài.

Đo tổng sản phẩm VN toàn cầu, thấy tiềm lực người Việt

Nhân dịp 30/4 mỗi năm, lúc tâm tư cũng tạm trầm lắng đôi chút để suy nghĩ chuyện gần xa vượt khỏi các hình ảnh du lịch của kỳ nghỉ lễ dài, có thể đặt lại chuyện đoàn kết dân tộc trên một khía cạnh mới khác hẳn. Đó là dựa trên “lý”, dựa vào tiềm năng hùng mạnh của một khối “Người Việt Toàn Cầu” mà từ trong hay ngoài nước bất cứ một con dân Việt nào có suy nghĩ phải hãnh diện vì thực thể lớn mạnh đó vượt tầm mức của cả một quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới, vì ai cũng có quyền lợi và nghĩa vụ nhiều hơn với tổ quốc.

Trong thời kỳ toàn cầu hoá, rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian, rất cần có sự huy động sức mạnh tổng hợp. Những nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Do Thái đã rất thành công khi quy tụ được sức mạnh của các cộng đồng kiều bào vào nỗ lực phát triển xứ sở họ.

Với Việt Nam, cần chăng sự có mặt của khối người Việt ở nước ngoài trong thời hội nhập và xét đến tiềm năng của một “Việt Nam Toàn Cầu”? Trong ý nghĩ này, chúng ta thử xét đến một khái niệm mới, TỔNG SẢN PHẨM TOÀN CẦU hay Gross Global Product (GGP), và áp dụng cho Việt Nam hay các cộng đồng dân cư thế giới nêu trên.

Trong hai năm 2001-2002, lượng tiền của người Việt chuyển về nước đạt bình quân 2 tỷ USD/năm; tăng nhanh lên 3 tỷ USD trong hai năm tiếp đó rồi vọt lên 5 tỷ vào các năm 2006-2007 và bình quân là 7 tỷ vào ba năm 2008-2010, do số người đi xuất khẩu lao động cũng tăng rất nhanh. Tổng cộng có thể lên tới trên 40 tỷ USD trong hai thập niên vừa qua, vượt xa tổng vốn FDI thực hiện và vốn ODA giải ngân trong cùng thời gian.

Con đường chuyển về nhiều nhất vẫn là chính thức qua các ngân hàng, nhưng thật sự lượng tiền gửi về còn lớn hơn do số tiền mang về trực tiếp trong những lần họ về du lịch hay thăm nhà, thay vì chỉ gửi qua ngân hàng. Một thực tế là trong khi Việt Nam nói nhiều đến đầu tư nước ngoài và dành nhiều công sức để thu hút thì nguồn lực dồi dào từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài lại chưa được đánh giá đúng tiềm năng để có chính sách thích ứng. Con số tiền gửi hàng năm mặc dù lớn lao chỉ thật sự phản ánh một phần nhỏ tiềm lực của họ.

Hình 1: Lượng kiều hối của người Việt ở hải ngoại, 2001-2011

 

Nguồn: Niên giám thống kê và ước tính cho 2009-2011


Xu thế toàn cầu hoá về sức mạnh cộng đồng

Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng nhanh chóng, sâu rộng như hiện nay, công nghệ mới xuất hiện, khoảng cách được rút ngắn lại, yếu tố địa lý trong kinh doanh giảm dần ý nghĩa, tính liên kết tăng lên mạnh mẽ đã dẫn đến tính “mạng” trong kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng.

Ngày nay có một xu thế là khi người ta nói đến nền kinh tế Trung Quốc thường không chỉ giới hạn trong đại lục mà cả một cộng đồng người Hoa trên khắp thế giới. Đúng như John Naisbitt nhận định “Nhiều người trong chúng ta đã từng nghĩ Đài Loan và Hồng Kông là một bộ phận của Trung Quốc. Giờ chúng ta phải mở rộng ranh giới của một Trung Quốc rộng lớn hơn để bao gồm cả những người gốc Hoa sinh sống ở Singapore, Nam Dương, Malaysia… Đầu não của mạng lưới này là số đông các tỷ phú tự lập như Liem Sioe Liong, Robert Kuok, Dhanin Chearavanont….”

Trung Quốc cũng đang thực hiện chiến lược phát huy được tiềm năng của Hoa Kiều trong phát triển kinh tế thông qua thu hút chất xám, thu hút đầu tư và lấy chính những Hoa Kiều làm cầu nối để đưa hàng hoá xâm nhập thị trường quốc tế. Charles Zhang, tốt nghiệp khoa Vật lý Viện Công nghệ Massachusetts, tiên đoán: “Nếu hôm nay chúng ta nhìn lại 100 năm phát triển qua, chúng ta có thể thấy thời kỳ này tương tự như thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu hay Minh Trị ở Nhật Bản.”

Chính phủ họ đã tiếp đãi trọng thể các học giả và đã xây dựng hơn 70 công viên kinh doanh cho họ làm việc. Một trong số đó là công viên Zhongguancun, gần Bắc Kinh, được biết đến như Thung lũng Silicon của Trung Quốc. Các học giả này khi quay trở lại Trung Quốc làm việc có thể được miễn thuế thu nhập, có không gian thuận lợi làm việc, được cấp tín dụng cũng như có thể cố vấn cho bộ máy hành chính cấp địa phương.

Thu nhập của người Việt ở nước ngoài là bao nhiêu?

Khó có thể ước tính chính xác lợi tức (hay thu nhập) của 3 triệu người Việt cư trú thường xuyên và 500.000 người sang làm việc tạm thời ở nước ngoài. Tuy nhiên, nếu dựa trên lý luận là đa số đồng bào gốc Việt ở nước ngoài đang cư trú ở các nước có đời sống cao như Bắc Mỹ và Tây Âu, tạm dùng con số thu nhập mỗi năm là 5.000 USD một đầu người, thì 3,5 triệu người Việt ở hải ngoại có thu nhập hàng năm là 16,5 tỷ USD. Con số ước tính này có vẻ quá nhỏ thiếu chính xác.

Vì con số thu nhập, 16,5 tỷ USD này không tương xứng với số tiền gửi chính thức về quê hương hàng năm bây giờ là 7-8 tỷ USD (mức trung bình trong mấy năm gần đây nhất, riêng hai năm chót 2010-11 đã là 9 tỷ USD mỗi năm), tức là mức gửi lên tới một nửa của thu nhập ước tính trên từ bên ngoài; con số gửi về này quá cao so với tiền tiết kiệm bình thường bên đời sống Âu Mỹ.

Nếu tính toán một cách sát thực tế hơn, cho là số tiền gửi phản ảnh 10% tiền thu nhập kiếm được hàng năm, và từ con số gửi về 9 tỷ mỗi năm hiện nay gồm 5 tỷ là từ thu nhập hàng năm và 4 tỷ từ tiết kiệm gửi về để bỏ vào ngân hàng ở VN với lãi suất cao hay để mua nhà đất, thì thu nhập tổng cộng của khối người Việt ở nước ngoài có thể lên tới 50 tỷ USD, hay đạt bằng 50% tổng sản lượng quốc dân của Việt Nam (ước tính ở mức 100 tỷ USD hiện nay). Đây là một con số đáng kể cho một cộng đồng di dân mới thuộc về thế hệ thứ nhất và thứ hai.

Từ GDP đến GGP

Nếu chúng ta thử đề nghị một định nghĩa mới cho hệ thống kế toán tài khoản quốc gia là Tổng Sản Phẩm Toàn Cầu của một nước (Gross Global Product-GGP) cho Việt Nam, Israel, Ấn Độ hay Trung Quốc - những nước có nhiều di dân ở ngoài lãnh thổ quốc gia, thì chúng ta sẽ có 3 định nghĩa sau đây về tổng sản phẩm cho một nước, thí dụ là Việt Nam:

Tổng Sản phẩm Quốc dân (Gross National Product–GNP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ do người dân của Việt Nam sản xuất bất kể trên lãnh thổ quốc gia mình hay ở các nước khác.

· Tổng Sản phẩm Quốc nội (Gross Domestic Product–GDP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ người dân của Việt Nam hay của dân nước khác sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam.

· Tổng Sản phẩm Toàn cầu (Gross Global Product-GGP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ do người dân của Việt Nam hay người dân của nước khác sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam, hay do các kiều bào gốc Việt sản xuất trên lãnh thổ các nước khác.

Nếu tính như vậy thì trong khi tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam là 100 tỷ USD cho 87 triệu người Việt trên lãnh thổ quốc gia vào năm 2010, tổng sản phẩm toàn cầu của Việt Nam sẽ là 150 tỷ USD cho trên 90 triệu người Việt ở cả trong và ngoài nước.

Chất xanh và chất xám

Nhưng câu chuyện không chỉ ngưng ở đó. Tiềm năng của người Việt ở ngoài nước còn lớn hơn đóng góp “chất đô la xanh” cho GGP của Việt Nam rất nhiều, đó còn là sự đóng góp quan trọng về “chất xám”. Nhất là với xu hướng hiện tại của mấy trăm ngàn người Việt về thăm nước hàng năm, và hàng chục ngàn người Việt sang làm việc, du lịch hay đầu tư ở nước ngoài, thêm vào con số mấy chục ngàn học sinh sinh viên du học hàng năm và ở lại thực tập lấy kinh nghiệm hay định cư lâu dài hơn bên ngoài.

Trình độ giáo dục cao, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng quản lý, tiếp xúc với công nghệ mới… là nguồn tài nguyên, kiến thức rất lớn đối với một quốc gia. Thành phần đội ngũ đáng kể nhất là khối đông doanh nhân và chuyên viên trung niên ở tuổi 40-55 và giới chuyên viên mọi ngành, nhất là nhóm kỹ thuật gia trẻ, lứa tuổi 25-40 đang có mặt trong nhiều hãng xưởng ở trên 150 nuớc trên thế giới. Họ là những người có thu nhập cao nhất và là khối đông thầm lặng có trọng lượng trong cộng đồng hải ngoại và cũng giữ tiềm năng lớn với các đóng góp tương lai cho một Việt Nam rộng mở hơn ra bên ngoài, thí dụ trong 10-20 năm nữa.

Điển hình của thành công về kỹ thuật là sự có mặt quan trọng của giới chuyên viên gốc Việt ở các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học Pháp, ở khu Thung Lũng Điện Tử Silicon Valley bên San Jose, Hoa kỳ, hay trong các hãng tài chính lớn ở khu tài chính quốc tế Wall Street. Trong tương lai gần, họ có thể đóng góp lớn cho Việt Nam trong ba địa hạt quan trọng: công nghiệp, công nghệ thông tin (vốn được coi là một mũi nhọn phát triển) và kinh tế tài chính. Họ cũng đã và sẽ góp phần vào việc phát triển lành mạnh môi trường bất động sản ở nhà, giúp tình trạng «đóng băng» sớm chấm dứt.

Ngoài ra, họ còn là các đại diện thương mại hữu hiệu để xâm nhập thị trường quốc tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, nếu kêu gọi được sự cộng tác của những người gốc Việt ở nước ngoài thì cộng đồng này sẽ là phương tiện hiệu quả nhất để gia tăng phát triển thương mại cho Việt Nam. Thật vậy khó ai trong 5-10 năm có thể huấn luyện hay gửi ra ngoài một nhóm đại diện thương mại cả mấy trăm ngàn người sinh sống trên hơn 150 nước với khả năng ngôn ngữ thông thạo cũng như quen thuộc với tập tục văn hóa của từng xứ.

Ngược lại cho một số đông người Việt trung niên hay cao niên muốn quay về xứ hồi hưu hay làm việc tiếp, sẽ có thêm cơ hội phát triển các cộng đồng cư dân “tuổi hưu” và góp phần phát triển trong nhiều lãnh vực. Ở nước ngoài, người Việt thường tự tin là họ có thể đóng góp ý kiến cho việc kiện toàn một hệ thống pháp luật, tổ chức một xã hội công dân tự do hoàn thiện, cho một chính sách kinh tế, ngoại giao hay giáo dục mới, một chính sách y tế công cộng hiệu quả, ngoài việc chính là góp phần đem về kinh nghiệm của một nền công nghệ tiền tiến.

Phải chăng thời điểm này là giây phút thách đố cho cả hai bên? Ngoài nước bắt tay vào các việc sửa soạn trên. Trong nước, cảm nhận và tâm tư của người dân cũng đã được thể hiện trên nhiều diễn đàn. Như vậy, quả bóng hiện nằm trên sân của giới hữu trách lo về chính sách đoàn kết quốc gia và cộng đồng người Việt ở hải ngoại, cần sửa soạn ngay các chiến lược trên tầng qui mô lớn hơn là các hoạt động đón Tết, trại hè sinh viên học sinh, hay đơn giản chỉ là các thủ tục dễ dàng cho việc mua nhà với sổ đỏ (dù thật sự hiện vẫn chưa được áp dụng rõ ràng thông thoáng), hay chỉ là các thủ tục xuất nhập cảnh như để khuyến khích… du lịch ! Phải chăng đã đến lúc cần có hẳn một Bộ trong Chính phủ lo về các chuyện này và bắt đầu bằng một « Hội nghị Diên Hồng » hàng năm vào dịp 30/4 hay Tết để toàn dân góp ý cho việc phát triển đất nước trong 10-20 năm tới?

Và sau cùng, đã quan niệm được sự đóng góp như trên của mọi người gốc Việt trên thế giới, Việt Nam sẽ không cần lo ngại đến hiện tượng “chảy máu chất xám” (brain drain) vẫn được bàn đến mỗi lần nói đến con số lớn sinh viên Việt Nam du học hàng năm chưa trở về quê hương ngay sau khi học xong. Vì họ vẫn tiếp tục đóng góp vào Tổng sản phẩm toàn cầu (GGP) của Việt Nam hiện có thể tạm ước tính đạt tới 150 tỷ USD. Tất nhiên sẽ cần các tính toán GPP khác chính xác hơn, nhưng tầm quan trọng và vai trò quốc tế của một khối “Người Việt Toàn Cầu” khó có thể phủ nhận nếu được nhìn nhận đúng.

Và… sau hết chút tâm tư người trong nước (bài của nhà báo Trần Trọng Thức)

Mặc dù khái niệm trên còn chờ sức thuyết phục của lý luận và thời gian, đôi chút cảm nhận và tâm tư người trong nước đã được tìm thấy từ bên kia bờ đại dương trong một bài viết của nhà báo Trần Trọng Thức :

“Nhớ lại vào những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ trước, số kiều hối ít ỏi chỉ khoảng 1 tỷ USD gửi về nước không chỉ giúp cho một bộ phận người dân thoát khỏi khó khăn mà còn tạo thêm sức mạnh cho nền kinh tế trong thời kỳ đầu đổi mới. Từ đó đến nay, những cải tiến về chính sách liên quan đến dòng tiền này đã kích thích kiều hối liên tục tăng trưởng...

…Thử làm một bài toán đơn giản. Một trong những nguồn thu quan trọng của chúng ta là xuất khẩu. Theo cách tính của các doanh nghiệp xuất khẩu ngành may thì họ phải bỏ ra 100 USD mới có được 1 USD lợi nhuận. Còn nếu tính theo tỷ suất lợi nhuận trung bình lý tưởng nhất là 10%, để có được khoản "lãi ròng" 6,3 tỷ USD, như kiều hối năm 2009, thì phải cần nguồn vốn đầu tư lên đến 63 tỷ USD, nghĩa là tương đương hai phần ba GDP của chúng ta hiện nay!

Như vậy mới thấy nguồn tiền kiều hối có sức nặng thế nào đối với sự phát triển của kinh tế đất nước. Có thể nói, trong những năm qua nguồn tiền này đã bù đắp gần 50% thâm hụt cán cân thương mại, giúp giảm thiểu rủi ro trong việc huy động vốn cũng như giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, nhất là vốn ODA vay dài hạn mà con cháu chúng ta phải trả sau này. Và cũng không kém quan trọng là kiều hối đã trực tiếp giúp nhiều gia đình có điều kiện vượt khó, làm giảm mức nghèo đói ở nông thôn bởi phần lớn người đi lao động nước ngoài xuất phát từ đây.

Thế mà lâu nay chúng ta vẫn khá thụ động trước "mỏ vàng kiều hối", có được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu. Một vài cải tiến như bãi bỏ thuế, không giới hạn số lượng ngoại tệ được chuyển về, cho thân nhân trong nước nhận tiền bằng ngoại tệ và không bắt buộc phải bán lại cho ngân hàng mà chúng ta gọi là tháo gỡ, chẳng qua cũng là chuyện rất bình thường, nhất là trong tình hình nền kinh tế đô la hoá, không có chủ trương kết hối các nguồn ngoại tệ như hiện nay.

Chính sách tích cực hơn nữa để thu hút ngày càng nhiều lượng kiều hối từ khắp nơi trên thế giới không chỉ dừng lại ở chừng ấy biện pháp. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho chúng ta một bài học quý giá.

Khi quan hệ giữa Ấn kiều và chính phủ còn lạnh nhạt, 20 triệu người Ấn ở nước ngoài, với thu nhập bình quân 160 tỷ USD mỗi năm, chỉ gửi về quê 4 tỷ USD. Nhưng từ khi chính phủ Ấn Độ nỗ lực tiến hành nhiều biện pháp cải thiện mối quan hệ với người Ấn xa xứ, lượng kiều hối đã tăng lên nhanh chóng cùng với sự trở về nước kinh doanh của Ấn kiều: 11 tỷ USD năm 1995, 22 tỷ USD năm 2005 và tăng đến gần 28 tỷ USD vào năm 2007. Đó là chưa kể, từ năm 2005 Ấn kiều cũng đã gửi 32 tỷ USD tiết kiệm vào các ngân hàng Ấn Độ để hưởng lãi suất ưu đãi. Nguồn vốn này, bằng 23% dự trữ ngoại tệ của Ấn Độ, đã giúp cân bằng cán cân thương mại đồng thời ngăn chặn lạm phát hiệu quả.

Ở nước ta, các thống kê cho thấy lượng tiền kiều hối trở lại hệ thống ngân hàng chỉ 10%, một con số quá thấp mà đúng ra Ngân hàng Nhà nước phải có chính sách ưu đãi nhằm thu hút đồng ngoại tệ quý báu này để tăng thêm dự trữ quốc gia, có điều kiện chủ động trong biện pháp điều hành tiền tệ, đồng thời hạn chế các tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội như buôn lậu, đầu cơ, làm giá... Tại sao lại không nghĩ đến việc huy động những "đồng tiền ngọt ngào" này vào ngân hàng với lãi suất ưu đãi hoặc cho các khoản kiều hối được chuyển đổi với tỷ giá cao hơn giá thị trường, bởi đây là những khoản tiền nền kinh tế có được mà không phải mất một khoản đầu tư nào. Và trên tất cả là những chính sách thông thoáng hơn nữa của chính phủ liên quan đến "một bộ phận không thể tách rời của dân tộc".”

 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link