Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, May 13, 2012

Cư dân mạng Trung Quốc dùng kiểu "nói lóng" để luồn lách sự kiểm duyệt

TRUNG QUỐC - Bài đăng : Thứ bảy 12 Tháng Năm 2012 - Sửa đổi lần cuối Thứ bảy 12 Tháng Năm 2012

Cư dân mạng Trung Quốc dùng kiểu "nói lóng" để luồn lách sự kiểm duyệt

Một cửa hàng cung cấp dịch vụ internet tại Bắc Kinh (Reuters)

Một cửa hàng cung cấp dịch vụ internet tại Bắc Kinh (Reuters)

Minh Anh  RFI

Để luồn lách sự kiểm duyệt thông tin chặt chẽ của chính quyền Bắc Kinh, các cư dân mạng tại Trung Quốc đã sáng tạo ra một kiểu mã ngôn ngữ nhờ vào sự đa dạng thanh điệu trong Hoa ngữ, nên tạo ra hiện tượng đồng âm, để có thể đề cập đến các chủ đề nhạy cảm. Đề tài này đã được tờ phụ san văn hóa của báo Le Monde phản ánh qua bài viết : "Mạng Internet, thật là khó hiểu !"

Câu chuyện bắt đầu từ việc một Hoa kiều sống tại Pháp không thể nào giải mã được nội dung một câu chuyện do một người bạn trong nước gởi qua mạng Internet. Một câu chuyện hiện đang được lan truyền rất rộng rãi trong nước. Vấn đề là mọi nét chữ và các từ đều rất quen thuộc, nhưng anh Hoa Kiều này không tài nào hiểu được ý nghĩa đoạn văn.

Mô phỏng theo các nhân vật rối Teletubbies trong một bộ phim truyền hình nhiều tập giành cho trẻ em nổi tiếng tại Anh, câu chuyện « cuộc chiến của các con rối Teletubbies chống lại giáo chủ Không (Kong)», kể về cuộc chiến của các con rối, dưới sự hỗ trợ của Kumho, một thương hiệu vỏ xe ô-tô Hàn Quốc, chống lại các loại mì ăn liền « Giáo chủ Không ». Các chú rối và đồng minh phá vỡ thành công mưu toan của Giáo chủ Không nhằm áp đặt món lẩu Trùng Khánh lên thị trường. Xuất hiện trong câu chuyện trên còn có các thương hiệu khác như nước uống Vương Lão Cát và bột giặt Tide. 

Le Monde giải thích, Teletubbie và Kumho được dùng để ám chỉ hai nhà lãnh đạo chính hiện nay là ông Ôn Gia Bảo (Wen Jiabao) và ông Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao). Theo phiên âm sang tiếng Hoa, Teletubbies được phiên thành chữ ‘bảo’ (bao), nghĩa là « kho báu ». Còn chữ Kumho có chứa đựng các nét tự « hu » (Hồ) và « jin » (Kim). Teletubbies và Kumho phải đối đầu với Giáo chủ Không – chính là ông Chu Vĩnh Khang. Cả ba người này đều là thành viên của Ban Thường vụ Chính trị - trung tâm quyền lực, mà chín ghế thành viên sẽ được đề cử mới lại vào tháng 10 năm nay nhân Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18.

Theo câu chuyện Teletubbies, cư dân mạng Trung Quốc ám chỉ đến việc ông Chu Vĩnh Khang muốn đề bạt người của mình là Bạc Hy Lai, con trai của một nhà cách mạng lão thành và là nhân vật số 1 của tỉnh Trùng Khánh (được mô tả trong Teletubbies là « lẩu Trùng Khánh ») đối mặt với nhân vật số 1 trong tương lai – Tập Cận Bình (Xi Jinping) – được mệnh danh là bột giặt Tide – viết theo tiếng Hoa là Taizi xiyifen – nghĩa là « bột giặt tẩy sạch các vết bẩn ». Tuy nhiên, qua thay thế vài nét tự tinh tế, thuật ngữ này cũng có thể hiểu là « hoàng tử Tập » tức Tập Cận Bình.

Chính mưu toan chạy trốn của Vương Lập Quân (trong câu chuyện tưởng tượng là Vương Lão Cát) - cánh tay mặt của Bí thư tỉnh Trùng Khánh vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (chính là nhân vật Coca-cola trong Teletubbies) đã dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của Bạc Hy Lai.

Câu chuyện kết thúc với lời kết như sau : « Lẩu Trùng Khánh muốn xâm nhập thị trường bằng mọi giá, nhưng chỉ có ứng viên duy nhất có thể mà thôi và ai cũng thấy rõ đó chính là bột giặt Tide ».

Chỉ trong vòng có vài ngày, câu chuyện Teletubbies và giáo chủ Không đã lan truyền rộng rãi trên Net Trung Quốc. Nhờ vào câu chuyện này, mà cư dân mạng có thể đề cập một chủ đề chính trị nhạy cảm vốn không có chỗ đứng trên các trang báo chính thống. Theo nhận xét của Severine Arsène, chuyên gia về Internet Trung Quốc, cách thức sử dụng này không có gì là mới mẻ. Cách sử dụng ngôn ngữ mã hóa này đã từng được các nô lệ sử dụng trong thời kỳ chế độ nô lệ. 

Điều đáng chú ý là hiện tượng này đã được các thế hệ mới, được gọi là « thế hệ sau 80 » dùng đến nhiều nhất. Đây chính là thế hệ sinh sau năm 1980, những giới trẻ thành thị mang tinh thần chủ nghĩa cá nhân nhiều hơn những bậc anh chị đi trước, là môn đồ của công nghệ mới và là thế hệ không ngần ngại thổ lộ tâm tư của mình trên các trang blog, các diễn đàn và các tiểu blog.

Tuy nhiên, theo nhận định của báo Le Monde, sự trỗi dậy của một nền văn hóa phản kháng cũng chưa hẳn là tín hiệu của một sự cảnh báo triệt để cho đảng Cộng sản Trung Quốc. Khác với các nhà đối lập như Ngải Vị Vị hay như Lưu Hiểu Ba phản đối công khai chế độ thường là đối tượng của các vụ trấn áp (bắt giam hay quản thúc tại gia), « thế hệ sau năm 80 » phần đông vẫn theo chủ nghĩa chính thống.

Họ thích mỉa mai cách « tuyên truyền của thế hệ cha anh » nhưng sẵn sàng thích nghi với các dự án của các nhà lãnh đạo ủng hộ cải cách, những người cấp tiến nhất. Theo Johan Lagerkvist, chuyên gia về Trung Quốc, những « viên chức công nghệ” này muốn dựa vào các công nghệ mới để thiết lập một “cách điều hành tốt” dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. 

Tại Thái Lan, đời mang màu đỏ

Cũng theo báo Le Monde, hiện đang có rất nhiều « ngôi làng theo phe Áo đỏ » xuất hiện tại Thái Lan, nhất là tại các vùng nông thôn nghèo nằm ở phía Đông Bắc. Theo nhận định của tờ báo sự gia tăng các « ngôi làng áo đỏ » ngày càng nhiều thể hiện sự bất bình của một bộ phận đông nông dân nghèo trước tầng lớp giàu có tại Bangkok và nhiều thành phố lớn. 

Tác giả nhắc lại rằng, màu đỏ chính là tín hiệu của sự nổi dậy, nhưng nó cũng không phải là màu sắc của cách mạng cũng như là màu của máu. Thế nhưng, vào năm 2006, khi ông Thaksin bị quân đội lật đổ, thì người ta lại mong muốn đấy chính là màu của cách mạng và màu đỏ đó cũng là màu của máu, khi phong trào phản kháng của phe Áo đỏ bị quân đội đàn áp làm thiệt mạng 91 người và hàng ngàn người bị thương. 

Theo Le Monde, dù rằng đảng Pheu Thái đã giành được thắng lợi sau đợt tổng tuyển cử hồi tháng 7/2011, và Yingluck Shinawatra, em gái cựu Thủ tướng Thái Lan bị lật đổ Thaksin Shinawatra, được bầu làm Thủ tướng, nhưng những người Áo đỏ vẫn tiếp tục phong trào phản kháng chống lại hệ thống xã hội vẫn do tầng lớp ưu tú thống trị. 

Le Monde nhận xét, chẳng có gì là đáng ngạc nhiên khi mà tại vùng nông thôn phía Đông-Bắc, lại phủ toàn một màu đỏ. Bởi lẽ, người nông dân tại khu vực này phải canh tác trên những cánh đồng chua, ít màu mỡ hơn so với những vùng còn lại của đất nước.

Đối với những người nông dân ở đây, ông Thaksin – cựu thủ tướng Thái Lan, vẫn là một người anh hùng do các chính sách xã hội của ông đề ra, tập trung chủ yếu vào việc phát triển các quỹ vi tín dụng và cấp vốn vay với lãi suất ưu đãi. Theo thống kê của ngân hàng Thế giới, giữa năm 2001 và 2005, thu nhập bình quân đầu người trong vùng đã tăng lên 46%. 

Thế thì những người Áo đỏ ở đây họ mong đợi điều gì ? Theo lời thuật lại của một nhân chứng tại làng Mong Khai, thuật ngữ « làng của những người Áo đỏ » chẳng làm cho cuộc sống của họ thay đổi. Nhưng « đấy đơn giản chỉ là các thể hiện của ý nguyện về sự công bằng và dân chủ ». Họ mong muốn những người có liên đới đến vụ thảm sát 19/5/2010 phải bị trừng phạt. 

Bởi lẽ, mối bận tâm hàng đầu của phe Áo đỏ, chính là « phẩm cách ». Mục tiêu của họ chính là « giới quý tộc ». Nghĩa là, các thành viên của liên minh thần thánh giữa quân đội, hoàng gia và chính phủ. 

Tuy nhiên, phong trào phản kháng này cũng đang bị chia rẽ, không chỉ ở cấp độ địa phương mà còn ở cấp độ quốc gia. Nhiều người bắt đầu có bất đồng chính kiến với phe cầm quyền, hiện do em gái của ông Thaksin lãnh đạo. Những người này cho rằng, một số đại biểu trong đảng cầm quyền đã không lắng nghe mốibận tâm của người dân nghèo. Họ cũng cho rằng bà Yingluck Shinawatra đã đưa ra quá nhiều thỏa hiệp với các thể chế cao hơn ; mà nói đúng ra chính là quân đội và hoàng gia.

Le Monde nhận xét rằng làn sóng phản đối này thể hiện tiếng nói mới của người nông dân. Một hiện tượng được cho là không thể nào nghĩ đến cách đây 10 năm. 

Dân số Nhật Bản : ngày càng già đi 

Liên quan đến lãnh vực đời sống, mục « Câu chuyện trong ngày » trên phụ san báo Le Figaro có một thông tin khá khôi hài. Theo tờ báo, lượng tã quần được bán ra tại Nhật Bản thể hiện cho thấy cấu trúc dân số tại Nhật Bản. 

Thông thường, sự thịnh vượng của nhà sản xuất tã quần trong một quốc gia chứng minh cùng lúc cho thấy mức sống của người dân – vì tã sử dụng một lần thể hiện nền tiêu thụ của một quốc gia giàu và sức mạnh dân số. Tuy nhiên, tại Nhật Bản, lại có một xu hướng khác đi.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhà sản xuất tã lớn nhất Nhật Bản, nhãn hiệu Unicharm, lượng bán của loại tã dành cho người lớn đã vượt qua mặt loại tã dành cho trẻ em trong năm qua. Điều này cho thấy, tỷ lệ người trên 65 tuổi tại Nhật Bản cao nhất trên thế giới : chiếm 23,3% dân số cả nước.

Nếu như tỷ lệ sinh con ở phụ nữ vẫn thấp (1,39 trẻ cho một phụ nữ) thì số người già sẽ chiếm đến 40% dân số trong vòng 50 năm tới.

Từ các dự đoán này, các nhà sản xuất và cung cấp tã lớn tại Nhật Bản được huy động cho giới khách hàng này. Theo họ, đây sẽ là « động lực tiêu thụ » chính. Le Figaro nhận định, hiện tượng « papy-boom » không chỉ có ở xứ Mặt trời mọc, mà ngay cả tại Trung Quốc. Hiện tại, nếu như số người trên 65 tuổi tại đất nước Vạn Lý Trường Thành này chỉ chiếm chưa tới 9% dân số thì trong vòng mười năm nữa sẽ có tới 26 triệu đầu bạc. Một thị trường mà nhà sản xuất Nhật Bản Unicharm muốn tấn công ngay tức thì.

 

Trung Quốc phủ nhận là đang chuẩn bị chiến tranh ở Biển Đông

TRUNG QUỐC - Bài đăng : Thứ bảy 12 Tháng Năm 2012 - Sửa đổi lần cuối Thứ bảy 12 Tháng Năm 2012

Trung Quốc phủ nhận là đang chuẩn bị chiến tranh ở Biển Đông

Một khu trục hạm của Trung Quốc tại cảng Trạm Giang, Quảng Đông (REUTERS /China Daily)

Một khu trục hạm của Trung Quốc tại cảng Trạm Giang, Quảng Đông (REUTERS /China Daily)

Đức Tâm  RFI

Vào lúc cuộc đối mặt giữa Trung Quốc và Philippines ở Bãi đá Scarborough vẫn đang tiếp diễn, còn báo chí Trung Quốc thì liên tiếp đưa ra các lời đe dọa chiến tranh, Bắc Kinh đã phủ nhận việc nước này tăng cường chuẩn bị quân sự, sẵn sàng đáp trả những căng thẳng leo thang tại Biển Đông.

Chiều hôm qua, 11/05/2012, trang web của bộ Quốc phòng Trung Quốc đăng một thông báo ngắn gọn: “Các bài viết nói rằng quân khu Quảng Châu (nam Trung Quốc), hạm đội hải quân Nam Hải và các đơn vị được huy động để chuẩn bị chiến tranh, là không đúng sự thực”.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc không cho biết nguồn báo nào đã đưa tin về việc Bắc Kinh chuẩn bị chiến tranh. Tuy nhiên, trong những ngày qua, trên các tiểu blog Trung Quốc, có nhiều tin đồn, theo đó, Bắc Kinh đã ra lệnh cho các đơn vị quân đội nâng mức độ chuẩn bị chiến đấu lên cấp hai trên bốn mức chuẩn bị tiến hành chiến tranh.

Báo chí trong khu vực cũng đưa tin là hải quân Trung Quốc đã có những di chuyển xuống phía nam Biển Đông.

Báo chí Nhật Bản cho biết là Lực lượng Phòng vệ nước này, vào ngày 07/05 vừa qua, đã phát hiện 5 tàu chiến loại hiện đại, thuộc Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc, tại vùng biển cách quần đảo Okinawa hơn 600 km. Các tàu chiến này đã đi qua eo biển Miyako để ra Thái Bình Dương, sau đó, di chuyển xuống phía nam.

Từ đầu tháng Tư, tình hình ở Biển Đông đã trở nên căng thẳng, sau khi tàu hải quân Philippines ngăn chặn, vây bắt các tàu cá Trung Quốc hoạt động trong vùng Bãi đá Scarborough và Bắc Kinh điều tàu hải giám đến can thiệp. Cho đến nay, Trung Quốc và Philippine đều duy trì sự hiện diện của các tàu hải giám, tuần tra ở đây để khẳng định chủ quyền của mình. Cuộc đối đầu dường như chưa có lối thoái và ngày càng trở nên nguy hiểm.

Về mặt địa lý, Bãi đá Scarborough cách đảo chính của Philippines 140 hải lý (230 km) về phía tây. Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 – UNCLOS, bãi đá này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines.

Thế nhưng, Trung Quốc lại viện dẫn “những thực tế lịch sử”, để đơn phương khẳng định gần như toàn bộ Biển Đông thuộc chủ quyền của mình. Đồng thời, Bắc Kinh lại không chấp nhận đề nghị của Manila đưa hồ sơ này lên tòa án trọng tài quốc tế.

Ngày hôm qua, khoảng 300 người Philippines đã biểu tình phản đối trước sứ quán Trung Quốc ở Manila và tố cáo thái độ “bắt nạt” của Bắc Kinh.

Cũng trong ngày hôm qua và kể cả hôm nay, một vài nhóm nhỏ người Trung Quốc biểu tình phản đối trước sứ quán Philippines ở Bắc Kinh, nhưng đám đông đã bị cảnh sát giải tán, bởi vì Trung Quốc lo ngại các cuộc tụ tập lại biến thành những cuộc biểu tình chống chính quyền.

Một tờ báo chính thức của Trung Quốc, Hoàn cầu Thời báo đã tố cáo Philippines kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa, có nguy cơ dẫn đến những xung đột quân sự ở Biển Đông. Trong trường hợp này, Trung Quốc sẵn sàng có những đáp trả mạnh mẽ.

Hôm thứ Sáu, xã luận của báo Anh ngữ China Daily còn cảnh báo là mặc dù Bắc Kinh muốn thảo luận giải quyết vấn đề Scarborough, nhưng phía Philippines vẫn đẩy Trung Quốc vào tình thế buộc phải sử dụng vũ khí.

Đồng thời, các công ty du lịch Trung Quốc được lệnh không đưa du khách sang Philippines.

Khó có thể biết được liệu Trung Quốc có thực sự sẵn sàng dùng vũ lực trong vụ đối đầu với Philippines ở Bãi đá Scarborough hay không. Lời cải chính mập mờ của bộ Quốc phòng Trung Quốc không xua tan được mối lo ngại. Trong khi đó, không loại trừ khà năng Bắc Kinh tấn công Manila về kinh tế. Một quan chức Philippines cho biết, một khối lượng lớn hoa quả xuất khẩu của nước này đã bị hư hỏng, thối rữa tại các cảng Trung Quốc vì bị kiểm dịch gắt gao.

 

Tổng thống Miến Điện kêu gọi dân tỵ nạn hồi hương

Tổng thống Miến Điện kêu gọi dân tỵ nạn hồi hương

Thông điệp của ông Thein Sein nhắm vào giới chuyên viên kỹ thuật và doanh nghiệp (Reuters)

Tú Anh

Cộng đồng Miến Điện định cư ở nước ngoài mà phần đông được chính phủ mới kêu gọi hồi hương kiến thiết quốc gia. Thông điệp của Tổng thống Thein Sein đặc biệt nhắm vào thành phần kỹ sư, chuyên gia và doanh nhân từng bị chính quyền quân sự áp bức trước đây.

Trên nhật báo « Ánh sáng mới của Miến Điện », Tổng thống Thein Sein kêu gọi cộng đồng người Miến Điện ở nước ngoài trở về quê hương. Ông giải thích là chính phủ có những cố gắng không ngừng để khuyến khích công dân « vì nhiều lý do đã phải bỏ nước ra đi » trở lại quê nhà.

Vị lãnh đạo cải cách này hứa là sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào, hỗ trợ cho họ khi gặp khó khăn để có thể « hội nhập » vào sinh hoạt kinh tế trong nước. Thông điệp của lãnh đạo Miến Điện đặc biệt nhắm vào thành phần chuyên viên kỹ thuật và doanh nghiệp.

Theo AFP, sau hơn nửa thế kỷ độc tài chính trị, toàn bộ tài sản quốc gia Miến Điện bị gia đình của nhóm cầm quyền tóm thâu vào túi. Đại học bị đóng cửa vì chế độ quân phiệt e sợ sinh viên đấu tranh nên quốc gia Đông Nam Á này thiếu nhân tài để phát triển.

Tuy nhiên, chính phủ mới do ông Thein Sein lãnh đạo đã liên tục đưa ra những biện pháp cải cách và bây giờ muốn dựa trên kiến thức và tài năng của cộng đồng lưu vong để thoát khỏi sự chậm tiến.

Cũng theo AFP, thoạt đầu cộng đồng tỵ nạn tỏ ra ngờ vực chính quyền Thein Sein đổi mới giả hiệu. Nhưng dần dần các biện pháp cải cách « ngoạn mục » của ông Thein Sein, thả tù chính trị, phục hồi hoạt chính đảng đối lập, bầu cử trong sạch… đã chinh phục được họ.

Thứ ba vừa qua, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF kêu gọi Miến Điện tự do hóa kinh tế, thu hút đầu tư, để phát huy tiềm năng quốc gia đưa dân chúng ra khỏi tình trạng nghèo khó.

 

 

Ngụy…<---------------------------------

Ngụy…

© Tiểu Tử

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng “ngụy” nghĩa là “giả” ít thấy có ai dùng tới.
Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ “chánh cống”, không phải thứ “có cầu chứng tại tòa”… là người ta gọi hoạch tẹt là “đồ giả”, chớ không ai gọi là “đồ ngụy” hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả, v.v. Bởi vì từ ngữ hồi đó rất… thật!

Sau tháng Tư 1975, tiếng “ngụy” đã theo gót… dép râu (Xin lỗi! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất… tả chân. Không thể viết “theo gót giầy” như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả!) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng…

Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi “học tập” ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng “ngụy”. Và nghe… đầy lỗ tai! Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng “ngụy” được nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách “ngang xương”, không cần phổ thông đầu phiếu! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích… ngang như cua thôi!

Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng “ngụy” một cách rất… tự do, và sử dụng tiếng “ngụy” rất… rộng rãi (Được “giải phóng”, có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành “ngụy” ráo. Để phân biệt với “cách mạng”! Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, “hàm-bà-lằng” ngụy… Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: “Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!”.

Thật ra, khi dán cái nhãn “ngụy” lên miền Nam, “Đảng và Nhà Nước” muốn nhân dân “chủ yếu là nhân dân miền Bắc” hiểu theo định nghĩa “ngụy” là giả, “giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả
yêu nước thương dân, “ngụy” là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn…

Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều… mở mắt, tiếng “ngụy” ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy! Viết dài dòng để… “đả thông tư tưởng” trước khi vào chuyện.

Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng Tham Mưu. Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết.

Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: “Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!”. Rồi bà kết luận: “Tánh tình nó tốt lắm!”.

Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ “người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em”.

Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của “ngoài đó”. Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: “Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà…”.

Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh “hết giặc” ra làm sao và chưa kịp gặp đứa con làm tướng…

Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con “ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai” đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động…

Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.

Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.

Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:

- To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn năm người đấy!

Hôm sau, ông H được người anh khuyên:

- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!

Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: “Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân”.

Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá… cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhựt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ… xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!

Ông anh “tên R” làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi khai lý lịch ở tòa đô chánh, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga. Bà sợ làm như vậy nó… ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng than củi bằng lá khô… Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt… cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: “Cô thật là sớm giác ngộ!”.

Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: “Đem theo tiền ăn cho một tháng”. Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:

- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.

Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:

- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.

Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:

- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi!

Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm… dài dài… Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:

- Họ chở nhà tôi đi mất rồi…
- Đi đâu mà mất? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.
- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.
- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ… để tôi xem có làm gì được không.

Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:

- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.
- Vậy, mình phải làm sao?
- Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.
- Vô đó để làm cái gì, thưa bác?
- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.

Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý… xung phong.

Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn…Nhà Nước đi một nước cờ thật cao! Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày!

Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!

Một hôm, ông anh bảo người em dâu:

- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.

Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.

- Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.

Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ (nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ) không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải “có lý do chánh đáng” và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở! Khi đã được chấp thuận (có ký tên đóng dấu) đương sự phải vác đơn đó về trình
cho chánh quyền nơi đang ở để… xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận – ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!

Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất “có trình độ”: “Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh… đi đâu?”.

Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến “đằng kia” trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất “có trình độ” không kém:

“Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!”.

Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn. Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là “trần ai gian khổ”!.

Ông tướng có “động viên” một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét (cũng của cơ quan) nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.

Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành “tổ gạo”, còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!

Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv… và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:

- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?
- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!
- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu diếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?

Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: “Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại dùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng… mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!”.

Giọng người con trai: “Bộ má tưởng con đi chơi hả?”.
Giọng bà hàng xóm: “Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!”. Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng:

“Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!”.

Giọng bà hàng xóm, tức tối: “Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!”.

Ngừng một lúc, lại nói: “Cha… Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?”

Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:

- Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!

Rồi ông đứng lên:
- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.

Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt!
Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: “Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!”. Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: “Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn”.

Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ…

Bà hàng xóm (tên là bà Năm) có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén… ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng
hồi trước).

Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được… xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi “phục vụ nhân dân” cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo – bà chỉ bán có buổi sáng – bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).

Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:

- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.
- Ối… Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ “báo công báo tội”. Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.
- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?

Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!

Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:

- Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?
- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau…
- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?

Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:

- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà…

Bà H xúc động, lí-nhí “cám ơn” mà nước mắt chảy quanh. Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng “mình với nhau” mà sao nghe ấm cúng vô cùng.

Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. “Mình với nhau” là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. “Mình với nhau” nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. “Mình với nhau” là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ…
Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:

- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.

Bà H “cám ơn”mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc! Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:

- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen!

Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng!

Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:

- Sao, cô Hai? Khổ lắm phải không?

Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:

- Mẹ bà nó! Quân ác ôn!

Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:

- Ảnh… ốm… đến nỗi… tôi… nhìn… ảnh… không ra…

Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang dỗ về người em gái.

Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao nhiêu năm nay – theo lời kể lại của ông H – thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.

Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.

Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:

- Ai đấy?
- Dạ… tôi.

Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:
- Chị muốn gì?
- Thưa… Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ…
- Đồng chí R à? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế… chị là gì của đồng chí ấy?

Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:

- Dạ… Tôi… À… Không!

Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:

- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi!

Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tai – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ!

Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay! Bà chỉ cảm thấy một sự căm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn!

Phải rồi! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi. Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình… mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn… Bà muốn…

Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.

Mấy năm sau, ông H vẫn “còn được cải tạo”, bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi Nhà Nước!…

© Tiểu Tử

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link