Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, May 23, 2012

Tinh khôn ở đâu ?

VC hen voi giac, ac voi dan.   

Muon chong TC, phai dep VC

 

 

Tinh khôn ở đâu ?

 

Trần Đỗ Cung

Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ.

 

Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực.

 

Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia. Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955.

 

Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6 năm 1975 rồi bị lưu đầy ra Bắc cho đến tháng 9 năm 1980. Đến tỵ nạn chính trị tại Bergen, Na Uy tháng 12 năm 1981, ông tạ thế tháng Giêng năm 2001 tại Oslo, Na Uy vì trụy tim.

 

Câu chuyện Bà Bác Sỹ Đảnh kể lại về sự tù tội Việt Cộng của đức lang quân cho thấy đặc biệt có ba khía cạnh. Là người Nam thuần túy, là chuyên viên được huấn luyện công phu và chưa bao giờ liên quan đến quân đội.

 

Nhưng Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam đã hành xử như quân xâm lăng, cầm tù những chuyên viên rồi vơ vét của cải đem về như Phát Xít Đức Quốc Xã khi tiến vào Paris. Sự thiển cận của họ đã đưa đến sự kiệt quệ tột cùng cho đến bây giờ vẫn chưa ngóc đầu lên ngang hàng với các nước lân bang.

 

Nay mở miệng mời chào người Việt nước ngoài trở về đem chất xám giúp nước thì thử hỏi có nghe được không?

 

Câu chuyện do bà Đảnh kể lại trong thời kỳ gia đình bị kẹt vì lỡ chuyến ra đi của tầu Việt Nam Thương Tín. Những ôn tưởng chỉ được ông Thảo thỉnh thoảng nhắc đến vì ông không muốn trải qua một lần nữa những hình ảnh dã man mà ông đã trải qua.

 

Bà hết sức căm nước Pháp đã hùa theo Việt Cộng chỉ vì thù Mỹ đã không giúp họ xâm chiếm lại xứ Việt Nam trù phú sau khi Thế Chiến II chấm dứt. Bất hạnh cho Việt Nam, trong khi cộng sản Nga Hoa chỉ ngầm giúp Hà Nội thì Mỹ ồn ào đổ quân vào làm mất chính nghĩa của chúng ta đã bị nhóm thiên tả và CS cơ hội bóp méo thành chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

 

Bà viết để vinh danh những ai đã trải qua địa ngục trần gian tù cải tạo Việt Cộng.Và cũng để nói lên lời an ủi tới những ai đã bị phân tán ra bốn phương trời, làm cho không những mất gốc mà còn mất cả cá tính nữa.

 

Bà cùng gia đình bị kẹt lại trong cư xá sang trọng của Ngân Hàng nằm trên đường nhỏ hướng ra cầu xa lộ mới. Bà thấy rõ sự chiến đấu dũng cảm của một Trung Đội Nhẩy Dù với 20 binh sĩ chỉ huy bởi một Thiếu Úy trẻ măng có vẻ mới ra trường.

 

Nhìn các quân nhân rắn chắc, nét mặt kiêu hùng và người chỉ huy Thiếu Úy trẻ nhưng chững chạc, bà đã chia xẻ đồ ăn với họ và có cảm tưởng đã cùng họ chiến đấu. Cuối cùng tất cả quân sỹ đã bị hy sinh một cách tức tưởi.

 

Bà nói: “Ai dám bảo là quân ta không chịu chiến đấu”? Trong khi ấy những phát súng lẻ tẻ của du kích Mặt Trận Giải Phóng quấy rối giữa những tiếng nổ đại pháo.

 

Ngoài đường một sự hỗn loạn không tưởng tượng được khi bọn hôi của nhào vào cácnhà vắng chủ và du kích Việt Cộng ngày càng hung hăng tàn ác.Rồi ông Thảo phải ra trình diện theo lệnh của quân quản Sài Gòn.

 

Ông thật thà nghĩ rằng vì vợ chồng ông là các chuyên gia thuần túy nên chính thể mới sẽ cần đến những bàn tay xây dựng lại quốc gia. Ông nói với vợ

rằng, “Nếu họ không ưa chúng ta thì họ cũng không thể xử tệ với chúng ta. Họ không thể giết hết tất cả”.

 

Một Pol Pot đã làm như vậy,nhưng họ đã thấy là không có lợi gì hết.Tuynhiên Việt Cộng đã làm những việc tệ hại hơn nhiều. “Chúng tôi không hiểu rõ cái thực tế của cộng sản.

 

Chúng tôi đã nuôi ảo tưởng rằng cộng sản là một xác tín cao đẹp. Song đem cái xác tín ấy vào đời sống con người bằng võ lực đã làm mất hào quang lý tưởng và thơ mộng. Và như vậy nó trở nên tầmthường, bẩn thỉu, ích kỷ và man rợ”.

 

Ngày 15 tháng Sáu năm 1975 bà Đảnh đã chở ông Thảo và các con trên chiếc xe VWVariant đến một ngôi trường bỏ không gần Sở Thú. Ông gập một bạn cũ cùng đi trình diện nên thấy đỡ cô đơn hơn. “Khi chia tay tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh ấy sự tiếc nuối, lo âu và tình yêu đằm thắm. Anh chưa biết rằng sự chia tay này kéo giài cả hơn sáu năm rưỡi trời.

 

Ánh mắt sâu thẳm ấy theo tôi mãi mãi ngày đêm và không bao giờ tôi quên được. Hầu hết các gia đình đều chịu hoàn cảnh như vậy, không cha, không chồng. Tôi may mắn thuộc thành phần không làm điều gì sai quấy và được đồng sự mến, không phải loại có nợ máu lớn với nhân dân, nên được gọi đi cải tạo trong một tuần lễ”.

 

Rồi xẩy ra việc vơ vét toàn diện. Tại Bộ Giáo Dục cũ không một cái gì là bị bỏ sót,cục tẩy, cái bút BIC, giấy, tập vở đều bị thu gom chở về Bắc trên các xe vận tải nhà binh đầy ắp. Những cán bộ miền Nam thấy bất bình, “Chúng ta bây giờ thống nhất vậy của cải miền Nam phải được để lại miền Nam vì ở đây cũng cần các phương tiện để xây dựng lại chớ”?

 

Bà nói: “Khi tôi nghĩ dến những đứa con miền Nam đã gia nhập MTGPMN tôi không khỏi khinh bỉ và tội nghiệp. Một số ít có thể là những người yêu nước thật sự tuy nuôi một lý tưởng ngu đần để bị VC xập bẫy. Họ đã làm gì để giúp đỡ quê cha đất tổ?

 

Hay là giúp tay xa lìa sự trù phú, sự phồn thịnh và cả tự do nữa”?

 

Các cán bộ cộng sản thường vào tư gia mượn những thứ cần dùng. Họ được đối xử tử tế nhã nhặn. Nhưng một hôm một cấp chỉ huy vào nhà. Bà lịch sự rót một cốc nước mát mời thì ông ta túm lấy vai đứa con trai nhỏ bắt húp một ngụm trước. “Tôi đâu có ngu gì mà đầu độc họ ngay tại nhà tôi? Họ ra vào nhiều lần và tôi cảm thấy họ muốn cái gì, có lẽ muốn cái nhà của tôi? Ý tưởng đào thoát manh nha trong đầu tôi. Với sự hiện diện của báo chí và những quan sát viên, nên VC còn tỏ ra dè dặt, không dám ra mặt tham lam áp chế dân chúng. Cũng may là chẳng bao lâu sau cả đoàn quân CS bị chuyển qua Cao Mên”.

 

Một tháng sau khi trình diện học tập cải tạo không thấy một ai được về nhà. Cậu con trai lớn luôn luôn đạp xe quanh ngôi trường mà cha cậu trình diện thì thấy vắng tanh. Khi đem người trưởng gia đình đi thì tạo ra một không khí bất an và đạt được hai mục đích, vô hiệu hóa người chồng người cha và cùng một lúc kiểm soát được mọi người trong gia đình. Nhiều gia đình chỉ trông cậy vào đồng lương cha chồng đem về hàng tháng thì bây giờ túng quẫn. Và sau hai lần đổi tiền, những người giầu có nay thành nghèo và những ai đã nghèo nay lại càng xơ xác. Sau một tháng quy định chẳng ai được trở về. Thỉnh thoảng có một vài người có lẽ thuộc loại có móc nối hay không nợ máu thấy lẻ tẻ trở về. Một người quen cho biết là chồng bà bị chuyển tới trại Long Thành.

 

Một loạt xe vận tải nhà binh đến chở các tù nhân đi. Họ không biết là đi tới đâu. Trong đêm tối đến một khu rừng mà họ không biết là Long Thành và bị lùa vào mấy gian trại bằng tre lá và lèn chặt như cá hộp. Ngay sáng hôm sau tù phải bắt tay xây cất các trại giam khác cho những người tới sau.

 

Có cảm tưởng là Việt Cộng không có kế hoạch gì cả,chỉ thực hiện theo nhu cầu xẩy đến và tù nhân phải dựng lấy trại giam cho mình. Mục tiêu quan trọng lúc đó là gom lại và vô hiệu hóa các thành viên của chế độ cũ. Mục đích thứ hai là cách ly quân đội với hành chính.Các cấp hành chính do cán bộ canh giữ còn

các quân nhân bị đặt dưới bộ đội và các sỹ quan Việt Cộng canh chừng. Chỗ nào cũng là rừng nên không ai biết được bao nhiêu trại tù rải rác ở đâu.

 

Mỗi nhà giam có thể lèn chừng 50 tù, mỗi người có được chừng 80 phân để nằm ngủ ngay trên mặt đất. Về đêm phải chịu hơi lạnh của núi rừng và khi mưa phải chịu ướt át. Bà hỏi chồng có nhớ đến cái mùng mà anh cẩn thận gói theo. Anh nói, “Trong hoàn cảnh ấy mùng đâu có ích gì và một anh bạn khéo tay đã giúp cắt ra may thành một áo trấn thủ dầy dặn với nhiều lớp vải mùng khiến cho

anh qua được cảnh rét mướt”! Mỗi đêm có điểm danh trước khi cho vào đi ngủ sau khi cán bộ đã khóa chặt nhà tù.Đồ ăn thật đơn sơ nhưng còn có gạo nên

không bị đói. Cơm được nấu trong các chảo to nên có nhiều cháy là một món ngon mà đứa bé con cô cán bộ nhà bếp luôn luôn chầu chực. “Nhà tôi sực nhớ đến đứa con nhỏ ở nhà mà lòng bồi hồi xúc động”! Vấn đề nước khó khăn hơn vì chỉ có mỗi một cái giếng và khi lao động về phải sắp hàng tắm rửa.

 

Những người lớn tuổi chậm chân nên đến lượt mình thì đã tới giờ điểm danh trở về phòng nên không bao giờ được dùng nước.Tù phải viết bản báo cáo mỗi ngày, nói rõnhững gì bản thân họ đã phạm trước kia và những gì cha hay thân nhân họ đã làm. Nay mới thấy sự ích lợi của các cây bút BIC. Các bản báo cáo trở thành ác mộng của tù nhân.Viết ít chừng nào tốt chừng ấy và phải nhớ những gì đã viết để có thể viết lại những báo cáo sau. Ý đồ của quản trại là bắt tù từ bỏ niềm tin, chối bỏ lý tưởng và gia đình, khinh rẻ chế độ cũ và chửi rủa các cấp lãnh đạo cũ. Thật là khó khăn cho những ai thẳng thắn với những nguyên tắc có sẵn hay những người bản chất hiền hòa không biết chửi bậy.

 

Song viết ngắn quá cũng bị nghi ngờ là thiếu thành thật và tù bị gọi lên hạch hỏi đủ điều, chữa đi chữa lại. Kết quả là tù phạm tội nặng hơn để rơi vào bẫy sửa sai không ra thoát.

 

Có lệnh cho đi thăm tù. Những người như bà Đảnh là công nhân viên phải có giấy phép của cơ quan ghi rõ lý do nghỉ phép. Và chỉ được đem theo tối đa 5 kí thực phẩm và mỗi gia đình chỉ có ba người được đi thăm. Với bốn đứa con, đem đứa nào đi, để đứa nào lại? Trong khi thăm chồng phải ngồi hai bên bàn dài cùng những người khác, có cán bộ đứng đàu bàn lắng nghe. Phải nói to, không

được dùng ngoại ngữ. Vợ chồng trao đổi những vấn đề sức khỏe và kinh tế gia đình,bán chác quần áo cho các bà miền Bắc bây giờ ham chưng diện lắm. Khi hết giờ thăm,

 

tù đứng giậy nhặt gói quà trở về nhà giam.

 

Có người còn bị mắng vì ôm hôn người thân

 

hay căn dặn thêm vài điều. Trong phòng

 

những tiếng òa khóc nổi lên như sóng gió

 

trong cơn mưa bão. “Tôi cố nhịn khóc

 

nhưng khi về đến nhà vào phòng tôi bật khóc

 

lệ tràn như suối”.

 

Từ tháng 10/11, 1976 bà Đảnh không

 

nhận được thư nào của chồng nữa và biết là

 

chồng không còn ở Long Thành. Từ nay gửi

 

thư cho anh phải qua một địa chỉ mới tại

 

hòm thư A-40 khám Chí Hòa. Thư từ quà

 

bánh tối đa 3-5 kí phải gửi qua một địa điểm

 

ở một ngôi trường không xử dụng nữa. Hai

 

đứa con lớn phải đi thi hành các nghĩa vụ

 

công ích không lương, tối phải tạm trú tại

 

những chỗ nào tạm che mưa nắng. Đã có dấu

 

hiệu chống đối ngầm trong giới trẻ. Nhưng

 

chúng bị răn đe, phải cố gắng theo chỉ thị thì

 

cha anh mới được mau chóng tha về. Thật là

 

xảo trá, lợi dụng lòng thương xót cha anh để

 

ép chúng phục vụ.

 

Một ngày đen tối nhất của tháng 10 năm

 

1976, các tù được lệnh đổi trại giam. Đây là

 

lúc cán bộ lục lọi khám xét thủ tiêu mọi

 

chuyện. “Chồng tôi ghi chép nhật ký trong

 

một cuốn sổ tay nhỏ hầu mong kể lại cho

 

con những điều đã trải qua. Anh đã vội vã

 

thủ tiêu cuốn sổ”. Tù đươc chất trên các xe

 

vận tải, tay xích người nọ với người kia. Sau

 

hàng giờ đi vòng vo họ bi lùa xuống hầm tầu

 

thủy và chân bắt đầu bị khóa. Tầu đi ngang

 

qua một khu mà nhìn qua lỗ hổng hầm tầu

 

anh nhận ra cây cầu gần nhà, nơi đây vợ

 

con đang ở, rất gần anh nhưng xa, xa lắm.

 

Nước mắt anh dâng trào, không biết đang

 

đi về đâu, xa Sài Gòn vì đây là Tân Cảng.

 

Chừng 7 tháng sau cái địa chỉ kỳ quái Chí

 

Hòa, có một người tới gập bà Đảnh nhưng

 

không dám vào nhà. Ngó trước ngó sau, phải

 

trái, rồi anh vội nói, “Chồng chị đang bị

 

giam tại miền cực Bắc. Tôi cũng bị giam ở

 

đó nhưng vì vợ tôi là người Đức nên đã nhờ

 

tòa Đại Sứ Tây Đức can thiệp”. Mắt tràn lệ,

 

anh nói tiếp, “Chị biết chúng bắt tôi và anh

 

làm gì không? Ngày ngày gánh phân bón

 

rau và đó là việc nhẹ dành cho người yếu

 

sức”! Bà bật khóc thảm thiết, ngồi bệt xuống

 

vệ đường rồi anh bạn bỏ đi thật nhanh để

 

khỏi bị nhòm ngó.

 

“Chồng tôi chẳng phải là một ông lớn tại

 

miền Nam mà cũng không phải là các Tướng

 

Lãnh uy quyền. Nhưng anh thuộc loại có thể

 

khai thác được. Họ muốn biết vàng, đô la

 

hay các kho tàng của miền Nam chôn dấu ở

 

đâu. Họ hạch hỏi khai thác bắt làm việc đều

 

đều, nhưng cho là không thành khẩn khai

 

báo nên đầy ra miền Bắc cộng sản”. Hầm

 

tầu chật chội với các chất thải vệ sinh của tù

 

nên tạo ra một mùi hôi hám khủng khiếp

 

không tả nổi. Hành trình rất dài không ai nhớ

 

rõ. Sau cùng cũng tới hình như Hải Phòng và

 

chuyển lên các xe tải, chân vẫn xiềng xích.

 

Xe chạy qua một số làng xóm, dân làng đua

 

nhau la ó chửi bới và mọi người biết đây là

 

đất địch. Có các bà chửi, “Đồ Tàu Phù khốn

 

kiếp”! Thì ra họ tưởng là tù binh Trung

 

Quốc.

 

Cán bộ la to, “Đây không phải là tù binh

 

Trung Quốc”. Nhưng họ cũng không dám

 

bảo là tù miến Nam vì họ sợ phản ứng của

 

dân quê thật thà, thương hại hay cùng chia

 

xẻ nỗi đau buồn. Đêm tới thì đến một ven

 

rừng bát ngát. Tù được tháo cùm và lùa sâu

 

vào rừng rậm, đi bộ dăm bẩy cây số và đến

 

một hàng rào bao quanh một số trại. Các cán

 

bộ vào trại, để mặc tù lo liệu chỗ ngủ qua

 

đêm. Sáng hôm sau tù bỏ tay vào xây cất lấy

 

trại tù cho chính mình.

 

Đúng 31 tháng Chạp Dương Lịch các gia

 

đình tù nhận được một món quà chính thức

 

cuối năm, một lá thư của thân nhân đang bị

 

giam tại trại Bắc Thái. Ông Thảo không gập

 

lại những bạn tù Long Thành và phải bắt đầu

 

làm quen với các bạn tù mới. Tù được lệnh

 

trao cho một cán bộ gái tất cả tài sản, đồng

 

hồ, bút máy, nhẫn vòng tay, dây chuyền và

 

tiền mặt để được liệt vào một cuốn sổ ghi tên

 

sở hữu. Ông Thảo nhất định không đưa

 

chiếc nhẫn cưới với lý do vì lâu ngày không

 

kéo ra được. Sau khi dùng xà bông mà cũng

 

không xong thì họ văng tục và thôi không

 

thử tháo nữa. Ông nói dù họ có cố rút ra

 

nhưng nếu ông cố ý giữ thì cũng vô hiệu vì

 

ông nhất định không rời cái nhẫn cưới mà

 

ông coi là tượng trưng quý báu.

 

Ban quản trại đều là người Bắc khắc

 

nghiệt và khó tính. Tù thấy luôn luôn bị theo

 

rõi sát nút. Báo cáo hằng ngày bị phân tách

 

kỹ lưỡng, thảo luận và bị phê bình. Các cán

 

bộ hung dữ và lộng quyền, không ngớt tỏ ra

 

là người chiến thắng. Nhưng đừng lầm tưởng

 

họ thèm muốn những gì chúng ta có, họ thấy

 

chúng ta giỏi hơn họ trên mọi phương diện.

 

Họ luôn khiêu khích, nói xiên nói xỏ, đả kích

 

chê bai và phê bình. Và đây là tình trạng

 

khủng bố tinh thần kinh khủng.

 

Về phương diện vật chất vì quá đông

 

người nên trong phòng một tiếng động nhỏ

 

cũng vang âm. Một tiếng ho, một cái hắt xì

 

cũng khiến một số tù nhân thức giấc. Nhiều

 

bạn tù trong cơn ác mộng đã rên la, gào

 

khóc. Không ai quên được một bạn già cỡ

 

sáu chục, góa vợ với đứa con thơ dại nên

 

đêm đêm nức nở khi đi ngủ thương xót đứa

 

con bỏ lại miền Nam không ai săn sóc.

 

Giếng nước duy nhất rất gần trại nên phải

 

nấu sôi để uống. “Chồng tôi làm công tác hôi

 

thối gánh phân nên cần tắm rửa mỗi chiều

 

tối. Nhưng nước lạnh cóng khi xối lên người

 

thi da đỏ ửng. Anh còn đùa rằng, “thật may

 

là da và phổi còn tốt”.

 

Nhưng cái đói thật là kinh khủng. Khi còn

 

ở miền Nam thì nắm cơm còn thực là nắm

 

cơm đầy đủ gạo. Ở đây, cơm phải trộn những

 

hạt bo bo vỏ thật cứng thường phải xay ra để

 

cho súc vật ăn. Một số lớn không muốn hy

 

sinh bộ răng cấm nên phải ngồi nhặt các hột

 

Những Giáo Dân Cồn Dầu Đầu Tiên Rời Thái Lan Đến Hoa Kỳ

Những Giáo Dân Cồn Dầu Đầu Tiên Rời Thái Lan Đến Hoa Kỳ

Báo Mạch Sống, ngày 21 tháng 5, 2012

Hôm nay một gia đình giáo dân của Xứ Đạo Cồn Dầu lên đường đến Hoa Kỳ sau gần hai năm trốn tránh ở Thái Lan.  Lúc 8 giờ sáng ngày 22 tháng 5 (giờ Thái Lan), anh Nguyễn Hữu Hải cùng vợ và hai con đã rời phi trường Bangkok để đến Raleigh, North Carolina, định cư.

 

“Gia đình tôi rất vui mừng là cuối cùng đến được bến bờ tự do. Chúng tôi vô cùng tri ân sự giúp đỡ và bảo vệ của cộng đồng người Việt ở hải ngoại không những cho chúng tôi mà còn cho khoảng 80 đồng hương của tôi còn đang kẹt ở Thái Lan và Mã Lai cũng như cho hàng trăm đồng đạo ở Xứ Đạo Cồn Dầu”, anh Hải phát biểu khi chia tay với những người Cồn Dầu ra phi trường tiễn anh lên đường.

Anh Hải và gia đình ở phi trường Bangkok, ngày 22/05/12 (ảnh BPSOS)

 

“Chúng tôi, thân nhân và người cùng xứ với các nạn nhân, đang nóng lòng đón chờ gia đình anh Hải”, Ông Trần Thanh Tùng phát biểu từ thành phố Raleigh. 

Ông Tùng đại diện mấy mươi gia đình người Cồn Dầu hiện định cư ở Hoa Kỳ để vận động sự can thiệp của Quốc Hội và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. 

 

“Chúng tôi hy vọng nhiều gia đình Cồn Dầu khác hiện ở Thái Lan cũng sẽ đến Hoa Kỳ trong vài tháng tới đây”, Ông phát biểu.  

Sau cuộc đàn áp ngày 4 tháng 5, 2010, công an Đà Nẵng đã truy lùng anh Hải vì anh là người chuyển lên internet các đoạn video và hình ảnh của cuộc đàn áp thô bạo đang diễn ra ở Cồn Dầu.

 

Tháng 7 năm 2010, BPSOS cùng với các thân nhân Cồn Dầu ở Hoa Kỳ phát động chiến dịch “Cứu Cồn Dầu” với 3 mục đích: bảo vệ những giáo dân Cồn Dầu lánh nạn ở ngoài Việt Nam, đẩy lùi áp lực của chính quyền Đà Nẵng lên số giáo dân Cồn Dầu ở trong nước, và bảo đảm sự trường tồn của Xứ Đạo Cồn Dầu.

 

Phóng viên của đài Á Châu Tự Do đã phỏng vấn anh Hải và gia đình tại phi trường Bangkok.

Video phỏng vấn anh Hải và vợ khi được tin sắp lên đường đi Hoa Kỳ:
http://www.youtube.com/watch?v=30-G_ia44nU&feature=youtu.be

Cồn Dầu: Hai Năm Sau Ngày Đàn Áp:
http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2411

Nghĩ Về Cồn Dầu:
http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2408

Có Tích Sự:
http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2417

 

Hiện có trên 800 đồng bào đang lánh nạn ở Thái Lan trước cuộc đàn áp ngày càng leo thang ở Việt Nam. Để đối phó, năm 2010 BPSOS phối hợp với một tổ chức địa phương để thành lập Văn Phòng Trợ Giúp Pháp Lý ở Bangkok. Chúng tôi rất cần sự tiếp tay của mọi người có lòng với đồng bào, của những cựu thuyền nhân đã từng sống qua cuộc đời tỵ nạn, của những tổ chức từ thiện, và của tất cả những ai quan tâm đến thân phận của những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo giờ đây đang phải lánh nạn vì bị đàn áp và truy lùng. Mỗi người một tay, góp gió thành bão.

Mọi đóng góp sẽ được cấp giấy trừ thuế và xin gởi về:

BPSOS/RCS
PO Box 8065
Falls Church, VA 22041 - U.S.A.

Tiếng Việt nào?

23/05/12 |

Tiếng Việt nào?

Trong các buổi thuyết trình về tiếng Việt đây đó cũng như các buổi tu nghiệp dành cho giáo viên tiếng Việt tại Úc, một trong những câu hỏi tôi thường nghe nhất là: Có nên dạy “tiếng Việt của Việt Cộng” cho học sinh và sinh viên ở nước ngoài? Mới đây, tôi lại nghe một câu hỏi khác từ một người bạn làm trong ngành truyền thông: Thính giả của đài là người Việt trong nước, đài có nên sử dụng từ ngữ Việt Nam Cộng Hòa thời trước không?

Thú thực, nghe những câu hỏi như thế bao giờ tôi cũng có chút bối rối. Bối rối không phải vì không biết cách trả lời. Bối rối chỉ vì tôi hiểu những băn khoăn và day dứt trong lòng họ khi đặt ra những câu hỏi ấy. Rõ ràng đó không phải là những câu hỏi thuần túy học thuật. Những câu hỏi ấy xuất phát chủ yếu từ những dằn vặt về tâm lý, những ám ảnh về chính trị, và đặc biệt từ những ký ức khốn khổ của chiến tranh và của sự phân hóa.

Từ góc độ học thuật, không có cái gọi là từ ngữ Việt Cộng hay từ ngữ Việt Nam Cộng Hòa.

Lý do:

Thứ nhất, sự phân biệt giữa Việt Cộng và Việt Nam Cộng Hòa là sự phân biệt thuần túy chính trị. Mà ngôn ngữ, ở cấp độ từ vựng, lại không có tính chính trị. Những từ như “ngụy”, “cách mạng”, “giải phóng”, “cải tạo”, “đăng ký”, “khẩn trương”, “bộ đội”, “lính thủy đánh bộ”, v.v. tự chúng, chả có tội tình gì cả. Chúng là những yếu tố nằm trong kho từ vựng tiếng Việt. Phần lớn những từ ấy đã có từ lâu. Ngay một số từ ghép lạ tai với người miền Nam như “lính thủy đánh bộ” cũng bao gồm những từ tố quen thuộc vốn đã có sẵn trong tiếng Việt. Tính chính trị của từ không nằm trong bản thân của các từ ấy. Tính chính trị chỉ có trong các sử dụng. Chữ “giải phóng”, chẳng hạn, hoàn toàn phi chính trị. Nhưng dùng chữ “giải phóng” để chỉ ngày 30 tháng Tư, ví dụ: “ngày giải phóng”, “khi đất nước được giải phóng”, yếu tố chính trị mới xuất hiện.

Nhớ, đầu năm 1990, khi Mỹ và lực lượng Đồng minh (bao gồm 34 quốc gia khác nhau) đánh bật quân đội Iraq của Saddam Hussein ra khỏi Kuwait, nhiều người làm báo ở hải ngoại đã phân vân không biết dùng chữ gì để dịch khái niệm “liberation of Kuwait” vốn được sử dụng đầy dẫy trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Dĩ nhiên ai cũng biết “liberation” là giải phóng. Nhưng người ta lại ngần ngại không muốn dùng chữ “giải phóng” vì, một phần nó gợi lại ấn tượng đau buồn ê chề của họ sau năm 1975; phần khác, vì nó phảng phất âm hưởng… Việt Cộng. Nhưng sự ngần ngại ấy không kéo dài được lâu. Tránh né cách gì, cuối cùng, người ta cũng bắt buộc phải dùng chữ “giải phóng” để chỉ việc quân đội của Saddam Hussein bị đánh bật ra khỏi Kuwait và việc người dân Kuwait hân hoan chào đón tự do và độc lập. Không có chữ gì khác. Dùng riết, trong bối cảnh ấy, chữ “giải phóng” bỗng trở lại nguyên nghĩa của nó. Mà như thế, kể cũng phải. Đứng một mình, chữ ấy hoàn toàn trong sáng. Và trong sạch. Đối với người dân Kuwait, chữ ấy vang lên như một tiếng reo. Nó chỉ trở thành nặng nề với người Việt ở miền Nam mà thôi. Nói cách khác, vấn đề ở đây chỉ là vấn đề cách sử dụng. Nghĩa là ở ngữ cảnh. Chỉ ở ngữ cảnh.

Tương tự như vậy, cách đây mấy năm, ở trong nước, khi dịch cuốn De la démocratie en Amériquecủa Alexis de Tocqueville, dịch giả Phạm Toàn phải sửa “Dân chủ ở Hoa Kỳ” thành “Nền dân trị ở Hoa Kỳ”. Lý do: Ông biết nhà nước Việt Nam hiện nay rất dị ứng với chữ “dân chủ”.

Thứ hai, không nên quá phóng đại vai trò của chính phủ hoặc đảng cầm quyền trong lãnh vực ngôn ngữ. Ngôn ngữ, tự bản chất, là một quy ước xã hội, hình thành từ sự đồng thuận của cả cộng đồng. Bản thân ông Hồ Chí Minh, với tư cách người có quyền lực cao nhất ở miền Bắc từ sau năm 1945, đã muốn “cải cách” chữ quốc ngữ với những cách viết như “kách mệnh” hay “zải phóng”, những kết hợp từ như “dân quân gái” hoặc “người lái” (phi công), cuối cùng cũng thất bại. Hơn nữa, theo dõi kỹ tình hình trong nước, chúnng ta có thể thấy ngay, từ mấy chục năm nay, chính quyền và đảng Cộng sản hầu như bỏ ngỏ lãnh vực ngôn ngữ. Có rất nhiều việc họ cần làm và nên làm, nhưng họ hoàn toàn không làm. Rõ nhất là về phương diện chính tả cũng như việc phiên âm nhân danh và địa danh nước ngoài. Phần lớn các đề nghị thay đổi đều có tính chất tự phát và nảy sinh từ một số cá nhân có thiện chí (có khi đúng có khi sai) hơn là từ một quyền lực chính trị nào.

Thứ ba, không nên quy các phương ngữ vào hai phạm trù Việt Cộng và Việt Nam Cộng Hòa. Sự khác biệt giữa một số từ vựng mà nhiều người hay lên tiếng hoặc để bênh vực hoặc để đả kích phần lớn đều thuộc phạm trù phương ngữ. Mà phương ngữ lại là một hiện tượng lâu đời ở Việt Nam. Từ lâu, một số từ vựng ở miền Nam, miền Bắc và miền Trung đã khác nhau. Hầu hết những khác biệt ấy đều có tính chất địa lý, xã hội và lịch sử hơn là chính trị. Nơi thì gọi “túc cầu”, nơi thì gọi “bóng đá”; nơi thì gọi “phi trường”, nơi thì gọi “sân bay”; nơi thì gọi “quan thuế”, nơi thì gọi “hải quan”; nơi thì gọi “trực thăng”, nơi thì gọi “máy bay lên thẳng”… Thì cũng bình thường. Như ngày trước, chúng ta đã có những khác biệt giữa “heo” và “lợn”, giữa “cha” và “bố”, giữa “cân” và “ký”, giữa “xe lửa” và “tàu hỏa”, “xe hơi” và “xe ô tô”, “xe đò” và “xe khách”, giữa “cá quả”, “cá lóc” và cá tràu”, v.v.

Thứ tư, ngôn ngữ, cũng giống như đời sống, không ngừng vận động và phát triển. Hễ trong xã hội xuất hiện những sản phẩm mới hoặc những hiện tượng mới, những nhận thức mới người ta lại có những nhu cầu đặt ra những từ mới. Nhớ, năm 1996, lần đầu tiên về nước, tôi cảm thấy rất thú vị khi nghe người ta gọi trà Lipton (loại trà bỏ trong gói nhỏ nhúng thẳng vào nước sôi để uống) là trà giật giật; cái robinet (đồ vặn nước ở bồn tắm hoặc bồn rửa mặt) loại mới là cái gật gù (chỉ cần đẩy lên hay xuống chứ không cần vặn theo chiều kim đồng hồ); bò beefsteak là bò né… Nghe, thoạt đầu, thấy ngồ ngộ; sau, ngẫm lại, thấy cũng hay hay. Tôi chẳng thấy có ông hay bà Việt Cộng nào trong những chữ ấy cả. Tôi chỉ thấy có cuộc đời.

Nói tóm lại, theo tôi, phần lớn những sự phân biệt giữa từ Việt Cộng và từ Việt Nam Cộng Hòa là những sự phân biệt giả. Đứng về phương diện từ vựng, đó là những sự khác biệt, một, có tính chất phương ngữ; hai, xuất phát từ những thay đổi trong đời sống. Không nên gắn chúng với một nội dung chính trị nào. Ví dụ, ở nhiều trường tiếng Việt ở hải ngoại hiện nay, nhiều người vẫn khăng khăng dùng chữ “văn phạm” thay cho chữ “ngữ pháp” với lý do chữ “văn phạm” là chữ của ta, còn chữ “ngữ pháp” là chữ của Việt Cộng. Người ta quên hoặc không biết, ở miền Nam, năm 1963, Nguyễn Hiến Lê và Trương Văn Chình đã có cuốn Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam (Nhà xuất Đại học Huế); năm 1968, Lê Văn Lý đã có cuốn Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (Bộ giáo dục xuất bản); năm 1970, Doãn Quốc Sỹ và Đoàn Quốc Bửu đã có cuốn Lược khảo về ngữ pháp Việt Nam (Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn xuất bản), v.v. Sự chọn lựa giữa chữ văn phạm và chữ ngữ pháp, do đó, chỉ là một chọn lựa có tính học thuật: chữ “ngữ pháp” càng ngày càng được nhiều người sử dụng vì người ta nhận thấy nó chính xác hơn chữ “văn phạm” vì, một, đối tượng khảo sát của “grammar” chỉ dừng lại ở cấp độ từ, ngữ và câu chứ không phải là văn chương; và hai, ngôn ngữ, tự bản chất, chỉ có tính quy ước với một số cách thức (pháp) kết hợp chứ không có tính quy phạm (norm). Sự khác biệt giữa hai chữ “xa lộ” và “đường cao tốc” cũng nên được nhìn nhận như vậy: chữ sau hợp lý hơn vì ở thời đại ngày nay, sự phân biệt giữa các loại đường xá là ở tốc độ cho phép chứ không phải ở loại xe, nhất là giữa xe đạp và xe hơi như ngày xưa.

Tôi đề nghị nên xem một số khác biệt trong từ vựng hiện nay là những khác biệt có tính phương ngữ, vừa là ngôn ngữ địa phương vừa là phương ngữ xã hội.

Nhận định ấy dẫn đến mấy hệ luận chính:

Một, mọi phương ngữ đều bình đẳng. Không có phương ngữ nào là đúng hơn phương ngữ nào cả. Không thể nói chữ “heo” đứng hơn chữ “lợn”, “cha” hay “ba” đứng hơn “bố” hay “tía”; “mẹ” đúng hơn “má”. Cũng như trong tiếng Anh hiện nay, không ai nói tiếng Anh ở Anh thì đúng hơn tiếng Anh ở Mỹ hay ở Úc hoặc Canada. Khái niệm một thứ ngôn ngữ chuẩn (standard language) bị xem là đã lỗi thời.

Hai, mỗi phương ngữ, một mặt, có một vùng hoạt động riêng; mặt khác, không ngừng giao tiếp với nhau. Con vật người miền Nam và miền Trung gọi là con heo thì người miền Bắc gọi là con lợn; nhưng ngay ở miền Nam và miền Trung, người ta cũng gọi là “bánh da lợn” chứ không phải “bánh da heo”, và ở miền Bắc, người ta cũng xem “phim con heo” chứ không phải “phim con lợn”.

Ba, giữa các phương ngữ không ngừng có cuộc cạnh tranh gay gắt để được chấp nhận và phổ biến trong cả nước. Các cuộc cạnh tranh ấy chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Chính trị chỉ là một phần. Từ năm 1975, chính quyền đặt tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh, đến nay, dân chúng vẫn cứ gọi là Sài Gòn.

Bốn, sự tồn tại của các phương ngữ chỉ có tác dụng làm giàu cho tiếng Việt. Sự tồn tại của chữ “sân bay” bên cạnh chữ “phi trường” giống như sự tồn tại của chữ “nhà thơ” bên cạnh chữ “thi sĩ” hay “thi nhân”. Những chữ như “khẩn trương”, “bức xúc” hay “đăng ký”… đều hay nếu biết cách sử dụng (tình hình khẩn trương, không khí căng thẳng, hành động gấp gáp; tâm trạng bức xúc; đăng ký xe và ghi danh học, v.v.).

Vấn đề là ở cách dùng.

Chỉ ở cách dùng.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link