Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, May 27, 2012

Bắc Kinh "dằn mặt" Luân Đôn trên vấn đề Tây Tạng

Bắc Kinh "dằn mặt" Luân Đôn trên vấn đề Tây Tạng

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc hủy bỏ chuyến đi Anh để trả đũa việc thủ tướng Anh gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma (Reuters)

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc hủy bỏ chuyến đi Anh để trả đũa việc thủ tướng Anh gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma (Reuters)

Trọng Nghĩa

Hôm nay 26/05/2012, một nguồn tin từ Bắc Kinh xin ẩn danh tiết lộ : Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc đã quyết định hủy bỏ chuyến công du Anh Quốc dự trù vào tháng này. Nguyên nhân là vì chính quyền Bắc Kinh hết sức phẫn nộ sau cuộc gặp gỡ mới đây giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và thủ tướng Anh David Cameron.

Theo hãng tin Pháp AFP, lẽ ra ông Ngô Bang Quốc, Chủ tịch Quốc Hội và là người trên danh nghĩa là nhân vật số hai tại Trung Quốc sẽ đi thăm nước Anh trong tháng Năm này. 
Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ giữa thủ tướng Cameron và Đức Đạt Lai Lạt Ma khi ngài đến Luân Đôn để nhận giải thưởng Templeton, chính quyền Anh, vẫn theo nguồn tin trên, được thông báo là chủ tịch Quốc hội Trung Quốc sẽ không đến nữa vì Bắc Kinh “rất bực tức sau cuộc gặp gỡ này”. 


AFP nhắc lại là cuộc tiếp xúc giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và hai vị thủ tướng và phó thủ tướng Anh chỉ mang tính chất “riêng tư”, và không diễn ra ở phủ thủ tướng. Thế nhưng Bắc Kinh vẫn nổi giận, xem đấy là một hành động “sỉ nhục đối với dân tộc Trung Quốc” và đã chính thức phản đối Luân Đôn về sự kiện này. 


Sau nước Anh, có lẽ Trung Quốc sẽ phải tiếp tục bày tỏ thái độ phẫn nộ đối với nước Áo, vừa công khai thách thức Bắc Kinh khi đón tiếp người lãnh đạo tinh thần của dân tộc Tây Tạng. 


Vào hôm nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được thủ tướng Áo tiếp kiến tại Vienna. Ông Werner Faymann đã giải thích răng cuộc gặp gỡ này là “một dấu hiệu chính trị rõ ràng nhằm ủng hộ nhân quyền, chủ trương bất bạo động, đối thoại và chống lại sự đàn áp’’. Ông còn cho rằng việc được tiếp xúc với một ‘gương mặt nổi bật’ như Đức Đạt Lai Lạt Ma, là một “kinh nghiệm cá nhân rất tốt”. 


Thủ tướng Áo không tỏ vẻ gì lo lắng trước khả năng Bắc Kinh bị phật ý. Đại sứ Trung Quốc tại Viennna, trả lời đài phát thanh nhà nước Áo hôm 21/05 đã cảnh báo là cuộc gặp gỡ “không có lợi cho quan hệ tốt đẹp giữa hai bên”. Thù tướng Áo đã phản ứng, nhấn mạnh rằng việc ông gặp ai là do chính ông quyết định, và “nước Áo luôn luôn cho thấy mình là một nước đứng về phiá nhân quyền.” 


Trong cuộc tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma, còn có sự hiện diện của Tổng giám mục Vienna, Đức Hồng y Christoph Schönborn

Chuyện có thật. Người Việt ở Sài Gòn

Trúc Quỳnh

 

Hôm nay, tôi lại góp thêm vài câu chuyện cười ra nước mắt cóp nhặt được sau những chuyến đi.

 

Người Việt ở Sài Gòn

 

* Tại chợ Bến Thành Lần đầu tiên cầm tiền Việt Nam, chồng tôi chưa kịp nhận diện giá trị tiền. Lúc hai vợ chồng vừa xuống khỏi taxi đến chợ Bến Thành thì một người đàn ông tật nguyền một chân chống nạng đến xin tiền. Chồng tôi rút luôn gần hai trăm ngàn ra đưa. Tôi giật mình: - Ối! Sao lại cho nhiều thế?Lúc tôi quay sang nhìn thì người đàn ông “tật nguyền” ấy - chắc nghĩ tôi sẽ giật lại số tiền đó hay sao mà nhanh như chớp, hai tay nhấc hai cái nạng, vác lên vai, co hai chân chạy thẳng. Ha ha ha. Chồng tôi lúc đầu choáng, xong lăn ra cười. Đến giờ mỗi khi nhắc lại vẫn cứ cười.

 

 

* Tại quầy lễ tân Khách sạn Riverside Sài Gòn Anh chị cho xem giấy kết hôn? - Chúng tôi không mang theo. Thế anh không thấy vợ chồng chúng tôi mang cùng họ trong hộ chiếu và cùng đến từ Đan Mạch à? - Nhưng đây là khách sạn 4 sao. Tất cả khách sạn 4-5 sao đều yêu cầu như vậy. - Chúng tôi xưa giờ toàn ở khách sạn 5 sao, hôm nay hết phòng nơi khác mới đến khách sạn 4 sao của anh để ở đấy chứ. Có thấy nơi nào quy định vậy đâu? - Không, khi một người Việt đi với một người nước ngoài thì bắt buộc xuất trình giấy kết hôn. - Thế người yêu đi với nhau cũng không được à? - Không, vì có thể là gái mại dâm. - Thế anh nói vợ tôi là gái à? - Vâng, không có giấy kết hôn thì bị coi là vậy.(Kết quả sau đó: Suýt choảng nhau!!!)

 

 

* Ngoài đường Hai vợ chồng tôi về Việt Nam chơi, mấy người chạy xe ôm cứ mời đi không ngớt (mà thiệt lạ, người ta mặc váy mà cứ mời đi xe ôm thì ngồi kiểu gì nhỉ??!). Tôi luôn miệng trả lời không, lấy lý do là vì thích đi bộ ngắm phố phường hơn. Nhóm xe ôm bám nhì nhằng cả 15 phút không được, mới buông giọng: “Xời ơi, keo gì mà keo thế? Nói cho cô em biết, cô em lấy chồng Tây thì phải chia sẻ cho đồng bào một chút, nhá?”.

* Trong công viên nước Hai vợ chồng và mấy đứa cháu đi công viên nước chơi, tôi đang chơi bóng dưới hồ tạo sóng với cháu gái thì một gã bơi đến:- Em ơi, sao em lại đẹp quá vậy? Mà người vừa nãy đứng cùng em là chồng em hả? Ôi, sao em lại lấy chồng Tây, anh là người Việt Nam, cũng đâu đến nỗi nào. Em bỏ nó, em lấy anh đi, nhé em!Mặc tôi ngó lơ, hắn cứ “bao vây” bằng những hành động và lời nói cợt nhả như thế dưới bể bơi hàng chục phút đến khi tôi không chịu nổi phải trèo lên bờ.

 

 

Người Việt ở Hà Nội

* Tại khu phố cổ, lúc 10 giờ đêm Hai vợ chồng dắt cô cháu gái đi chơi, nhìn thấy con búp bê trong cửa hàng đẹp quá, tôi ghé vào định mua cho cháu thì:- Ê ê, mười giờ đêm rồi, có biết phải mua gì chưa? Chắc chắn mua thì hẵng vào, nhá! - bà chủ cửa hàng chua một chất giọng còn mạnh hơn cả… giấm.. - Chưa coi hàng chất lượng ra sao, sao biết chắc mua hay không hả cô? - tôi hỏi lại.Nghe vậy, bà chủ nhảy lên, tưởng muốn chạm nóc nhà.- Chắc thì hẵng vào, muộn rồi, không thì… xéo… cút xéo thẳng, đừng vào nhá.Hết hồn!

 

 

Người Việt ở Hạ Long

Tôi ngủ dậy muộn trên tàu du lịch ở vịnh Hạ Long, lúc nhìn xuống thấy có 2 cô gái trẻ trên hai chiếc thuyền (chợ nổi) treo bán đủ thứ bánh kẹo đang trò chuyện rất to. Không biết tôi là người Việt Nam, một cô chỉ vào chồng tôi, cười hả hê nói:- Này, lúc nãy tao mới bán cho ông Tây kia cái hộp bánh 220 ngàn đấy, lãi hẳn 200 ngàn mày ạ, hí hí hí. - !!!

 

 

Người Việt ở Sapa

Chồng tôi vào chợ Sapa hỏi mua giúp tôi một chai nước tẩy sơn móng tay. Hai bà bán hàng nói với nhau (rất to): “Nhớ xé cái mác giá đi, trên đó ghi có 2 ngàn à”. “Ừ! Thế nói nó giá bao nhiêu nhỉ. Năm chục ngàn nhỉ?”. “Ừ!”. - Fifty thousand Dong! (Năm chục ngàn) - bà ta nói với chồng tôi. Tôi đứng đó, bật cười:- Chứ không phải cái lọ đó giá chỉ 2 ngàn thôi sao hả chị? Tẽn tò!

 

 

Người Việt ở Pháp

Trong nhà hàng Cây Ớt – Quận 13, Paris

Hai vợ chồng chọn được 5-6 món, hào hứng ngồi chờ. Bàn bên cạnh là hai thực khách Pháp. Chủ nhà hàng mang ra một nồi thịt kho tộ, một đĩa xào (giống tôi đã đặt) nhưng lại bỏ lên bàn của hai vị khách Pháp. Có lẽ vì là người nước ngoài nên họ không biết, bắt đầu cắm cúi ăn. 5 phút sau, dường như phát hiện ra sự nhầm lẫn, bà chủ liền chạy ra, không nói câu nào, giựt mạnh nồi thịt kho và đĩa xào từ bến đó bỏ sang bàn tôi. Mặc kệ hai vị khách kia miệng đang há, tay đang cầm đũa cắm vào nồi thịt. - Này chị ơi, nhầm lẫn thì làm lại chứ bắt chúng tôi ăn thừa à? - tôi hỏi. - Nhầm có mấy phút mà làm sao? - Không, chị phải làm lại chứ. Khách người ta ăn vào rồi còn gì. - Không. Chi mà khó tính dữ vậy. Nhầm có chút xíu mắc chi tôi làm lại - mặt bà chủ cau có. - Vậy chị cho tính tiền nước đi, chúng tôi không ăn nữa - tôi chán nản nói. Hai vợ chồng chủ quán mang hóa đơn xuống bàn, rồi nói với nhau: - Lần sau nhớ mặt hai đứa này, đừng cho vào nhá. - Cũng chẳng ai muốn đến nữa đâu chị ơi - tôi lắc đầu cười méo mó. - Đến có mà tao tát vào mặt, nhá! - bà chủ tru tréo như còi xe lửa. Ôi, nghe muốn xỉu.

Huyền thoại "nàng thơ T.T.Kh." chỉ là giả tạo

Huyền thoại "nàng thơ T.T.Kh." chỉ là giả tạo

 

Chỉ cần đọc một bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn”, tôi đã nghĩ rằng không thể một cô gái 17 tuổi vào thời xa xưa đó lại có thể sáng tác được bài thơ với ngôn từ khá già dặn như vậy. Người làm bài này phải là một thi nhân đã từng biết làm thơ trước đó. Và ngày nay, đúng là họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình tức thi sĩ Thâm Tâm (tác giả bài Tống Biệt Hành) sáng tác bài thơ đó đề tên Trần Thị Khánh hay Thâm Tâm Khánh (T.T.Kh.) để che dấu nỗi đau nhục bị cô Khánh bỏ rơi.

 

Huyền thoại về “Nàng Thơ T.T.Kh.” chỉ là giả tạo.

 

- Nguyễn Thạch Kiên, thi nhân đấu tranh trong lãng mạn.

 

* Tạp ghi QUỐC NAM

 

Một buổi tối chớm đông, những sợi mưa tuyết giăng trắng khung trời Cao Nguyên Tình Xanh Washington, tôi lái xe từ đài phát thanh SRBS trở lại nhà. Tôi chợt nghe tiếng chị Nguyễn Thuý Phượng qua điện thoại "Bố tôi vừa mất sáng nay". Lập tức, nỗi buồn nghẹn lại trong tâm hồn tôi. Chị Phượng là trưởng nữ của nhà văn, nhà thơ, nhà báo lão thành Nguyễn Thạch Kiên. Hôm đó là ngày 13 tháng 12 năm 2008. Ông hưởng thọ 83 tuổi.

Mùa lễ Thanksgiving, tôi về San Diego viếng thăm Chị Cả tôi (năm nay 86 tuổi) đã đau yếu liệt giường. Như một linh tính nhiệm màu, tôi điện thoại thăm nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, thì được chị Phượng cho biết ông đã nhập viện mấy ngày nay. Tôi tức tốc lái xe lên Quận Cam đến Garden Grove Hospital vào sáng thứ bảy ngày 30 tháng 11 năm 2008. Tôi gặp chị Thúy-Phượng và anh Long (phu quân của chị) tại phòng đợi. Anh chị hướng dẫn tôi lên phòng nhà văn nằm bệnh. Lúc đó, ông Nguyễn Thạch Kiên đã mê sảng rồi. Tuy vậy, khi chị Phượng nói tên tôi, thì nhà văn hé mở mắt và nói "Quốc Nam ở Seattle hả?". Tôi ghé sát tai ông và nói: "Vâng. Quốc Nam đến thăm anh đây. Luôn luôn Quốc Nam kính mến anh, và vẫn nhớ mãi những ngày đầu làm báo với anh khi Quốc Nam còn rất trẻ’. Nhà văn có vẻ cảm động, nhưng nói lan man điều gì đó mà tôi không nghe rõ.

 

Thi sĩ Quốc Nam chào vĩnh biệt Tác giả Nguyễn Thạch Kiên tại Garden Grove Hospotal cuối năm 2008. Hình từ trái qua phải: Bà Nguyễn Thúy Phượng, Cụ Nguyễn Thạch Kiên và ông Quốc Nam.

 

Trong cuộc đời cầm bút mưu sinh liên tục ngót nửa thế kỷ qua, tôi đã không có đàn anh hoặc đàn em văn nghệ. Tôi may mắn đứng vững được trên chính đôi chân của mình trong giới truyền thông báo chí và văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, tới khi ông Nguyễn Thạch Kiên bỏ tôi ra đi, thì tôi mới cảm nhận rằng: quãng đời sinh hoạt văn chương chữ nghĩa của tôi cũng có một đàn anh. Đó là nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thạch Kiên.

Tôi mưu sinh bằng ngòi bút bắt đầu từ năm 1961, từ lúc nhà xuất bản Trần Văn Phương mướn tôi viết một số truyện nhi đồng hoặc giáo dục thiếu nhi. Tuổi trẻ tôi đã ngụp lặn trong thế giới thần tiên, với những nàng tiên, hoàng tử hoặc công chúa quý phái và xinh như mộng. Niên khóa 1962-1963 tôi học Lớp Đệ Nhất B3 trung học Chu Văn An với những bạn cùng lớp như Hoàng Duy Hiệu, Nguyễn Trọng Nhi, Lê Thiệp, Nguyễn Văn Thiệp, Phí Ích Bành, Nguyễn Vô Lượng, Phạm Trinh Huân v.v... Thì một vài bạn tôi rất ngạc nhiên khi biết tôi viết văn mà được trả nhuận bút để tiêu xài rỉ rả.

Đến đầu năm 1964, tôi đang học ở Đại Học Khoa Học & Luật Khoa, thì ông Giám Đốc nhà xuất bản Trần Văn Phương giới thiệu tôi với nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (dạo đó là Chủ Nhiệm tuần san giáo dục Tinh Hoa), tòa soạn đặt tại nhà in Chấn Hưng đường Lê Văn Duyệt, đô thành Saigon. Nhà văn nhìn tôi đầy thiện cảm, và buột miệng nói: "Cậu nhỏ vậy mà lên Đại Học rồi hả?".

Tôi lễ phép trả lời: "Dạ, thưa anh. Quốc-Nam không còn nhỏ đâu. 19 tuổi rồi!"

Ông có vẻ thích thú, nói: "Vậy cậu phụ tôi làm báo Tinh Hoa nhé".

Thế là tôi trở thành người Thư Ký Tòa Soạn (có lẽ NHÍ nhất) của một tuần báo, giữa thời điểm mà nền báo chí tại Miền Nam Việt Nam chưa phát triển lắm.

Tôi làm công việc chọn lựa bài vở và thơ văn hàng tuần cho tuần san Tinh Hoa, trình lên cho Chủ Báo Nguyễn Thạch Kiên coi sơ qua, rồi mang xuống nhà in để mấy người thợ làm công việc sắp chữ. Thời đó, các thợ nhà in phải sắp từng con chữ vào những trang báo, rồi làm bản kẽm để đưa vào máy in.

Ở vai trò chọn bài vở cho tuần san Tinh Hoa, tôi được một số nữ sinh Sài-Gòn hoặc nữ sinh viên Văn Khoa o bế khá nhiều, để mong được có bài đăng trên báo.

Tháng 9 năm 1996, tôi đặt vé máy bay mời nhà văn nhà thơ Nguyễn Thạch Kiên lên Seattle để giới thiệu tác phẩm mới của ông nhan đề "Về Những Kỷ Niệm Quê Hương". Cố văn sĩ Huy Quang tức cựu Trung Tá Vũ Đức Vinh (nguyên Giám Đốc Đài phát thanh Saigon trước năm 1975), ông Trần Thế Khiêm (Cán Bộ cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng) và tôi đã ra tận cửa máy bay tại phi trường Sea-Tac để đón rước ông.

 

Tác giả Nguyễn Thạch Kiên tại phi trường Sea-Tac (Washington) năm 1996. Hình từ trái qua phải: Quý ông Trần Thế Khiêm, Nguyễn Thạch Kiên & Quốc Nam.

 

Buổi ra mắt sách của Tác giả Nguyễn Thạch Kiên được đồng hương tham dự đông đảo. Họ ngồi chật cứng nhà hàng Moonlight đường South Jackson, Seattle.

 

Đề tài nổi cộm trong cuốn sách là “Huyền thoại T.T.Kh.”. Sách dày 260 trang, với một nửa cuốn sách đề cập tới những chi tiết quanh các bài thơ ký tên T.T.Kh. rất lý thú. Một số tiểu mục được Tác Giả Nguyễn Thạch Kiên phân chia như sau: Huyền thoại về Nàng Thơ T.T.Kh., Dưới giàn hoa máu, Tống Biệt Hành, T.T.Kh. Nàng là ai?, Nguyên nhân nào khiến sống dậy huyền thoại T.T.Kh.?,  Nguyễn Vỹ viết về T.T.Kh., Thanh Châu nhận định về T.T.Kh., Truyện ngắn “Hoa Ti-gôn” năm 1937 của Thanh Châu, Trong lửa đạn thù...

 

Câu chuyện T.T.Kh. bắt đầu từ truyện ngắn “Dưới giàn hoa máu” của nhà văn Thanh Châu đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy năm 1937 chủ trương bởi nhà xuất bản Tân Dân của ông Vũ Đình Long, nội dung căn cứ vào lời kể về mối tình giữa họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình (tên thật của nhà thơ Thâm Tâm) và một thiếu nữ tên Khánh.

 

Theo một số nhân chứng sống biết rõ về “huyền thoại T.T.Kh.” (trong số này có văn sĩ Nguyễn Vỹ và Hồ Văn Thông, người bạn chiến đấu cạnh Thâm Tâm trong khu Kháng Chiến Việt Minh gần Thủ đô Hà Nội), chính nhà thơ Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình đã thố lộ:

 

Sau truyện ngắn đó, Thâm Tâm đã sáng tác bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” và nhờ cô em họ mang tới tòa báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Khi bài thơ này phổ biến thì dư luận rất thương cảm người thiếu nữ bất hạnh và muốn biết T.T.Kh. là ai? Trong thời điểm đó, tình trạng báo chí ở Hà Nội đang cạnh tranh gay gắt, nhất là giữa nhà xuất bản Tân Dân (Tiểu Thuyết Thứ Bảy) và Tự Lực Văn Đoàn (báo Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ trương). Bỗng dưng, người ta tìm cách tạo dựng huyền thoại T.T.Kh. để bán báo cho nhiều hơn các đồng nghiệp khác. Cũng từ đó, một số bài thơ tầm thuờng xuất hiện cũng ký tên T.T.Kh. Trong lần tâm sự riêng với Hồ Văn Thông ở chiến khu. Nhà thơ Thâm Tâm thú nhận rằng suốt từ năm 1937 đến 1939, chỉ có 3 bài thơ đề tên T.T.Kh. do chính ông sáng tác là: Hai sắc hoa ti-gôn, Bài thơ thứ nhất & Bài thơ cuối cùng.

 

Tâm sự với nhà văn Nguyễn Vỹ, Thâm Tâm kể rằng: Khoảng tháng 2 năm 1936, Tuấn Trình (họa sĩ cho báo Bắc Hà, tên thật của nhà thơ Thâm Tâm) 19 tuổi làm quen đuợc với cô Trần Thị Khánh 17 tuổi sắp thi bằng Tiểu Học. Khi cô viết thư gởi Thâm Tâm báo tin sắp lấy chồng, ông rất đau buồn nhưng cũng biết được rằng nàng không yêu ông nhiều như ông tưởng. Trong bài viết “Thâm Tâm và sự thật về T.T.Kh.”, cố văn sĩ/chủ báo Nguyễn Vỹ viết nguyên văn như sau:

 

“Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị nguời yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thắng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can. Vì chút tự ái văn nghệ đối với mấy nguời kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là HAI SẮC HOA TI GÔN ký T.T.Kh. với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ (con gái của người cô ở phố Cửa Nam) mang đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ. Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô đã ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là đằng khác. Tuấn Trình nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận đuợc một bức thư cuối cùng của Khánh, tỏ ý không bằng lòng anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô”.

Tác giả Nguyễn Thạch Kiên là con nguời rất hiền hòa và rộng lượng. Trong tác phẩm “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, ông đưa ra khá nhiều bằng chứng thuyết phục về “Huyền thoại T.T.Kh.” chỉ là giả tạo, nàng thơ T.T.Kh. không hề có thật trên đời! Tuy nhiên, đàn anh của chúng tôi vẫn rất dễ thương cho rằng “Huyền thoại, chỉ nên mãi mãi là huyền thoại”. Trong lãnh vực chính trị cũng vậy, ông Nguyễn Thạch Kiên đã hoạt dộng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng hơn nửa thế kỷ qua, nhưng tinh thần đấu tranh trong tim óc ông luôn luôn đượm màu lãng mạn. Thế nhưng tôi rất yêu qúy ông, bởi chính tôi từng là đảng viên kỳ cựu của Đại Việt Cách Mạng Đảng và tinh thần cách mạng trong tôi cũng đượm màu lãng mạn như ông. Nói tóm lại, ông Nguyễn Thạch Kiên và tôi đều từng hoạt động chính trị một cách vương đạo, không thể bá đạo và dã man như bọn Việt Cộng đuợc.

Do đó, khi kết luận tác phẩm “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, nhà văn của chúng ta viết như sau:

 

“Chúng tôi quan niệm huyền thoại hẳn phải là một cái gì đó rất đẹp, rất lý tưởng, và không sao với tới được. Phải, nó làm phong phú trí tưởng con người. Phanh phui, phân tích, tìm hiểu từng chi tiết, khác nào ta bóc trần một cổ vật hằng trân quý. Một người khác phái ta say mê mà không sao được kề cận, vẫn mãi mãi là một ám ảnh, làm suốt đời ta thèm day dứt, tôn thờ. Chuyện tình T.T.Kh. với mấy bài thơ oan trái xuất hiện từ năm 1937, đã trở thành huyền thoại sử thi, góp phần không nhỏ vào sự hình thành nền thơ mới của một thời đại cần đổi mới thơ văn là một thí dụ”.

 

Đây là lần đầu tiên tôi không đồng ý với Tác giả Nguyễn Thạch Kiên. Câu chuyện mấy bài thơ ký tên T.T.Kh. đã trải qua hơn 70 năm qua, thế mà vẫn có nhiều người tin rằng có một thiếu nữ đã làm mấy bài thơ ai oán như vậy. Tôi đã vào nghề cầm bút gần nửa thế kỷ qua, nên biết rất rõ khá nhiều người đàn ông làm báo đã núp dưới tên phụ nữ để giải đáp tâm tình hoặc phụ trách mục thơ văn nào đó. Trường hợp báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội cuối thập niên 1930 đã “câu” độc giả bằng huyền thoại nàng T.T.Kh. cũng là chuyện thuờng tình xảy ra trong làng báo Việt Nam xưa và nay.

 

Ngay từ năm 1961, khi bắt đầu mưu sinh bằng ngòi bút, tôi đã thắc mắc về “người thơ T.T.Kh.”. Chỉ cần đọc một bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn”, tôi đã nghĩ rằng không thể một cô gái 17 tuổi vào thời xa xưa đó lại có thể sáng tác được 1 bài thơ với ngôn từ khá già dặn như vậy. Người làm bài này phải là một thi nhân đã từng biết làm thơ trước đó.

 

Nếu người nào suy nghĩ sâu một chút và phân tích từng chữ nơi các câu thơ trong 3 bài thơ đề tên T.T.Kh. nêu trên, sẽ nhận thấy được dòng thơ đó không thể sáng tác bởi một cô gái chưa đậu Tiểu Học ở thời điểm xa xưa ấy. Xin mời quý vị đọc vài đoạn thơ sau đây coi sao:

 

- Từ đấy, thu rồi thu lại thu,

Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

“Người ấy”... Cho nên vẫn hững hờ...

- Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,

Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi.

Và từng thu chết từng thu chết,

Vẫn giấu trong tim bóng một người...

- Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

Trời ơi! Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

 

Hoặc chữ “HỪ” rất ít người con gái xử dụng trong thơ văn, ở “Bài Thơ Cuối Cùng” đề tên T.T.Kh., nguyên văn như sau:

 

Từ đây anh hãy bán thơ anh,

Còn để riêng tôi với một mình.

Những cánh hoa lòng... Hừ, đã ghét,

Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

 

Và ngày nay, đúng là họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình tức thi sĩ Thâm Tâm (tác giả bài Tống Biệt Hành) sáng tác mấy bài thơ đó đề tên Trần Thị Khánh hay Thâm Tâm Khánh (T.T.Kh.) để che dấu nỗi đau nhục bị cô Khánh bỏ rơi.

Bây giờ thì đàn anh văn nghệ của tôi, Tác giả Nguyễn Thạch Kiên đã về miền vĩnh cửu. Tôi xin cám ơn ông đã lưu lại cho hậu thế một số tài liệu văn học cần thiết, để những nguời tìm hiểu nền văn học nghệ thuật Việt Nam được biết rằng “Huyền thoại T.T.Kh” chỉ là một trò chơi chữ nghĩa bởi một số người cầm bút dối gian hoặc thiếu vương đạo!

                                                       ***

Ngày 19 tháng 12 năm 2008, tôi về thăm bằng hữu tại Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, Bắc California). Buổi tối đó, tôi được một số Thân Hữu đãi một bữa cơm thân mật, tại nhà hàng Cao Nguyên (đối diện khu thương mại Lion Plaza). Tôi thật sự xúc động gặp gỡ một số nhân vật tên tuổi trong bàn tiệc, gồm: quý thi sĩ Hà Thượng Nhân, Trường Giang (thi văn đoàn Bốn Phương), Đông Anh Nguyễn Đình Tạo & Chinh Nguyên (Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt); quý nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, Phạm Mạnh Đạt; cựu Đại Tá Lương Văn Ngọ (Trung Tâm Trưởng Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ); nhà báo Duy Văn (chủ nhiệm tuần báo Đời Mới); giáo sư Nguyễn Hùng Tâm (Thứ Nam của cố chủ nhân nhà sách Khai Trí, Saigon ngày cũ).

 

Một số văn nghệ sĩ hội ngộ tại Thung Lũng Hoa Vàng trung tuần tháng 12/2008. Hình từ trái qua phải: (Ngồi) Quý cụ Trường Giang, Hà Thượng Nhân & Vũ Đức Nghiêm; (Đứng) Quý ông Chinh Nguyên, Phạm Mạnh Đạt, Nguyễn Hùng Tâm, Duy Văn, Quốc Nam, Lương Văn Ngọ & Đông Anh.

 

Sáng hôm sau, ngày 20/12, tôi dùng điểm tâm với nhà văn nhà thơ Hồ Linh, nhà báo lão thành Sao Biển, nhà thơ Hoàng Ngọc Văn và nhà hoạt động cộng đồng Nguyễn Hữu Lộc (Trưởng Ban Sáng Lập Đại Hội Hoa Hậu Áo Dài Long Beach, CA).

 

Hầu hết quý vị nêu trên đều sẵn lòng hỗ trợ Đông-Phương Foundation sẽ tổ chức một chương trình thơ nhạc đặc biệt tại miền Bắc California, để đánh dấu “30 năm Thung Lũng Hoa Vàng” (nhất là Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và Hội Từ Thiện Sóng Tình Thương của ông Nguyễn Hữu Lộc). Bởi tôi là người đã tình cờ gọi mỹ danh “Thung Lũng Hoa Vàng” cho thành phố San Jose (Silicon Valley) từ năm 1979.

 

Tưởng nên nhắc lại, trong bài Tạp Ghi Cuối Năm 2008, tôi nhắc tới 9 nhân vật thân thiết tôi đã khuất bóng trong 1 thập niên qua. Thực ra, nếu chính xác, thì 11 nhân vật văn hóa hoặc chính trị quen thân Quốc-Nam đã bỏ tôi ra đi trong thời gian qua, gồm: quý thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan, Hoàng Anh Tuấn, Duy Năng, Phan Lạc Giang Đông, Phương Triều; quý nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng, Nguyễn Hiền; nhà cách mạng Hà Thúc Ký (Đại Việt Cách Mạng Đảng); học giả/giáo sư Vũ Ký; họa sĩ Choé Nguyễn Hải Chí; nhà văn/nhà thơ Nguyễn Thạch Kiên.

 

Nhóm Đông-Phương chúng tôi trang trọng tạ ơn quý Ngài, và nguyện cầu Ơn Trên ban cho quý Ngài được thảnh thơi trên cõi vĩnh hằng. Bởi chính quý Ngài đã khích lệ và tặng tôi một mớ hành trang lên đường, tiếp tay làm rạng danh nền văn hóa Việt-Tộc đối với năm châu bốn biển.

 

Kính xin Ơn Trên phù hộ chúng ta và cho ngôn ngữ Việt bất diệt trong bất cứ nghịch cảnh nào.

 

QUỐC NAM

(Tháng 2/2009)

 

 

Saturday, May 26, 2012

Khoán 10 và bài học cho chúng ta hôm nay

Khoán 10 và bài học cho chúng ta hôm nay

KS Nguyễn Văn Thạnh

Khoán 10

Sau năm 1954 và năm 1975 với niềm tin kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước sẽ tốt đẹp, không còn nạn người bóc lột người, sẽ có quan hệ sản xuất tiên tiến, sẽ thúc đẩy sản xuất… chúng ta đã thực hiện mô hình hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp: ruộng đất là của chung, sở hữu của toàn dân, của hợp tác xã, nhà nước cử các ban chủ nhiệm hợp tác xã để chăm lo sản xuất. Kế hoạch là sẽ có các cánh đồng ngàn mẫu, sẽ cơ giới hóa: cày bừa bằng máy kéo, phun thuốc sâu bằng máy bay… như mơ ước của các vị lãnh đạo.

Tuy nhiên qui luật tự nhiên của kinh tế, của sở hữu không đúng như vậy, hợp tác xã tàn tạ, đói nghèo, nông nghiệp bết bát… Cuối cùng, lối thoát là trả lại ruộng đất cho nông dân, để họ tự quyết sản xuất (Khoán 10). Điều kỳ diệu đã đến: từ thiếu đói, chúng ta đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo.

Điều gì sẽ xảy ra nếu lúc đó chúng ta không trả lại ruộng cho nông dân mà “cổ phần hóa”, buôn bán đất? Chắc chắn đất sẽ rơi vào tay một nhóm người có tiền, cấu kết quyền lực mua rẻ và nông dân vẫn trắng tay, đói kém sẽ theo ta đến ngày nay.

Nền kinh tế chúng ta hôm nay cũng vậy: nhiều, nhiều nhà máy, hầm mỏ, công ty, xí nghiệp… đang là của nhà nước. Doanh nghiệp quốc doanh, như hợp tác xã xưa kia, làm ăn không hiệu quả, tham nhũng, lãng phí, nợ nần đầm đìa cả hàng trăm ngàn tỷ đồng như Vinashin, Vinalines, EVN… tất yếu chúng ta cũng phải xử lý như hợp tác xã, chỉ khác là chúng ta cổ phần, bán…

Bài học từ Nga

Khi Liên Xô sụp đổ, tất yếu phải tư nhân hóa. Bằng ảo thuật vay mượn qua ngân hàng và cấu kết với chính quyền, một lớp người đã đoạt hết tài sản, trở thành tỷ phú sau một đêm – một sự cướp đoạt hợp pháp. Tỷ phú Roman Abramovich là một minh chứng.

Với tài sản khổng lồ, ông có thể vung hàng tấn tiền cho bóng đá, cho du thuyền, cho máy bay, gái đẹp… sống sung sướng như một ông hoàng trong khi đó hàng triệu dân Nga lao động cực khổ, sống như nô lệ trên chính quê hương mình.

Đau đớn thay tầng lớp đó đã đăng ký quốc tịch nước ngoài, mặt nhiên tài sản được hợp pháp, được luật pháp quốc tế bảo vệ.

Khi tài sản quốc gia nằm trong tay một nhóm nhỏ người thì dù có đa đảng, có bầu cử thì dân chủ cũng không đến với người Nga, người Nga cũng không thể giàu có, tự do, thịnh vượng . Đó là lý do vì sao nhiều người cho rằng đa đảng cũng không giải quyết được gì, và lo rằng trong điều kiện này nhiều khi đa đảng tranh giành quyền lợi càng làm cho đất nước rối ren thêm.

Bài học nào cho chúng ta hiện nay?

Việt Nam chúng ta cũng đang trong tiến trình như hậu Liên Xô cách đây 20 năm. Chúng ta đang chứng kiến một tất yếu là nền kinh tế đang suy sụp, hàng trăm ngàn tỷ nợ nần do các công ty tập đoàn nhà nước gây ra, sớm muộn cũng phải tư nhân hóa (hay còn gọi là cổ phần hóa), rồi một nhóm người sẽ mua được giá rất rẻ (cả người ngoại quốc), một tầng lớp siêu tỷ phú sẽ xuất hiện, phần lớn nhân dân vẫn khốn khổ, lầm than. Hàng triệu người VN rồi sẽ làm nô lệ trên chính quê hương mình.

Những con dân đất Việt, làm sao chúng ta tránh được tình trạng trên để xây dựng một đất nước phồn vinh, ai cũng có cuộc sống sung túc, hạnh phúc?

Như bài học từ Khoán 10, ruộng đất của dân trả lại cho dân, tài sản của dân hãy trả lại cho dân:  tài sản nhà máy, hầm mỏ được trao cho công nhân; bệnh viện được trao cho bác sĩ, chợ búa được trao cho tiểu thương, đất đai trao lại cho nông dân… Đây là tiền của của nhân dân, hãy trả lại cho họ trước khi bị cướp đoạt hợp pháp bởi các nhóm tài phiệt.

Dân có tài sản dân mới có quyền (dân chủ), cũng vì tài sản mà dân mới có động lực lên tiếng, khi đó nền dân chủ, nhà nước pháp quyền mới có thực, mới bảo đảm, đất nước mới phồn vinh.

Lời giải đang chờ chúng ta.

Hãy hành động để giữ lấy tài sản, của Caesar phải trả lại cho Caesar, tài sản của nhân dân phải trả lại cho nhân dân! Nhân dân ViệtNam hãy lên tiếng, hãy hành động giành lại tài sản, nguồn sống cho mình, cho dân tộc, cho đất nước!

N.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link