
Một số hình ảnh Saigon khoảng thời gian 1967-1968.
Thời cơ một cuộc cách mạng
Iris Vinh Hayes
(Nguyễn Trung Chính)
-
Nhân đọc bài “Việt Nam Nhất Định Có Cách Mạng Sớm Nếu…” của tác giả Nguyễn Ngọc Già, và vì tin rằng đây là một chủ để quan trọng, nên xin được phép gởi đến quý vị một bài viết trước đây.
Theo các nhà khoa học xã hội đã từng nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới quần chúng có đông đảo xuống đường làm thành một biển người đối kháng với bộ máy cầm quyền độc tài hay không sẽ tùy thuộc vào một yếu tố duy nhất: cảm nhận của quần chúng về khả năng thành công của một cuộc cách mạng. Cảm nhận đó của quần chúng lại tùy thuộc vào ảnh hưởng của những xung động lực đến từ 3 tác nhân: nhà cầm quyền, lực lượng đối kháng, và quần chúng.
Về phía nhà cầm quyền độc tài chuyên chế thì lúc nào họ cũng (a) tỏ rõ thái độ không bao giờ tự động rời bỏ hoặc chuyển giao quyền lực; (b) sẵn sàng sử dụng bộ máy cầm quyền để đè bẹp các thế lực đối kháng; (c) ngăn chận thông tin đến từ phía đối kháng; (d) ép nhẹm những thông tin bất lợi cho bộ máy cầm quyền; (e) tuyên truyền ồ ạt với thông tin một chiều để thuyết phục quần chúng rằng nhà cầm quyền đất nước rất được quần chúng tín nhiệm, rất có chính nghĩa và rất vững chắc; (f) tung hỏa mù bằng cách đưa ra những sự kiện/vấn đề nóng nhằm làm cho quần chúng và những người đối kháng với bộ máy cầm quyền bị lạc đường, mất định hướng, phân tán lực lượng, hoài nghi lẫn nhau, bị cuốn hút vào những hứa hẹn hay mục tiêu nhảm nhí, có ảo tưởng rằng bộ máy cầm quyền sẽ tự sửa sai và làm tốt hơn; (g) dựng lên một kẻ ngoại thù để khơi dậy lòng yêu nước, để răn đe là sẽ bị mất nước nếu không hợp tác với nhà cầm quyền, hoặc để trấn áp với lý do vì an ninh quốc gia.
Ở một mặt khác thì nhà cầm quyền độc tài lại rất bất an: (a) vì biết rằng đại đa số quần chúng sẽ không bao giờ công khai ý nghĩ chống đối của mình để cho nhà cầm quyền biết, bộ máy cầm quyền càng độc tài chuyên chế thì dân càng giỏi che dấu, cho nên khó biết dân thực sự đang nghĩ gì và sẽ làm gì nếu có cơ hội; (b) vì không biết quần chúng tin ai hơn, tin vào tiếng nói của nhà cầm quyền hay tin vào tiếng nói của thành phần đối kháng; (c) vì không biết giữa “tâm trạng của quần chúng” với “suy đoán của nhà cầm quyền về tâm trạng của quần chúng” có khoảng cách bao xa và khoảng cách đó có đủ để kích nổ một cuộc cách mạng hay không; (d) vì nếu có cuộc cách mạng nổ ra không biết là bộ máy cầm quyền có chịu nổi áp lực và có khả năng sống còn hay không; và (e) vì khi đã có một cuộc cách mạng nổ ra thì nhà cầm quyền sẽ có hai sự chọn lựa là (e1) nhường nhịn và đáp ứng phần nào yêu sách của quần chúng hoặc là (e2) thẳng tay đánh dẹp nhưng, khổ nạn là, cả hai sự chọn lựa đều có khả năng làm cho quần chúng quyết tâm hơn trong việc giải thể chế độ độc tài.
Về phía đối kháng với nhà cầm quyền thì họ (a) chủ tâm thu thập thông tin, nhất là thông tin mật từ phía nội bộ nhà cầm quyền, nên có nhiều thông tin hơn quần chúng; (b) biết rõ về bản chất, thực chất, và những vấn nạn của bộ máy cầm quyền hơn là quần chúng; (c) cố gắng thuyết phục quần chúng rằng một cuộc cách mạng đổi mới đất nước là cần thiết; (d) cố gắng thuyết phục quần chúng rằng một cuộc cách mạng đổi mới sẽ có nhiều cơ hội thành công; và (e) kêu gọi quần chúng hành động. Những người đối kháng chỉ ra mặt khi (1) tin rằng quần chúng sẽ nghe theo và (2) tin rằng có thể giật sập được bộ máy cầm quyền.
Khả năng quần chúng có nghe theo lời kêu gọi hay không tùy thuộc vào uy tín của lực lượng đối kháng. Ở trong môi trường dễ xuống đường thì lời kêu gọi của lực lượng đối kháng khó thuyết phục quần chúng rằng nhà cầm quyền đang yếu thế. Tuy nhiên, môi trường như vậy sẽ dễ khuyến khích lực lượng đối kháng xuống đường hơn vì ít nguy hiểm hơn. Ngược lại ở trong môi trường càng khó xuống đường chừng nào thì lời kêu gọi của lực lượng đối kháng càng có uy tín đối với quần chúng. Khả năng trừng trị của nhà cầm quyền càng mạnh chừng nào thì sự kêu gọi của lực lượng đối kháng càng có uy tín chừng ấy đối với quần chúng, vì quần chúng tin rằng đó là dấu hiệu cho thấy nhà cầm quyền đã suy yếu rồi nên những nhà đối kháng mới dám ra mặt. Dấu hiệu “nhà cầm quyền đã suy yếu” khuyến khích sự tham dự của quần chúng
Thông thường thì thành phần đối kháng với nhà cầm quyền sẽ “trốn kín” cho đến khi họ thấy có cơ hội thành công mới ra mặt đối kháng và kêu gọi quần chúng xuống đường làm một cuộc cách mạng đổi mới. Đặc biệt là những người đối kháng nằm bên trong hệ thống cầm quyền, những người một thời đã từng là công thần cao cấp của chế độ. Họ có rất nhiều thông tin về sự rạn nứt bên trong và thấy rõ cái bệ rạc của hệ thống cầm quyền. Sự đánh giá của họ về tình hình sẽ chính xác hơn là những người quan sát từ bên ngoài. Theo đó, ước tính của họ về thời điểm hành động cũng đáng tin cậy hơn. Vì thành phần đối kháng với nhà cầm quyền độc tài luôn bị đe dọa bởi hiểm họa ở cấp độ cao nhất cho nên họ phải “trốn kín” là điều đương nhiên. Nhưng một khi họ đã dám ra mặt chống đối nhà cầm quyền thì quần chúng có thể nhận ra là thời cơ đã tới và rất có thể sẽ đáp ứng lời kêu gọi xuống đường làm một cuộc cách mạng đổi mới đất nước.
Về phía quần chúng, họ tiếp cận thông tin từ cả hai phía, phía nhà cầm quyền và phía đối kháng, rồi dùng thông tin đó để ước đoán tình hình và làm quyết định. Thông tin từ phía đối kháng thì cố gắng thuyết phục quần chúng đứng lên chống nhà cầm quyền còn phía nhà cầm quyền thì làm ngược lại. Dưới một bộ máy cai trị độc tài, quần chúng ít được tiếp cận với thông tin trung thực và càng khó tiếp cận với thông tin đối kháng. Do đó, kết quả là đại đa số quần chúng sẽ có khuynh hướng thờ ơ.
Nếu như phía đối kháng có giỏi đưa thông tin đến quần chúng, nếu như quần chúng có thể liên tục tiếp cận thông tin đối kháng, và nếu như thông tin đối kháng thuyết phục được quần chúng rằng một cuộc cách mạng đổi mới là cần thiết…thì quần chúng sẽ ấp ủ giấc mơ đổi mới và giữ kín trong lòng chờ cơ hội. Nhưng quần chúng sẽ không hành động nếu như họ không nhìn thấy khả năng thành công. Họ phải nhìn thấy dấu hiệu “nội bộ nhà cầm quyền đang bị rạn nứt, rớt vào khủng hoảng, sắp bị sụp đổ.” Họ phải nhìn thấy “chính quyền đã suy yếu.” Họ phải nhìn thấy “có một lực lượng đối kháng có thực lực” đang đứng sau lưng quần chúng vận động lật đổ nhà cầm quyền. Quần chúng có được những cái “thấy” như vậy thì mới hy vọng họ chịu xuống đường, mới dám biến giấc mơ đổi mới đã ấp ủ và giữ kín trong lòng thành hành động cụ thể.
Sự thật là: quần chúng không biết được sức mạnh thực sự của nhà cầm quyền, vì thông tin này chỉ đến từ biến cố thật. Hay nói một cách khác là, quần chúng chỉ thực sự biết nhà cầm quyền có sức mạnh tới đâu sau khi đã có một cách mạng nổ ra. Sự thật là: nhà cầm quyền độc tài cũng không biết được sức mạnh thực sự của quần chúng, vì thông tin chỉ đến từ biến cố thật. Hay nói một cách khác là nhà cầm quyền thực sự biết quần chúng có đủ sức mạnh để giải thể đổ chế độ độc tài hay không chỉ sau khi đã có một cách mạng nổ ra. Biến cố thật là cái giá rất cao, cho cả hai phía, để có được thông tin này. Vắng mặt “biến cố thật” để sự thật tự phơi bày thì chỉ còn lại “sự thật theo cảm nhận” tác động lên cán cân chính trị. Cán cân nghiêng về phía nhà cầm quyền độc tài hay nghiêng về phía lực lượng đối kháng sẽ tùy thuộc vào sự cảm nhận của quần chúng. Do đó, tận dụng thông tin để gây ấn tượng “như thật” là một cuộc chiến tiền biến cố. Muốn quần chúng xuống đường, phía đối kháng phải thắng trận chiến thông tin tiền biến cố, phải tạo ấn tượng “như thật.”
Một cuộc cách mạng chỉ có thể xảy ra khi có đủ hai điều kiện: (1) quần chúng phải tin là cần phải có một cuộc cách mạng đổi mới và đáng để tham gia và (2) phải có một lực lượng đối kháng đứng ra điều hợp, thúc đẩy và hướng dẫn cuộc cách mạng. Không có niềm tin vào một cuộc cách mạng đổi mới và không có một lực lượng đối kháng làm dung môi cho một cuộc cách mạng thì quần chúng khó có thể tự phát thành biển người đối kháng.
Những cuộc cách mạng mới đây được báo chí nhận xét là những cuộc cách mạng tự phát và không có lãnh tụ. Cụm chữ “một cuộc cách mạng tự phát” không đồng nghĩa với “không có một lực lượng đối kháng làm dung môi cho cuộc cách mạng” và “cuộc cách mạng không lãnh tụ” không đồng nghĩa với “không có một lực lượng đối kháng đứng trong bóng tối hay đứng sau lưng quần chúng để vạch kế hoạch và điều hợp chương trình hành động.” Điều này có nghĩa là, nói thế nào thì nói nhưng trên thực tế thì vai trò của một lực lượng đối kháng trong tiến trình dẫn đến một cuộc cách mạng khẳng định là không thể thiếu.
Nhìn vào tình hình của Việt Nam, người ta có thể hiểu được tại sao đại đa số quần chúng tỏ vẽ thờ ơ trước thời cuộc. Dân chúng Việt Nam không hèn nhát cũng không thiếu tinh thần trách nhiệm như một số người đã nhận xét. Nó chỉ đúng với những gì quan sát được trên bề mặt. Nhà cầm quyền độc tài “khoái” cách nhìn này vì họ muốn mọi người tin là như vậy để tự từ bỏ hy vọng sẽ có một cuộc cách mạng đổi mới đất nước. Thật ra, sự thờ ơ của quần chúng trong một đất nước đang nằm dưới sự khống chế của một bộ máy độc tài toàn trị cho người ta thấy được hai vấn đề cực kỳ quan trọng, có thể nói đó là hai điều kiện đang làm “đông lạnh” sức mạnh của quần chúng. Đó là (1) đại đa số quần chúng chưa tiếp cận được hoặc chưa tiếp cận đủ thông tin từ phía đối đối kháng, do đó, chưa cảm nhận được sự cần thiết của một cuộc cách mạng đổi mới đất nước; hoặc/và (2) đại đa số quần chúng chưa thấy những dấu hiệu và do đó chưa cảm nhận được khả năng thành công của một cuộc cách mạng.
Điều kiện thứ nhất tuy là đang làm đông lạnh quần chúng nhưng, sau khi đã nhìn thấy, thì chính nó lại là một cơ hội lớn để cho lực lượng đối kháng hoạch định một chiến sách khác tích cực hơn để “làm tan đông lạnh” thúc đẩy một cuộc cách mạng đổi mới đất nước. Chiến sách đó có thể là tạo điều kiện để quần chúng tiếp cận thông tin đối kháng một cách sâu rộng hơn và liên tục bằng cách tích cực ĐẨY thông tin đến tay quần chúng thay vì chờ quần chúng tự KÉO thông tin một cách nhỏ giọt từ những nguồn không được tự do tiếp cận như tình trạng hiện tại.
Chỉ trông cậy vào những cơ quan truyền thông để thực hiện chiến sách này thì chưa đủ. Muốn làm được công việc này cần có sự sáng tạo, có phương án tốt và có sự tham gia đông đảo của cá nhân. Và cá nhân không phải chỉ đơn thuần là tham gia truyền tải thông tin mà là tham gia vào cuộc chiến thông tin để giải phóng đất nước khỏi ách độc tài toàn trị. Mỗi một cá nhân đủ sức để biến một hạch nhân thành lực lượng lớn. Một que diêm không cho đủ lửa nhưng hàng triệu que diêm có thể làm tan cả Bắc Băng Dương. Phải thắng “cuộc chiến thông tin tiền biến cố” thì lực lượng đối kháng mới có hy vọng động viên được quần chúng xuống đường làm một cuộc cách mạng đổi mới đất nước.
Một chiến sách tích cực hơn cho một cuộc chiến thông tin tiền biến cố thôi cũng chưa đủ. Cần phải có một lực lượng đối kháng có thực lực. Không có một lực lượng đối kháng đủ thực lực đứng ra vận động, quần chúng khó có thể cảm nhận được khả năng thành công của một cuộc cách mạng. Hai học giả Jack A. Goldstone và John Hazel cũng đồng ý về điểm này. Hai ông nói, trong bài viết Understanding the Revolutions of 2011, một cuộc cách mạng có thể thành công cần phải hội đủ một số yếu tố. Thứ nhất, quần chúng phải nhìn thấy chính quyền là một đại họa cho tương lai của đất nước. Thứ hai, công thần cao cấp của chế độ, đặc biệt là trong quân đội, đang bất mãn hoặc không còn muốn chống đỡ cho chế độ nữa. Thứ ba, một đám đông quần chúng kết hợp diện rộng (tham dự của mọi giai tầng, mọi tôn giáo, mọi sắc tộc) phải được “ai đó” động viên để xuống đường đối kháng với chính quyền. Và, sau cùng là những quyền lực quốc tế sẽ không nhúng tay trợ giúp cho nhà cầm quyền độc tài (nếu được họ đứng ra bênh vực quần chúng thì càng tốt).
Với hiện tình của đất nước, thành lập một liên minh tôn giáo và một công đoàn lao động đại diện cho công nhân có lẽ là con đường nhanh nhất để có được “ai đó” đứng ra vận động quần chúng. Một liên minh tôn giáo và một công đoàn lao động cũng sẽ cho lợi thế và cơ hội nhiều nhất trong vai trò là lực lượng đối kháng để quần chúng cảm nhận được khả năng thành công của một cuộc cách mạng đấu tranh bất bạo động. Một công đoàn lao động cần có sự tham gia của các luật sư và chuyên gia am tường về nhân sự và luật lao động, đang làm việc trong quốc nội và tại hải ngoại, để hướng dẫn công nhân đấu tranh. Một liên minh tôn giáo đã từng được hình thành trong quá khứ đấu tranh của đất nước. Hình thành một liên minh tôn giáo cho nhu cầu khẩn thiết của đất nước ngày hôm nay không phải là một khái niệm lạ và cũng không phải là việc khó thực hiện.
Iris Vinh Hayes (Nguyễn Trung Chính).
Hậu Quả Của Việc Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đông Dương
Giáo sư Robert F. Turner
Trung tâm an Ninh Luật Pháp Quốc Gia
Đại Học Luật Khoa Virginia & Học Viện Hải Quân.
(Trích trong “những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam)
Tôi là một sinh viên trong số tương đối ít ỏi đã thực tin rằng việc chống Cộng sản xâm lược là việc đúng của Hoa kỳ ở Việt Nam, Lào, Cambodia là đúng.
Tôi lần đầu đến Việt Nam trong một giai đoạn ngắn khi là phóng viên năm 1968, rồi quay về đi lính, bắt đầu chức vụ Trung úy rồi sau lên Đại úy rồi trở lại đó hai lần làm việc tại một bộ phận của toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, là Văn phòng Nghiên cứu về Bắc Việt và Việt Cộng. Tôi có cơ hội được đi tới nhiều địa phận tại Việt nam, khoảng 44 tỉnh thành, có chỗ chỉ đi ngang qua. Tôi được qua Lào, Cambodia. Sau khi giải ngũ tôi gia nhập Hoover Institution, tôi đã viết cuốn sử quan trọng đầu tiên bằng tiếng Mỹ về “Cộng sản Việt Nam” .
Trong hơn hai chục năm, tôi đã có nhiều khóa giảng dạy tại viện Đại học Virginia về Chiến tranh Việt Nam. Vì thời giờ có hạn, tôi phải nói ngắn, nhưng trước khi đề cập tới chủ điểm của bải thuyết trình, tôi xin có thêm một lời cảnh báo, nhất là với các khán thính giả trẻ tuổi.
Rằng đa số lập luận “sáng suốt phổ biến” của người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam thật ra lại không đúng. Rất đáng tiếc rằng điều ấy có nghĩa là đa số những gì được giảng dạy tại cấp trung và đại học lại gần với thần thoại hơn là lịch sử. Tôi chi xin đơn cử hai thí dụ, hai thí dụ quan trọng:
1- Ngày nay, chúng ta được nghe rằng cuộc chiến Việt Nam là “bất khả thắng”. Chúng ta đứng sai chỗ. Tôi xin được góp tiếng bên cạnh nhiều sử gia thuộc loại xuất sắc nhất ngày nay khi nêu lập luận ngược rằng chúng ta không chỉ hy vọng thắng mà thực tế đã thắng vào đầu thập niên 1970. (Và khi nói “chúng ta”, tôi không nghĩ rằng đấy là Quân lực Hoa Kỳ mà là nỗ lực chung của hai quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ cùng với người dân miền Nam).
2- Chuyện gì đã xảy ra? Khi tôi tuyên bố là có thể thắng. Tôi xin đưa câu nói của người bạn thân Douglas Pike: ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đổi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, ông Pike nói rằng: Tôi tin rằng chúng tôi có thể đã thắng cuộc chiến Việt Nam. Tôi tin rằng trong tương lai lịch sử sẽ nói rằng chúng ta đã thắng. Đó là sự thật.
Một số thí dụ sau đây sẽ chứng minh.
Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004 do Giáo sư John Lewis Gaddis Khoa trưởng Americạn Diplomatic Historians nói rằng: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định.
Nhưng quốc hội với áp lực của “Phong trào Hòa Bình” đã thông qua dự luật vào tháng năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng Thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng “Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la”. Đó là sự thật. Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là, Việt Nam không có đạn, không có xăng. không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe. Ngay sau khi sơ tán từ Việt Nam về tới Mỹ, tôi gặp Nghị sĩ Ted Kennedy tại Thượng Nghị Viện. Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông ấy khi trở về Mỹ. Ông ấy đứng cách tôi khoảng 3 mét. Tôi cung tay phải lên và tự nhủ: “mình phải cho nó biết tay, phải đấm gục hắn ta và nói cho thế giới biết rằng chúng tôi vừa mới phản bội chính danh dự của mình và bỏ rơi những người đáng yêu.”
Nhưng tôi đã tự cản bản thân mình vì làm vậy sẽ ảnh hưởng đến cương vị Nghị sĩ của tôi và Ted Kennedy sẽ trở thành người hùng. Không phải là việc làm đúng đắn nhưng đôi lúc tôi nghĩ là mình đã bỏ rơi cơ hội ấy.
Sau khi Quốc Hội cắt hết viện trợ cho Việt Nam, Trung cộng gia tăng viện trợ cho Hà Nội. Phạm Văn Đồng nói rằng: “Được cho kẹo tụi nó cũng không dám quay lại”. Đó là lý do của sự thất bại tại chiến trường Việt Nam.
Quân nhân Mỹ, QLVNCH, và miền Nam Việt Nam không bị bại trận, mà thua vì cái gọi là “tự do” của Quốc hội Hoa Kỳ.
Điềm thứ 2 tôi muốn đưa lên là: Việt Nam rất quan trọng. Họ cho rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến “phi lý” tiến hành không lý do chính đáng, do hiểu lầm về vụ đụng độ không đáng kể ở Vịnh Bắc Bộ. Thật sự là ngớ ngẩn.
Tôi đã viết 450 trang trình bày trong luận án đạt giải danh dự năm 1966. Tôi đã ghi lại vào tháng Năm 1975 đảng Lao động của Cộng sản Việt Nam đã quyết định từ Tháng Năm năm 1959 là mở ra đường mòn Hổ Chí Minh và gửi vào Nam nhiều ngàn lính và vô số chiến cụ với mục đích lật đổ chính phủ trong Nam. Đây là hành động xâm lược quốc tế và vi phạm Hiên chương Liên hiệp quốc. Hoa Kỳ tham chiền để giúp người dân miền Nam tự vệ vì cùng một lý do như việc chúng ta tham chiến tại Cao Ly, nhằm bảo vệ tự do của con người và thực thi việc chống xâm lược đã được ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc.
Trong cuốn sách “Cộng sản Việt Nam” xuất bản năm 1975, Hà Nội đã nhiều lần xác nhận sự thực đó từ Tháng Năm năm 1959 ngay ngày sinh nhật Hồ Chí Minh. 10 năm trước, chúng tôi đã thảo luận tại Đại học Luật Virginia về vấn đề hợp pháp này. Luật quốc tế và Hiến chương Liên hiệp. Không thể thảo luận nối vì Hà Nội lập luận rằng đó là nội chiến trong miền Nam VN v.v... hãy bỏ qua 1 số điểm vì thời gian có hạn.
Tôi nêu lên hậu quả của việc bỏ rơi VN.
Tôi có thể nói hoài về việc người Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tôi là người đứng ngay trong trận khi Quốc Hội biểu quyết không giúp đỡ Angola vì sự xâm lăng của Xô Viết. Kết quả nạn nhân bị tử vong ở đấy được ước lượng là không dưới trăm ngàn người.
Đến việc Liên Xô xâm chiếm Afghanistan khiến cả triệu người chết. Sẽ không xảy ra nếu chúng ta không rút lui.
Và lần đầu tiên trong sáu chục năm, Moscow bảo với tay sai của họ ở Mỹ châu La Tinh rằng tiến hành “đấu tranh võ trang” để cướp chính quyền thì cũng được, từ đấy mới xảy ra nội chiến tại El Salvador, Nicaragua, Honduras, Guatemala, Costa Rica và các nước khác trong vùng. Vô số người lại thiệt mạng vì chuyện đó. Một số lớn súng M16 tịch thu được từ quân phiến loạn El Salvador, căn cứ theo số xê ri là súng bỏ lại tại chiến tranh VN của quân đội Mỹ. Hà Nội đã cung cấp cùng với Xô Viết qua đường Cuba rồi đưa lậu qua El Salvador.
Cho những người nói chiến tranh VN là phi lý. Họ đã sai.
Nhưng hôm nay tôi không muốn tập trung về các vấn đề dù rất quan trọng là đia dư chiến lược. Tôi muốn nói về hậu quả của quyết đinh của Hoa Kỳ đối với con người.
“Phong trào hòa bình” - của phe phản chiến - trấn an chúng ta rằng Hoa Kỳ chỉ lần rút quân và chấm dứt chiến tranh thì mình sẽ phát huy “nhân quyền” và “ngăn nạn tàn sát”. Tôi rất ngại nói về những gì xảy ra tại Việt Nam sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, vì trong hội trường này và tại khu “Little Sàigon” có nhiều người đã trực tiếp nếm mùi và biết rõ hơn những gì mà mọi “học giả” Mỹ có thể muốn biết. Nhưng có một số sự thật thì đã rõ ràng.
Hãy trước tiên nói về nhân quyền. Tháng Tư năm 1975, khi sự chiến thắng của Cộng sản đã thành hiển nhiên cho mọi người, Đệ nhất Bí thư đảng Lao Động là Lê Duẩn đã tuyên bố rằng: sau khi “giải phóng” Miền Nam, chúng ta sẽ biến nhà tù thành trường học”. Tới Tháng 10 năm 1978, nhật báo Times đầy uy tín tại Luân Đôn đã báo cáo sự thật: Cộng sản Việt Nam đã biến nhà trường và cô nhi viện thành nhà tù vì họ có quá nhiều tù nhân.
Điều 11 của Hiệp định Paris ký kết năm 1973 cấm “mọi hành vi trả thù hay kỳ thị các cá nhân hay tổ chức đã hợp tác với một phe bên này hay bên kia”, và còn rõ ràng bảo đảm quyền tự do báo chí, tôn giáo, tự do sinh hoạt chính trị và một loạt những quyền thiêng liêng khác. Vậy mà Tháng Năm năm 1977, tờ Quân đội Nhân dân công khai thông báo “triệt để cấm mọi hành vi chống lại chế độ và tước hết mọi quyền tự do của những kẻ không tin vào xã hội chủ nghĩa”. Bài báo tuyên bố: “Với bọn phản cách mạng... nhân dân ta dứt khoát xoá bỏ quyền tự do ngôn luận và trừng phạt đích đáng”.
Sau đó, một dân biểu duy nhất của Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa được phép tham gia cái gọi là “Quốc hội Thống nhất” đã tuyên bố: Chế độ mới cai tri bằng bạo lực và khủng bố. Không có tự do di chuyển hay lập hội; không có tự do báo chí hay tự do tôn giáo hay... cả quyền tự do có ý kiến riêng... Sự sợ hãi tràn ngập khắp nơi”
QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ
Tháng Chín năm 1970, Trưởng phòng Sài Gòn của tờ Christian Science Monitor là Daniel Sutherland - ông bạn của tôi vào thời ấy - có viết một bài dài về “quyền tự do báo chí” trong Nam. Ông viết: “Dưới bộ luật báo chí mới, Miền Nam bây giờ có một nền báo chí thuộc loại tự do nhất Đông Nam Á...”. Tôi tin chắc rằng mình không là người duy nhất trong hội trường này có thề xác nhận điều ấy. Riêng Sài Gòn thì đã có hơn ba chục tờ báo, và nhiều tờ trong số đó kịch liệt chống chính phủ.
Dĩ nhiên là để thu thập dữ kiện về quyền tụ do ấy, tôi thường cầm máy ảnh lang thang trong Sài Gòn vào những chiều Chủ Nhật được nghỉ. Tôi thấy bày bán công khai những quyển sách như “Chiến tranh Nhân dân và Quân đội Nhân dân” của Tướng Võ Nguyên Giáp là cuốn chỉ nam về nổi dậy của Việt Cộng, vài cuốn của lãnh tụ cộng sản Cuba là Ché Guevarra, và cả các cuốn sách về hay của Mao Trạch Đông. Sau ngày gọi là “giải phóng”, người Cộng sản chiếm đóng đã “tạm thời” đình chỉ xuất bản mọi tờ báo hay tạp chí độc lập. Chưa đầy một tháng sau, mọi tiệm sách báo đều bị đóng cửa và việc mua bán hay tàng trữ các văn hoá phầm xuất hiện “dưới chế độ cũ!” đều bị cấm.
TÙ CHÍNH TRỊ
Một trong các vấn đề nặng nề nhất là những người chống Việt Nam thường nêu ra, là cái gọi là “chế độ phát xít” tại miền Nam đã giam giữ hơn 200 ngàn “từ chính trị”. Khi trở lại Đông Dương vào Tháng Năm 1974 - cũng là dịp thăm viếng Cam Bốt và Lào – tôi chú trọng đến việc điều tra những lời cáo giác trên.
Tôi ghé thăm Linh mục Chân Tín, nổi danh lãnh tụ của “lực lượng thứ ba” nhưng có lẽ là một cán bộ của Hà Nội. Tôi hỏi ông là tìm đâu ra con số “202 ngàn tù nhân chính trị?” Ông ta bảo rằng mình đã hỏi các tù nhân cũ và gia đình thân nhân của họ là họ nghĩ xem có bao nhiêu tù nhân. (Tôi nghi là họ đã cộng lại tổng số của các câu trả lời). Sự thật thì thời đó chỉ có khoảng 35 ngàn tù nhân trong tất cả các nhà tù của Miền Nam.
Tôi cũng gặp một lãnh tụ khác của “lực lượng thứ ba” là bà Ngô Bá Thành, người nói với tôi rằng định nghĩa của bà về “tù nhân chính trị” có thể gồm cả người nh Sỉrhan Sirhan, là tay cán bộ người Palestine đã ám sát nghị sĩ Robert Kennedy vào tháng Sáu năm 1968. Mục đích của hắn, bà Ngô Bá Thành giải thích là, “chính trị” khi hắn ám sát một ứng cử viên Tổng thống rất nổi tiếng của Hoa Kỳ .
Rồi còn vụ “chuồng cọp” đầy tai tiếng tại Côn Sơn, được họ mô tả như sau:
,”… xà lim chôn dưới mặt đất với các đống sắt, đồng trên trần thay vì ở dưới. Mà trần xây thấp đến nỗi tù nhân không thể đứng được …”
.”… những hố nhỏ được đào dưới đất và che bằng chấn song sắt.”
- “[Mấy hầm đó] quá hẹp cho những người Việt Nam dù thấp bé cũng không thể nằm duỗi thẳng và trần quá thấp nên tù nhân khó có thể đứng thẳng người”
Thật ra, tôi có đến đảo Côn Sơn và thăm những chuồng cọp này. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng đồng ý là tôi hơi cao hơn đa số người Việt Nam. Vậy mà tôi chưa thể với tới các chấn song trên trần - vốn cao tới ba thước (khoảng 10 bộ) kể từ mặt đất lên.
Ngay cả lực sĩ Nghiêu Minh (Yao Minh) người Tầu - tay trung phong của đội bóng rổ Rocket's ở Houston bên Texas - cũng chỉ cao tới bảy bộ và sáu phân - hơn hai thước hai - nên anh ta cũng chẳng gặp khó khăn gì đề duỗi dài trong căn xà lim một bề thước rưỡi một bề ba thước của cái gọi lả “chuồng cọp”.
Ít nhất, một số cán bộ chống Việt Nam đã từng cáo giác chuyện “chuồng cọp” biết là họ nói láo. Trước khi qua Việt Nam năm 1974, tôi nói với một người trong số này rằng tôi dự tính sẽ tới nhà tù Côn Sơn đề tự minh xem tận mắt và anh ta có vẻ khó chịu – có lẽ biết rằng tôi sẽ thấy sự thật. Anh ta nói rằng vấn đề thật bây giờ chính là tại nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn.
Vì vậy sau khi thăm Côn Sơn, tôi xin phép vào xem nhà tù Chí Hòa và chưa đầy 48 tiếng sau đã được tới đó trong mấy tiếng đồng hồ. Đây không là nơi mà mình thích sống nhưng cũng chẳng tệ hơn đa số các nhà tù và bên trong tôi không thấy dấu vết gì của những sự lạm dụng phổ biến. Tôi nói riêng với vài người Mỹ đã từng ở trong này và họ nói rằng dù có nghe nhiều lời tố cáo nhưng tất cả đều cho biết là họ không hề nghe thấy “tiếng gào thét trong đêm vắng” hoặc được báo cáo về nạn tra tấn hay hành hạ tù nhân.
NGĂN CHẬN TÀN SÁT
Bi thảm nhất của những người chống Việt Nam là lý luận của họ, rằng cắt viện trợ cho Miền Nam là Hoa Kỳ sẽ “ngăn được nạn tàn sát”. Họ sai lầm tới chừng nào. Ông bạn Giáo sư R.J. Rummel của tôi (một người từng được tuyển liên tiếp cho giải Nobel Hòa Bình) ước lượng là tổng số người bị giết sau khi miền Nam được “giải phóng” lên tới 643 ngàn.
- Khoảng 100 ngàn bị xừ tử qua quít ngay sau khi Cộng sản nắm quyền. Qua quít vì cũng chẳng có một hình thức tạm bợ về “tiến trình hợp pháp” hay một toà án.
- Giáo sư Rummel cho là 400 ngàn là “thuyền nhân” bị chết ngoài biển cả khi muốn thoát khỏi chê độ độc tài và đàn áp đã trùm lên quê hương. Cao ủy Ty nạn của Liên hiệp quốc thì cho là một phần ba những người vượt biên bằng thuyền đã chết ngoài biển - một số là vì tầu quá đông người bị chìm, hoặc chết vì đói, vì khát. Nhiều người tử nạn sau khi bị hải tặc cướp bóc và cưỡng hiếp. Cao ủy cũng tường trình rằng có khoảng 840 ngàn người tới được Hong Kong hay các nước không Cộng sản ở Đông Nam Á. Nếu áp dụng tỷ số “chết một phần ba” cho con số này thì ta đoán là có một triệu 300 ngàn người vượt biên bằng thuyền và khoảng 420 ngàn người đã chết trên đường tìm tự do. Con số không xa với ước lượng của Giáo sư Rummel.
Giáo sư Lewia Sorley, tác giả cuốn sách có giá trị của một dấu mốc là “A Better War” - một Cuộc Chiến Khá Hơn - mà tôi ân cần giới thiệu đến quý vị, cho rằng có chừng 250 ngàn sĩ quan và binh lính của miền Nam cũ đã chết trong các “Trại Cải Tạo” do chế độ Cộng sản lập ra.
- Khoảng một triệu rưởi người dân miền Nam bị đày vào các khu “Kinh Tế Mới” để sống trong những điều kiện nghiệt ngã và chừng 48 ngàn đã chết tại đấy. Tôi biết rằng rất đông người trong cộng đồng này có thể kể lại những kinh nghiệm thật về “Trại Cải Tạo” và khu “Kinh Tế Mới” và khuyên các sinh viên ở đây nên tìm ra họ, ghi nhận câu chuyện của họ để làm chứng liệu cho lịch sử.
CĂM BỐT
Và còn chuyện xứ Căm Bốt nữa.
Khi Tổng thống Nixon gửi quân đội Hoa Kỳ sang Cam Bốt vào năm 1970 đề yêm trợ các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, khuôn viên các Đại học Mỹ bị đóng vì những cuộc phản đối đầy bạo động chống lại vụ xâm lược “phi pháp”. Thật ra, về pháp lý thì y như Việt Nam, Căm Bốt là “quốc gia thành viên của Nghị định thư” - Protocole States - đã được cam kết bảo vệ chống Cộng sản xâm lăng trong khuôn khổ Hiệp ước SEATO năm 1954. Mười năm sau, và với tỷ lệ đầu phiếu là 99,6%, khi Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson tham chiến tại Đông Dương. quy chế ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho Căm Bốt như cho Việt Nam và Lào. Nghị quyết ấy của Quốc hội chỉ cần dẫn chiếu “Protocole States” của hiệp ước SEATO (South East Asia Treaty Organization). Tôi thăm viếng Căm Bốt nhiều lần trong năm 1974 và trong nhiều năm đã viết về Khờme Đỏ. Thời ấy, việc họ là những kẻ sắt máu có dự tính tàn sát không tưởng tượng nỗi với đồng bào Khờme của họ thật ra chẳng còn là bí mật. Và dĩ nhiên, khi tôi trở lại Việt Nam vào Tháng Tư năm 1975, một trong những mục tiêu chính của tôi là đễ cố gắng cứu lấy đám trẻ cô nhi tại Căm Bốt. Tôi đến quá trễ và có lẽ những đứa trẻ tôi hy vọng cứu được chắc là đã chết.
Không hề có một cuộc khảo sát dân số tại Căm Bốt và chẳng ai biết thực sự có bao nhiêu người đã sống tại nơi ấy. Con số ước đoán về nạn nhân có những dị biệt lớn, với một số chuyên gia thì cho lả có hơn hai triệu. Tài liệu khảo cứu khá nhất mà tôi được đọc là của Đại học Yale, nơi mà Chương trình của Yale về nạn Diệt chủng Căm Bốt ước tính là Pol Pot và bọn đao phủ của hắn đã thảm sát một triệu bảy trăm ngàn người - hơn 20% dân số toàn quốc.
Một bài báo về “các vùng thảm sát” của Căm Bốt trên tạp chí Nattonal Geographic Today trong số tháng Giêng năm 2004 cho chúng ta những chi tiết này: “Nhân viên hướng dẫn giải thích rằng đạn quá quý để dùng cho việc tàn sát. Rìu, dao và gậy tre thật đắc dụng hơn. Còn về trẻ em thì bọn đồ tể chỉ đơn giản giọng chúng vào thân cây”.
Ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đỗi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, có viết như sau về hậu quả nhân sinh của việc Hoa Kỳ bội ước sự cam kết của mình là sẽ bảo vệ người dân của các nước không cộng sản ở Đông Dương: “Dù có ước lợng dè dặt nhất, có nhiều thường dân Đông Dương bi bạo sát sau Chiến tranh Việt Nam hơn là tổng số nạn nhân trong thời chiến, ít ra là hơn hai triệu... Nỗi khổ đau lên tới mức chưa từng thấy, còn thê thảm hơn những ngày chinh chiến”.
Thật bi đát vì tôi nghĩ rằng ông Pike có lý. Và tôi lại càng tin rằng cộng đồng tại đây, đôi khi ngay trong hội trường, có những người có thể cung cấp những dữ kiện trực kiến về thảm kịch nêu như ta muốn tìm đến họ và ghi nhận lời chứng của họ. Việc này thì chẳng ai có tâm trí bình thường lại thích làm, nhưng là điều mà những ai muốn truy lùng sự thật tới cùng vẫn có nhiệm vụ thực hiện. Chúng ta phải kể lại chuyện này - một cách chính xác và cẩn trọng – đểngười khác sẽ biết rất lau về sau, khi các nhân chứng cuối cùng không còn tại thế nữa. Chúng ta phải kể lại, nếu không chuyện đó sẽ lại tái diễn.
Những ai thấy bàng hoàng về những chuyện đã xảy ra khi Cộng sản khống chế người dân Miền Nam và của Căm Bốt hay Lào thật ra không hiểu gì về lịch sử hiện đại. Nếu quý vị muốn biết rõ hơn về thảm kịch, tôi xin đề nghị tập sách do nhà Harvard University Press xuất bản có tên là “The Black Book of Communism” - Cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản”. Do một nhóm trí thức Âu Châu thuộc khuynh hướng trung tả biên soạn, cuốn sách kết luận là trong thế kỷ 20, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã gây ra cái chết cho từ 80 đến 100 triệu sinh linh.
Những ai muốn biết sâu xa hơn về Chiến tranh Việt Nam có thể còn bị lầm lạc lớn nếu không chịu khó tìm đọc các cuốn sách do chư vị diễn giả nơi đây hoặc bằng hữu của chúng tôi đã biên soạn.
Đây là một vinh dự cho tôi khi được thuyết trình trước một cử toạ quan trọng như hôm nay và trong cơ hội long trọng này. Với những người giận dữ về sự bội phản của nước tôi 35 năm về trước, xin cho tôi được nói rằng sự giận dữ này cũng là sự giận dữ của bản thận tôi. Tôi yêu quý Hoa Kỳ và tin rằng đây là một xứ tuyệt vời nhất trên địa cầu. Nhưng khi đa số của Quốc hội phản bội nạn nhân của Cộng sản xâm lược họ cũng phản bội 58 ngàn 200 lính Bộ binh, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã dâng hiến mạng sống trong sự hy sinh cao quý nhất cho chính nghĩa này. Họ cũng phản bội sự hy sinh của hai triệu bảy trăm ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1959 cho đến 1975.
Chúng ta không cải sửa được điều ác đã xảy ra. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó và có thể hành động để người Mỹ chúng ta lánh xa truyện thần thoại sai lạc mà hiểu rõ thảm kịch lớn lao của sự bội tín. Tôi thiết tha kêu gọi giới trẻ trong cử toạ nơi đây là hãy tự nguyện giành một chút cố gắng để học hỏi trang sử này và chịa sẻ với người khác. Quan trọng nhất, hãy chú ý đến các cựu chiến binh và những người sống sót trong cộng đồng, hãy ghi lại lời kể của họ khi mình còn cơ hội. Nếu mình làm được như vậy thì may ra những hy sinh lớn lao của thảm kịch bi đát này sẽ không bị uổng phí.
Xin cảm tạ quý vị và cầu xin Thượng Đế sẽ phù hộ chúng ta./.
25 bức tượng lạ:
Mời bạn ngắm 25 bức tượng kỳ quặc được dựng giữa thành phố ở khắp nơi trên thế giới, những bức tượng với hình dáng độc đáo khiến du khách một lần tới thăm sẽ không thể nào quên. Ảnh trên Lilo.
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
| |||||||||||||
|
|