Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, June 10, 2012

Tự Do Ngôn Luận ở Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận ở Việt Nam

Thái Phục Nhĩ (Danlambao) - Tư tưởng vốn tự do, có thể lừa nó vào vòng dối trá, chứ không thể hãm nó lại hay ngăn nó đi tìm sự thật được. Ở đâu tư tưởng bị ngăn cấm thì người ta càng tìm cách giải phóng nó. Ở đâu có áp đặt thì ở đó có nhu cầu thoát ly, và càng phỉnh gạt thì càng làm cho nhu cầu tìm tới sự thật thêm bức bách. Chính thể độc tài về bản chất là một sự áp đặt ý thức hệ lên toàn xã hội. Lịch sử cộng sản Liên Bang Soviet và Đông Âu chính là một câu chuyện chép về sự áp đặt tư tưởng và cuộc đấu tranh thoát ly nó...

*

Những người hùng trong nền báo chí tự do

 

Chính loạn ở Syria đã cướp đi sinh mạng không những của thường dân mà còn của nhiều ký giả. Cái chết của ký giả chiến trường kỳ cựu Marie Colvin tại Homs làm báo giới phương Tây sửng sốt. Những đồng nghiệp còn sống và bị thương của họ cũng được trân trọng như người hùng. Hai nhà báo Pháp Edith Bouvier và William Daniels từng bị kẹt ở Homs được đích thân Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy ra tại phi trường đón trở về Paris.

 

Trong mắt người công dân bình thường những ký giả dám đi dưới những làn đạn để đưa tin họ xứng đáng tưởng lệ như những người hùng. Lòng yêu sự thật khiến họ đủ can đảm để vào nơi mạng sống treo đầu sợi tóc để tác nghiệp. Không ai buộc họ phải vào trong chiến trường để lấy thông tin về cho độc giả. Họ đi tự nguyện. Sự can đảm của họ thể hiện lý tưởng làm báo của họ. Phái đoàn của Liên Hiệp Quốc phái đến quan sát và trần thuật tình hình Syria còn có người hộ tống rầm rộ và ngủ trong những khách sạn đông người phục vụ. Những nhà báo chiến trường này phải tự xoay xở nơi tá túc an toàn mà làm việc. Nhu cầu thông tin chính xác khiến họ phải vào ở trong những nơi dễ làm đích cho xe tăng và hỏa tiễn của quân đội chính phủ Syria. Khi họ có cơ hội đào thoát, Edith Bouvier và Paul Conroy từ chối cơ hội ra khỏi Homs để tỏ tình đoàn kết với đồng nghiệp. Cầm bút mà đam mê nghề nghiệp tới nỗi dám liều mạng sống để nói sự thật như vậy có thể gọi là người hùng được.

 

Vì sao họ làm được như vậy? Tự do tư tưởng và tự do ngôn luận là những giá trị nền móng của nền dân chủ phương Tây, được tôn trọng tuyệt đối. Những triết gia lớn ảnh hưởng tới nền chính trị dân chủ của phương Tây, như Voltaire và Stuart Mill, đều cổ võ và bảo vệ tự do tư tưởng của cá nhân tới cùng. Một người dù chủ trương một lý thuyết sai lầm, hoặc có lối sống hết sức quái dị vẫn có quyền nói và biểu dương tư tưởng của họ, miễn đừng động tới an nguy của người khác. Nền tự do tư tưởng và ngôn luận ấy khiến người ta có trách nhiệm về ngôn hành của họ; quan trọng hơn, nó xiển dương được sự thật. Sự thật đối diện với sai lầm thì sự thật sẽ xác định vững vàng và thuyết phục hơn. Được giáo dục và nuôi dưỡng trong truyền thống tự do ngôn luận như vậy, tinh thần tôn trọng sự thật và lòng yêu sự thật trở thành bản tính của những người cầm bút phương Tây. Người ký giả khi đặt bút xuống chỉ có thể nói sự thật. Không thể nào khiến họ nói sai sự thật, đối với người mà lòng yêu sự thật lớn hơn mạng sống thì cám dỗ lợi danh không lay được họ. Hoa trái của nền báo chí tự do và truyền thống dân chủ chính là những người cầm bút coi sự thật là lý tưởng, trọng sự thật hơn sinh mạng của họ. Có thể gọi hoa trái đó là những người hùng trong làng báo.

 

Tự do ngôn luận phôi thai ở Nam Việt

 

Nền cộng hòa ở Nam Việt quá non nớt, và chưa hội tụ đủ mọi yếu tố của một nền dân chủ thực sự để bảo đảm tự do và thịnh vượng của công dân, nhưng nó có một nét đặc trưng của một chính thể cộng hòa: tự do ngôn luận.

 

Trong khi tự do ngôn luận ở Bắc Việt gần như nằm trong kiểm soát của nhà cầm quyền cộng sản bất khoan dung tự do tư tưởng, thì ở miền Nam dưới ảnh hưởng của phương Tây nó vẫn có, dù mong manh. Nhà cầm quyền Saigon, dù độc tài, vẫn cho phép một sự tự do ngôn luận nào đó. Muốn hay không thì chính quyền Saigon cũng không ngăn được ảnh hưởng của phong trào đòi tự do và hòa bình của giới trẻ Âu Mỹ [1] lan tới giới trẻ Việt Nam, trong một hoàn cảnh mà cả dân tộc bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh lạnh, quốc gia bị nước lớn đem ra làm tốt thí ý thức hệ và võ khí.

 

Trên phương diện báo chí, tin tức và những sự kiện lớn ở chiến trường Nam Việt lan truyền ra ngoài một cách xác thực. Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa trung tâm Saigon, thì hôm sau hình ảnh một nhà sư trong biển lửa lan khắp mặt báo quốc tế. Thông điệp của ông là phản kháng chính quyền họ Ngô đàn áp Phật Giáo và đòi bình đẳng tôn giáo cho Phật tử, và thông điệp đó tới được độc giả toàn thế giới trọn vẹn như ý ông muốn. Ông không bị báo chí Saigon biến thành người bị tâm thần như báo chí Việt Nam ngày nay hay làm, hoặc kẻ khủng bố cực đoan như Trung Quốc làm với các nhà phản kháng Tây Tạng. Nạn khớp mỏ dư luận cũng có đấy[2], nhưng dù sao dư luận vẫn được tôn trọng, và báo chí không thể nói láo. Ký giả tự do đi lại, chụp những cảnh kinh hoàng của chiến tranh. Bức hình Nguyễn Ngọc Loan xử tử Nguyễn Văn Lém tại Saigon trong vụ bạo động Mậu Thân 1968 nói mạnh hơn ngàn câu chữ, làm cho phong trào phản chiến dâng cao ở Âu Mỹ, buộc chính phủ Mỹ bắt đầu tính tới những nước cờ rút quân khỏi Việt Nam mà giữ được thể diện.

 

Học thuật miền Nam nhờ có tự do ngôn luận mà tạo ra được cảnh trăm hoa đua nở. Có nhiều học giả, Nguyễn Hiến Lê chẳng hạn, sống độc lập được bằng cây bút, chứ không hề hưởng bổng lộc của nhà cầm quyền. Có thể bị kiểm duyệt hoặc cấm in, nhưng tuyệt nhiên họ tự do viết theo cảm hứng, theo thị hiếu của độc giả, hoặc theo nhu cầu của thị trường, và có thể công khai hay kín đáo chỉ trích chính quyền mà không sợ bị trù dập hay đưa vào trại phục hồi nhân phẩm hay trại lao động cưỡng bức.

 

Các phong trào đại chúng ở Nam Việt vẫn thịnh hành hơn hẳn miền Bắc. Nhất Hạnh viết sách và diễn thuyết kêu gọi đình chiến, lập hòa bình. Thích Trí Quang lãnh đạo một phong trào sinh viên và Phật tử đòi tự do tôn giáo và tự do chính trị, ảnh hưởng mạnh tới quần chúng, làm cho chính quyền Saigon lo ngại. Trịnh Công Sơn viết nhạc phản chiến, làm cho những người ông mong đợi từ Bắc Việt vào giải phóng Nam Việt thấy cần phải cho ông đi lao động cải tạo để ông thấm nhuần tinh thần bạo động cách mạng. Cộng sản cũng lợi dụng tự do ngôn luận ấy để đấu tranh cho lý tưởng của họ. Những thanh niên theo cộng như Hoàng Phủ Ngọc Tường hay Nguyễn Đắc Xuân hô hào biểu tình chống lại chính quyền Nam Việt. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lớn nhanh và tuyên truyền được rất nhiều cho đường lối của cộng sản, cũng là nhờ tự do ngôn luận đang còn phôi thai đó của Nam Việt.

 

Chế độ cộng sản bóp chết tự do ngôn luận và hệ lụy của nó

 

Nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam rất sành sỏi thuật tuyên truyền. Họ sử dụng tự do ngôn luận và báo chí như phù thủy làm xảo thuật. Người ta có thể cho rằng tự do ngôn luận tại Nam Việt là nhược điểm khiến địch thủ cộng sản của nó có thể lợi dụng để chống lại nó. Nhưng nhà cầm quyền cộng sản chỉ biết thu vén tự do ngôn luận riêng cho mình và siết chặt thòng lọng những ai cất tiếng nói độc lập, và gây ra những hệ lụy khôn lường trên mọi phương diện của đời sống ở Việt Nam.

 

Hệ lụy dễ thấy nhất là đời sống trí thức và văn hóa cằn cỗi. Ở đâu cũng vậy, trong chiến tranh hay thời bình, bóp chết tự do ngôn luận chính là cắt đường sống của tư tưởng. Kiểm soát văn chương, nghệ thuật, khoa học tức là làm cho nó không nở hoa được. Những phong trào đàn áp trí thức tai hại của cộng sản khiến di sản học thuật và nghệ thuật của Việt Nam sau 1945 và 1975 nghèo thê thảm. Bắc Việt trước 75 có những học giả và nghệ sĩ đầy tài năng và đam mê; đáng lẽ ra những bộ óc độc lập, những người cần cù và không ham danh lợi đó đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa của dân tộc. Nhưng nhà cầm quyền chỉ nghĩ tới sức mạnh chính trị của họ, họ muốn cây bút là vũ khí mà người cầm bút phải là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, và mọi công trình khoa học hay nghệ thuật phải được Đảng Cộng Sản cho phép và cho điểm. Lò chính trị ấy sản xuất ra được một lớp nghệ sĩ và học giả không thuần túy về văn chương và học thuật; Tố Hữu, Đào Duy Anh, Trần Hoàn đều là đảng viên giữ trọng trách trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, hay giáo dục. Những người không từ cái lò ấy ra và không chịu phục tùng thì kẻ đó có mòi tư sản, nhất định phải tiêu diệt. Nhân Văn Giai Phẩm chết non, Phan Khôi và phái của ông bị mạt sát và trù dập. Nhiều văn sĩ bị đưa đi công trường làm công nhân, cải tạo về tư tưởng, hoặc bị giam lỏng và treo bút vĩnh viễn. Những người nhu hòa như thi sĩ Hữu Loan xa lìa cái giới văn nghệ giả dối, xu nịnh nặng mùi chính trị của chế độ và chọn lối sống ẩn dật của những người lương thiện trong cảnh nghèo. Người có cá tính mạnh như Trần Dần thì mặc chủ trương, văn nghệ phải tự do, và ông vung bút chống lại những kẻ áp bức tư tưởng. Cây bút thơ Trần Dần không mạnh bằng bút sắt của Tố Hữu, ông bị đấu tố giữa giới văn nghệ, bị giam ở Việt Bắc rồi bị đưa về trại giam Hỏa Lò. Ông uất ức mà cứa cổ trong trại Hỏa Lò để phản kháng cái chính sách bóp nghẹt tự do của người nghệ sĩ. Đói rét, thi sĩ phải gác bút mà vác bao tải đi quét lá như Quang Dũng, hoặc như Phùng Quán thì lên rừng Thái Nguyên đầy muỗi mòng để trồng bắp. Mỉa mai thay, những người có lý tưởng cộng sản trong sạch nhất, có công với chế độ nhất, khi nhận thấy chế độ đã lạc hậu và dùng những phương pháp phi nhân để mưu những lợi ích phản quốc gia và dân tộc họ lên tiếng thì cũng bị đập như những người ra mặt chống lại chế độ từ đầu. Lỗi lạc như Lê Văn Thiêm, Tạ Quang Bửu, Hoàng Tụy cũng bị đem ra đấu tố, chịu cảnh ngày thì nghiên cứu, dạy học, đêm thì chong đèn viết kiểm điểm.[3]

 

Văn chương hay nghệ thuật không thể sáng tạo theo đơn đặt hàng của nhà cầm quyền để phục vụ một ý đồ chính trị được. Sự đặt hàng duy nhất chấp nhận được chính là thị hiếu và phán xét của đại chúng và thời gian. Tại sao nhà cầm quyền không chịu để cho văn chương và nghệ thuật tự kiểm duyệt? Đại chúng mà thấy có giá trị thì văn nghệ sẽ sống, bằng không nó sẽ chết mà không kịp ai biết. Không thể khuyến khích tài năng bằng những dự án sặc mùi tuyên truyền; văn chương cũng vậy mà khoa học cũng vậy. Chính trị đối với nghệ sĩ và học giả nó giống như chất muối đối với kim loại, hễ ở lâu là nó ăn mòn, mất hết giá trị. Đội cái vòng kim cô ấy của nhà cầm quyền rồi, thì ngay những tác giả giữ được thiên lương cũng khó vùng vẫy mà sáng tác theo chí mình, chất văn nghệ chết dần chết mòn trước sự đòi hỏi phục tùng của chỉ thị. Những tác phẩm giá trị nhất của Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân đều viết trước 1945.

 

Từ sau sụp đổ của Liên Xô thì nhà cầm quyền cộng sản càng siết chặt tự do ngôn luận. Họ mở hé cánh cửa kinh tế, độc quyền làm ăn theo lối tư bản để kiếm lợi, nhưng về ngôn luận và tư tưởng thì vẫn giữ nguyên bản chất bất khoan dung. Họ bố thí cho người dân vài chút tự do mang tính ước lệ. Cho thì nói, không cho thì bịt miệng. Họ độc quyền xuất bản và in báo, độc quyền sách giáo khoa và độc quyền giáo dục để giam hãm người dân trong tình trạng ngoan ngoãn ngu muội. Họ dùng tiền thuế quốc gia để mua những kẻ bảo vệ chế độ, và lợi dụng những người thành đạt về học thuật vào mục đích tuyên truyền. Bắt chước Cách Mạng Văn Hóa mười năm của Trung Quốc, họ tìm cách triệt thoái tư tưởng độc lập của con người, khiến người có tư tưởng không dám viết, và có viết cũng không dám cho ai đọc. Muốn cho an toàn, họ làm tiêu ma lòng can đảm của người dân và giam những kẻ không chịu khuất phục. Ngày nay, ít ai làm thơ, viết sách mà phải như Phùng Quán, Hữu Loan gác bút đi cày hoặc bửa đá, hoặc như Hoàng Yến vào trại cải tạo nhân phẩm. Nhưng tình trạng bức hại người bày tỏ tư tưởng vẫn như xưa; ký giả, học giả, luật sư, bác sĩ, tu sĩ, thường dân nặng thì bị tống vào ngục hoặc trại tâm thần, nhẹ thì hành hung và khủng bố, bị giam lỏng tại nhà, hoặc bị mật thám theo dõi.

 

Báo chí lẽ ra phải bàn đến những quốc sự và vấn đề xã hội đương thời cũng lu mờ như văn chương và học thuật. Đội binh viết thuê cho chính quyền không dám chạm tới những vấn đề làm hoen ố cái mặt của nhà cầm quyền. Tình trạng báo chí, tin tức, truyền hình ba xu không còn đủ sức hấp dẫn và mất sinh khí ngày nay trên báo chí Việt Nam cho thấy tình trạng nghèo nàn của tự do ngôn luận. Chung cục của các nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Osin Huy Đức, Hoàng Khương làm hiện ra cái thòng lọng vô hình đã treo sẵn vào cổ những người biết quyền của người công dân và can đảm dùng cây bút để đấu tranh cho vận mệnh quốc gia và dân tộc.

 

Đi đôi với sự cằn cỗi của học thuật và văn hóa là sự bần cùng về kinh tế của dân chúng. Nhà cầm quyền đã bất chấp những nguyên tắc tự nhiên của nghệ thuật và sáng tạo, thì họ ngại gì mà không ngồi trên những nguyên tắc của thị trường. Theo đúng cái gọi là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì nhà nước nắm hết mọi ngành thiết yếu, từ lương thực, năng lượng, ngân hàng, cho tới truyền thông, giáo dục, xuất bản, và tài nguyên quốc gia tập trung trong tay những tập đoàn này của nhà nước, vốn được mọi ưu đãi của chế độ từ vốn liếng tới chính sách và thuế má. Những tập đoàn nhà nước này tiếng thì gọi là làm lợi cho quốc gia, nhưng thực chất thì là thuộc quyền kiểm soát của những người nắm quyền lực nhất nước, và mục đích là sinh lợi cho họ. Lấy của công để làm kinh tế riêng cho một nhóm người, lại quản lý kiểu tập thể, thì không sao tránh được nạn vô trách nhiệm và trục lợi, và mọi đổ bể đều là đổ bể của nhà nước, gánh lên vai người dân. Sự tập trung quyền lực và của cải đó gây ra một sự cạnh tranh bất chấp mọi quy tắc thị trường chỉ làm cho thành phần kinh tế tư nhân ngày càng điêu đứng, mà kinh tế quốc gia ngày một suy bại. Nền tư bản đó, mà có người gọi tên là tư bản mọi rợ[4], làm cho một nhóm người đầy quyền lực và những người thỏa hiệp với họ giàu có thêm mà dân chúng thì ngày càng bần cùng.

 

Kinh tế nghèo đi, còn vì nhà cầm quyền chỉ chú trọng võ lực mà bỏ rơi những môn kỹ thuật thực dụng. Ở một nước cộng sản, kỹ nghệ quân sự và khoa chế tạo vũ khí có thể cao, có thể làm cho lân bang phải nơm nớp lo sợ - vì bao giờ nhà cầm quyền cũng có thể nuôi một số khoa học gia giỏi vật lý mà dốt luân lý -, nhưng tuyệt nhiên không làm cho đời sống thực dụng của người dân phấn phát và nhàn hạ. Tình trạng kinh tế suy nhược và đời sống hàng ngày cằn cỗi là đặc điểm chung tại các nước cộng sản chứ không riêng gì Việt Nam. Thời Chiến Tranh Lạnh, Mỹ và Liên Bang Soviet có sức mạnh quân sự và khoa học vũ trụ như nhau, nhưng về các khoa thực dụng như kinh tế, hành chính, y học, điện toán thì Mỹ ăn đứt Liên Bang Soviet. Kinh tế suy nhược, bộ máy điều hành kém cỏi chính là hai trong những nguyên nhân chính làm suy sụp chế độ cộng sản tại Liên Bang Soviet và Đông Âu.

 

Một cái tai họa nữa của tệ bất khoan dung tư tưởng là nó làm con người hóa ra gian dối, mà chính nhà cầm quyền là nạn nhân đầu tiên. Những người giỏi dám nói thật đã bị nhà cầm quyền triệt hạ hết rồi thì chung quanh họ chỉ còn lại những người giỏi nói dối. Tệ áp đặt tư tưởng khiến cho người ta có thể vì sinh tồn mà chấp nhận một lối sống giả dối để có địa vị và quyền lợi cao hơn cái họ xứng đáng; đã còng lưng để được ba đấu gạo, thì làm gì đủ cao thượng để hưởng những giá trị như tự do tư tưởng và ngôn luận, đã chỉ nghĩ tới lợi thì sẽ bất chấp vận mệnh dân tộc. Rốt cục con người trở thành gian dối, và giam mình mãi trong cái vòng luẩn quẩn dối trá, ngu dốt và lạc hậu. Những người có lương tri, có trí tuệ thì họ đã chọn con đường ẩn dật, hoặc đấu tranh cho sự công bình phổ quát hơn. Những kẻ chịu sức hấp dẫn của địa vị và lợi lộc mà không sử dụng lý trí, lại xâm phạm đến quyền nhân bản của người khác nếu không thiếu tư cách thì cũng là có óc cơ hội. Dân chủ cộng sản cao hơn dân chủ tư sản gấp vạn lần, nói được như vậy không ngu dốt thì cũng là nịnh bợ. Những lời ấy chứng tỏ không những mình thiếu học thức, mà còn tỏ một thái độ khinh thị quần chúng. Chế độ nào có thể dựa vào những kẻ thiếu học thức và khinh thị quần chúng như vậy mà mà đứng vững được?

 

Chính thể độc tài lợi dụng tự do ngôn luận để phục sức cho nó, nhưng rốt cục cũng không che đậy được bộ mặt xấu xí. Ngoài một hình ảnh đẹp về những thanh niên thiếu nữ hy sinh tuổi trẻ và sống chết cho lý tưởng thì di sản của chủ nghĩa cộng sản trên nước Việt có gì đẹp? Ngay cả sự hy sinh ấy của người cộng sản tinh tuyền, tuy đáng ngưỡng mộ như mọi hy sinh, cũng hóa vô giá trị vì cái khiến họ hy sinh vẫn là sự lừa dối của một lý tưởng huyễn hoặc và tàn bạo. Rất nhiều người hy sinh trọn vẹn cuộc đời ấy không còn cơ hội để quay đầu, vì đã chết, hoặc vì quá già tự thấy thoát ra khỏi cái quá khứ huy hoàng đó chẳng khác gì xóa bỏ dấu vết mình trên cuộc đời.

Cuộc đấu tranh của những người yêu tự do

 

Tư tưởng vốn tự do, có thể lừa nó vào vòng dối trá, chứ không thể hãm nó lại hay ngăn nó đi tìm sự thật được. Ở đâu tư tưởng bị ngăn cấm thì người ta càng tìm cách giải phóng nó. Ở đâu có áp đặt thì ở đó có nhu cầu thoát ly, và càng phỉnh gạt thì càng làm cho nhu cầu tìm tới sự thật thêm bức bách. Chính thể độc tài về bản chất là một sự áp đặt ý thức hệ lên toàn xã hội. Lịch sử cộng sản Liên Bang Soviet và Đông Âu chính là một câu chuyện chép về sự áp đặt tư tưởng và cuộc đấu tranh thoát ly nó.

 

Trong những xã hội độc tài còn rơi rớt lại trên thế giới mầm phản kháng và đấu tranh đòi lại tự do tư tưởng luôn mãnh liệt. Sau biến cố Đông Âu và Liên Bang Soviet, các nhà cầm quyền độc tài này luôn phải đối mặt với các trào lưu đòi tự do và công bằng chính trị. Nay lại thêm gió đưa hương hoa lài từ Bắc Phi và Trung Đông qua, các phong trào tự do như được tiếp thêm sinh lực. Tại Trung Quốc là anh cả của chủ nghĩa cộng sản ngày nay tàng ẩn quá nhiều bất trắc chính trị. Trong khi nội bộ Đảng Cộng Sản đang thanh trừng nhau để giành giật quyền lực thì giới đối kháng lại được nhiều người ủng hộ và tán thưởng. Giải Nobel Hòa Bình trao cho Lưu Hiểu Ba là cái tát vào mặt anh cả của chủ nghĩa cộng sản. Ngải Vị Vị dốc ngược tay chỉ trích Bắc Kinh mà lại được giới nghệ thuật Tây phương coi là một đại gia trong làng nghệ thuật hiện đại. Giới trí thức ý thức được vai trò của mình và trở thành cái gai trong mắt nhà cầm quyền, mà dân chúng Trung Quốc khi đã có ăn thì bắt đầu đòi những giá trị nhân bản hơn. Nhà cầm quyền buộc phải tiêu tới một khoản ngân sách tương đương với ngân sách cho quân đội để nuôi lực lượng an ninh bảo vệ chế độ.[5]

 

Ở Việt Nam nhà nước không giàu bằng, mà sức mạnh của giới đối lập cũng mạnh như vũ bão khiến nhà cầm quyền phải dùng nhiều công an và mật thám, viện những điều luật phi lý và dùng những phiên tòa cùng những biện pháp tùy tiện mà không đưa hết được tất cả những người bất đồng chính kiến vào ngục. Dân chúng nghi vấn sự chính danh của nhà cầm quyền cộng sản khi ra mặt chống lại họ thảy là những người xuất phát từ lớp tinh hoa trong xã hội. Không kể những người có công trạng và đi theo chế độ từ ngày nó còn phôi thai đều muốn thay đổi nền chính trị Việt Nam, tầng lớp có học và có tư tưởng cấp tiếp ngày càng chán cái lý tưởng huyễn hoặc và giả dối của nhà cầm quyền, họ đòi có tự do, đòi lối sống xứng với tài năng của họ. Luật sư, giáo sư, bác sĩ, văn sĩ, ký giả, linh mục, tăng sĩ, sinh viên, thương nhân đều muốn độc lập dân tộc, tự do chính trị, và dân chủ cho quốc gia.

 

Áp lực này mạnh hơn khi có thêm tiếng nói của nông dân, những người cần cù và hiền lành nhất trong xã hội. Sau mấy chục năm cộng sản, bất công trong phân chia tài nguyên và của cải, quyền lợi, địa vị đã quá sâu, và bị bị đối xử bất công và tàn nhẫn nhất vẫn là người nghèo. Họ đang đứng lên để đòi lại quyền sống của họ. Những dân tộc thiểu số ở Trung Quốc đã mất hết kiên nhẫn với chính sách diệt chủng văn hóa và kinh tế của nhà cầm quyền cộng sản. Bi đát nhất là người Tây Tạng, phải dùng phương pháp đường cùng là thiêu thân mình để phản kháng lối cai trị tàn bạo của Trung Quốc. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, nông dân bị tước đoạt hoa lợi và không có quyền sở hữu của cải và đất đai, họ không còn cách nào khác là nổi dậy chống lại một hệ thống cường hào ác bá mới. Những kẻ bóc lột ở làng Ô Khảm đã bị phế, nông dân Tiên Lãng dựng tượng một người anh hùng mới. Khi người có giáo dục và người lương thiện đều oán chính quyền thì chính quyền có còn chính danh không?

 

Kỹ thuật truyền thông lại tiến mau, giúp cho người dân có phương tiện vượt qua những hàng rào bưng bít thông tin và sự thật của chính quyền. Vào thời dùng báo giấy, nhờ kiểm soát hết mọi phương tiện truyền thông, nhà nước có thể kiểm soát hết từng câu chữ, từng sự kiện tới được mắt độc giả. Internet ra đời, những trang web xã hội trở thành một thú tiêu khiển của người biết dùng máy điện toán, chấm dứt cái thời nhà cầm quyền tùy hứng nhào nắn dư luận. Dư luận ngày nay như Hercules, hễ bị vật xuống đất thì nó đứng dậy mãnh liệt hơn trước; nhà cầm quyền bóp dư luận thì dư luận vạch mặt nhà cầm quyền mau hơn. Chính quyền độc tài tốn nhiều tiền và đau đầu nhiều lắm mà không diệt được mòi phản kháng trong dân chúng, phải viện tới những biện pháp bất chính để phá hủy sự nghiệp của những người dùng cây bút làm phương tiện đấu tranh. Nhưng tài năng của những người có lý tưởng này không vì nghịch cảnh mà thui chột. Những ký giả và blogger trẻ tuổi như Osin Huy Đức, Hoàng Khương, Đoan Trang, Hoàng Thục Vy sau mỗi lần bị vu hãm là có nhiều người thông cảm hơn. Ở đâu tự do ngôn luận bị thắt cổ thì ở đó ngôn từ sẽ trở thành tội ác. Chỉ có tài cầm bút mà viết để diệt những tệ thối nát của nhà cầm quyền thì ở Việt Nam coi như là lận đận đường cơm áo. Nhưng họ được nhiều độc giả ủng hộ, những tổ chức và định chế quốc tế lên tiếng bảo vệ và vinh danh họ vì họ hy sinh cho ly tưởng tự do. Nhưng tưởng thưởng lớn nhất của họ có lẽ là niềm vui của một lương tâm không bị câu thúc, không mang niềm ân hận của những người phải dằn vặt giữa một bên là sự thật và tự do tư tưởng, một bên là túi cơm và nô lệ tư tưởng.

 

Trước khi cuộc đấu tranh này của những người yêu tự do tới chung cục, chúng ta hãy hy vọng:

- Nhà cầm quyền của chúng ta hiểu được rằng, hành động thiếu minh mẫn và tàn bạo chừng nào thì chính họ sẽ dựng lên trên sân khấu chính trị quốc tế những vở tuồng vụng, để lại những vết ố trong lịch sử không thể nào tẩy xóa được.

 

- Họ lường trước chung cục mà bớt dùng những thủ đoạn tùy tiện để vu hãm những người chỉ lấy ngôn luận làm phương tiện đấu tranh, và

 

- Những người nuôi ảo tưởng về quyền lực hiểu ra rằng tư tưởng bản thân tự nó tự do, chỉ có thể bắt nhốt thân của những người bày tỏ tư tưởng, chứ chừng nào cái gốc của mọi sự bất công chưa bứng sạch thì sẽ không sao diệt được cái mầm phản loạn trong dân chúng.

 

Trong một thế giới mà những tiến bộ về dân quyền, chính trị và kinh tế không thể tách rời nhau, và mỗi quốc gia muốn thịnh vượng phải nhập chung vào dòng giá trị và tiêu chuẩn của thế giới văn minh, thì nhà cầm quyền không thể thủ lợi mãi trên sự bần cùng của dân chúng, cũng không thể hô hào ổn định để tùy tiện xâm phạm tự do tư của công dân. Dân chủ đã hiện ra rõ ràng thành con đường văn minh của nhân loại, và nhiều dân tộc dù đổ máu cũng đã chọn con đường đó thì những người đấu tranh cho tự do có lý mà tin rằng lý tưởng của họ sẽ thành hiện thực.

Thái Phục Nhĩ
danlambaovn.blogspot.com

 

______________________________________

Chú thích:

[1] Ở Mỹ và Tây Âu sau Đệ Nhị Thế Chiến người ta chán chiến tranh và giết chóc, chỉ muốn sống yên ổn để xây dựng lại những gì đã phá đi trong chiến tranh. Trong hai thập kỷ sau thế chiến, Tây Âu kiến thiết lại được đất nước, nhưng nền kinh tế đó và thành quả của nó vẫn còn đang mong manh khi Mỹ và LBS chạy đua võ trang và đẩy chiến tranh lạnh tới chỗ cực đoan; thế giới và loài người có thể bị nhấn chìm một lần nữa. Giới trẻ và sinh viên giương cao biểu ngữ Make Love, Not War phán kháng chiến tranh, đòi tự do, bình đẳng, hòa bình và hưởng thụ.

 

[2] Nguyễn Hiến Lê, Nhà Cầm Quyền Và Dư Luận, in trong Để Tôi Đọc Lại, Văn Học xuất bản, Hà Nội, 2001

 

[3] Hoàng Tụy, Tự Thuật, trích trong Nhiều tác giả, GSTS Hoàng Tụy, Sĩ Phu Ngày Nay, Tri Thức xuất bản, Hà Nội, 2007

 

[4] Lữ Phương, BBC tiếng Việt ngày 26 tháng Hai 2012.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/02/120226_vn_marxist_lu_phuong.shtml

 

[5] Michael Bristow, BBC tiếng Việt ngày 21 tháng Hai 2012.
  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2012/02/120221_china_opponents.shtml

Vấn đề Trung Quốc của thế giới và của Việt Nam

Vấn đề Trung Quốc của thế giới và của Việt Nam

Nguyễn Xuân Nghĩa (Việt Báo) - Biến cố Tháng Tư 1975 làm thay đổi vận mệnh quốc gia, trong đó, bản thân chúng ta chỉ là mảnh vụn rất nhỏ. Nhưng cũng từ đó, chúng ta đều phải suy nghĩ về đất nước và không chỉ tưởng niệm hoặc luyến tiếc mỗi năm vào dịp Tháng Tư. Chúng ta suy nghĩ về quá khứ với câu hỏi "Tại sao?" - và về tương lai với câu hỏi "Sẽ Ra Sao?"

 

Không tham gia bất cứ một tổ chức đấu tranh chính trị nào, bản thân chúng tôi kính trọng những người đấu tranh dù có khi không hoàn toàn đồng ý về mọi chuyện. Và càng kính trọng những người đấu tranh vì lý tưởng hơn là vì mơ tưởng sẽ có một vai trò chính trị nào đó trong tương lai. 

 

Cũng vì vậy mà chúng tôi có mặt trên diễn đàn này, như một người nghiên cứu về kinh tế và quan tâm đến Trung Quốc từ nhiều giác độ khác nhau.

 

Bài tiểu luận rất tóm gọn của chúng tôi sẽ có bốn phần và rất ít con số khô khan, chỉ với ước mong là gợi ý suy tư về chuyện quốc gia và quốc tế.

 

Trước hết là về bối cảnh chung: "Vì sao Trung Quốc là vấn đề?" Kế tiếp mới là "Vấn đề Trung Quốc của thế giới", và "Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam". Sau cùng là phần kết luận, "Vấn đề Trung Quốc của chúng ta" - với vài câu hỏi... nhức đầu. 

 

Chúng tôi xin đầu tiên nói về bối cảnh.

 

Vì Sao Trung Quốc là Vấn Đề?

 

Quốc gia nào cũng có những giai đoạn thăng trầm trong lịch sử của từng dân tộc. Trong thế giới gọi là "toàn cầu hóa" ngày nay, hầu hết các quốc gia đều cũng có quan hệ với nhau, về ngoại giao, kinh tế hay an ninh. 

 

Trung Quốc là trường hợp cá biệt vì nhiều di sản của quá khứ.

 

Sau nhiều thế kỷ là đại cường Á châu và thế giới, Trung Quốc đã trải gần hai thế kỷ lụn bại vì nội loạn từ bên trong và ngoại xâm từ bên ngoài. Những biến cố kéo dài như vậy có ảnh hưởng đến tâm lý của dân tộc, chính yếu là Hán tộc. Vừa tự tôn vừa tự ti có thể là một phản ứng tiêu biểu. Khinh thường mà cũng nghi ngờ và e sợ thiên hạ là cách nói dễ hiểu hơn.

 

Sau nửa thế kỷ nội loạn triền miên, Trung Quốc chỉ giải quyết xong vấn đề ngoại xâm từ hậu bán thế kỷ 20, vào năm 1949, rồi mất 30 năm điên khùng với bài toán dựng nước. Điên khùng vì sự hoang tưởng của Mao. Cho đến năm 1979, xứ này mới tìm được lối ra nhờ Đặng Tiểu Bình.

 

Từ đó, trong 30 năm liền, xứ này đã tạm yên với chiến lược tăng trưởng khi mở cửa giao lưu kinh tế với thế giới. Tăng trưởng bằng mọi giá là một cách nói dễ hiểu.

 

Nhờ dân số đông nhất địa cầu và lại là nước đi sau có thể học được kiến thức và kinh nghiệm các nước đi trước, xứ này sớm thành cường quốc kinh tế. Một quốc gia có trọng lượng kinh tế thứ nhì thế giới. Nhưng người dân thì vẫn thuộc loại "Ba Bê", nghèo như các nước Belarus, Belize hay Bolivia, nếu tính bằng lợi tức đầu người. 

 

Đấy là một mâu thuẫn tâm lý đáng chú ý.

 

Vì yếu tố lịch sử - và đôi khi văn hóa – Trung Quốc cho rằng thế giới có tội về những tai họa của họ từ thời suy sụp của nhà Mãn Thanh. Và rằng từ nay sự thể sẽ khác. Vì vậy, trong quan hệ với các quốc gia, lãnh đạo xứ này không hề có một chút mặc cảm khi làm những điều mà thế giới không còn chấp nhận nữa. Lãnh đạo Trung Quốc có đầy đủ kiến thức của thế kỷ 21, nhưng hành xử với thủ đoạn trung cổ, theo những nấc thang giá trị đã lỗi thời, mà họ vẫn coi là chính đáng.

 

Vì vậy, chúng ta mới có vấn đề Trung Quốc.

 

Về ngoại giao, Trung Quốc là thành viên thường trực và có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, và cũng tham dự vào hầu hết mọi tổ chức chuyên môn quốc tế. Có quan hệ với gần 200 quốc gia lớn nhỏ trên thế giới, Trung Quốc không hành xử như cường quốc có trách nhiệm về sự yên bình của địa cầu. Khi cần trục lợi thì ngoại giao chỉ là một phương tiện, và đạo lý quốc tế là một chướng ngại mà họ tự cho là có quyền phủ nhận. 

 

Về kinh tế, xứ này cũng có chủ trương lý tài và thực dụng trong mục tiêu tối thượng là trục lợi. Tức là sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để giành phần hơn, kể cả ăn cắp, ăn cướp, bằng luật lệ hoặc qua tình báo, tham nhũng, mua chuộc. Chủ trương phát triển nền tư bản nhà nước cho phép lãnh đạo xứ này sử dụng các doanh nghiệp nhà nước trong tinh thần chiến đấu để ăn cướp. Chúng ta có cả trăm trường hợp minh diễn chuyện này.

 

Về môi trường, Trung Quốc là một trung tâm gây ô nhiễm toàn cầu mà... bất chấp. Họ không tham gia vào nỗ lực chung của cả thế giới để bảo vệ môi trường sinh sống của nhân loại và bên trong cũng chẳng kiểm soát việc bảo vệ môi sinh vì coi đó là một trở ngại cho tăng trưởng. Tăng trưởng bằng mọi giá là một chủ trương, cái giá ấy, ai sẽ trả, bao giờ trả thì không đáng kể.

 

Cũng về môi trường, chuyện đáng nói hơn cả là sau khi tấn công Tây Tạng năm 1950 rồi hoàn toàn kiểm soát xứ này từ năm 1959, Trung Quốc đang làm chủ Cao nguyên Tây Tạng và phần lớn của rặng Hy Mã Lạp Sơn đầy băng tuyết. Đây là đỉnh cao nhất thế giới, và một đệ tam cực sau Nam-Bắc cực, trung tâm phát nguyên những con sông lớn nhất Á Châu. Đây cũng là một "tháp nước" của toàn cầu, nơi cung cấp nước ngọt qua mạng lưới sông ngòi nuôi sống hơn một tỷ người dân Á Châu. 

 

Khi kiểm soát Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Tây Tạng, Trung Quốc làm chủ nguồn nước của hầu hết các nước Á Châu vây quanh. Và họ điều tiết nguồn nước đó cho mình mà bất kể đến quyền lợi hay sinh mệnh người dân xứ khác, dù là Pakistan, Kyrgyzstan, Ấn Độ, Bangladesh, hay Miến Điện, Thái Lan và ba nước Đông Dương Việt, Miên, Lào. Năm nước sau cùng này đều có thể sống hay chết vì sông Mekong và lưu vực của dòng sông là nơi sinh hoạt của 60 triệu dân.

 

Trong khi ấy, Cao nguyên Tây Tạng cũng là nơi hủy thải phế vật uranium của kỹ nghệ hạch tâm, theo tiêu chuẩn mất an toàn đặc biệt của Trung Quốc.

 

Kết hợp ngần ấy chuyện ngoại giao, kinh tế và môi sinh, Trung Quốc còn là vấn đề khi hợp tác, mua chuộc và khuynh đảo các chế độc độc tài và hung đồ của thế giới, miễn là đảm bảo được quyền lợi của mình. Mọi chế độ độc tài còn rơi rớt lại trên thế giới đều là thân chủ của Trung Quốc và được Bắc Kinh bao che, bảo vệ, từ Bắc Hàn đến Việt Nam, từ Sudan tới Iran, Syria...

 

Sau cùng, về an ninh và quân sự, Trung Quốc tự cho mình quyền bảo vệ luồng giao lưu buôn bán, lần đầu tiên trong lịch sử được mở ra thế giới bên ngoài. Nhưng bảo vệ theo màu sắc Trung Hoa thời cổ. Không chỉ chiếm đóng các lân bang để xây dựng vùng trái độn quân sự như đã từng làm từ thời xưa, Trung Quốc muốn mở rộng vùng trái độn ấy ra bên ngoài, và ra biển.

 

Từ 20 năm trước, lãnh đạo xứ này đã chuẩn bị việc kiểm soát vùng biển cận duyên hay xanh lục làm vùng trái độn quân sự. Ngày nay, với phương tiện kinh tế dồi dào hơn, Trung Quốc có tham vọng sớm thành cường quốc hải dương với khả năng kiểm soát vùng biển viễn duyên là biển xanh dương. Trong phạm vi đó, cái lưỡi bò chúng ta nghe nói đến chỉ là phần trái độn cận duyên, ở ngoài Đông hải. Trong một tương lai không xa, Trung Quốc sẽ đòi kiểm soát luồng giao lưu từ Bán đảo Á Rập qua Ấn Độ dương nối liền với miền Tây Thái bình dương.

 

Khi thế giới có một đại cường mới xuất hiện thì quan hệ giữa các nước có thể đảo lộn. Khi đại cường lại là một Trung Quốc có đầy mặc cảm và lối hành xử ngang ngược mà lãnh đạo và người dân lại coi là chính đáng, thế giới sẽ khó yên lành. 

 

Sau phần bối cảnh, chúng ta bước qua phần vấn đề. 

 

Vấn đề Trung Quốc của Thế giới...

 

Quốc gia nào cũng có thể có những tranh chấp về lãnh thổ với các lân bang. 

 

Trung Quốc là quốc gia có tranh chấp với hầu hết mọi lân bang, cả chục nước, từ Nga qua Ấn Độ đến các nước Đông Nam Á lên tới Nhật Bản... Khi có tranh chấp, quốc gia nào cũng có thể yêu cầu quốc tế tham gia giải quyết hoặc tôn trọng phán quyết của quốc tế. Lãnh đạo Trung Quốc lại không chấp nhận việc thương thảo đa phương trên một diễn đàn quốc tế mà tìm giải pháp song phương với từng nước, theo kiểu cố hữu là vừa dọa vừa dụ vừa mua chuộc hoặc khuynh đảo. Đấy là một vấn đề của thế giới.

 

Chuyện cái lưỡi bò hoặc khu đặc quyền kinh tế hay Luật biển của Liên hiệp quốc chỉ là mặt nổi của các vấn đề ngoại giao hay pháp lý với Bắc Kinh. Nếu tiến lên khu vực tiếp cận Hy Mã Lạp Sơn và những vùng tranh chấp giữa Pakistan và Ấn Độ tại Kashmir, hoặc giữa Ấn Độ với Trung Quốc chung quanh xứ Nepal, Bhutan cho tới biên giới Miến Điện, người ta còn thấy ra nhiều mối nguy tiềm ẩn từ Trung Quốc, kể cả xung đột giữa hai nước có võ khí hạch tâm là Pakistan và Ấn Độ. 

 

Với phương tiện quân sự lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử xứ này, Trung Quốc có thể đổi trị sang loạn ở nhiều nước trên thế giới.

 

Dĩ nhiên, lãnh đạo Trung Quốc không muốn trực diện gây chiến với các lân bang, nhưng tiến hành chiến tranh theo kiểu khác. Đó là khuynh đảo để gây bất ổn và dùng chính mối nguy bất ổn đó để bắt bí hoặc mua chuộc các nước mà khỏi phải dụng binh. Khi cứ nói đến tương quan lực lượng quân sự giữa Trung Quốc với các nước, dường như người ta chỉ thấy một mặt nổi của vấn đề. 

 

Mặt chìm rất khó nhìn ra và ngăn ngừa là khả năng gây loạn cho xứ khác, để chi phối quan hệ giữa các nước khác với nhau, theo lối có lợi cho Bắc Kinh.

 

Từ an ninh bước qua chính trị và kinh tế, Trung Quốc là vấn đề cho thế giới khi đưa ra một mô thức xử trí khác, xin gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh".

 

Sau khi chi phối cả thế giới trong nhiều thế kỷ, các nước Tây phương, chủ yếu là Hoa Kỳ và Âu Châu, đã rút tỉa kinh nghiệm chính chiến, thay đổi và tiến tới một giải pháp hòa bình và ổn định hơn. Đó là phát triển kinh tế tự do với sự lãnh đạo chính trị dân chủ trong một xã hội cởi mở mà không ai có độc quyền chân lý. Các định chế quốc tế đều được xây dựng theo ba giá trị tinh thần đó, là tự do, dân chủ và cởi mở để hướng dẫn quy tắc hành xử giữa các nước với nhau. 

 

Trung Quốc phát minh ra giải pháp khác: kinh tế thị trường với vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước, dưới sự cai trị của một chế độ độc đảng, và chân lý duy nhất được hiện hữu là của đảng độc quyền. Đó là tóm lược về khái niệm "Đồng thuận Bắc Kinh", mà đa số dư luận chỉ nhìn vào mặt nổi là sức can thiệp chủ động của nhà nước trong kinh tế để đạt tốc độ tăng trưởng cao.

 

Khi áp dụng khái niệm này trong quan hệ quốc tế, với bộ máy tuyên truyền cùng các dự án đầu tư lẫn thủ thuật hối lộ và khuynh đảo, Trung Quốc đảo lộn luật chơi của thế giới. Phong trào phát huy dân chủ gặp chướng ngại, bị đẩy lui, các chế độ độc tài được bảo vệ, và quốc gia nào cũng muốn đi theo con đường tắt của Trung Quốc là bành trướng khu vực nhà nước vào kinh tế, thu hẹp quy luật thị trường, thoái lui về chế độ bao cấp và bảo hộ mậu dịch....

 

Trong hoàn cảnh suy trầm kinh tế toàn cầu từ bốn năm nay, giải pháp ngược ngạo của Bắc Kinh bỗng trở thành hấp dẫn cho nhiều người, nhất là các lãnh tụ độc tài, và trong khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, mâu thuẫn giữa các nước với nhau càng dễ xảy ra. Nghĩa là Bắc Kinh càng có cơ hội trục lợi.

 

Vì vậy, các quốc gia dân chủ đều gặp vấn đề với Trung Quốc, không về kinh tế hay ngoại thương thì về ngoại giao và an ninh. Và càng ở gần xứ này thì càng vất vả. Trong khi vòng đai độc tài không thu hẹp lại mà còn mở rộng thêm nhờ sự hà hơi tiếp sức của Trung Quốc. 

 

Trong cuộc đua giữa thiện và ác, trị và loạn, hòa bình và xung đột, dân chủ và độc tài, minh bạch và mờ án, Trung Quốc trở thành một trung tâm phát huy cái ác. 

 

Nhưng với khẩu hiệu là không xen lấn vào nội bộ xứ khác. Và với thực tế là đối tác kinh tế của rất nhiều quốc gia. 

 

Các nước Âu, Á, Phi, Mỹ gì đều có thể là bạn hàng của doanh nghiệp Trung Quốc, mà bên trong mỗi doanh nghiệp lại có các chi bộ đảng với nhiệm vụ tình báo, báo cáo, kiều vận và gian lận theo đúng chủ trương của đảng. Ngược lại, doanh nghiệp nào, công hay tư, của Trung Quốc cũng đều có quan hệ với hệ thống quốc doanh và vì vậy kế toán sổ sách gì cũng đều là "bí mật quốc gia" nên không được phép phổ biến.

 

Kết cuộc là từ an ninh, môi sinh đến ngoại giao, kinh tế hay đầu tư, Trung Quốc trở thành vấn đề của thiên hạ mà vì quyền lợi nhất thời, lẫn sự vận động tiền bạc của Bắc Kinh vào hệ thống truyền thông của thế giới, nhiều người không muốn nói ra. Hoặc còn cố tình gây ra ấn tượng sai lạc về Trung Quốc.

 

Thực tế thì cuộc đua giữa thiện và ác, giữa minh và ám, đang thể hiện ở một tầng rất cao là nhận thức. Trung Quốc tác động vào nhận thức của thiên hạ về chính mình – "một quốc gia mới phát triển sau nhiều thế kỷ là nạn nhân" – và về các nước dân chủ được coi là đối thủ, hay thủ phạm của nhiều tội ác trong lịch sử! 

 

Đó là "thuật quỷ biển" trong kho tàng mưu lược của văn hoá chính trị Trung Hoa.

 

Chúng ta bước qua một đề mục gần hơn, ở phần ba.

 

Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam

 

Nói về lịch sử mà ai cũng nhớ, sau khi chiếm đóng Tân Cương năm 1949, khống chế Tây Tạng năm 1950, và bị chặn tại bán đảo Triều Tiên năm 1953, Trung Quốc đã nghĩ tới Việt Nam như một vùng trái độn quân sự cần thiết. Trong thế thủ thì bảo vệ cõi Trung Nguyên và trong thế công thì bành trướng ảnh hưởng xuống vùng Đông Nam Á và ra tới biển nóng ở miền Nam. 

 

May thay, lúc đó họ lại có đảng Cộng sản Việt Nam và giấc mơ tiến hành cách mạng vô sản trên cả nước của Hồ Chí Minh. 

 

Đấy là một trong nhiều nguyên nhân của cuộc tương tàn, với sự tiếp sức của Liên Xô khi tiến hành Chiến tranh lạnh năm 1948 và chủ yếu của Trung Quốc ngay từ những ngày đầu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Mao sáng lập năm 1949. Nối tiếp nhiệm vụ của Hồ Chí Minh từ khi là cán bộ của Đệ tam Quốc tế được gửi về hoạt động tại Đông Nam Á từ năm 1924, xa xưa, đảng Cộng sản Việt Nam tự nhận là mũi xung kích của khối Cộng sản xuống Đông Nam Á, mà việc gọi là giải phóng miền Nam chỉ là một tất yếu.

 

Nhưng ngoài lý do ý thức hệ dại dột, có một chuyện mà đôi khi chúng ta ít chú ý là về địa dư hình thể, Trung Quốc là một "hải đảo" bị cô lập. 

 

Xứ này bị vây hãm từ cả bốn hướng. Giữa các sa mạc, thảo nguyên hoang vu cùng núi rừng hiểm trở tại ba hướng Nam, Tây và Bắc với biển Thái bình tại hướng Đông, Trung Quốc chỉ có một đường bành trướng trên đất liền. Đó là miền Bắc nước Việt Nam. Lần cuối mà họ thử nghiệm giải pháp đó là vào năm 1979 khi Hà Nội chủ quan tưởng rằng mình đã đánh cho Mỹ cút lại còn vừa ký Thỏa ước Hợp tác và An ninh với Liên Xô vào năm 1978! 

 

Sau đó, Cộng sản Việt Nam có một giai đoạn được gọi là "độc lập" là 10 năm chiếm đóng Kampchia và cứng đầu với Bắc Kinh. Nhưng bị xuất huyết cũng vì sự chiếm đóng ấy, song song cùng việc phá sản vì xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đúng tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

 

Khi bức tường Bá Linh sụp đổ sau vụ khủng hoảng và tàn sát Thiên an môn năm 1989, mọi sự đều đảo lộn. 

 

Liên Xô bắt đầu tan rã, Trung Quốc e sợ nội loạn nên tập trung kiểm soát hệ thống chính trị bên trên cơ chế kinh tế thị trường. Và lãnh đạo Hà Nội như kẻ mồ côi bị mất quan thầy. Vì vậy, việc cứu đảng là một ưu tiên sinh tử từ năm 1991. 

 

Hà Nội trở lại thần phục Trung Quốc, chấm dứt 10 năm độc lập dưới bóng rợp Liên Xô và thực tế tiến hành "đổi mới", nhưng theo mẫu mực Bắc Kinh. Trung Quốc trở lại xu hướng bành trướng cố hữu mà khỏi tốn quân tốn tiền và vẫn đạt kết quả như ý: miền Bắc Việt Nam trở thành vùng trái độn quân sự.

 

Khi Bắc Kinh mở rộng vùng trái độn ấy ra biển, Đông hải của Việt Nam trở thành ao nhà của Trung Quốc. Biển Việt Nam chỉ là biển Hoa Nam. Lãnh đạo Hà Nội ý thức được việc đó nhưng chấp nhận để bảo vệ quyền lực đảng, nhân đó bảo vệ được quyền lợi của các đảng viên cao cấp. 

 

Nếu có nói rằng họ bán nước để cứu đảng thì không sai.

 

Hậu quả là mọi vấn đề Trung Quốc của thế giới như đã trình bày ở trên đều đã xuất hiện tại Việt Nam, từ an ninh, ngoại giao qua môi sinh kinh tế, hay ngoại thương. 

 

Ở mặt nổi mà ai cũng thấy dù không được nói ra là nạn lạm thác lâm sản, buôn lậu qua biên giới và hủy hoại môi trường, là tình trạng cạn kiệt của đồng bằng Cửu Long và hiện tượng nước biển ngập mặn cả đồng bằng. Trong khi ấy khu vực chiến lược như cột xương sống của quốc gia là Cao nguyên Trung phần đã rơi vào quỹ đạo Trung Quốc với các dự án bauxite quái quỷ....

 

Nhưng biểu hiện nghiêm trọng hơn vậy là lập trường của Hà Nội lại rất thân Trung Quốc trong các hồ sơ nóng của thế giới. Hoặc việc Hà Nội tránh nêu vấn đề về Hoàng Sa hay Trường Sa trên diễn đàn quốc tế theo kiểu đa phương mà tìm giải pháp song phương theo quan hệ chủ tớ. Vì vậy mới giấu biến không cho dân chúng được biết về những gì đã thỏa thuận với Bắc Kinh. Và cũng vì vậy, Hà Nội kiểm soát dư luận, cấm đoán việc người dân công khai phản đối sự xâm lược ngang ngược của Trung Quốc và nói nước đôi về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa.

 

Từ mấy năm qua, người Việt chúng ta đã nói rất nhiều đến vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, bài tiểu luận này sẽ không nói thêm. Chúng tôi xin giành thời giờ cho phần cuối, một cách tóm lược với vài câu hỏi không vui.

 

Vấn đề Trung Quốc của Chúng ta

 

Đất nước và dân tộc Việt Nam đang gặp vấn đề với Trung Quốc, có thể là nguy ngập hơn vì vị trí lân bang, nhưng cũng không khác nhiều quốc gia Á Châu ở chung quanh. Do đó, vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm trong khuôn khổ các vấn đề chung của thế giới với Trung Quốc. 

 

Khi nhìn như vậy, Việt Nam thật sự không đơn độc và phải một mình đương cự với Trung Quốc.

 

Nhưng, khác với trường hợp của các quốc gia kia, vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm trong tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm tại Hà Nội, là Hà Nội. Đấy là cái khó của dân tộc, một dân tộc dày dạn kinh nghiệm đối phó với Trung Quốc và có thừa ý chí đấu tranh giành độc lập.

 

Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm tại Hà Nội vì đảng Cộng sản đã giải giới người dân, tước đoạt võ khí truyền thống và mãnh liệt nhất của dân tộc là ý chí chống lại tình trạng Hán hóa. 

 

Hà Nội tiến hành chính sách ngu dân qua kiểm soát báo chí và tư tưởng, đưa mọi người vào phản ứng lý tài, phát huy bản năng kinh tế của loại sinh vật hạ đẳng là vặt mũi bỏ mồm và triệt hạ mọi tiềm lực quật khởi. Lãnh đạo Hà Nội hành xử như những quan Tiết độ sứ của Thiên triều Bắc Kinh trong thời Bắc thuộc, thậm chí như những quan Thái thú trời trực trị. Họ đang làm xã hội băng hoại và đẩy người dân vào kiếp nô lệ cho một thiểu số đại gia phe phẩy ở trên. 

 

Muốn giải quyết vấn đề Trung Quốc, người Việt Nam phải giải quyết cái nhân khiến sức dân không được huy động vào nhu cầu bảo vệ nền độc lập, đó là đảng Cộng sản. Ưu tiên của Việt Nam vì vậy là phải tháo gỡ cách ách độ hộ của Trung Quốc do Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam đã tròng lên cổ người dân. Tức là giải quyết đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Với các quốc gia khác, Việt Nam phải là thành viên của một nỗ lực đa phương nhằm giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới. Khi cùng chung một mục tiêu, người ta có thể nói đến chuyện hợp tác, một cách bình đẳng vì lợi ích chung. Vì vậy, vấn đề Trung Quốc của thế giới phải do thế giới giải quyết và Việt Nam sẵn sàng tham gia như một thành viên. Nhưng không là mũi xung kích hay tiền đồn chống Trung Quốc của thế giới.

 

Chuyện ấy dẫn chúng ta về Hoa Kỳ, dù sao cũng là quốc gia đang buôn bán nhiều nhất với Trung Quốc.

 

Nhiều người đã quên các bài học bi đát của quá khứ với Hoa Kỳ mà đặt sai vấn đề là nên đứng bên cạnh Hoa Kỳ hay Trung Quốc. Hoặc trong quan hệ song phương Mỹ-Hoa, Việt Nam nên ngả về đâu? Hay là nên khôn ngoan giữ vị trí trung lập?

 

Thực tế nó phức tạp hơn những gì xảy ra trong chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và tự do. 

 

Thực tế là Trung Quốc có vấn đề với Hoa Kỳ, có vấn đề với Nhật Bản, có vấn đề với Ấn Độ, với các nước Đông Nam Á, thậm chí với cả Úc Đại Lợi. Trong một mạng lưới quan hệ song phương chằng chịt đó, như Hoa-Mỹ, Hoa-Nhật, Hoa-Ấn, v.v... Việt Nam đứng ở đâu? Tất nhiên là đứng với người dân, ở vị trí độc lập, chứ không đơn giản là trung lập. Làm sao trung lập trong một quan hệ đa phương?

 

Việt Nam sẵn sàng hợp tác với thế giới để giải quyết vấn đề Trung Quốc trong những nỗ lực đa phương của quốc tế. Nhưng trước hết phải giải quyết vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, hiện nằm tại Hà Nội. Khi nào người dân Việt ở trong và ngoài nước làm cho thế giới hiểu ra sự thể đó – rằng mối nguy của Trung Quốc chính là Hà Nội và Hà Nội mới là vấn đề chứ không là giải pháp – chúng ta đã tiến được một bước khá xa trên chặng đường bảo vệ nền độc lập quốc gia. 

 

Vì vậy, đấu tranh cho dân chủ và cho độc lập là hai mặt không thể tách rời của một sự thể sinh tử cho quốc gia.

 

Cho đến nay, hình như ta mới chỉ chú ý đến một mặt, là trình trạng thiếu dân chủ hoặc nạn chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Sự thật phũ phàng là các quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đều có thể đang làm ăn với nhiều chế độ độc tài. Với chính quyền các nước này, nhiều khi lời kêu gọi dân chủ của chúng ta lại là sự phiền nhiễu, là chướng ngại cho hợp tác kinh tế và phát triển kinh doanh. 

 

Nếu ta nêu lên hàng loạt vấn đề về môi sinh, nạn hủy hoại nguồn nước, tình trạng cạnh tranh bất chính hoặc nguy cơ lũng đoạn xã hội xuất phát từ Trung Quốc, ngoài sự bành trướng ngang ngược đã trở thành hiển nhiên, thì vì quyền lợi của họ hơn là dân chủ của Việt Nam, các nước có thể quan tâm nhiều hơn đến lập trường của chúng ta. 

 

Muốn như vậy, ngay từ ý thức thì chúng ta nên là giải pháp hơn là một vấn đề cho các nước. Câu hỏi nêu lên ở đây là mình đã tự chuẩn bị như vậy hay chưa?

 

Sau cùng, Trung Quốc thật ra không mạnh như nhiều người thường nghĩ và còn gặp nguy cơ khủng hoảng, thậm chí tan rã, vì chiến lược phát triển của họ không bền vững, cân đối và có đầy bất công. Khi nước Tầu có loạn như đã từng thấy nhiều lần trong lịch sử, Hà Nội tất sẽ không thể yên. 

 

Khi đó, Việt Nam sẽ ra sao? Khi đó, chúng ta đứng ở đâu? Mà chúng ta là ai? 

 

Nguyễn Xuân Nghĩa

 

http://www.vietbao.com/D_1-2_2-349_4-190831_5-50_6-1_17-179632_14-2_15-2/

 

*

 

Bài này thuyết trình tại Hội Thảo Chính Trị: Định Hướng Đấu Tranh Cho Việt Nam Tự Do ngày Chủ Nhật 15-4-2012 tại Westminster, Califrornia.

 

Giới thiệu về Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa:

 

Trước 1975

 

- Chủ tịch Tổng hội sinh viên Paris trong thời gian Hòa đàm Paris

 

- Chuyên viên kinh tế Quỹ Phát triển (tương đương cấp Thứ trưởng trước năm 1975

 

Sau 1975

 

- Viết báo và bình luận kinh tế cho hầu hết các Đài quốc tế VOA, RFA, RFI...)

 

 

10 Ý kiến:

1.      TL

Ông Nghĩa ơi,Ông có bài thuyết trình quá tuyệt.Bộ mặt thật của TQ đã được lột ra từ nhiều phía.Hà nội ngộ thế nào?

2.      Người Việt Nam.

Tôi đồng ý với những nhận định sâu sắc của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa.
TQ chính là gốc của mọi vấn đề rắc rối thường xuyên cho các nước trong khu vực, đặc biệt là vùng Đông Nam Á trong đó có VN bị lệ thuộc và ảnh hưởng nghiêm trọng.

Kể từ nay, tôi tuyên bố không đấu tranh chống đối nhà cầm quyền đảng csVN nữa vì lý do bè lũ này thực chất chỉ là tay sai, là bù nhìn, là những con rối được điều khiển bởi chính quyền Bắc Kinh, TQ.
Cùng là người máu đỏ da vàng, được hưởng chung giòng sữa Mẹ trên mảnh đất hình chữ S, tại sao anh em phải tương tàn lẫn nhau chỉ bởi tác động của kẻ xấu xa khác (TQ).
Chúng ta là ai? câu hỏi này của tác giả rất hay. Nếu tất cả chúng ta cùng thay đổi thái độ, là người VN và cùng quay về một hướng thì tổ quốc lúc đó sẽ đẹp và mạnh như thế nào?
Đập rắn thì phải đập cái đầu. Ngay từ bây giờ tôi xin gia nhập phong trào "giải phóng nhân dân Trung quốc thoát ách Cộng Sản" chuyên gieo rắc chiến tranh và thù hận trên khắp thế giới.
Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa (Việt Báo) và diễn đàn DLB.

1.      Nghịch Nhĩ

Khả năng đọc hiểu của bác Người Việt Nam có vấn đề không khi bác kết luận "Kể từ nay, tôi tuyên bố không đấu tranh chống đối nhà cầm quyền đảng csVN nữa vì lý do bè lũ này thực chất chỉ là tay sai, là bù nhìn, là những con rối được điều khiển bởi chính quyền Bắc Kinh, TQ." trong khi tác giả NXN đã viết rõ như thế này, "Muốn giải quyết vấn đề Trung Quốc, người Việt Nam phải giải quyết cái nhân khiến sức dân không được huy động vào nhu cầu bảo vệ nền độc lập, đó là đảng Cộng sản. Ưu tiên của Việt Nam vì vậy là phải tháo gỡ cách ách độ hộ của Trung Quốc do Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam đã tròng lên cổ người dân. Tức là giải quyết đảng Cộng sản Việt Nam." Ngọn cờ cách mạng Việt Nam hiện nay phải là độc lập tự chủ chứ không chỉ là dân chủ nhân quyền.

3.      TDN

"Trong cuộc đua giữa thiện và ác, trị và loạn, hòa bình và xung đột, dân chủ và độc tài, minh bạch và mờ án, Trung Quốc trở thành một trung tâm phát huy cái ác."


Câu nầy nói lên tất cả,cảm ơn bác Nguyễn Xuân Nghĩa,rất ngưỡng mộ bác qua các bài phân tích ,bình luận cũng như các phỏng vấn trên đài nhất là diễn dàn kinh tế của RFA mỗi thư tư.Chúc bác nhiều sức khỏe .

4.      Chúng ta phải suy ngẫm và tìm hướng đi đúng

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa có bài phân tích hay.

Tuy nhiên vấn đề của chúng ta ở đây không phải khen bài viết hay mà chúng ta phải suy ngẫm, phân tích và tìm hướng đấu tranh phù hợp thực tế và mang lại hiệu quả cao.

Ngoài bài viết của ông Nghĩa ra, còn 1 bài viết cũng phân tích rất sâu rộng và thực tế đáng để chúng ta suy ngẫm. Đó là bài viết của Giáo sư Nguyễn Chính Kết. Đó là bài: "Lượng Định Ap Lực Quốc Tế Lên Nhà Cầm Quyền Việt Nam Và Sự Phản Kháng Của Quần Chúng Quốc Nội". Bài này được thuyết trình cùng với bài của ông Nghĩa trong buổi hội thảo.

Mời quý vị bằng hữu có tâm với dân tộc, tổ quốc vào đây tham khảo bài viết và suy ngẫm để cùng tìm ra hướng đi phù hợp mang lại hiệu quả cao nhất:

http://vietbao.com/D_1-2_2-67_4-190834_5-15_6-1_17-6427_14-2_15-2/

Nếu có thể, nhờ Dân Làm Báo đăng tải bài viết này để bạn đọc gần xa tiện tham khảo.

Xin cảm ơn Dân Làm Báo rất nhiều.

5.      tấm lòng

Để trã lời câu hỏi của bác .
người VIỆT NAM vaì năm nữa trên thế giới chúng ta có một lực lượng khá đông và mạnh ,những lực lượng nầy sẻ hướng về tổ quốc khi quê hương mở ra những mời gọi thiết tha và chân thật ,tôi tin tưởng mạnh mẽ rất nhiều người về ,trên phương diện đối ngoại có lẽ dể dàng rất nhiều ,và đây cũng là câu trả lời :
-để hiểu gì trong chiếc thuyền con .
bao nhiêu năm qua trong nước người dân vẩn âm thầm tranh đấu cho dân chủ -tự do- nhân quyền .chúng ta ai cũng mõi mòn chờ đợi một đổi thay ,chúng ta chờ một cuộc tổng tuyển cử .đã quá lâu .
đất nước hồi sinh ,người dân trong và ngoài nước cùng góp sức thì không có gì không làm được ,có lẻ những đoàn thể bất vụ lợi phải gánh vác trách nhiệm làm sao cho bầu cử được trong sạch và thành công ,đây là vấn đề phải làm sao để góp sức .có nên những hội đồng hương ngay bây giờ hảy thực tập ,và có biện pháp để đứng vào nắm những công việc quan sát ,kiểm tra .những thùng phiếu ở địa phương nơi quê hương cũa mình .
chỉ cần làm được như vậy thôi ,chúng ta sẻ có một thời thái bình .những đãng phái chính trị nên bắt đầu chuẩn bị người lãnh đạo và điều hành . đễ đứng ra gánh vác trách nhiệm rất nặng .

6.      Đồ Nhà Khó

@ Bác Người VIỆT NAM,
Dân tộc TQ có dòng máu, truyền thống, gien bành trướng. Từ mấy ngàn năm trước, lúc đó đã làm gì có ĐCSTQ mà tổ tiên của họ đã bao lần thôn tính đất nước ta rồi.
Sống bên cạnh một thằng hàng xóm to xác, tham lam, xấu bụng thì chúng ta phải cứng cựa, rắn mặt và phải cư sử đúng mực, biết mình biết người để tranh thủ cảm tình của tất cả những NGƯỜI khác để không tạo thêm đối thủ.
Điều quan trọng nhất là phải đoàn kết và không đớn hèn (như ĐCSVN).

7.      Thày Bói VN.

Ủng hộ ý kiến của bác @người VN.
Cùng là người VN thì tại sao phải gây cảnh tương tàn. Đúng, đúng lắm.

Đảng csVN đã đi sai đường mà đứng đầu có lẽ là tt Nguyễn tấn Dũng (nghe cái tên thôi cũng đủ hiểu: trí thì không có mà dũng thì có thừa: cà tấn) bị TQ lôi kéo và lợi dụng thì nhân dân cả nước phải có bổn phận và trách nhiệm giúp thành phần thiếu trí năng này nhận thức ra v/đ mà quay về với dân tộc, với đường ngay nẻo chính.(đến lúc đó thì lo gì không đủ dũng mà chơi với TQ).

Đề nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo hãy vì tôn chỉ và mục đích của mình là Hòa Bình và Chân Lý nên vào cuộc để sửa chữa những nhận thức chưa đúng của các lãnh đạo VN.

Nói đến đây, tôi chợt thấy hình ảnh trăm trứng của mẹ Âu Cơ đang chung sống trong: Độc lập, Tự Do, Hạnh Phúc.
Tôi dám chắc với các bạn đây không phải là một giấc mơ mà sẽ là hiện thực.

8.      Chúng ta phải suy ngẫm và tìm hướng đi đúng

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa có bài phân tích hay.

Tuy nhiên vấn đề của chúng ta ở đây không phải khen bài viết hay mà chúng ta phải suy ngẫm, phân tích và tìm hướng đấu tranh phù hợp thực tế và mang lại hiệu quả cao.

Ngoài bài viết của ông Nghĩa ra, còn 1 bài viết cũng phân tích rất sâu rộng và thực tế đáng để chúng ta suy ngẫm. Đó là bài: "Lượng Định Áp Lực Quốc Tế Lên Nhà Cầm Quyền Việt Nam Và Sự Phản Kháng Của Quần Chúng Quốc Nội" của Giáo sư Nguyễn Chính Kết. Bài này được thuyết trình cùng với bài của ông Nghĩa trong buổi hội thảo.

Mời quý vị bằng hữu có tâm với dân tộc, tổ quốc vào đây tham khảo bài viết và suy ngẫm để cùng tìm ra hướng đi phù hợp mang lại hiệu quả cao nhất:

http://vietbao.com/D_1-2_2-67_4-190834_5-15_6-1_17-6427_14-2_15-2/

Nếu có thể, nhờ Dân Làm Báo đăng tải bài viết này để bạn đọc gần xa tiện tham khảo.

Xin cảm ơn Dân Làm Báo rất nhiều.

9.      người việt Europe

Việt Nam củng đâu phải 1 nước Nhỏ....với gần 90 triệu dân,nhưng kinh nghiệm Ông Cha ta để lại cho con cháu,VN lấy ít đánh nhiều mấy ngàn Năm chống Ngoại Xâm (giặc Tàu )đánh giặc là phải nói về Chiến Thuật!!!và Vủ Khí...tuy rằng Tàu Cộng có nhiều Tàu Chiến và Máy Bay hơn VN,nhưng đó là chuyện nhỏ....chỉ cần VN đầu tư nhiều Tên Lửa,Tàu Cộng chỉ có mấy trăm Tàu Chiến và Máy bay,thử hỏi có dám chơi ngông trên Bầu Trời và Biển cả của VN không???lấy ví dụ như Israel có mấy triệu Dân,mà cả khối Arabe có tấn công được không....giặc Tàu chỉ hăm dọa thôi, nếu chiến tranh với VN thì 90% năng lượng đi qua Biển Đông của VN có an toàn không,vì VN có chính nghĩa thì Thế Giới sẽ ủng hộ,hai nửa eo biển Malacca đả bị Mỉ chận,nếu cuộc chiến kéo dài thì Tàu Cộng sẻ đi Ngựa bắn Tên thôi,năng lượng đâu??? và ai là Đồng Minh của Trung Cộng ???? Tàu Cộng sẻ bị cô lập khi chiến tranh xảy ra...

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link