Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, June 11, 2012

Bắc Kinh tuyên bố không rút khỏi vùng đảo đá ngầm Scarborough

Thứ hai 11 Tháng Sáu 2012

Bắc Kinh tuyên bố không rút khỏi vùng đảo đá ngầm Scarborough

Bãi đá ngầm Scarborough, nơi tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc. (Reuters)

Bãi đá ngầm Scarborough, nơi tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc. (Reuters)

Tú Anh

Hải thuyền của chính phủ Trung Quốc tiếp tục « canh chừng » tại vùng đảo đá ngầm Scarborough theo tên gọi của Philippines mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham. Trên đây là nội dung lời tuyên bố của bộ Ngoại giao Trung Quốc sau khi Manila thông báo rút hết tàu tuần tra và tàu đánh cá ra khỏi khu vực tranh chấp để « làm giảm bớt căng thẳng ».

Chiến thuật nhượng bộ của Philippines không được Trung Quốc đáp trả. Tuần trước, Manila thông báo rút hết thuyền đánh cá và tầu tuần ra khỏi khu vực bãi đá ngầm Scaborough và phía Trung Quốc đã rút hai tàu hải giám để giảm bớt căng thẳng. Philippines tỏ hy vọng hai bên sẽ tìm ra một giải pháp thương lượng « ôn hòa » tuy rằng vẫn còn 30 tàu cá của Trung Quốc săn bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Nhật báo Daily Inquirer của Philippines hôm nay cho biết thực tế không như Manila mong đợi. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân trong bản tuyên bố cuối tuần khẳng định « thuyền đánh cá Trung Quốc tiếp tục hoạt động trong vùng biển Hoàng Nham một cách bình thường và không còn bị phá rối .

Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng do tàu chiến Philippines đe dọa ngư dân Trung Quốc vào ngày 10 tháng 4 gây ra « sự cố Hoàng Nham » khiến Trung Quốc phải đưa tàu hải giám đến giải cứu và hai bên đối đầu nhau cho đến ngày 03/00/2012 vừa rồi thì Philippines mới rút hết. Hai ngày sau, hai tàu chính phủ Trung Quốc mới rời vịnh Scarborough nhưng tiếp tục « canh chừng » để hỗ trợ dịch vụ cho ngư dân Trung Quốc theo luật lệ hiện hành ».

Ông Lưu Vi Dân còn tuyên bố là không muốn thấy phía Philippines « có hành động khiêu khích xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc » và chính phủ Trung Quốc sẽ « tiếp tục liên lạc với Manila về cách xử lý sự số Hoàng nham hầu cải thiện quan hệ song phương ». Những lời lẽ của kẻ mạnh đã được báo chí Philippines tường thuật rộng rãi trong bối cảnh Manila kỷ niệm 37 năm ngày thiết lập bang giao với Bắc Kinh.

  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

NGƯỜI LÍNH ẤY CỦA TÔI…





 

 

 

NGƯỜI LÍNH ẤY CỦA TÔI…

 

 

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường.  Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.  

 

Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối.  Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như  cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình.  

 

Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp.  Anh gần nổi giận cả với tôi, anh nhất định đi Nhảy Dù.  Bao nhiêu giòng nước mắt cũng không cản được con người ấy.  Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…

 

Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái.  Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn.  Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến. Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.

 

Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù ở Tam Hiệp.  Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đoàn Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào.  Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ…  Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.  

 

Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa...  Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngập tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ  đang tung mình trên lưng ngựa chiến.  Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi.  Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện.  Bà cụ bảo tôi “phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẳng khấn được câu nào…  Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.

 

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực.  Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không dấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…  

 

Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các giòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be…  Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác.  Vừa lành vết thương là lại ra đi.  Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi.  Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….  

 

 

 

Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường.  Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng.  Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại được thân anh.  Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo chiều chuộng và đem lại cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu.  Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.  

 

Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra lúc Tiểu Đoàn 5 Dù đang đóng quân ở vườn Tao Đàn.  Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời.  Người  hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ.  Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị...  Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa.  Trên đường tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng… 

 

Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân.  Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương đến thế cái con người dường như chỉ biết miệt mài say mê chiến trận.  Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, “…Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ.  Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh muốn làm tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Căm bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà”.  Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân...

 

Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế... 

  

Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù.  Chú em chồng là sĩ quan chuyên vận tàu HQ505.   Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị  đi công tác Phú Quốc.  Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về.  Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi  lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu Thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.…” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu.  Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại.  Vợ chồng sống chết có nhau...  

 

Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề.  Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì…  Bé Dung ưỡn người đòi theo bố.  Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi.  Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …

 

Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu 505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng.  Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau.  Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết.  Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi.   Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu.  Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao.  Lên Long Giao cũng không gặp được, rồi anh bị đưa ra Bắc. 

 

Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó.  Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về...  Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng phát.  Tôi vùng lên như một con cọp cái:  bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!!  Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận. 

 

Không, không, một  ngàn vạn lần không.  Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi.  Toàn bọn cán ngố từ Bắc vào và từ trong khu ra, và không kể các bậc trưởng thượng cùng anh em chiến sĩ miền Nam đang khổ sở, thì đàn ông ở miền Nam khi ấy cũng chỉ còn bọn người không đủ điều kiện để phải đi tù cải tạo, dù chỉ có ba ngày. 

 

Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi.  Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định….  Còn gì nữa mà chọn lựa!  Thà vậy, đành thôi.   Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ bợ đỡ kẻ thù, thấp kém từ kiến thức đến tư cách.  

 

Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay …  nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn cướp nước và bọn trở cờ.   Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề… 

 

Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….

 

Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được  giấy phép đi thăm nuôi.  Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng.  Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên.  Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha.  Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai. 

 

Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã.  Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ.  Không cho khiêng bọn chúng trở mặt chửi liền.  Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bọn dân này vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ.  Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà.  Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào.  Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp.  Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.

 

Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng.  Chúng tôi năm  người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5.  Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay .  Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.  

 

Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến.  Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau.  Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số.  Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.  

 

Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn.  Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại.  Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được.  Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???  

 

Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên.  Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa.  Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì.  Cô nữ công an  nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà đá sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì.  Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm.  Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng.  Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được.  

 

Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!  

 

Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm…  Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại.  Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp.  Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn. 

Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực.  Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay.  Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột.   Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm.  Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt bọn công an. 

  

Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi.  Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng.  Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi.  Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi.  Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã xung phong đi khai khẩn rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất.   

 

Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn.  Bác Chánh là tên gọi của Thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn.

  

Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi: 

-   Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.  

Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng.  Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.  Tôi cúi mặt giận dỗi: 

-   Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …

Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời.  Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:  

-   Chị này hay nhỉ!  Phải đi kinh tế mới, lao động tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ!     Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!

Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:  

-   Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng sáng suốt như vậy hết, em phải nghe anh mới được…  Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe… 

 

Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn.  Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi.  Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu.  Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau.  Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết.  Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.  

 

Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà... anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về….  Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe… 

 

Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt.  Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài.  Người nữ công an kia chẳng biết núp  ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm…  Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục.   Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu: Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào… 

  

Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy đại theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc .  Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.  Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng… 

 

Sáng hôm sau tôi như người mất hồn.  Các chị bạn cũng chẳng hơn gì .  Mây chị em  và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.

    

Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi.  Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp.  Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao.  Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi.  Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống.  Dọc đường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói.  Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng.  Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần.  

 

Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương.  Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy.  Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào.  Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước.  May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát.  Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh hóa.

  

Đám người ngồi bệt xuống bên đường.  Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng.  Đã hơn chín giờ đêm.  Dáng cô Út  cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ.  Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại.  Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất.    Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng.  Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp.  Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.  

 

Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về.  Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì  các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.  Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự.  Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị xâu xa. 

 

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh.  Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích.  Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…

 

…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà.  Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà... khóc ngất.  Anh cười sang sảng:  

-   Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ …  Hà hà.. 

 

Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm.  Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội.  Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….   

 

Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi.  Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

 

MINH HÒA (Virginia)

Mỹ Đương Đầu Trung Cộng

Mỹ Đương Đầu Trung Cộng

(06/11/2012)

Tác giả : Vi Anh

Không còn nghi ngờ gì nữa, Mỹ đương đầu với Trung Cộng qua việc điều quân lực và 60% hạm đội và chiến hạm sang Á châu Thái Bình Dương.

Thực vậy chiến lược và chiến thuật của Mỹ đương đầu với TC ở Á châu Thái Bình Dương không còn trong giai đọan ngọai giao dồn dập chuẩn bị cho việc trở lại Á châu qua các việc thỏa thuận địa điểm lập căn cứ, nơi đổ quân trú đóng, tập trận hay biểu dương chung, mà đã đến giai đọan Mỹ điều đại quân đến Á châu Thái bình Dương.

Chánh quyền Mỹ không dấu diếm mà minh thị, công khai và chánh thức công bố. Bộ Trưởng Quốc Phòng Panetta trong một buổi lễ long trọng 1099 sĩ quan hải quân tốt nghiệp ra trường Học Viện Hải Quân ở thành phố Annapolis, tiểu bang Maryland, tuyên bố trong bài diễn văn rằng,“Một trong những mục tiêu then chốt mà thế hệ các bạn sẽ phải đối diện, đó là duy trì và củng cố sức mạnh của Hoa Kỳ trên khắp các vùng biển quan trọng của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương”. Ông cảnh giác các tân sĩ quan “Quân đội của TQ đang bành trướng và hiện đại hóa. Chúng ta phải đề cao cảnh giác. Chúng ta phải mạnh.Chúng ta phải sẵn sàng đối phó với mọi thách thức."

Ông kêu gọi các tân sĩ quan Hải Quân củng cố tình đồng minh đã có từ lâu nay với Nhật Bản, Nam Hàn, Úc và Philippines, trong khi xây dựng những mối quan hệ đối tác mạnh mẽ với các nước như Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Singapore và Ấn Độ.

Và sau đó Ông lên đường tham dự diễn đàn thường niên về an ninh Châu Á, còn gọi là Đối thoại Shangri-La ở Singapore, do Viện Nghiên Cứu Chiến Lược có trụ sở ở London tổ chức. Trong cuộc họp quan trọng này về tình hình an ninh của vùng Á châu Thái Bình Dương, Tổng Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố “từ nay cho đến 2020, hải quân sẽ tái phối trí lực lượng từ tỷ lệ khỏang 50%-50% hiện thời giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương sang 60%-40% ưu tiên cho Thái Bình Dương – kể cả sáu hàng không mẫu hạm cũng như đa số tàu chiến và tàu lặn của chúng tôi.”

Hải Quân Mỹ hiện thời có 285 tàu chiến sẵn sàng khiển dụng, phân nửa số này đang ở Thái Bình Dương. Washington cũng chuẩn bị tăng gia con số những cuộc tập trận trong vùng Á châu Thái Bình Dương. Hồi tháng 1 năm 2012, TT Obama tư lịnh tối cao quân lực Mỹ, cũng cho biết chiến lược quân sư mới của Mỹ là hướng về Á châu, chớ không phải Âu châu - Á châu là ưu tiên hàng đầu bên cạnh Trung Đông.

Ít ai ngờ, trong chuyền công du đầu tiên sang VN, từ hội nghị Shangri-La ở Singapore TT/QP Mỹ đến thăm Vịnh Cam Ranh. Đó là một căn cứ hải quân trọng yếu trong thời Chiến Tranh VN, không phải cho quân lực Mỹ ở VN mà cho tòan vùng Đông Nam Á của Mỹ. Đó là một cảng nước sâu vô cùng an tòan khi có bão ngòai biển khơi. Hạm đội Nga Hòang có thời vào cảng này trú bão. Ông Panetta là giới chức cao cấp nhất của Mỹ trở lại thăm Vịnh Cam Ranh, từ sau chiến tranh VN kết thúc hồi năm 1975.

Ông Panetta tới thăm một tàu vận tải dân sự của Mỹ Richard E. Byrd nhưng nhiệm vụ là quân sự, tiếp tế, tiếp liệu cho các chiến hạm Mỹ, đang sửa chữa tại nơi đây, do công ty của VN thực hiện.

Trung Cộng trổi dậy về kinh tế, quân đội TC hiện đại hóa nhứt là hải quân của TC tăng cường hơn mức cần thiết quốc phòng. Hầu hết các nước lớn trên thế giới nhứt là các nước trong vùng Á châu Thái bình Dương, nhứt là mỹ trên bờ Tây Thái Bình Dương từng giữ thế hải thượng từ Thế Chiến 2 đển giờ rất lo ngại. Ngân sách quốc phòng và quân lực của TC không minh bạch, tăng và tăng một cách đáng ngại trở thành mối đe dọa, như nhận định của phó bộ trưởng quốc phòng Nhựt, nơi có mấy chục ngàn quân Mỹ còn đồn trú. Năm rồi ngân sách chánh thức của TC tăng 11,2% lên đến 106 tỷ Mỹ kim. Ấn độ cũng lo ngại, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ấn nói Ấn không chạy đua võ trang nhưng TQ tăng gia ngân sách quốc phòng, tăng gia khả năng quân sự, phía Ấn cũng phải tăng gia khả năng bảo vệ quyền lợi quốc gia và tăng cường khả năng bảo vệ biên giới của Ấn.

Không bao lâu sau tuyên bố hải lực Mỹ tái điều động 60% sang Thái Bình Dương, Tân hoa xã của TC phổ biến một thông cáo báo chí, “khuyên ai đó đừng đến làm dậy sóng và việc đánh cá”. Và tự nhiên tiếng nói của TC luôn giành phần phải về mình, tuyên bố Mỹ muốn biển “Nam Hải” là một biển hòa bình”, trách Mỹ đã bật đèn xanh cho các nước tranh chấp làm cho biển này dậy sóng.

Dù cả thế giới biết TC dơn phương tuyên bố chủ quyền và ra lịnh cấm đánh cá, từng hàng trăm tàu ra chiếm cứ biển đảo của các nước. Như trường hợp vùng bãi cạn Scarborugh Phi đang bị tàu TC đông hơn lấn áp đuổi đi. Và VN bị TC lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa sáp nhập làm huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của TC. TC còn tung ra một bản đồ lưỡi bò liếm gần hết 80% Biển Đông của VN và gây ra rất nhiều vụ bắt, bắn, đòi tiền chuộc và tịch thu ghe tàu đánh cá của người Việt làm ăn trên ngư trường và vùng biển đất nước ông bà VN để lại cả ngàn năm.

Mỹ không nói ra nhưng việc làm của Mỹ cho thấy TC là mục tiêu của Mỹ. Tháng Tư năm 2012, Bộ Quốc Phòng Mỹ lập một cơ quan tình báo mới chuyên trách chánh yếu về Trung Cộng. Đó là cơ quan tình báo mật của quân đội Mỹ (Defense clandestine service, DCS). Cơ quan này kết hợp làm việc với CIA với nhiệm vụ như gián điệp. Trung Tướng Michael Flynn được Bộ cử nhiệm vào làm giám đốc DIA và sẽ giám sát luôn cơ quan tình báo mới thành lập DCS này. DCS dự trù phát triển thêm vài trăm điệp viên trong những năm tới. Ứng viên chắc hẳn cần những người Mỹ gốc các nước Á châu Thái bình Dương.

Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu Mỹ tái phối trí Thủy Quân Lục Chiến ở Á châu để đáp ứng nhu cầu chiến lược, chiến thuật mới, mà mục tiêu là tấn công và phòng ngự TC. Điều 9000 Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa qua Guam 5000 người, qua Úc 2500 người và qua Hawai khỏang vài ngàn để làm lực lượng tiếp ứng, giữ lại tại Okinawa 10,000 người .

Mỗi nơi phụ trách một vùng chiến thuật ở Á châu Thái bình dương, xung quanh TC. Các đơn vị Thủy quân lục chiến đồn trú tại Okinawa sẽ phụ trách khu vực bán đảo Triều Tiên và biển Hoa Đông; lực lượng ở Guam, vùng Tây Thái Bình Dương; lực lượng ở Darwin, miền Bắc Úc khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương và Thủy quân lục chiến đặt ở Hawaii, trừ bị,tiếp ứng.

Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba tuyên bố với báo chí rằng thỏa thuận này «là tất yếu phản ánh một thực tế trong khu vực trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng sức mạnh». Nhựt đóng góp khoảng 8,6 tỷ đôla để chia xẻ với Mỹ việc điều động này.

Trước khi điều động thủy quân lục chiến ở Okinawa, Mỹ có 11 hàng không mẫu hạm, Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu đã điều về vùng Á châu Thái bình dương 6 chiếc, đa số được dùng vào lực lượng tấn công. Và Bộ Trưởng QP Mỹ có tuyên bố sau đó tại hội nghị Shangri- la.
Mỹ cũng đã được sự đồng ý của Úc cho phép hàng không mẫu hạm, các tàu lặn nguyên tử Mỹ ghé thành phố Perth phía tây của Úc dể tiếp tế, nghỉ ngơi, như một căn cứ an tòan hải ngọai của Mỹ.

Úc cũng đồng ý cho Mỹ sử dụng quần đảo Cocos, một nhóm đảo san hô của Úc nằm trong Ấn Độ Dương và ở phía tây bắc của Australia, làm nơi xuất phát cho các máy bay dọ thám không người lái của Mỹ. Theo tin của AFP, quần đảo Cocos của Úc sẽ thay thế cho căn cứ Diego Garcia của Mỹ tại Ấn Độ Dương. Chính Đại sứ Mỹ tại Úc Jeffrey Bleich nhận định là từ căn cứ Darwin ở miền Bắc nước Úc, có thể đi thẳng ra Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đông Timor và tất cả các tuyến đường thương mại xung quanh. Điều này tạo một lợi thế mạnh và lớn cho Mỹ trên Thái bình Dương. Mỹ có thể dễ dàng tung quân ra xa một cách nhanh chóng.

Nhớ xưa trong Thế Chiền thứ hai, ở Á châu, sai lầm chiến lược của Nhựt là tấn công Trân châu Cảng quá sớm. Nếu chưa tấn công, Mỹ chưa tập trung vào chiến trường Á châu, chưa tấn công thẳng vào nước Nhựt. Bây giờ TC trường mặt ra, “quậy” quá sớm ở Á châu Thái bình Dương, trái với lời khuyên của Đặng tiểu Bình đừng lộ mặt quân sự để phát triễn kinh tế; nên Mỹ mới tập trung lực lượng về Á châu Thái bình dương và được hầu hết các nước ủng hộ xem như lá chắn trước đà bành trướng của TC./.

Vi Anh

  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Thời trang áo dài của công nương Đan Mạch

 

Lưu ý là Hoàng Thân Henrik ( tên Henri de Laborde de Monpezat sinh ngày  11 /6/1934  gốc người Pháp Đông dương, Français d'Indochine) lớn lên ở Việt Nam, biết tiếng Việt và đậu bằng cử nhân luật của Faculté de Droit (Đại học Luật) Hà nội.

 

Vì thế cho nên Hoàng gia Đan Mạch rất mến chuộng dân tộc Việt Nam. 

 

 

Henri de Laborde de Monpezat le 11 juin 1934

 

 

 

   

Chiếc áo dài vợ Thái tử Đan Mạch chọn mặc tại một sự kiện Hoàng gia mới đây là thiết kế của Sĩ Hoàng, được Công nương đặt may nhân chuyến thăm Việt Nam năm 2009.


> >
Thời trang áo dài của công nương Đan Mạch

Cuối tháng 5, Hoàng gia Đan Mạch tổ chức tiệc tối kỷ niệm 40 năm thành lập Quỹ Bảo vệ Động vật hoang dã của Đan Mạch (WWF), với sự tham gia của Nữ hoàng Margrethe II, Hoàng thân Henrik, Thái tử Frederik, Công nương Mary…

 

Từ trái qua: Công nương Mary, Thái tử Frederik, Nữ hoàng Margrethe II và Hoàng thân Henrik tại sự kiện của Hoàng gia Đan Mạch diễn ra cuối tháng 5. Ảnh: royaldish.

 

Gia đình Hoàng gia gây ấn tượng mạnh cho quan khách bởi những trang phục độc đáo, lịch lãm. Nữ hoàng Margrethe diện áo dài hồng cách điệu với những họa tiết đậm màu sắc phương Đông. Còn công nương Mary xuất hiện nữ tính, thanh lịch trong tà áo dài thuần Việt. Báo chí Đan Mạch và phương Tây, tuy không nhận ra đây là áo dài truyền thống của Việt Nam, nhưng đã dành nhiều lời tán dương cho cách phục sức của Nữ hoàng và Công nương.

 

Trang Royal Correspondent nhận xét: “Các thành viên Hoàng gia diện những trang phục sặc sỡ và thú vị, đúng là những con người thời trang”. Tạp chí Hello, Anh đặc biệt tập trung vào trang phục của Công nương Mary - người thường được so sánh với Công nương Diana của Anh và cựu Đệ nhất phu nhân Jackie Kenedy của Mỹ về phong cách thời trang tinh tế. Vợ thái tử Đan Mạch cũng từng được tạp chí Vanity Fair bình chọn là một trong những phụ nữ thời trang nhất thế giới.

 

Công nương Mary được tạp chí Hello miêu tả "thật yêu kiều, nổi bật giữa quan khách trong tà áo dài gần chấm đất với những họa tiết phiêu diêu".

 

Theo tìm hiểu của VnExpress, trang phục Nữ hoàng Margrethe và Công nương Mary mặc là các thiết kế của Sĩ Hoàng.

 

Nhà thiết kế Việt Nam cho biết, chiếc áo “với những họa tiết phiêu diêu” đó được Công nương và Thái tử Đan Mạch đến đặt may vào tháng 6/2009, theo một mẫu áo trưng bày tại gallery Áo dài ở cổng Dinh Độc Lập, TP HCM mà Công nương nhìn thấy khi được dẫn đi tham quan trong chuyến đến thăm Việt Nam.

Công nương Mary trông dịu dàng thanh thoát trong chiếc áo dài với những họa tiết bay bổng. Ảnh: royaldish.

 

Sĩ Hoàng tiết lộ: "Chiếc áo nằm trong sưu tập ‘Vũ điệu mùa hè’, ra mắt vào năm 2006. Công nương đặt may hoàn toàn giống mẫu thiết kế, chỉ đề nghị màu sắc dịu trầm hơn một chút so với mẫu trưng bày”.

 

Khi được hỏi về chiếc áo dài hồng đậm mà Nữ hoàng Margrethe mặc trong sự kiện WWF, Sĩ Hoàng kể: “Một ngày sau khi Công nương Mary đến Gallery may áo dài, tại Dinh Độc Lập, TP HCM diễn ra buổi chiêu đãi trọng thể tiếp đón phái đoàn Hoàng gia Đan Mạch.

 

Trong sự kiện này, tôi được giới thiệu bộ sưu tập áo dài Vương Triều. Sau buổi chiêu đãi, Nữ hoàng cùng Công nương đã đến gallery chọn may thêm một bộ vương triều, một bộ áo dài lụa tơ tằm cho Nữ hoàng. Công nương cũng chọn thêm một bộ lụa tơ tằm, một bộ vương triều. Điều thú vị là các bộ áo đều do đích thân Nữ hoàng chọn vải, kiểu may”.

 

Trang phục của Nữ hoàng Margrethe (trên, góc phải) và Công nương Mary (dưới, góc trái) nằm trong các bộ sưu tập của nhà thiết kế Sĩ Hoàng.

 

Hơn hai năm sau lần may áo cho Nữ hoàng và Công nương Đan Mạch, Sĩ Hoàng biết tin trang phục của mình được thành viên gia đình Hoàng gia chọn mặc trong một sự kiện thu hút nhiều quan khách.

 

Anh bày tỏ, điều khiến anh cảm thấy vui, tự hào là sự ưu ái của họ dành cho tà áo dài Việt Nam.

 

“Ngay khi được tiếp kiến, tôi đã cảm nhận được sự yêu quý của Nữ hoàng và Công nương dành cho áo dài là rất lớn.

 

Bởi họ quyết định may mặc chứ không chỉ khen ngợi và thưởng thức ở khía cạnh văn hóa nghệ thuật”.

 

Nhiều độc giả VnExpress cũng bày tỏ niềm xúc động, tự hào khi thấy áo dài Việt Nam xuất hiện trong một sự kiện của Hoàng gia Đan Mạch.  

 

Độc giả Nguyễn Tuấn Hải viết: “Tà áo dài Việt Nam cũng giống bao vẻ đẹp truyền thống khác...

 

 Người Việt chúng ta hãy biết trân trọng những vẻ đẹp ở quanh ta, đừng để ai đó đánh thức thì mới nhận thức được”.

 

Còn bạn đọc lananhsw chia sẻ: “Công nương Đan Mạch mặc áo dài đẹp quá, đẹp, dịu dàng, thanh lịch. Thật tự hào tà áo dài Việt Nam”.

 

Công nương Mary chụp ảnh cùng Sĩ Hoàng trong ngày bà đến đặt may áo dài.

 

Sắp tới, vào 12/9, Sĩ Hoàng sẽ có một đêm giới thiệu áo dài tại Vienna, thủ đô nước Cộng hòa Áo - nhân kỷ niệm quan hệ ngoại giao hai nước Việt - Áo.

Hoàng Dung - Huyền Anh

 

> 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link