Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, June 16, 2012

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 3) - Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?

THỨ BẢY, NGÀY 16 THÁNG SÁU NĂM 2012

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 3) - Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?

 

Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Tôi xin tiếp tục phần ba này với việc đề cập đến lý do có công hàm bán nước 1958 và những hệ lụy của nó đến bây giờ. Rất mong đây là tiếng nói góp sức cho sự hồi sinh của dân tộc. Qua đây tôi mong sau khi các bài viết được Danlambao đăng, bạn đọc nên tìm hiểu rồi dùng chính mình làm chiến sĩ thông tin như slogan của Danlambao đã gửi đến cho người thân quen của mình.

 

Về nội dung bài viết, tôi xin phép bạn đọc hết sức thông cảm vì phải lấy dẫn chứng cả hai phía: Dân và Đảng để minh chứng nên bài có thể viết dài, không súc tích. Tôi xin phép dùng một quy tắc đại loại gần giống với phép quy nạp và phản chứng trong toán học để chứng minh nên bài viết sẽ dài, chia làm từng phần nhỏ để kết luận.

 

Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin trình bày về việc ông Hồ Chí Minh bán nước với lý do muốn gây chiến với VNCH gây nên cuộc chiến sinh linh đồ thán. Có những ý kiến cho rằng ông Hồ là gián điệp Trung cộng, người Tàu. Trong khuôn khổ bài này tôi xin không đi vào phân tích việc đó vì đó là nghi vấn cần thêm thời gian và tài liệu. Tôi tạm coi ông Hồ là người Việt Nam, đi sang Pháp định làm quan nhưng không được nhận và gặp quốc tế thứ 3 rồi về nước. Và bối cảnh trong bài này tôi cũng xin dừng lại cho đến khi có công hàm 1958 chứ xin phép không bình luận về những năm sau, tránh ý kiến cho rằng lúc đó Trung cộng và Mỹ có can thiệp sâu vào Việt Nam.

 

Tại sao phải bán nước?

 

Như đã nói ở phần 2, công hàm 14/9/1958 là một công hàm bán nước của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản mà người đứng ký tên là ông Phạm Văn Đồng (Thủ tướng VNDCCH). Vậy tại sao họ phải bán Hoàng Sa - Trường Sa cho Trung cộng? Tôi xin đi vào phân tích ở đây. 

 

1. Bối cảnh lịch sử hai miền Nam – Bắc: 

 

a. Về đời sống và kinh tế: 

 

Miền Bắc trong giai đoạn này bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội theo như tuyên truyền của cộng sản. Trong thời gian từ 1953-1957 xảy ra cuộc Cải cách ruộng đấtman rợ, gây tang thương oan trái trong nhân dân (Tôi sẽ có bài khác về vấn đề này). Đây là cuộc đấu tố theo kiểu cách mạng văn hóa dập khuôn từ Trung cộng. Thực chất trong lúc này đảng cộng sản được các quốc gia trong phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ về vật chất, tiền bạc, con người để khôi phục sản xuất. Nhưng có một điều ở đây chúng ta cần chú ý lúc này chủ nghĩa cộng sản đang muốn nhuộm đỏ cả thế giới, trong đó miên bắc Việt Nam là bàn đạp.

 

Tại Miền Nam dưới sự lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm, cùng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nhằm khôi phục kinh tế và nâng cao dân trí. Trong thời điểm miền bắc có cải cách ruộng đất gây tai họa thì miền nam cũng có cải cách điền địa và "Người cày có ruộng" mang lại niềm vui cho nhân dân. Chính vì có những chính sách hợp lý, chế độ dân chủ nên nửa trong của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Bằng chứng là Sài Gòn được coi là " Hòn Ngọc Viễn đồng". 

 

Về mặt kinh tế và đời sống này tôi xin không cần quá dài dòng vì đó là sự thật với tất cả chúng ta. Sự thật ấy đã khiến cho bao người miền bắc ngỡ ngàng sau năm 1975 được vào Sài Gòn. Nói đến bối cảnh đó để nói lên một điều sự thực đó là nhân dân miền nam sống sung túc hơn miền bắc rất nhiều. Tôi xin nêu ra một ví dụ nhỏ để so sánh.

 

Số liệu và nhận xét trên wiki: http://vi. wikipedia. org/wiki/Kinh_tế_Việt_Nam_Cộng_hòa:

 

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tích cực triển khai chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả phải kể đến nhà máy giấy đầu tiên ở Việt Nam: nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy trong nước [4]; hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng suất 13,2 triệu mét vải mỗi năm; nhà máy thủy tinh Khánh Hội năng suất 15.000 tấn/năm; hai nhà máy xi măng, một ở Hà Tiên, một ở Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm; và đập thủy điện Đa Nhim, hoàn thành năm 1961 [5]. Đồng thời, các loại máy móc, kim loại - những đầu vào cho các ngành được bảo hộ - được ưu tiên nhập khẩu. Trong khi hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu được khuyến khích. Một số mặt hàng xuất khẩu còn được chính quyền trợ cấp. Ngay cả tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh thuận lợi cho xuất khẩu (thông qua trừ đi một mức phụ đảm).

 

Ở nông thôn thì Cải cách ruộng đất (lúc đó gọi là "Cải cách điền địa") được triển khai từ năm 1955 và kéo dài tới cuối năm 1960. Những ruộng đất của địa chủ bỏ hoang sẽ bị thu hồi và cấp cho tá điền. Địa chủ không được phép sở hữu quá 100 hecta đất (riêng các đồn điền dù hơn 100 ha vẫn được phép). Số dư ngoài 100 ha sẽ bị buộc phải bán cho chính quyền để bán lại cho tá điền. Tá điền được yêu cầu lập hợp đồng khai thác ruộng đất với địa chủ, gọi là khế ước tá điền trong đó có ghi mức địa tô mà tá điền phải trả cho địa chủ. Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng.

 

Về thu nhập bình quân, theo "số liệu kinh tế - GDP" bình quân, ở miền Nam vào thời trước 1975 là 150USD. Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan. Trong khi đó 36 năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).

 

Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%. Ba mươi sáu năm, chỉ tăng 20%?

 

Như vậy kinh tế của VNCH khiến cho nhân dân không có gì phải phàn nàn so với miền bắc.

 

Ngoài ra việc tự do báo chí, lập đoàn lập hội, phản kháng chính phủ cũng tạo cho VNCH một đời sống chính trị thoải mái và tự do. Ở đó con người có quyền của con người đúng nghĩa. Tuy chưa hoàn thiện nhưng so với miền bắc là cả một sự đối lập tương phản. 

 

Có thể kết luận: Về mặt kinh tế và đời sông, miền Nam hơn hẳn miền Bắc. Như vậy không có lý do gì miền Bắc có đời sống thấp kém hơn, kinh tế thấp hơn phải đi "giải phóng" cho miền Nam trù phú, giàu sức sống hơn. Lý do "giải phóng" về mặt kinh tế và đời sống là hoàn toàn bị bác bỏ.

 

b. Về mặt quân sự:

 

Đặc biệt về quân sự, có nhiều ý kiến cho rằng lúc đó VNDCCH lo sợ VNCH bắc tiến. Nhưng trên thực tế cho đến 1956 thì quân đội VNCH chủ yếu lo bảo vệ đất nước là chính. Họ chưa đủ trang bị và con người để trở thành "Nguy cơ" với Bắc Việt. Ví dụ như sau 1968 thì QLVNCH mới được trang bị M-16, trong khi đó quân đội VNDCCH lại có Ak-47 từ trước đó. Xin cho một thống kê nguồn wiki:

 

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

 

Năm 1956: Bộ Tổng tham mưu dời vào trại Trần Hưng Đạo, gần cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất, và bắt đầu cải tiến toàn bộ cơ cấu tổ chức. Các tiểu đoàn bộ binh được tổ chức lại thành 4 sư đoàn dã chiến (1, 2, 3, 4) và 6 sư đoàn khinh chiến (11, 12, 13, 14, 15, 16). Mồi sư đoàn khoảng hơn 5.000 người. Pháo binh có thêm tiểu đoàn 23, 25, 34. Tiểu Đoàn 34 là đơn vị đầu tiên được trang bị đại bác 155 mm. Cùng năm 1956, mỗi sư đoàn bộ binh được trang bị thêm 2 tiểu đoàn pháo binh với 18 khẩu 105 mm. Không quân tiếp nhận thêm căn cứ Tân Sơn Nhất và căn cứ Biên Hòa. Cả hai đổi thành Căn cứ trợ lực không quân số 2 và số 3. Hải quân bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ gồm 31 chiến hạm với 193 chiến đỉnh.

 

Chú ý: với quân số 1 sư đoàn 5000 người thì thực tế so với lúc này QLVNCH chỉ có 5 sư đoàn đúng nghĩa (Quân số khoảng 10000 người).

 

Trong cuốn "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua" (NXb Sự thật - Cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) có viết: 

 

(links: http://www. vnmilitaryhistory. net/index. php?PHPSESSID=d5ae9dabfb9594328e836b81fb7a991a&topic=9915.0):

 

Sự thật là sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ không có khả năng can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương. Thái độ cứng rắn của Mỹ ở Hội nghị Giơnevơ chẳng qua là do Mỹ sợ Pháp vì bị thua ở chiến trường, có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, tài chính, có thể chấp nhận một giải pháp không có lợi cho việc Mỹ nhảy vào Đông Dương sau này.

 

Như vậy lý do có áp lực quân sự từ VNCH là không có. Người Mỹ đã không có khả năng can thiệp vào Việt Nam lúc đó như tài liệu phía cộng sản tôi vừa trích dẫn, Mỹ chỉ nhảy vào tham chiến sau này. Xét bối cảnh cho đến trước 1958 (Có công hàm bán nước) thì về quân sự VNDCCH nắm thế chủ động và VNCH cùng Mỹ chưa đủ sức gây sức ép!

 

Có thể kết luận: Về mặt quân sự, phía VNCH, Mỹ không có áp lực đáng kể nào có thể khiến cho VNDCCH phải "sợ" như các biện hộ cho việc dựa vào Trung cộng, Liên xô tiến đánh miền Nam. 

 

c. Kết luận: 

 

Về bối cảnh lịch sử cho thấy nhân dân miền Bắc có chất lượng sống không bằng miền Nam. Chúng ta phải hiểu rằng nhân dân miền Bắc có thể mù tịt thông tin trong Nam. Nhưng các vị lãnh đạo thì họ quá rõ nhờ hệ thống gián điệp chằng chịt, sách báo thông tin chỉ mình họ có. Lãnh đạo cộng sản cũng không phải là tay mơ. Vậy việc họ biết thừa rằng chẳng có lý do gì cần phải "Giải phóng" miền Nam. Nếu là một chính quyền hoạt động theo đúng tôn chỉ "Vì dân" thì họ sẽ không tiến hành chiến tranh để làm cho nhân dân 2 miền đều khổ cực trong bối cảnh nhân dân bên phía kia sống sung sướng. Nhân dân Nam Bắc đều là nhân dân Việt Nam cả. Hơn thế nữa trong bối cảnh không chịu áp lực quân sự thực sự thì lý do gây chiến là đâu?

 

Vậy chỉ có một lý do đó là lãnh đạo cộng sản miền Bắc phải có sứ mệnh cao hơn cả cuộc sống bình yên của nhân dân mới khiến họ nướng dân trên ngọn lửa hung tàn chiến tranh. Đó chính là: Ý thức hệ và quyền lực

 

Cuộc chiến mà đảng cộng sản tuyên truyền thực ra không "giải phóng" cho ai mà đơn thuần là cuộc chiến cho Ý thức hệ cộng sản chỉ huy bởi Liên xô và Trung cộng. Lý giải cho kết luận này tôi xin nói về câu nói nổi tiếng của ông Hồ: "Ông Diệm cũng là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy". Nếu nói như ông Hồ thì ông không thể coi ông Diệm là người phản bội dân tộc và như vậy cớ gì phải "giải phóng"? Cả về con người, lãnh tụ, kinh tế, quân sự thì có thể kết luận ngoài vấn đề chiến tranh cho ý thức hệ, cho quyền lực đỏ chẳng có lý do nào để giải thích cho cuộc chiến phi nghĩa ở Việt Nam.

 

Thậm chí cái lý do "thống nhất đất nước" cũng không thể chấp nhận được. Nếu để thống nhất không thiếu gì con đường thông qua ngoại giao, hòa bình. Hơn thế, khi ký công hàm 1958, ông Hồ đã cho thấy lý do "thống nhất" là một trò hề. Thống nhất không thể đem một phần đất đai của tổ quốc dâng cho giặc được. 

 

Câu nói nổi tiếng của ông Lê Duẩn: "Ta Đánh Miền Nam là Đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc…" đã thay cho lời kết luận của tôi.

 

2. Trung Quốc trả tiền mua Đảo bằng cái gì? 

 

Trung cộng đã giúp đỡ từ vật dụng nhỏ nhất cho đến tàu chiến, xe tăng để quân đội VNDCCH có thể tiến hành cuộc chiến tranh gây đau thương cho dân tộc. Chúng ta không lạ gì các khẩu 12,7, kim khâu, đá lửa, mũ cối, xe tăng K63, T59… là của Trung cộng viện trợ. Sau đây là lời kể của ông Dương Danh Dy, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung cộng với tờ báo mới (Của đảng cộng sản): 

 

(Links: http://www. baomoi. com/Chuyen-it-biet-ve-quan-he-Viet--Trung-thoi-chong-My/122/3269339. epi

 

Những người ở lứa tuổi tôi (và trẻ hơn hai mươi, hai nhăm tuổi) hiện nay đều không quên những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tầu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ…, không sao kể hết.

 

Tôi còn nhớ, từ chiếc mũ cối và đôi dép cao su Việt Nam đưa mẫu sang, các kỹ sư và công nhân Trung Quốc đã chế tạo cho quân đội ta và nhân dân ta những chiếc mũ cối và đôi dép lốp nổi tiếng một thời.

 

... Ít người Việt Nam được biết những con tầu Giải phóng tải trọng chỉ có 50 tấn nhưng dùng động cơ mạnh tới 800 mã lực (nghĩa là có tốc độ rất nhanh) để có thể từ một cảng miền Bắc chở vũ khí, lương thực... vào cập bến tại một nơi ở vùng giải phóng miền Nam rồi trở lại ngay miền Bắc trong đêm đã được các kỹ sư và công nhân một nhà máy đóng tầu Trung Quốc thiết kế và chế tạo xong trong một thời gian ngắn kỷ lục theo yêu cầu của chúng ta.

 

Đây chỉ là một ví dụ trong rất nhiều ví dụ về sự "giúp đỡ" của Trung cộng. Trung cộng thực chất giúp đỡ ông Hồ và đảng cộng sản nhằm 2 mục tiêu: Lan truyền đế chế cộng sản đỏ, Đổi lấy 2 đảo chiến lược và khu vực nhiều dầu mỏ của Việt Nam. Dã tâm ấy được thể hiện qua công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng dưới sự chỉ đạo của ông Hồ (Như đã chứng minh ở phần 2).

 

Luận điểm này có thể hiểu rằng: Một kẻ tham lam, xấu bụng như Trung Cộng, việc giúp đỡ này không thể "vô tư". Nó dứt khoát phải kèm theo điều kiện. Điều kiện đó là: Hoàng Sa- Trường Sa.

 

3. Bác và đảng đã bán những gì? 

 



Trên thực tế, để chiến đấu cho quyền lực cộng sản "Đánh cho Liên xô, cho Trung Quốc" thì đảng cộng sản Việt Nam cần vũ khí, tiền. Liên xô giúp đỡ nhưng họ không giúp như Trung cộng. Trung cộng với tư tưởng đại hán và mộng đô hộ Việt Nam ta suốt 4000 năm đã không bỏ qua cơ may đó. Họ đã ngấm ngầm thỏa thuận để đổi vũ khí lấy đất đai. Trong công hàm 1958 tôi đã nêu trong bài trước (bài số 2), việc bán quần đảo HS-TS là có thật, không thể phủ nhận.

 

Việc mua bán này đã được chính các quan chức cộng sản thừa nhận một cách lập lờ. Chúng ta không quên việc ông Đồng đã nói kiểu lập lờ: "Lúc đó thời chiến phải nói thế". Thực ra ở đây câu nói đó ý muốn ám chỉ việc lúc đó cần tiền, cần vũ khí để bán đảo cho Trung cộng. Như vậy việc trao đổi là hoàn toàn hợp lý. Một bên cần vũ khí chiến tranh, một bên cần đảo và dầu mỏ. 

 

Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam qua cuốn "Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua". Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận:"Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc... Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ... Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác"

 

Điều này cho thấy người cộng sản chưa dám nói thẳng ra Trung cộng "lợi dụng" cái gì rõ rệt, họ sợ tội BÁN NƯỚC. Nhưng đây có thể coi như lời thừa nhận xương máu cho cuộc chiến tranh Nam Bắc là vô nghĩa, và cái thứ để "lợi dụng" kia chính là HS-TS.

 

Trung cộng luôn lợi dụng việc "giúp đỡ" để giành đất của chúng ta. Thực ra ông Hồ và đảng cộng sản ban đầu có ý định bán cả đảo Bạch Long Vĩ. Tuy nhiên câu chuyện về hòn đảo Bạch Long Vĩ có hơi khác vì nó là khúc xương khó nhằn hơn HS-TS. Đó cũng là điều còn may mắn cho dân tộc.

 

Hẳn nhiều người còn nhớ, năm 1955, khi quân đội Pháp thi hành Hiệp định Geneve, rút khỏi khu 300 ngày, tập kết vào dưới vĩ tuyến 17. Thời kỳ này quân đội Việt Minh từ các chiến khu trở về tiếp quản khu vực Quảng Ninh, Hải Phòng, Kiến An chưa có lực lượng hải quân. Biết được điều đó, Trung cộng đã tự ý đổ bộ vào tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam. Đảo Bạch Long Vĩ nằm trong vịnh Bắc Bộ, chỉ cách cảng Hải Phòng hơn 120 km. Trung cộng đã chuyên chở sắt thép, xi măng ra đảo, xây dựng công sự kiên cố, bộc lộ ý đồ chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ lâu dài. Sau đó Trung cộng đã trả lại cho Việt Nam năm 1956. Lý do Trung cộng trả lại cho Việt Nam không phải Trung cộng tốt đẹp gì. Chỉ bởi vì đó là khúc xương khó nuốt. Đảo Bạch Long Vĩ không thể là của Trung cộng dựa trên luật biển (quá gần cảng Hải Phòng), nếu chiếm sẽ thành quá lố và chịu áp lực quốc tế. Và so sánh vị trí chiến lược cũng như vàng đen thì HS-TS hơn hắn. Và đảng cộng sản Việt Nam đương nhiên không muốn việc mất Bạch Long Vĩ. Họ làm thế sẽ lộ rõ mưu mô bán nước cho nhân dân ta, họ không dại gì làm điều này nên đã yêu cầu Trung cộng rút, Trung cộng nhẹ nhàng rút bỏ.

 

Đây là lời phát biểu của ông Thạc sỹ Hoàng Việt (của cộng sản) với VOA: (bài viết trên biendong. net. 

 

Links: http://biendong. net/su-kien/375-tranh-chp-bin-ong-phng-vn-thc-s-hoang-vit-v-cong-ham-phm-vn-ng. html)

 

VOA: Thưa ông, trong vài ngày qua chúng tôi đọc được trên internet lời kêu gọi của một số người Trung Quốc đòi thực hiện những cuộc biểu tình ở các thành phố lớn ở Trung Quốc, như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu... vào ngày chủ nhật tới đây để phản đối điều mà họ cho là Việt Nam xâm phạm chủ quyền biển đảo của họ ở Biển Đông. Những người này cũng nói tới chuyện gọi là "lấy lại" đảo Bạch Long Vĩ, nơi mà năm ngoái Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đến thăm và đưa ra một tuyên bố cứng rắn để bày tỏ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ. Ông nghĩ sao về diễn tiến này?

 

Hoàng Việt: Trước nhất, tôi không hiểu vì sao những người đó họ nói như vậy. Bời vì như vậy thì có hai khả năng xảy ra: thứ nhất là họ không hiểu gì vấn đề liên quan tới luật pháp quốc tế cả, và thứ hai là họ có thể bẻ cong nó đi. Bởi vì đảo Bạch Long Vĩ cho đến bây giờ chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý chính thức về chủ quyền đảo Bạch Long Vĩ cả. Bạch Long Vĩ là hoàn toàn của Việt Nam. Năm 1957 lúc đó Trung Quốc chiếm nhưng rồi trao lại cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 

Cái lý Trung cộng "trả lại" Bạch Long Vĩ, tôi đã nói ở trên!

 

Như vậy có thể kết luận lại mục đích của ông Hồ và đảng cộng sản đã dùng công hàm 1958 để bán đảo HS-TS lấy vũ khí, trang bị của Trung cộng tiến hành cuộc chiến tranh cho thế giới cộng sản và gia tăng quyền lực. Tính hiếu chiến của ông Hồ thể hiện rất rõ qua những câu thơ của ông, ví như: 

 

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào 

Tiến lên, chiến sĩ đồng bào… 

 

Thực ra ông Hồ không thương xót gì cho dân tộc. Qua những bài thơ, câu nói của ông ta thấy rõ ràng việc ông chỉ muốn chiến tranh nhằm củng cố đế chế đỏ. 

 

Đây là nhận xét của ông Yelsin về ông Hồ: "Ông dính dáng đến nhiều sự kiện trọng đại nhất của quốc gia, gây những lỗi lầm to lớn nhất!". Và một trong những lỗi lầm đó là "Bán nước và Gây chiến tranh phi nghĩa". 

 

Ngay sau khi chiến thắng ở Điện Biên Phủ, ông Hồ đã công nhận việc mình làm đơn giản không phải vì dân tộc: "Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ". Ông Hồ chính là kẻ ham quyền lực đỏ và không coi dân tộc là hàng đầu. 

 

Có thể kết luận: Ông Hồ là người cầm đầu VNDCCH lúc đó, về hệ thống chính trị tôi đã trình bày ở phần 2. Ông Hồ có quyền quyết định tất cả, ông Hồ chỉ vì mục tiêu chiến đấu cho cộng sản. Và như vậy không có gì ngạc nhiên khi ông chỉ đạo công hàm bán nước để có vũ khí chiến tranh với chính dân tộc mình. Một người không yêu tính mạng đồng bào, chỉ thích gây chiến cho phe nhóm cộng sản thì không thể yêu nước, sẵn sàng bán đất đai cho giặc. Ông Hồ và đảng cộng sản là những người chịu trách nhiệm chính trong cuộc chiến Việt Nam phi nghĩa và công hàm bán nước cho Trung cộng. 

 

Chúng ta phải làm gì?

 

Trong khi phía VNCH ra sức giữ đảo thì phía VNDCCH lại dùng phần đất linh thiêng của dân tộc nhằm lấy vũ khí để thực hiện chiến tranh. Nhưng vấn đề trong công hàm của ông Phạm Văn Đồng do ông Hồ chỉ đạo để bán nước không dừng lại ở việc chúng ta có nguy cơ mất HS-TS về mặt đất đai mà còn là mất mát về vị trí quân sự cũng như các giếng dầu. 

 

Hệ lụy dẫn đến là Trung cộng ngang nhiên chiếm giữ Hoàng Sa, đòi Trường Sa và hiện nay liên tục bắt giữ ngư dân chúng ta trên vùng biển lẽ ra của chúng ta. Đơn cử chính là cái đường lưỡi bò man rợ. Chính phủ Việt Nam hiện nay không dám phản kháng. Họ biết rằng Bác Hồ của họ đã bán nước. Họ đành phản đối một cách gượng ép để tránh dư luận trong và ngoài nước. Câu hỏi được đặt ra có thể lấy lại được HS-TS hay không? Tôi xin trả lời là có thể.

 

Trong khuôn khổ bài trước, tôi đã chứng minh việc công hàm 1958 là có thật, hành vi đó của ông Hồ và ông Đồng là hành vi bán nước. Tuy nhiên, để chiếm lại HS-TS chúng ta phải làm những việc sau.

 

Việc thứ nhất, Công hàm 1958 không thông qua quốc hội như vậy vi hiến. Lúc đó HS-TS không thuộc quyền quản lý của VNDCCH. Như vậy, về pháp lý chúng ta vẫn có cơ sở để đòi lại. Việc này không biện hộ cho hành vi bán nước của ông Hồ, đây chỉ là khe hở pháp lý mà chúng ta cần nắm lấy.

 

Việc thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam là con nuôi của Trung cộng. Lật đổ đảng cộng sản, chứng minh được hành vi vi hiến, bán nước của đảng và ông Hồ sẽ có một chính phủ hợp hiến, đồng thuận đứng lên vì dân tộc. Việc đó sẽ giúp ích cho việc lấy lại HS-TS. Chỉ khi không còn kẻ nội thù là đảng cộng sản và tàn dư thì mới có thể chống Trung cộng.

 

Việc thứ ba, chính phủ dân chủ mới sẽ dựa vào Mỹ, đồng minh để đòi lại những gì vốn có của Việt Nam. Đoàn kết với đồng bào khắp nơi trên thế giới gây áp lực với Trung cộng. 

 

Ở bài này, tôi đã chứng minh cuộc chiến tranh từ du kích đến quy mô lớn ở Việt Nam là do ông Hồ và đảng cộng sản gây ra. Đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa không phải theo lý do "giải phóng" dân tộc. Ông Hồ muốn chiến tranh để nâng cao quyền lực đế chế đỏ. Ông Hồ và đảng cộng sản là kẻ cầm đầu việc bán đất đai, biển đảo tổ tiên để đổi lấy vũ khí Trung cộng gây đau thương cho dân tộc. 

 

Chân thành cảm ơn bạn đọc và DLB! 

 

Chỉnh sửa, hoàn thiện: 15/06/2012 

 

 



Đặng Chí Hùng

danlambaovn.blogspot.com

 

*

 

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 1)



Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Trên đây là sự thật đầu tiên về ông Hồ. Tôi dùng cả những tài liệu, phân tích của hai phái ủng hộ và chống đối để chứng minh rằng: Ông Hồ có viết thư xin học trường thuộc địa. Việc ông xin học ở đây nhằm làm quan, có miếng cơm chứ ông chẳng có tư tưởng căm thù Pháp, không có ý định "tìm đường cứu nước" như chính ông và đảng cộng sản đã bịa đặt.

 

Tại sao ông Hồ và đảng cộng sản lừa dối không công khai bức thư? Tại sao ông đi kiếm ăn lại nói dối "Tìm đường cứu nước"? Đó chính là sự lừa dối không thể chấp nhận được.

 

Đọc tiếp: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-1.html

 

*

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2) - Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958



Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Để nối tiếp chuỗi bài về những sự thật không thể chối bỏ, tôi xin trình bày về các vấn đề: Có hay không công hàm 1958, công hàm đó có phải là công hàm bán nước hay không và vai trò của ông Hồ Chí Minh trong công hàm bán nước 1958 cho Trung cộng. Từ trước đến giờ chúng ta luôn coi nó là tác phẩm của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng sự thực có phải thế không. Vấn đề này không mới nhưng nó được chứng minh theo hướng mới và quan trọng hơn là vai trò của ông Hồ trong sự kiện này. Tôi xin trình bày dưới bài viết này.

 

Đọc tiếp: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-2-ho.html

 

XUONG DUONG

__._,_.___

Friday, June 15, 2012

] GIẢM LÃI SUẤT:TĂNG TỐC TỤT GIỐC KT.VN VÀO HUYỆT ?

 

GIẢM LÃI SUẤT:

TĂNG TỐC TỤT GIỐC KINH TẾ VN

VÀO HUYỆT ?

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 14.06.2012

Web: http://VietTUDAN.net

 

Từ cuối năm 2011 và nhất là đầu năm 2012, Ngân Hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Hội những Nhà Đầu tư đều lên tiếng thôi thúc Việt Nam cũng như Trung quốc phải Cải tổ tận căn nguyên mô hình Kinh tế đang tụt giốc trầm trọng đà phát triển của hai nước. Tìm hiểu căn nguyên của tụt giốc Kinh tế, chúng tôi đã viết nhiều bài nói rằng đó chính là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ phát sinh và lan tràn như giòi bọ trong Cơ chế chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cải tổ tận căn nguyên, tức là dứt bỏ chủ trương Cơ chế như vậy. Nếu Cơ chế vẫn còn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế thì giòi bọ vẫn lan tràn ăn ruỗng Kinh tế. Nếu không dứt bỏ Cơ chế, thì tất cả những biện pháp Chính trị Kinh tế (Politiques Economiques) chỉ là vá váy đụp hời hợt.

Chúng tôi chờ đợi việc cải tổ mô hình Kinh tế Việt Nam xem có đi vào tận căn nguyên hay không. Trong tuần này, chúng tôi đọc được Bản Tin về việc hạ Lãi suất ngân hàng ở Việt Nam như biện pháp Chính trị Kinh tế cứu vãn việc tụt giốc. Theo phân tích tình trạng khủng hoảng Kinh tế không những tại Việt Nam mà còn toàn cầu, chúng tôi thấy rằng việc giảm Lãi suất của Việt Nam không những không phải là biện pháp cứu nguy Kinh tế, mà còn đạp thêm ga để chiếc xe Kinh tế mục nát CSVN đang tụt giốc lao nhanh hơn vào tử huyệt.

 

Tình trạng mục nát,

tụt giốc Kinh tế hiện nay.

 

Bản Tin của VietBao tuần này tóm tắt tình trạng mục nát, tụt giốc Kinh tế trầm trọng của Việt Nam. Bản Tin viết:

“HANOI — Kinh tế khủng hoảng, dân cạn tiền tới mức nước mắm cũng không mua nổi.

Trang báo chuyên về kinh doanh VEF loan bản tin nêu rõ trên tựa đề: “Kinh doanh sụt giảm: Từ ôtô đến nước mắm.”Bản tin VEF cho biết, hàng tồn kho đang là mối đe dọa lớn nhất đến các DN. Vấn nạn lan tràn từ các ngành công nghiệp lớn như ô tô, xe máy đến những mặt hàng thiết yếu như… nước mắm. Sản xuất kinh doanh đang bế tắc và kinh tế chưa thể sớm thoát khó khăn.

“Trao đổi mới đây, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa nhấn mạnh, vấn đề khó khăn nhất của các DN hiện nay là bí đầu ra. Bây giờ với nhiều mặt hàng thiết yếu người dân cũng không có tiền mua.”

Thê thảm là  nước mắm cũng ứ đọng.

Bản tin VEF ghi nhận từ Hiệp hội nước mắm Nha Trang cho biết, các DN sản xuất nước mắm tại Nha Trang cũng đang phải giảm sản xuất. Cho dù phải thắt chặt chi tiêu, người tiêu dùng cũng phải mua nước mắm cho bữa ăn hàng ngày. Vậy mà trên thực tế, mặt hàng này cũng không tránh khỏi tình trạng tiêu thụ giảm sút. Tại Nha Trang, có nhiều DN nước mắm phải sản xuất cầm chừng từ đầu năm đến nay, nguyên nhân không gì khác là sức tiêu thụ chậm, sản phẩm ứ đọng.

Bản tin cho biết, theo bản khảo cứu của Ngân hàng HSBC, kinh tế VN đang cọ cụm, vì chỉ số PMI đã thấp hơn 50 điểm. Con số trên 50 điểm là tăng.

Bản tin viết, Chỉ số PMI (nhà quản trị mua hàng – Purchasing Managers Index) tháng 5/2012 do Ngân hàng HSBC công bố cho thấy điều kiện kinh doanh của ngành sản xuất tại Việt Nam vẫn đang xấu đi. Theo báo cáo này, chỉ số PMI ngành sản xuất đã giảm từ mức 50 điểm vào tháng 3 xuống còn 49,5 điểm vào tháng 4 và tiếp tục giảm xuống còn 48,3 điểm trong tháng 5/2012.

HSBC cho biết, những DN tham gia khảo sát cho rằng, nhu cầu trên thị trường đã giảm khá mạnh do người dân thực hiện tiết kiệm, thắt chặt chi tiêu. Bắt đầu từ các siêu thị, doanh số giảm đi vì người dân giảm sức mua, siêu thị hạn chế nhập hàng, khiến cho các nhà sản xuất hàng tiêu dùng cũng phải giảm năng lực sản xuất, nguồn cung phải giảm nếu không muốn lượng hàng tồn kho tăng lên.

         “Hiện nay, tình trạng sản xuất đang giảm được ghi nhận ở hầu hết các ngành hàng từ dệt – may, giấy, da giày, nhựa, ô tô, xe máy, thép điện tử… Ngành dệt may, dù bước vào mùa cao điểm trong năm nhưng phần lớn các DN vẫn đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đơn hàng. Hiệp hội Dệt may Việt Nam được biết, trước đây khi vào mùa vụ, các DN có thể thoải mái lựa chọn đối tác để làm nhưng nay thì ngược lại. Nhiều DN dệt may lớn, lượng đơn hàng giảm khoảng 5-10% so với cùng kỳ, còn DN nhỏ có thể thiếu hụt trên 10% đơn hàng.

Các ngành sản xuất khác như: xi măng, thép, ô tô, xe máy, thiết bị điện, thiết bị xây dựng… thì sản xuất đã giảm quá mạnh từ đầu năm tới nay. Nhiều ngành hàng giờ chỉ còn sản xuất chừng 50-60% công suất. Những ngành có lượng hàng tồn kho cao là đường ăn, sắt thép, xi măng, ô tô và xe máy… Đến xăng dầu cũng tồn kho là 106.000 tấn, cho dù Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã tạm ngừng hoạt động để kiểm tra.

Thực tế đang cực kỳ bi thảm, theo lời một nhà quan sát, rằng đây là lần đầu tiên kể từ thời kỳ đổi mới, dân  nghèo tới mức không có tiền mua nước mắm. Nghĩa là thất nghiệp đã trở thành hiện tựơng quan ngại. (VietBao)

 

Trong lúc tụt giốc như vậy, CSVN hạ Lãi suất

như biện pháp cứu nguy Kinh tế

 

Bản Tin của SBTN viết:

“Tin Hà Nội - Trở lại với những tin từ Việt Nam, hôm qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệù. Quyết định giảm lãi suất được đưa ra sau nhiều báo cáo nói hơn chục ngàn công ty lớn nhỏ tại Việt Nam đã nộp đơn thông báo ngừng hoạt động chỉ trong mấy tháng đầu năm nay, không kể nhiều chục ngàn công ty khác ngừng hoạt động nhưng không thông báo.

Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.

Chế độ Hà Nội bị buộc phải tăng lãi suất để đối phó với lạm phát nặng nhất Á Châu theo các khuyến cáo của các nhà tài trợ quốc tế. Tổng sản lượng quốc gia GDP của Việt Nam chỉ tăng được 4% trong quý đầu năm nay, mức thấp nhất từ 3 năm qua. Dự trù nền kinh tế chỉ tăng trưởng khoảng 5.2% cho năm nay, theo lời Thứ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư nói với báo chí trong tuần này. Hành động hạ lãi suất của nhà cầm quyền Hà Nội tương tự như hành động của nhà cầm quyền Bắc Kinh mới đây. Bắc Kinh đã không thay đổi lãi suất suốt 4 năm qua.(SBTN) (Posted on 13 Jun 2012)

 

Từ nhận định sai lầm về tình trạng tụt giốc Kinh tế

đến quyết định vá víu của biện pháp Tài chánh

 

CSVN ngoài lý do căn bản tụt giốc Kinh tếcủa Cơ chế CSVN hiện hành mà chúng tôi luôn luôn nhấn mạnh trong nhiều bài viết, đó là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, chúng tôi muốn phân tích những lý do đang làm độ phát triển Kinh tế chỉ còn 5.2% và tình trạng tồn đọng hàng hóa sản xuất khiến các xí nghiệp, cả quốc doanh lẫn tư doanh, phải từ từ đóng cửa. Khi phân tích kỹ những lý do này, người ta sẽ thấy ngay rằng biện pháp hạ Lãi suất của CSVN chỉ là vá víu, thậm chí còn làm tăng tốc độ tụt giốc của Kinh tế VN.

        

Phân tích những lý do tụt giốc

        

         Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng. Tình trạng co cụm sản xuất và và hàng hóa ứ đọng tồn kho là do luật CUNG và CẦU. Chính phía CẦU là động lực cho sản xuất (CUNG). Phía CẦU lệ thuộc chính yếu vào Mãi lực tiêu thụ. Nhìn như vậy, chúng ta thấy những lý do trực tiếp sau đây làm tụt giốc Kinh tế VN và TQ:

=>     Tình trạng khủng hoảng Kinh tế của hai Thị trường lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu làm cho Thất nghiệp tăng vọt. Mãi lực của dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu giảm hẳn xuống. Do đó việc đặt mua hàng Trung quốc và Việt Nam tất nhiên giảm xuống và làm cho hàng hóa TQ và VN  không xuất cảng nổi để phải tồn đọng. Thêm vào đó, Nợ công của Hoa kỳ và Liên Aâu khiến hai khối Thị trường này phải đưa ra những biện pháp tiết kiệm, nghĩa là giảm tiêu thụ. Thất nghiệp làm Mãi lực dân chúng giảm và Nợ công khiến các quốc gia phải tiết kiệm. Tất cả trong chiều hướng cắt đi phía CẦU những hàng hóa sản xuất từ Trung quốc và Việt Nam.

=>     Mãi lực dân chúng nội địa của Trung quốc và Việt Nam rất ít ỏi để có thể trợ lực cho phía CẦU nội địa. Trong khi ấy, vì muốn bảo vệ danh dự của Cơ chế, Trung quốc và Việt Nam gồng mình giữ độ phát triển và mức CUNG dồi dào. Mãi lực quốc tế giảm và Mãi lực nội địa không có, thì khó lòng giữ thăng bằng được giữa CUNG và CẦU. Do đó hàng tồn kho là hậu quả.

=>     Các Thị trường lớn Hoa kỳ và Liên Aâu nay đã ý thức rằng tình trạng Thất nghiệp tại nước họ là do hậu quả của việc lan tràn hàng hóa Trung quốc. Chính vì vậy, để bảo vệ cho sản xuất của chính mình, Hoa kỳ, nhất là Liên Aâu đưa ra những Biện pháp Bảo Hộ Mậu dịch. Đây là việc càng làm giảm thiểu đi phía CẦU nhập cảng hàng từ Trung quốc và Việt Nam.

=>     Đặc biệt Việt Nam, ngoài việc giảm CẦU do Mãi lực tiêu thụ quốc tế và quốc nội, Việt Nam còn bị hàng tồn đọng từ Trung quốc tràn xuống để giết chết sản xuất tại sân nhà. Để cứu sản xuất nội địa, các quốc gia phải ngăn cản nhập cảng hàng nước ngoài, trong khi ấy, Việt Nam bị tràn ngập hàng Trung quốc để cạnh tranh với chính hàng sản xuất nội địa.

         Phân tích những lý do gắn liền với Mãi lực và phía CẦU như vậy, chúng ta mới thấy rằng Biện pháp Giảm Lãi xuất của CSVN chỉ là vá víu, thậm chí còn làm tăng tốc độ tụt giốc Kinh tế nữa.

 

Vá víu của việc giảm Lãi suất

 

Theo Bản Tin của SBTN về quyết định giảm Lãi suất, Ngân Hàng Nhà Nước VN đã nhìn sai lầm về những lý do làm tụt giốc Kinh tế:

“Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.”

Ngân Hàng Nhà Nước cố tình cắt nghĩa việc tụt giốc là thiếu vốn vì lãi suất quá cao, mà không nhìn những lý do thuộc Kinh tế, đó là việc giảm CẦU từ quốc tế đến quốc nội. Vì cố tình nhìn sai lầm về những lý do tụt giốc Kinh tế, nên Ngân Hàng Nhà nước đưa ra biện pháp Tài chánh là giảm Lãi suất, nghĩa là Giá Tín dụng rẻ để các xí nghiệp có thể vay vốn tăng sản xuất (CUNG). Những lý do làm tụt giốc Kinh tế là từ phía CẦU chứ không từ phía CUNG. Ngân Hàng đã tuyên bố một cách dõng dạc trong nhận định sai lầm của mình:

“Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ.”

Như vậy, theo Ngân Hàng Nhà Nước, việc giảm Lãi xuất tín dụng là “nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ”.  Bài học giảm Lãi suất để giá vốn rẻ mà kích thích đầu tư sản xuất là bài học áp dụng cho những nước đã có sẵn Thị trường Tiêu thụ quốc tế cũng như quốc nội. Bài học này áp dụng cho Kinh tế Việt Nam không những không có hiệu quả mà có thể còn sai trật vì Thị trường Tiêu thụ nước ngoài mình không làm chủ được và Thị trường Tiêu thụ trong nước bị cạn kiệt Mãi lực.

 

Cái nguy hiểm của tăng vốn sản xuất (CUNG)

 

Cuộc đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 là hậu quả của việc sản xuất quá nhiều sau khi các xí nghiệp thi nhau đầu tư cơ giới hóa sản xuất. Chính là khủng hỏa của SURPRODUCTION. Hàng hóa được sản xuất quá nhiều, nghĩa là CUNG tăng vọt, mà tiêu thụ yếu kém đi, nghĩa là CẦU giảm xuống.Tình trạng chênh lệch CUNG—CẦU này đã dẫn đến cơn xoáy Giảm giá (Spirale déflationniste) khiến các xí nghiệp thay vì tăng sản xuất, phải thiêu hủy đi những hàng đã sản xuất và tồn kho. Biện pháp Kinh tế mà KEYNES đề nghị cho thời này là phải làm hết cách để tăng Mãi lực Tiêu thụ (CẦU), chứ không phải là tăng sản xuất (CUNG).

Việc Trung quốc sản xuất quá nhiều đang làm Thế giới lo ngại một tình trạng giảm giá dẫn đến cơn xoáy giảm giá làm sạt nghiệp phía sản xuất.

Những lý do tụt giốc Kinh tế Việt Nam là từ phía CẦU, trong khi ấy Ngân Hàng Nhà Nước muốn cứu tụt giốc, lại hành động tăng phía CUNG, nghĩa là tăng vốn cho các xí nghiệp sản xuất nhiều thêm nữa để cuối cùng dẫn đến tình trạng hàng tồn kho chất chồng không bán được để các xí nghiệp phải hốt đổ đi trước khi đóng cửa xí nghiệp. Chúng tôi cũng xin thêm rằng phần lớn những xí nghiệp là quốc doanh. Khi mà tăng vốn sản xuất cho các xí nghiệp quốc doanh bằng hạ Lãi xuất, thì những vốn tăng thêm, thay vì sản xuất, lại thất thoát do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ như Vinashin, Vinalines… mà Nhà nước không thu lại vốn được.

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 14.06.2012

Web: http://VietTUDAN.net

 

BA TÔI, NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA

BA TÔI, NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA
Nguyễn Khắp Nơi



(Nhân “Ngày Của Cha”, viết theo lời kể của một người con còn đang ở Việt Nam, hãnh diện về cha của mình, một người LÍNH CỘNG HÒA.

- Kính tặng các bác, các chú Lính Cộng Hòa còn ở lại Việt Nam và đang ở những xứ sở Tự Do trên Thế Giới.)


oOo

 

Tôi không nhớ gì nhiều về tuổi thơ của tôi.
Khi tôi bắt đầu biết nhận xét, tôi chỉ biết là gia đình tôi đang ở một vùng quê rất ít người.
Sáng sớm là tôi đã phải theo ba mẹ ra ruộng, ba tôi chống nạng dùng cuốc chim đầu nhọn xẻ đất ra từng miếng, mẹ tôi dùng cái cuốc để đánh đất ra cho nhuyễn. Khi đất nhuyễn hết ra rồi, mẹ dắt tôi đi xách nước về tưới đất. Mương nước ở xa lắm, đi bộ thật lâu mới tới nơi. Mẹ gánh nước, còn tôi xách cái thùng nhỏ đựng chút xíu nước lúp xúp chạy theo sau, vì nếu nhiều nước quá, tôi xách không nổi.
Ngày nào cũng cuốc đất, gánh nước... tới khi cả khu đất đã ướt hết rồi, ba mới cắm đọt trồng khoai mì, khoai lang, rau muống, cải rổ...
Lâu lắm mới thấy có người đến thăm ba.
Những người này đội nón cối, sách súng, giọng nói lúc nào cũng đầy đe dọa, giận dữ. Khi nghe ba tôi than phiền là đất quá cứng, lại không có nước, nên trồng sắn cũng khó, trồng rau càng khó hơn, những người đội nón cối đã hét vào mặt ba:
“Đất mầu mỡ như thế này, chỉ có khu “Kinh Tế Mới Đồng Nai” mới có được, nhân dân phải khắc phục trồng thêm nhiều hoa mầu cho thành phố. Anh phải khắc phục, tranh thủ để đạt chỉ tiêu nhà nước đã đề ra. Nghe chửa?”
Lúc đó, tôi mới biết khu mà gia đình tôi đang ở là khu “Kinh tế Mới”.

Ở khu kinh tế mới này, không có trường học, nên tôi chẳng được đến trường bao giờ cả. Giấy tờ không có, sách vở cũng khộng, nói chi tới trường học.
Bữa sau, ba tôi được phép đi tới “Ủy Ban Nhân Dân Quận” để nhận thêm hạt giống trồng lúa. Ba đi từ sáng đến tối mới về nhà.
Một buổi chiều, ba mẹ tôi hối đi về sớm, mẹ thổi lửa nấu bo bo, ba lúi húi cột cái túi gì bự lắm, đeo thử lên vai nhiều lần. Trong túi đựng những gì tôi không biết, nhưng chắc là nặng lắm.
Ăn cơm xong, ba hối cả nhà đi ngủ để sáng mai đi ra ruộng sớm.
Đêm thật khuya, tôi đang say ngủ thì có cảm tường như đang trôi đi đâu đó. Tôi mở mắt nhìn, thấy chung quanh tối om tối thít, tôi nghĩ mình đang mơ ngủ nên lại nhắm mắt ngủ tiếp. Nhưng tôi ngủ không được, vì có tiếng gió thổi qua tai, và rõ ràng có hai bàn tay đang ôm lấy tôi, cõng tôi mà chạy, hai bàn tay thật cứng cáp, tôi biết ngay là bàn tay của ba. Tôi hồi hộp rướn người lên, ghé vào tai ba hỏi nhỏ:
“Ba ơi, mình... đi đâu vậy hả ba?”
Ba vừa chạy vừa thở, trả lời tôi:
“Mình về thành phố, con à! Ở đây sống không nổi. Con cứ ngủ đi, ba sẽ lo cho con.”
Tôi không biết thành phố là cái gì? Ở đâu? Nhưng nghe ba nói sẽ lo cho tôi, nên tôi yên trí, nhắm mắt ngủ tiếp.
Tôi thức dậy khi ánh nắng mặt trời chiếu vào mắt tôi. Tôi theo thói quen ngồi dậy dụi mắt nhìn chung quanh. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy chung quanh tôi đầy những người, xe đạp, xe gắn máy chạy đầy hết, vang lên những tiếng động thật là ồn ào. Tôi thích thú đứng lên ngây người nhìn giòng xe chạy, nhìn người ta qua lại. Mẹ đưa cho tôi một nắm xôi, nói ăn đi. Tôi không ăn, không cử động gì cả, cứ đứng nhìn những gì trước mặt. Nếu đây là một giấc mơ, tôi muốn ở trong giấc mơ này lâu một chút nữa.
Mẹ tôi phá vỡ giấc mơ của tôi bằng một cái đập vào vai đau điếng:
“Mình trở về Sàigòn rồi đó con. Ba... đi làm với Bác Hai Cọp rồi, con ăn xôi đi rồi phụ mẹ làm việc.”
Thì ra tôi đang ở Sàigòn!
Mẹ nói: “Trở về Sàigòn” như vậy có nghĩa là gia đình tôi đã từng ở Sàigòn, rồi đi “Kinh Tế Mới”, bây giờ mới trở về lại Sàigòn?
Tôi chẳng biết gì cả...
oOo
Gia đình tôi ở ngay trên vỉa hè của đường phố Sàigòn, tôi lớn lên ở đó.
Ba tôi làm nghề vá bánh xe đạp, xe gắn máy.
Mẹ tôi bán bún chả giò ở đầu hẻm kế bên.
Sáng sáng, tôi phụ ba đem đồ nghề bầy trên lề đường, đồ nghề của ba gồm có một cái lò đốt, cái bơm xe, vài cây sắt cậy niềng xe, kìm búa lặt vặt.
Khách hàng của ba là những người đi xe đạp, xe gắn máy, chẳng may bị xì bánh xe, nổ bánh xe.
Ngày đầu tiên, tôi đâu có biết làm gì, ba nói làm cái gì thì tôi làm cái nấy, rồi đứng đó mà nhìn ba làm việc.
Một bữa, ba đang vá bánh xe cho một người khách thì một đám người đội nón cối đi tới, họ chĩa súng vào ba, la lên:
“Nhân danh cách mệnh, để bảo vệ và làm sạch thành phố, không ai được tụ tập làm ăn buôn bán trên lề đường. Anh này, theo chúng tôi về trụ sở Công an Phường để làm việc.”
Ba xin được vá xong bánh xe cho người khách lỡ đường, nhưng người Công an không cho, nói ba đang vi phạm luật lệ nhà nước, phải chấm dứt ngay. Ba không biết làm sao, phải gỡ cái bánh xe ra đưa trả lại người khách.
Người khách hàng cự nự:
“Bánh xe của tôi đang vá, phải cho người thợ vá cho xong rồi muốn bắt thì bắt, chớ để như vầy làm sao tôi có xe mà đi?”
Mặc cho nguời khách phản đối, đám công an cứ thế hốt mớ đồ nghề của ba mang về phường. Ba chống nạng dắt tôi đi theo sau.
Cha con tôi chờ từ sáng tới trưa mới được gọi vào phòng gì đó gọi là “Chấp Pháp”. Người Công an nạt nộ ba tôi:
“Anh ở đâu mà về cư ngụ bất hợp pháp ở trên lề đường? Nghề sửa xe không phải là “Sản xuất”, anh phải đi về vùng “Kinh tế mới” mà sống”.
Ba tôi từ tốn trả lời người Công an:
“Tôi ở Sàigòn từ hồi đó tới giờ, phường đã lấy nhà của tôi, bắt tôi đi “Khu Kinh tế mới Đồng Nai”. Tôi đã sống ở đó mấy năm trời, không ai giúp đỡ, không có hạt giống, không có phân bón, hổng có trồng cấy gì được hết. Sống không nổi, đói quá rồi, tôi phải về thành phố sống cho qua ngày”.
Công an phường tịch thu đồ nghề của ba, bắt ba đi trở về vùng kinh tế mới.
Ba tôi chẳng đi đâu hết, cả đám không nhà không cửa cứ chùm nhụm với nhau ở lề đường. Vài ngày sau, ba và những người bạn lại sắm đồ nghề mới, lại bầy ra ngoài đưòng tiếp tục vá xe. Công an phường có đi ngang, nhưng họ chưa đi tới nơi là ba tôi và những người bạn đã nhanh chóng thu dọn đồ nghề chạy đi chỗ khác, chờ khi bọn họ đi qua rồi, lại trở lại bầy đồ nghề ra làm ăn tiếp.
Một bữa, tên Công an phường chạy xe đạp đi tới đuổi ba tôi không cho làm, cắc cớ làm sao, bánh xe của hắn bị thủng, không chạy được nữa. Người này để xe nằm xuống lề đường, lấy bơm xe mang theo ra bơm thật lâu vào bánh xe, nhưng chắc là bánh xe đã bị thủng lỗ rồi, làm sao mà bơm lên được, anh ta buồn bã dắt xe đi về phường. Ba tôi chống nạng đi theo, nói với người Công an:
“Bánh xe của cán bộ bị xì rồi, tôi có thể vá lại được cho cán bộ, không lấy tiền.”
Người Công an nhìn ba tôi, gay gắt:
“Luật lệ nhà nước không cho các anh tụ tập làm việc trên lề đường, cấm đấy!”
Ba tôi trả lời tỉnh bơ:
“Tôi vá xe cho Công an là giúp đỡ thực thi chính sách của nhà nước mà!”
Tên Công an ngẫm nghĩ một lúc, chưa biết trả lời sao thì ba tôi đã nắm lấy chiếc xe của hắn, để nằm ngay xuống lề đường. Tôi nhanh chóng lấy đồ nghề chạy ra đưa cho ba. Chỉ một lúc sau là xong, ba dựng xe lên đưa lại cho hắn:
“Đó, xong rồi đó, anh cán bộ cứ tiếp tục đi thực thi chính sách nhà nước đi.”
Tên Công an nhận lại chiếc xe, nhìn ba tôi một hồi rồi bỏ đi.
Ba tôi nhìn tên cán bộ, nói với theo:
“Tôi ở đây, lúc nào cán bộ bị hư xe, cứ việc đem tới đây, tôi sửa cho, không lấy tiền công đâu.”
Thế là ba tôi lại thản nhiên bầy đồ nghề ra lề đường, làm việc tiếp. Bác Hai Cọp vừa bầy đồ nghề sửa xe gắn máy của mình ra, vừa vỗ vai ba tôi một cái làm cho ba tôi chúi nhủi về đằng trước:
“ĐM, thằng này... ngon thiệt! Dám thẩy đinh ra đường cho xe cán bộ cán đinh xì chơi vậy đó!”
Thế là từ đó, ba tôi có chỗ sửa xe, làm việc nuôi sống gia đình.
Sáng sáng, cha con tôi chở đồ ra chợ cho mẹ dọn hàng, mỗi người ăn một tô bún chả giò no nê rồi mới trở về dọn đồ nghề cho ba tôi.
Nói là phụ ba, chứ tôi còn nhỏ quá, đâu có làm gì được. Lâu lâu có ai nhờ bơm bánh xe đạp, tôi mới được lắp vòi bơm vào rồi ra sức nhấn cái cần bơm xe xuống mà bơm lè lưỡi ra. Tôi gắn đầu van không chặt, nên bơm bao nhiêu hơi xì ra hết bấy nhiêu. Cứ thế, cả tuần lễ sau tôi mới học bơm được cái bánh xe đạp cho nên thân.

Một buổi tối, ba tôi và bác Hai Cọp rủ một đám bạn bè về ăn uống buổi tối.
Một chiếc chiếu được trải ra, đồ ăn và bia được bầy lên, nguyên đám bạn bè tới nơi, khoảng mười người gì đó, mẹ tôi và các bác gái lo nấu đồ ăn, tôi chạy vòng vòng nhìn mấy người khách lạ.
Tôi thấy mọi người tụ họp đã đông, nhưng hình như họ vẫn còn chờ một ai đó, mà họ gọi là “Anh Hai”.
Một lúc sau, tôi thấy có một người đạp xe ba bánh chở đồ chạy rút lại. Tới nơi, nguời này nhìn mọi người, la lên:
“Chở món đồ cuối cùng nặng quá, tưởng là phải bỏ cuộc rồi đó chớ.”
Tất cả vui mừng ra mặt, cùng nhau cất tiếng chào người mới tới:
“Chào Anh Hai mới tới.”
Anh Hai tụ tập mọi người lại chung quanh cái chiếu, ông rút trong túi ra một cái nón mầu Đỏ đội lên đầu. Mọi người làm theo, có người đội nón mầu Xanh, Đỏ, Nâu, Đen thật là ngộ. Bác “Anh Hai” nhìn tất cả, hô lên một tiếng thật nhỏ nhưng thật là oai nghiêm:
“Nghiêm! Chào!”
Tất cả đứng thẳng lên, đưa tay lên trán chào. Bác “Anh Hai” hô tiếp:
“Kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng Sáu,
Tưởng niệm đồng đội đã hy sinh”.
Tất cả đưa tay xuống, đứng im một lúc.
Một lúc sau, bác “Anh Hai” lại hô lên:
“Kết thúc. Tan hàng!”
Tất cả mọi nguời hô theo:
“Cố Gắng!”
Rồi cùng ngồi xuống, cất mũ vào trong túi, mở bia ra cùng nhau uống, gọi tên nhau, cười nói thật là vui vẻ.
Lúc này tôi mới được biết, ba tôi có tên là “Đức Nhẩy Dù”, bác Hai Cọp thực sự tên là “Hai Cọp Biển”, còn bác Hai đội nón mầu Đỏ tên là Hùng. Bác Hùng được mọi người kêu là “Thiếu Tá”.
Bác Hùng đưa ly bia ra cụng với tất cả, rồi lên tiếng:
“Anh em vẫn còn gắn bó thương yêu nhau, bảo vệ lẫn nhau như thế này thật là đẹp.”
Tất cả cùng đưa ly bia lên, cùng nói:
“Huynh Đệ Chi Binh”
Rồi uống với nhau thật là vui vẻ.
Bác Hùng đột nhiên hỏi ba tôi:
“Em chỉ là lính thôi, làm sao mà tụi nó lại bắt em đi học tập cả tháng trời, rồi lại thù em tới nỗi đuổi em đi kinh tế mới lận?”
Tôi nghe ba tôi trả lời:
“Anh Hai, mấy thằng nằm vùng nó biết em mang máy cho Tiểu đoàn, nó biết anh không có trình diện học tập, nhưng nó kiếm không ra. Nó dụ em chỉ điểm anh, nhưng em nói không biết gì hết. Tụi nó tức tối, bắt em đi học tập đã đời, rồi nguyên đám bộ đội đưa em về, đưa cả vợ chồng em tới chiếc tầu vượt biên bán chính thức, tụi nó dụ em nữa:
“Chỉ cho chúng tôi ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng trốn ở đâu? Bắt được ổng rồi cách mạng sẽ khoan hồng cho anh, cho anh vàng và cho đi vượt biên bán chính thức trên chiếc tầu này.”
Em cũng ham tiền ham bạc, ham vượt biên lắm chứ! Nhưng em là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa mà! Em đâu có thể chỉ vì vài cái lợi danh mà bán đứng cấp chỉ huy của mình được.
Tụi nó dụ em không xong, mới tống vợ chồng em đi kinh tế mới. Em ở hết mấy năm đủ rồi, hơn nữa, nghe tin anh đã... vào Khu rồi, nên mò về thành phố sống trở lại, em đâu có ngán tụi nó đâu. Mà sao anh đã ra khu rồi mà lại trở về vậy?”
Mọi người nhìn Bác Hùng chờ câu trả lời. Bác Hùng buồn rầu ngồi im một lúc rồi mới nói:
“Anh qua tới Căm Bốt, gặp thật nhiều anh em đồng ngũ ở Kompong Som và Kompot. Lính mình đánh bọn Việt Cộng để lấy lại vũ khí và thế lực, bọn nó đã đem thật nhiều xe tăng và đại bác tới tấn công tụi anh, anh em lớp chết lớp bị thương, phải tan hàng hẹp gặp lại. Anh trốn từ Kompongsom về đây, tìm lại được anh em mình là mừng lắm rồi. Anh tìm ít tiền và anh em còn lại ở đây, đi về mật khu nữa, đánh tới chừng nào thành công thì thôi. Việt Nam Cộng Hòa còn, thì anh em mình còn. Việt Nam Cộng Hòa mất, anh sẽ tự xử. Anh em còn lại phải cẩn thận, coi chừng tụi nó gài bẫy.”
Bác “Hai Cọp Biển” uống hết ly bia, đặt xuống, khà một tiếng, lấy tay quẹt bọt bia dính trên miệng, hỏi “Anh Hai”:
“Chừng nào anh Hai đi nữa? Anh Hai tuyển được bao nhiêu tay súng nữa rồi? Em chỉ bị cụt cánh tay trái thôi, còn... làm ăn được lắm. Ông thầy cho em đi theo được không? Em có cánh tay giả, ráp vô cũng đỡ khổ lắm!”
“Anh Hai” nhìn cánh tay đã cụt gần tới khỏi cùi chỏ của bác Hai Cọp Biển, lắc đầu nói:
“Em còn ngon cơm lắm. Bên đó còn nguyên cả một Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến lận, gặp lại bạn bè, chắc em sẽ mừng lắm. Nhưng đi là không có ngày về đâu đó, suy nghĩ kỹ đi”.
“Em còn hận tụi nó lắm, anh Hai! Em liều sống chết với tụi nó mà! Ở đây bị tụi nó đì quá đi, chịu không thấu. Đời trai mà anh, thà đánh một trận chót, bắn cho đã tay, có chết cũng cam lòng. Anh Hai, cho em đi theo với. Em tình nguyện phục vụ Tổ Quốc mà”.
“Vậy thì đi theo anh, sáng mốt anh sẽ cho người tới đây đón em”.

oOo

Gia đình tôi sống trên hè phố, nên đâu có hộ khẩu gì, tôi chẳng bao giờ được đi học cả. Gần nơi cha con tôi làm việc, có một trường tiểu học, hàng ngày, tôi đứng nhìn đám học trò bằng trang lứa cắp sách vở đến trường, tôi thèm lắm, nhưng biết mình không thể có ngày đó, nên tôi chỉ nhìn bọn họ rồi bỏ qua.
Ba tôi ham đọc sách lắm, có bữa, ba nghỉ làm, dắt tôi lên Chợ Sách Sàigòn mua sách về coi. Lần đầu tiên được thấy những cuốn sách in thật đẹp, tôi mê quá, cứ cầm sách lật qua lật lại. Tôi đâu có biết đọc gì đâu, chỉ nhìn hình mà thôi. Ba tôi mua một đống sách, cuốn nào cuốn nấy thật là dầy, toàn là chữ ở trỏng, ba nói đó là... “Truyện Chưởng”.
Những lúc rảnh rang, ba tôi lật truyện chưởng ra đọc, tôi chạy tới coi ké, đòi ba đọc cho tôi nghe. Tôi nghe hay quá, đòi ba chỉ cho tôi đọc, tôi đâu có biết chữ nào vào với chữ nào đâu? Cứ nghe ba đọc là tôi học thuộc lòng, rồi cứ thế mà đọc lại không sót một chữ.

Một bữa, ba tôi đang lo vá xe cho khách, chưa tới phiên tôi bơm xe, nên tôi lấy cuốn truyện chưởng ra đọc. Tôi lật ra trang sách đã được ba đánh dấu, ngồi đọc lia chia cái miệng:
“Dường như vừa rồi, tôn huynh tự giới thiệu là họ KIỀU, tên PHONG, phải không?
Đại hán chưa hết kinh ngạc đã nghe chàng hỏi, vội đáp:
“Vâng, tại hạ tên là Kiều Phong”
Đoàn Dự ngồi xuống phiến đá nói:
“Tiểu đệ vừa đến Giang Nam đã được kết giao với Kiều huynh là một vị đại anh hùng, thực là may mắn vô cùng cho tiểu đệ”
Kiều Phong trầm ngâm trong giây lát rồi nói:
“Tôn huynh là tử đệ hộ Đoàn nước Đại Lý, thảo nào tư cách đứng đắn lắm!
Đoàn huynh xuống Giang Nam có việc gì?”
(Lục Mạch Thần Kiếm, Hồi 1, Chương hai, Cuốn số 1, Nguyên Tác của Kim Dung, Hàn Giang Nhạn dịch thuật)

Tôi đọc lung tung beng lên, tới nỗi ba kêu bơm bánh xe mà tôi cũng không hay, cứ thế ôm sách đọc. Bất chợt, tôi nghe được một giọng nói thật là êm tai ngay bên cạnh:
“Em đọc giỏi quá ha! Bây lớn mà đã đọc truyện chưởng rồi.
Em có đi học ở đâu hay không vậy? Cô nghe em đọc tên Kiều Phong, nhưng trong trang sách em đang đọc, đâu có chữ nào là Kiều Phong đâu?”
Tôi ngước mắt nhìn lên, thấy một cô trẻ tuổi đang đứng trước mặt tươi cười hỏi thăm tôi. Tôi mắc cỡ bỏ cuốn truyện xuống, lắp bắp nói:
“Em đâu có biết chữ đâu! Em bắt chước ba đọc vậy thôi.”
“Em thuộc được cả một đoạn văn dài như vậy là thông minh lắm đó! Em có muốn đi học không? Cô làm cô giáo, dạy học ở trường đó đó, cô sẽ chỉ cho em đọc cho đúng”.
Tôi nhìn theo ngón tay cô chỉ, thấy ngay cái trường gần bên, cái trường mà tôi hằng thèm muốn bước vào, nhưng không bao giờ dám mơ tới. À thì ra cô là cô giáo, cô vẫn thường hay ghé chỗ vá xe của ba để nhờ bơm xe, vì xe của cô cũ quá rồi, vỏ ruột mòn hết trơn, ưa bị xì bánh xe lắm. Tôi cũng đã bơm xe cho cô vài lần rồi.
Ba tôi đã tới bên tôi từ lúc nào, ba vuốt tóc tôi, mặt buồn buồn, trả lời thế cho tôi:
“Cô Giáo à, con tôi nó thèm đi học lắm. Nhưng tôi là Lính Cộng Hòa, bị đuổi đi kinh tế mới, rồi trốn chạy về đây sống ở lề đường cho qua ngày, đâu có nhà cửa, đâu có hộ khẩu đâu mà cho nó được đi học.”
Cô giáo nhìn tôi suy nghĩ một hồi lâu, rồi nói:
“Để tôi nói với Phó Giám Hiệu coi ra sao.”
Cả tuần lễ sau, khi tôi đang mê mải đọc cuốn truyện chưởng, thì cô giáo Loan lại đến, cô nói với ba tôi là có chỗ cho tôi đi học, không cần phải có hộ khẩu, chỉ cần cha mẹ ký tên đồng ý cho con đi học là được rồi. Cô hẹn ba mẹ tôi sáng ngày mai tới trường gặp cô, cô sẽ lo liệu hết.
Ngày hôm sau tôi hớn hở theo ba mẹ tới trường. Cô giáo Loan đưa tôi lên phòng Giám Hiệu, tôi hồi hộp chờ bên ngoài. Ba tôi nhìn tôi một cách ngại ngùng, muốn nói cái gì đó với tôi, nhưng rồi lại thôi. Cuối cùng, ba ôm tôi nói nhỏ vào tai tôi:
“Ba cố gắng lo cho con học, nhưng vì ba là “Thương binh Ngụy” nên không chắc con được nhận vô học đâu. Nếu cô giáo Loan không xin cho con được học, con cũng đừng buồn nhe con. Ba sẽ dạy cho con học.”
Cô giáo Loan đi ra cùng với một ông mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen, mang giầy. Cô Loan nhìn ba mẹ tôi rồi nói với người đàn ông:
“Thưa Phó Giám Hiệu, đây là gia đình chị Hai và anh rể của tôi. Anh Chị Hai mới ở quê lên đây sống với chúng tôi, còn tạm trú, chưa có hộ khẩu. Xin Phó Giám Hiệu cứu xét, cho cháu tôi được nhập trường. Lớp tôi có một em mới xin chuyển trường về Quận Bình Thạnh, tôi có thể cho em Tân vào thế chỗ đó.”
Ông Phó Giám Hiệu nhìn tôi, nhìn ba tôi, ông nhìn chăm chú vào cái chân còn lại của ba, rồi ông im lặng không nói gì cả, đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Tôi hồi hộp nhìn theo ông, ông có vẻ khó khăn quá, chắc rằng ông sẽ không đồng ý cho tôi học.
Bất chợt, ông Hiệu Phó quay lại nhìn tôi, nhẹ nhàng nói:
“Lớp của Cô Loan còn trống chỗ, thầy đồng ý nhận em. Em theo cô vào lớp đi, thầy sẽ chỉ cho ba mẹ làm đơn nhập học cho em”.
Tôi mừng quá, run cả nguời lên, tới nỗi rơi cả cuốn tập đang cầm trong tay. Tôi cúi người cám ơn ông Hiệu Phó, chào ba mẹ rồi theo cô giáo Loan về lớp.

Học suốt một năm trời, tôi đã biết đọc biết viết rành lắm rồi.
Một buổi tối, ăn cơm xong, tôi thu dọn đồ nghề của ba, quét dọn vỉa hè sạch sẽ rồi mới lấy cái thùng gỗ của tôi ra làm bàn, lấy tập vở ra làm bài. Ba tôi tới ngồi kế bên một lúc, rồi ba rút trong một cái bao ny lông một cái hộp nhỏ, lấy ra một tờ giấy bọc plastic, đưa ra bảo tôi đọc. Cái bao plastic cũ nát, làm cho tôi khó mà đọc được những giòng chữ ở trong.

Tôi ráng mở cặp mắt thật lớn ra mà nhìn tấm giấy này đọc nho nhỏ:

“BỔ TỔNG THAM MƯU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
SƯ ĐOÀN NHẨY DÙ
GIẤY CHỨNG NHẬN
Hạ Sĩ Nguyễn Văn Kiểm
Ban Truyền Tin
Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù

Ngoài cái lá cờ và hình con chim với cái dù, còn có hình của ba tôi ở trong đó nữa. Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy tấm giấy nào như vậy cả, nhưng khi nhìn thấy gương mặt ba tôi rạng rỡ hẳn lên khi nghe tôi đọc tấm giấy, tôi cảm thấy tấm giấy này có liên quan gì đó rất lớn đối với ba. Tôi không phải chờ đợi lâu, vì ba tôi đã hãnh diện nói với tôi:
“Đây là tấm Giấy Chứng Nhận ba là Lính Nhẩy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đó”.
“Lính Nhẩy Dù là cái gì hả ba?”
Ba tôi đã ngồi kể cho tôi nghe chuyện lính của ba:
“Lính Nhẩy Dù là lính dùng cái dù thật là lớn, từ máy bay nhẩy xuống nơi quân địch đang ở, để đánh chúng nó. Chỉ có quân đội của Việt Nam Cộng Hòa mới có Lính Nhẩy Dù mà thôi. Ba thích thứ lính này, nên đã tình nguyện đăng lính hồi ba mới có 17 tuổi.

Từ khi ra trường, ba đã tham dự nhiều trận đánh lắm, đánh cái bọn bộ đội mà con thấy hằng ngày đó. Sau ba năm, ba đã được thăng cấp lên Hạ Sĩ và được làm Tiểu Đội Phó. Tới đầu năm 1972, ba bị thương ở tay, nên được đổi về làm trong tiểu đội truyền tin của Tiểu đoàn. Trận đánh oai hùng nhất trong đời đời lính của ba là trận đánh tại Đồi Gió, An Lộc. Chỉ có một tiểu đoàn của ba thôi, mà đã đánh tan tành cả một trung đoàn Việt cộng, làm cho cả Sư Đoàn Dù lên tinh thần hết sức. Vì thế mà lính mình cố gắng đánh và giữ được Thị Xã An Lộc đó.”
“Làm sao mà ba bị thương, phải cưa chân như vậy, hả ba?”
“Trận chiến cuối cùng, ba đánh ở Phan Rang, bọn Việt cộng đông quá, lính Nhẩy Dù bắn hết đạn rồi mà vẫn không đẩy lui được chúng, phải đánh bằng lựu đạn. Ba và Bác Hùng nhẩy vào một cái hầm thì bị pháo kích, ba bị nát cả chân trái, Bác Hùng cũng bị miểng ghim đầy người.

Ba được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa, bác sĩ không còn cách nào, phải cưa cái chân bên trái của ba đi. Ba chưa kịp bình phục thì Tổng Thống của mình đầu hàng, bọn Việt cộng tràn vào trong nhà thương, đuổi ba ra khỏi giường bệnh. Trải qua nhiều lần cực khổ khác, ba với mẹ ráng sống để nuôi con cho tới nay đó. Ba không biết tới chừng nào mới có một căn nhà để cho con có chỗ nương thân. Nhưng thôi, cả Miền Nam Việt Nam còn bị mất, nói chi tới căn nhà của mình. Ba ráng đợi tới ngày hôm nay, cho con đọc được tấm thẻ này, để cho con biết, con là con của một Người Lính Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Có điều là những người lính như ba đã bị thua trận rồi, bị bọn Việt cộng gọi là “Lính Ngụy”. Nhưng đó là bọn chúng sợ Lính Cộng Hòa mà gọi như vậy thôi, chứ Lính Cộng Hòa là lính bảo vệ người dân, bảo vệ nước Việt Nam Cộng Hòa của mình đó. Ba bị mất một chân ba không tiếc, chỉ tiếc là mất cả một Sư Đoàn Dù, mất cả Bộ Tổng Tham Mưu. Ba nhớ đời lính của ba lắm, ba nhớ bạn bè của ba lắm...”
Ba còn cho tôi xem những tấm hình ba mặc quần áo lính thật là oai hùng, những tấm khác ba chụp chung với Bác Hùng và bạn bè. Những tấm hình này đều là đen trắng và cũ lắm rồi, nhưng ba quý lắm, ba gói hai ba lớp plastic để khỏi bị hư.

oOo

Cuộc sống càng ngày càng trở nên khó khăn, rất ít người tới sửa xe, ba mẹ tôi kiếm không đủ tiền mua gạo, phải ăn thêm khoai lang, khoai mì.
Một bữa, có một đám đàn bà và những người tàn tật giống như ba tôi, nhưng tất cả đều đội nón cối, nón tai bèo, tụ tập trên con đường lớn, ngay trước chỗ ba tôi làm việc. Họ mang những tấm biểu ngữ, có ghi hàng chữ:
“MẸ CHIẾN SĨ”
“GIA ĐÌNH CÁCH MẠNG”
“THƯƠNG BINH LIỆT SĨ”
Mặt mũi người nào trông cũng dữ dằn. Họ tụ tập chắc là để làm gì đó mà chỉ một lúc sau, những người Công an đã túa ra bao vây lấy họ.
Ba tôi và tất cả những người bạn đều đã tụ tập ở lề đường để xem họ làm gì? Một bác tới gần ba tôi nói nhỏ:
“Đó là đám ngày xưa đã giúp tiền giúp bạc, đã che giấu cho bọn Việt cộng đó. Nay bị chúng bỏ đói, mới ra biểu tình đòi hỏi đó. Cũng vì những đám người như vậy mà mình bị mất nước đó. Phải đánh chết cha tụi nó đi mới được”.
Khi bọn người này bắt đầu di chuyển trên đường thì Công an chặn họ lại, không cho đi, nhưng bọn người này đẩy bọn công an ra mà cứ thế tiến bước. Đám Công an lui về phía sau để cho bọn bộ đội mang súng tiến tới chĩa thẳng vào đám người này, bắt họ ngưng lại.
Tôi nghe ba tôi nói nhỏ với mấy người bạn:
“Mình tìm cơ hội, đánh cho cái đám mẹ chiến sĩ, gia đình cách mạng một trận cho bõ tức”.
Bác kia nói lại:
“Đánh luôn cả bọn Bộ đội, bọn Cộng an cho đã tay. Nhưng mà làm sao để cho tụi nó tưởng là cái đám mẹ chiến sĩ, thương binh liệt sĩ đánh chúng nó mới là đã”.
Ba tôi gật đầu, ngoắc bác đó lại gần, hai người nói thì thầm những điều gì đó với nhau, tôi không nghe được gì hét, chỉ nghe ba tôi nói câu cuối cùng:
“Chạy lẹ đi, kêu tụi nó thật gấp, nhớ gắn bàn tay sắt vô nhe Hải.”
Bác Hải gật đầu chạy ào ào về phía chợ.
Ở ngoài đường, đám mẹ chiến sĩ, bộ đội phục viên và liệt sĩ đã tiếp tục di chuyển, đám bộ đội vẫn chĩa súng vào bọn họ nhưng không bắn, nên đang bị đám đông xô đẩy, phải lùi dần về phía đồn Công an. Đám phục viên càng ngày càng đông hơn và la hét nhiều hơn. Một người đi đầu đã dùng nạng gỗ đẩy cây súng của một bộ đội qua một bên, nói với người này:
“Hòa bình đã mấy năm rồi, sao còn đói khổ hơn xưa nhiều quá. Hồi còn chiến tranh mà tôi còn có cơm ăn, bây giờ đã mất một chân cho đảng rồi, chẳng ma nào thèm nhìn vào cuộc sống của chúng tôi, cả tháng rồi, không có một miếng gạo mà ăn. Đảng và nhà nước đối xử với anh em phục viên như thế này đấy hả?”
Một bác già cả đã vừa khóc mếu vừa nói:
“Nhà nước bất công quá! Ngày trước, chúng tôi giấu tiền giấu gạo nuôi chiến sĩ. Bây giờ chiến thắng rồi, nhà nước không nhớ ơn chúng tôi, mà còn tịch thu hết gạo hết muối, lấy gì mà ăn đây?” Tức thì cả đám đông nhao nhao lên:
“Trả lại gạo cho chúng tôi.”
“Đảng và nhà nước vô ơn bội nghĩa”
“Bằng khen “Gia đình cách mạng, Gia đình Liệt Sĩ” để làm gì? Đói rã họng ra, bằng khen này có nấu thành cơm hay không? Xé hết cả đi!”
Thế là những người này lấy ra những tấm giấy in mầu cờ đỏ ra, xé làm nhiều mảnh vứt xuống đất.
Những người bộ đội không có phản ứng gì hết, nhưng bọn Công an đã tiến lên, hô lớn:
“Không được xé bằng khen do nhà nước cấp. Ai có công sẽ được thưởng, ai xé bằng khen sẽ bị xử lý.”
Thế là họ xông vào đám đông, giựt những tấm bảng mà một số người còn đang cầm trên tay. Hỗn loạn đã xẩy ra, người cầm bảng cố giữ, đám Công an cố giật lấy, thế là hai bên nhào vào nhau mà giành giựt.
Đám bộ đội phục viên liền dùng nạng gỗ, gậy gỗ đánh lại đám công an; đám Công an ỷ số đông, vung dùi cui lên đánh lại. Tiếng la tiếng khóc vang lên khắp nơi. Tôi sợ quá, vội vàng cúi xuống lượm đồ nghề bỏ vào thùng, hối ba tôi:
“Chạy lẹ đi ba, người ta đánh lộn rồi đó!”
Không nghe tiếng trả lời của ba, tôi vừa lượm đồ, vừa nhìn chung quanh. Ba tôi chạy đâu mất tiêu rồi? Tôi luống cuống xách thùng đồ nghề chạy đại vào trong lề đường, chợt thấy một người mặc áo bộ đội đưa cây nạng lên đánh mạnh vào đầu một tên Công An, tên này đổ máu đầu, ngã xuống đường giẫy dụa la hét thật đau đớn.
Đám Công an bị đánh, lui dần về phía trụ sở. Lúc này, đám bộ đội mới bắt đầu phản ứng. Tôi nghe họ hô lớn:
“Các Mẹ Chiến Sĩ, các bộ đội phục viên, không được làm phản, không được đánh Công An Nhân Dân”.
Tức thì đám đông chia làm hai ba phía bao đám bộ đội và Công an vào giữa mà đánh nhau. Tiếng la hét của cả hai phía vang lên, tôi không làm sao mà nghe hết:
“Dám đánh Công An hả? Cho mày chết nè!”
“Dám đánh bộ đội hả? Dám làm phản hả? Cho mày chết nè!
“Ối cả làng ơi, Công an đánh chúng tôi này! Đảng ơi, Nhà nước ơi!”
Người bị đánh, người bị đạp nằm la liệt dưới đường, Công an cũng có mà bộ đội cũng có, đám phục viên không đủ chân tay bị đánh lỗ đầu chẩy máu nằm la liệt. Đám bộ đội bắt đầu nổ súng. Đã có người trúng đạn ngã xuống.
Tôi vẫn không thấy ba tôi đâu cả, bác Hải cũng không thấy đâu, những bác quen với ba tôi cũng không thấy một ai. Tôi lo cho tính mạng của ba tôi, liền bỏ thùng đồ nghề chạy đi tìm mẹ, nói cho mẹ biết. Khi nghe tôi nói là không thấy ba đâu cả, tôi chỉ nghe mẹ tôi:
“Ờ... ờ... để coi...”
Chứ không thấy mẹ tôi tỏ vẻ lo lắng sợ hãi gì cả. Tôi nắm tay mẹ quay trở lại chỗ đang đánh lộn. Bất chợt, tôi thấy ba tôi đang ở trần, cùng với một người khác đang vừa khiêng một người Công an bị bể đầu về trụ sở, vừa dùng nạng đánh lại đám mẹ chiến sĩ và bộ đội phục viên. Ba tôi la lớn:
“Không được đánh Công an. Không được làm phản.”
Ba tôi và một người nào đó mà tôi không nhìn rõ mặt, đã hợp sức đánh những người gia đình liệt sĩ dữ lắm. Nhìn kỹ hơn nữa, tôi đã thấy bác Hải, nhưng bác lại mặc áo bộ đội phục viên, đang dùng bàn tay sắt của bác mà đánh đám bộ đội phun máu đầu tùm lum hết.
Một lúc lâu sau, Công an và bộ đội được tăng cường đến thật nhiều, họ dùng súng bắn vào đám người đang làm loạn. Đám mẹ chiến sĩ, cán bộ phục viên, liệt sĩ... bị bắn gục hết, nằm la liệt trên đường, những người lành lặn, một số hùa nhau chạy vào các đường hẻm chung quanh, phần còn lại bị bắt giải lên xe bít bùng chạy đi mất. Đám bị thương nằm rên la thảm thiết, trên đường chỉ còn bộ đội và công an mà thôi, ai cũng lăm lăm cây súng.
Mẹ tôi dắt tôi đi đến trụ sở Công an Phường để chờ ba tôi.
Ba tôi trở ra, có Hai Quang là trưởng Công an Quận cùng đi theo. Tôi nghe rõ Hai Quang nói với ba:
“Cám ơn anh đã che chở cho anh Sáu Tó được bình an”.
Ba tôi vừa đi ra vừa trả lời:
“Phải bảo vệ Công An Nhân Dân chứ!”

Cuộc đời của gia đình tôi cứ thế mà trôi đi, đã gần cả năm trời rồi, gia đình tôi cứ sống một cuộc sống bên lề của xã hội như vậy đó, nhưng ba tôi không hề than vãn, không hề buồn bực. Tôi được đi học với cô giáo Loan, đó là điều hạnh phúc lớn cho tôi. Ba tôi cứ mỗi ngày kiểm soát việc học của tôi. Mỗi lần thấy tôi làm bài được cô giáo khen, ba lại âu yếm xoa đầu tôi mà nói:
“Hồi xưa, ba có hoàn cảnh đi học mà lại ham chơi không học. Nay con không có hoàn cảnh học mà lại học giỏi, ba mừng lắm, ba sẽ cố gắng giúp cho con học. Chỉ tiếc rằng, bọn Cộng sản này không phải là của dân mình, nó chỉ muốn dân ngu đi cho chúng nó bóc lột chứ không muốn cho ai có chữ cả!”

oOo

Hôm nay là hôm thứ ba rồi, bọn con nít chúng tôi đến lớp học mà không thấy cô giáo Loan đến dạy. Mấy hôm trước, Giám hiệu cho chúng tôi đi về, hôm sau tới nữa. Hôm nay cũng vậy, cả đám chúng tôi nhao nhao chạy lên chạy xuống, rồi rủ nhau tới phòng của Ban Giám Hiệu. Tất cả các Giáo viên đã có mặt đầy đủ trong phòng, nhìn ông Giám Hiệu đội nón cối mặt mày quạu đeo, đi tới đi lui trong phòng, làm chúng tôi chùn chân, chỉ đứng sớ rớ chứ không dám vào. Tôi nghe ông Giám hiệu nói với các thầy cô khác:
“Tôi đã nghi nghờ chúng nó từ lâu, chúng nó là giáo viên Ngụy để lại. Tên Phương là Giám Hiệu cũ, không phải đi lính Ngụy, nên Cách mạng khoan hồng, cho tiếp tục dậy. Tên Loan cũng là Giáo viên của Ngụy, nhưng vì là con gái, nên không ai ngờ gì cả, cũng vẫn cho dậy học tiếp. Mấy hôm nay chúng nó không thấy đi dậy, tôi đã nghi nghờ, đọc lại hồ sơ, mới thấy chúng nó đều thuộc thành phần chống phá cách mạng. Chắc là chúng nó rủ nhau trốn đi ra nước ngoài rồi. Tôi phải báo cáo với bộ đội biên phòng, với công an ngay mới được.”

Vài ngày sau, cô giáo mới đã được đưa về thay thế cô Loan. Cô này người Bắc, vừa mới được đưa vào trong Nam, giọng nói cô the thé, người cô loắt choắt, cặp mắt thật là sắc, đảo qua đảo lại nhìn đám học trò, không đứa nào dám nhìn cô. Ngày đầu tiên, cô giáo Mùi bắt tất cả học sinh phải đứng lên khai rõ cha mẹ ở đâu, trước năm 1975 đã làm gì?
Tới phiên tôi, tôi đứng lên nói không suy nghĩ:
“Em tên Tân, ba em tên Nguyễn Văn Kiểm, Hạ Sĩ Truyền Tin của Lính Nhẩy Dù. Ba em đánh trận bị thương, phải cưa chân vào năm 1975”.
Mắt cô giáo sáng lên:
“À! Thế ra cha của mày là Lính Ngụy đấy à? Cha của mày đã bị nhân dân trừng trị mất một chân rồi đấy, đáng đời đáng kiếp nhá. Thế mà mày vẫn còn dám huênh hoang khoe thành tích đánh lại quân đội nhân dân của ba mày hả? Mày là con của Ngụy, tại sao lại được vào học ở đây? Ai cho mày học? Tao phải lên trình với Giám Hiệu mới được.”
Nói rồi, cô bỏ lớp đi lên phòng Giám hiệu.
Tôi đã đoán biết được hoàn cảnh của tôi rồi, nên lẳng lặng ngồi xuống chờ số phận.
Một lúc sau, cô Mùi trở lại với ông Giám hiệu. Ông kêu tôi đứng lên, nói với tôi:
“Ba của em là lính Ngụy, đã bị nhân dân trừng trị, lại không có hộ khẩu, nên không được học ở đây. Em đi về đi.”
Tôi buồn rầu xách cặp chào Giám hiệu và cô Mùi, đi về.
Ba tôi nhìn thấy tôi lủi thủi đi bộ về từ đằng xa. Ba xách nạng gỗ lọc cọc chạy lại hỏi tôi tại sao lại đi về. Tôi bậm gan không khóc, kể lại mọi việc cho ba nghe. Ba tôi thở dài chán ngán:
“Đúng là Cộng sản, không lo cho dân mà chỉ lo trả thù. Chúng nó sẽ thù mình ít ra là ba đời đó con ơi. Thôi con đừng buồn, ba sẽ chỉ cho con học.”
Buổi tối, tôi kể lại cho mẹ nghe câu chuyện của Thầy Phương và Cô giáo Loan. Mẹ nghe xong nói liền lập tức:
“Đúng là họ đi vượt biên rồi. Cầu mong cho họ thoát nạn Cộng Sản.”
Kể từ ngày đó, tôi trở thành thợ vá xe chuyên nghiệp.

Nhưng trời vẫn còn thương người ngay.
Một hôm, tôi và ba tôi đang hì hục vá xe cho khách, thì có mấy người Công an mặc áo vàng tới chỗ làm của ba. Thì ra đó là tên Sáu Tó, Phó Công an Quận, và Hai Quang, Trưởng Công An Quận. Đầu của Tó còn băng bó nhiều lắm, người hắn trông xanh xao, yếu đuối lắm, nhưng hắn vẫn còn sống. Tôi có linh cảm không may khi thấy tên hung thần này xuất hiện. Tôi sửa soạn chạy đi báo cho mẹ ngay nếu ba tôi bị bắt.
Ba tôi đứng lên chào Tó, sớ rớ không biết chuyện gì sẽ xẩy ra?
Ngoài sự tưởng tượng của ba tôi và tôi, tên Tó đưa tay ra bắt tay ba, vừa mếu máo vừa nói:
“Cám ơn anh Kiểm đã cứu sống tôi. Không có anh đánh lại bọn phản cách mạng đó, tôi đã bị chúng nó đánh chết rồi.”
Ba tôi chưng hửng đứng nhìn tên Tó, một lúc lâu sau mới đưa tay ra bắt tay Tó.
Tên này ôm lấy ba tôi một cách thân mật. Hai Quang mời ba tôi về trụ sở để nhận bằng khen. Tôi mừng rỡ, nói cho ba hay là đi kiếm mẹ, rồi vội vàng vọt chạy liền lập tức.
Cả nhà tôi được mời vào ngồi trong phòng của Công an quận. Hai Quang đã mở đầu cám ơn ba tôi, tâng bốc ba tôi đủ mọi thứ, nào là:
”Tai mắt của nhân dân, là sức mạnh của nhân dân hợp tác với “Kách Mệnh” để diệt trừ những thành phần phản quốc, phá hoại, bảo vệ mạng sống của cán bộ...”
Cuối cùng, Hai Quang đã nói một câu mà cả ba mẹ tôi đều không bao giờ nghĩ tới:
“Đảng và Nhà nước quyết định tuyên dương:
Gia đình anh Nguyễn Văn Kiểm có công với Kách Mệnh.
Để tưởng thưởng, Công An quận Ba nhất trí cho gia đình của anh Kiểm được nhập hộ khẩu. Có một vài căn hộ của những kẻ phản Kách Mệnh bỏ trốn đi nước ngoài, cho anh Kỉểm được chọn căn hộ nào mình thích.
Kể từ đây, anh Kiểm sẽ là tai mắt của Nhà nước, tìm ra những kẻ chống phá Kách Mệnh.”
Ba tôi đứng dậy, nói:
“Tôi là thương binh Việt Nam Cộng Hòa, mấy anh kêu tôi là Lính Ngụy, tôi đâu có thể làm tai mắt cho Nhà nước được. Con tôi còn bị đuổi học nè. Tôi cứu ông Sáu Tó là tại vì tình người mà thôi, chứ tôi đâu phải giúp Cách mạng gì đâu.”
Sáu Tó thấy ba tôi không bằng lòng, hắn ta vội nói:
“Anh Kiểm à, trên giấy tờ tụi tôi phải nói nh

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link