Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, June 20, 2012

Một người Việt tâm thần thiệt mạng sau đụng độ cảnh sát )

Kính thưa  các Hội đoàn, Đoàn thể, Tổ chức, quí cơ quan truyền thông,báo chí,

Kính thưa các bậc Trưởng thượng  và quí đồng hương,

 

Như mọi người đều biết, vào chiều thứ sáu 15-6-2012 một sự việc hết sức đau buồn đã diễn ra cho gia đình ông Khang văn Lê ở El Monte-Nam Cali , khi gia đình yêu cầu cảnh sát đến can thiệp khống chế Khoa anh Lê,  một bệnh nhân tâm thần, con trai thứ hai trong gia đình và do các biện pháp mạnh tay của cảnh sát đã dẫn đến cái chết bi thương cho đương sự này. Đây là một cái chết vô cùng bất ngờ và là một cái tang đau đớn cho gia đình ông Khang Lê.

 

Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi quí cơ quan truyền thông ,báo chí; các Hội Đoàn, Đoàn thể, Tổ chức và quí đồng hương cùng lên tiếng yêu cầu nhà chức trách hãy làm sáng tỏ nội vụ, điều tra rõ ràng để biết trách nhiệm từ ai đã gây nên cái chết tức tưởi của Khoa Lê, hầu xoa dịu phần nào nỗi đau thương của gia đình nạn nhân.

 

Trong lúc chờ đợi sự giải quyết thỏa đáng của nhà chức trách, xin quí đồng hương hãy bình tĩnh ,sáng suốt; chúng ta sẽ đòi hỏi sự công bằng và lẽ phải ,nhưng chúng ta không  để bất kỳ ai khích động, xúi dục.

 

Chúng ta sẽ tranh đấu trong sự thượng tôn pháp luật và nhất định yêu cầu nhà chức trách phải xử lý thỏa đáng sự việc nêu trên.

 

Xin thành thật cám ơn toàn thể quí đồng hương

Sinh Viên Cờ Vàng

 

Hà Giang/Người Việt

 

EL MONTE (NV) - “Cảnh sát đã giết anh của em!”

Nhắc đến cái chết vô cùng bất ngờ của người anh ruột bị bệnh tâm thần phân liệt là Khoa Anh Lê, cô Diane Như Lê nức nở nói với phóng viên nhật báo Người Việt như thế qua điện thoại.

Bên bàn thờ dựng vội sau cái chết bất ngờ của người thân, gia đình Khoa Anh Lê đi tìm câu trả lời và công lý. Từ trái qua phải, bà Giao Kim Ðặng (mẹ), một người dì, ông Khang Văn Lê (cha) và Diane Như Lê (em gái). (Hình: Ðạt Nguyễn/The Tu Firm, APLC)

Ngừng một chút, Diane nghẹn ngào:

“Em rất hối hận vì đã gọi 911, em tưởng họ đến là để giúp, ai ngờ anh không hề có vũ khí, mà họ quá hung dữ.”

Tuấn Lê, anh ruột của Khoa, người chứng kiến mọi việc từ lúc cảnh sát El Monte kéo đến nhà họ lúc hơn 11 giờ đêm Thứ Năm, sau khi nhận được điện thoại gọi 911 của Diane, cho biết đã trông thấy cảnh sát dùng flashlight đánh Khoa khoảng 20 lần, bóp cổ, đá, và bắn súng taser 4 lần, cho đến khi anh hoàn toàn bất động, và cảnh sát phải gọi xe cứu thương đến đưa đi.

Vào lúc 12:21AM Thứ Sáu, Khoa Anh Lê 36 tuổi, dân cư El Monte, chết tại bệnh viện Greater El Monte Community Hospital, sau khi xô xát với cảnh sát, khi họ được cảnh sát gọi xe cứu thương đưa đi cấp cứu.

Cho đến giờ, nguyên nhân gây ra cái chết của Khoa vẫn chưa được công bố, và các cơ quan công quyền đều im lặng từ chối trả lời.

 

Miễn bình luận

 

Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, văn phòng pháp y quận Los Angeles bảo họ “không thể tiết lộ gì”, vì sở Sheriff quận hạt Los Angeles đã “niêm phong hồ sơ”, với lý do họ đang tiến hành cuộc điều tra.

Trung úy cảnh sát Richard Cano, thuộc sở cảnh sát El Monte, nói với Người Việt là “không thể nói gì về vụ này” và muốn gì thì hỏi văn phòng Sheriff.

Ðược hỏi gặn là tại sao vào 9:45AM sáng Thứ Sáu, sau khi tin Khoa Lê qua đời được công bố, sở cảnh sát El Monte đã gửi đi một bản tường trình nói rằng “không có việc dùng taser gun”, sau đó lại nói là họ không muốn bình luận gì về việc dùng vũ khí, trung úy Cano nói, thật ra “câu không bình luận gì là đúng hơn”, vì mọi sự đang trong vòng điều tra.

Thám tử Frank Salerno của sở Sheriff, người lãnh đạo cuộc điều tra không trả lời điện thoại, mặc dù báo Người Việt đã để lại nhiều lời nhắn.

Bà Joann Roset, Corporate Risk Manager của nhà thương Greater El Monte Community Hospital, cũng nói với Người Việt là hiện còn đang chờ quyết định của luật sư cố vấn của nhà thương, và không thể tiết lộ gì với ai, kể cả việc Khoa Lê được đưa nhà thương lúc mấy giờ, và khi đưa đến đã tử nạn chưa.

 

Sheriff đồng ý nói

 

Trong khi đó, tại sở Sheriff, Trung Úy Holly Francisco khi tiếp xúc với phóng viên Người Việt cho biết bà có mặt ở hiện trường, ngay sau khi sở cảnh sát El Monte gọi sở Sheriff để “yêu cầu tiến hành điều tra vì có vụ tử nạn trong khi bị tạm giữ”.

Khác với câu trả lời rập khuôn là “không thể nói gì” của các giới chức khác, trung úy Francisco trả lời một hơi dài.

Về nguyên nhân cái chết, trung úy Francisco nói là “Văn phòng pháp y đã làm xong giải nghiệm tử thi, nhưng bây giờ còn chờ kết quả thử độc tố.”

Về đầu đuôi câu chuyện, trung úy Francisco nói:

“Tối Thứ Năm, gia đình nạn nhân gọi sở cảnh sát El Monte cầu cứu vì có cuộc cãi lộn trong nhà. Khi cảnh sát đến họ được gia đình nạn nhân bảo là nạn nhân đã tấn công bố mình. Cảnh sát hỏi nạn nhân đâu, họ chỉ vào một căn phòng ở garage. Khi cảnh sát mở cửa phòng, nạn nhân bắt đầu tấn công cảnh sát. Cảnh sát phải dùng vũ khí (trong đó có súng điện Taser), trước khi chế ngự được và còng tay nạn nhân. Khi cảnh sát thấy nạn nhân có biến chứng y khoa (medical implications), họ gọi xe cứu thương chở vào Greater El Monte Hospital, nơi nạn nhân qua đời.”

Cũng theo lời trung úy Francisco, hai cảnh sát chế ngự nạn nhân Khoa Lê cũng bị thương và phải đến nhà thương, nhưng đã được cho về ngay sau đó.

 

Gia đình: Cảnh sát bạo hành

 

Gia đình Khoa Lê cho rằng người thân của họ là nạn nhân của việc cảnh sát bạo hành, và có những lời khai khác với bản tường trình của sở Sheriff.

Cô Diane Lê kể:

“Em nhìn thấy rõ một người cảnh sát đá vào anh Khoa, lúc đó anh đang quỳ xuống đất, mặt ngửa lên ngước nhìn ông cảnh sát. Lúc đó em chỉ đứng cách anh chừng 4, 5 bước chân. Anh em lúc đó chưa bị còng, hai tay bấu vào nhau để khỏi ngã xuống.”

Sau khi bị bắt đứng xa ra, Diane kể chỉ nghe thấy tiếng súng điện bắn vào người anh, rồi sau đó 15 hay 20 phút, thấy Khoa bị mang ra khỏi garage.

Diane kể thêm:

“Lúc họ mang anh ra khỏi garage anh không hề tỉnh, rồi sau khi làm CPR anh cũng không hề tỉnh lại nữa. Gia đình đến gần hỏi, họ bắt mọi người đi lên lầu hết. Sau khi cảnh sát cho đưa anh lên xe cứu thương mang đi thì họ ở lại canh gác mọi người, một người ngồi trong nhà, một người canh ngoài cửa, không cho ai bước ra khỏi nhà.”

Ông Tuấn Lê, người đứng gần Khoa hơn, và chứng kiến mọi việc từ đầu đến đuôi cho biết khi cảnh sát mở cửa phòng, họ bắt Khoa đưa tay ra, rồi họ chụp lấy tay Khoa, kéo Khoa xuống đất, Khoa vùng vằng nói “don't touch me”.

Tuấn kể:

“Tôi thấy rõ một người ôm lấy khoa, người kia dùng flashlight đánh liên tục vào người Khoa khoảng 20 chục cái. Khoa vùng vẫy, họ dùng taser gun bắn vào Khoa 3 lần, dùng tay xiết cổ Khoa, Khoa đã nằm xuống đất, nói thều thào don't hurt me, một người lại gần dùng Taser gun bắn thêm 1 lần nữa vào chân Khoa. Tôi la lên là đừng đánh anh nữa. Cảnh sát đuổi tôi ra xa. Bỗng nhiên cảnh sát nhờ mở của garage để khiêng anh ra bên ngoài, một người sờ cổ sờ mặt Khoa rồi lắc đầu, và bắt đầu làm CPR, người kia gọi xe cứu thương.”

Tuấn kể lể:

“Ðến 3 giờ sáng Thứ Sáu thì 4 người cảnh sát không mặc đồng phục và một cảnh sát nữ mặc đồng phục là thông dịch viên đến, họ chia nhau để phỏng vấn mọi người trong nhà, họ hỏi em liên tục 3 tiếng đồng hồ, cứ hỏi đi hỏi lại chuyện gì xảy ra, và em kể lại từ đầu như vừa kể cho chị nghe.”

Ðại diện gia đình, Tuấn nói:

“Gia đình tôi chỉ muốn lấy lại công bình cho Khoa, kêu cảnh sát tới để giúp cho gia đình, không ngờ họ tàn bạo quá. Anh tôi là một người bị bệnh tâm thần, anh hoàn toàn vô hại, trong tay không hề có vũ khí.”

Trả lời câu hỏi của Người Việt là nguyên nhân cái chết, sau khi có kết quả, sẽ ảnh hưởng đến vụ kiện như thế nào, Luật Sư Từ Huy Hoàng, đại diện cho gia đình nạn nhân nói:

“Tôi không quan tâm đến vụ kiện, cảnh sát họ đã dùng cụm từ 'biến chứng y khoa' rồi. Tôi chỉ muốn đòi công lý cho Khoa và gia đình. Theo tôi mọi việc sẽ diễn tiến như vụ Kelly Thomas của Fullerton. Nếu người dân không biết lên tiếng đòi công lý, đòi cảnh sát phải trả lời, đòi thành phố phải trả lời, đòi sự việc mang ra tòa án, thì còn nhiều nạn nhân như vậy nữa.”

“Tôi chỉ không muốn nhìn thấy những vụ cảnh sát bạo hành như vậy nữa xảy ra cho bất cứ ai.”

Trong tiếng thở dài, Tuấn Lê tâm sự:

“Ngày mai lẽ ra là sinh nhật của Khoa, nhưng em tôi không ăn mừng sinh nhật với gia đình, mà chết tức tưởi, nằm một mình trong nhà xác.”

Cho đến giờ gia đình Khoa Lê vẫn chưa nhìn thấy xác người thân.

___

Liên lạc tác giả: HaGiang@nguoi-viet.com

Tuesday, June 19, 2012

Lằn ranh đỏ tại biển Đông

19/06/12 |

Lằn ranh đỏ tại biển Đông

Biển Đông và yêu sách "lưỡi bò" của TQ

Từ khi chính quyền Obama xem Thái Bình Dương là một trọng điểm chiến lược đã có nhiều tranh lụận sôi nổi và súc tích về chính sách của Mỹ tại biển Đông.

Một cách tổng quát người ta nhận thấy có ba khuynh hướng: (1) Hoa Kỳ tăng cường hiện diện và phối hợp với các nước trong khu vực để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc (2) Mỹ-Trung cần phải thương lượng nhằm tìm ra một giải pháp thoả hiệp (3) Hoa Kỳ tránh không can thiệp vào biển Đông.

Lập trường thứ nhất đã được thể hiện rõ ràng qua lời nói và việc làm của chính quyền Obama trong hai năm gần đây. Tiêu biểu cho khuynh hướng thứ nhì gồm cựu ngoại trưởng Henry Kissinger của Mỹ và TS Hugh White của Úc, theo đó Hoa Kỳ phải quan tâm đến lịch sử và ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc trong khi đi tìm một thế đứng chung cho hai cường quốc vùng Thái Bình Dương. Quan điểm thứ ba là Mỹ không nên can thiệp vào biển Đông để tránh đối đấu với Hoa Lục, mà đại diện là ông Tom Hayden tức nhân vật nổi tiếng trong thời chống chiến tranh Việt Nam.

Cách phân loại tổng quát như trên tuy dễ hiểu, nhưng khuyết điểm là đơn giản hoá nên không khỏi có những thiếu sót khi đi sâu vào lý luận súc tích của từng tác giả trước một vấn đề vô cùng phức tạp. Tuy nhiên nó phản ảnh một thực tế là Hoa Kỳ và các nước đồng minh chưa có một chính sách chung trước sự trổi dậy của Trung Quốc nên sách lược có thể thay đổi. Trái lại con đường của Bắc Kinh chỉ có một hướng là họ sẽ tiếp tục lấn lướt cho đến khi bị ngăn cản.

Trong Chiến Tranh Lạnh một bức màn sắt đã dựng lên làm ranh giới chia cách Âu Châu, nhưng nhờ đó hai bên biết rõ vi phạm nào có nguy cơ dẫn đến chiến tranh toàn diện. Tại biển Đông ngày nay vấn đề tế nhị hơn nhiều vì không quốc gia nào muốn vẽ ra một làn ranh đỏ trong khu vực. Trọng lượng kinh tế của Trung Quốc ngày càng tăng nên các nước khó có thể cắt đứt những quan hệ thương mại. Giả sử Hoa Lục tiến chiếm bãi đá ngầm Scarborough hay một vài đảo ở Trường Sa, hoặc đơn phương khai thác dầu hoả trên những vùng đang có tranh chấp thì cho dù chiến tranh toàn diện không xãy ra nhưng cuộc chạy đua vũ trang và tình trạng căng thẳng sẽ tăng cấp. Riêng đối với hai nước Việt Nam và Trung Quốc lại kèm thêm một theo gốc độ phức tạp vì tranh chấp nếu xảy ra sẽ thổi bùng tinh thần dân tộc của đôi bên và thách đố lên nền tảng ý thức hệ của hai hệ thống nhà nước.

Một đặc điểm khác ở Đông-Á là cán cân – hay ít nhất là nhận thức về tương quan lực lượng – đang thay đổi. Nhật tuy vẫn đứng hàng đầu nhưng không còn là con hổ trong khu vực vì đang phải vất vã bảo vệ vị trí hiện tại chứ đừng nói gì đến tăng trưởng . Úc phân vân trước hai ngã rẽ cho tương lai, hoặc tiếp tục làm đồng minh thân cận với Hoa Kỳ do cùng chia xẻ các giá trị dân chủ, vân hoá và lịch sử, hay nhích lại gần với Đông Á vốn là khu vực kinh tế năng động nhất trong thế kỷ 21.

Quan trọng hơn hết vẫn là cán cân Mỹ-Trung. Liệu GDP của Trung Quốc có qua mặt Mỹ vào những năm 2025-40? Hay khi Hoa Lục sẽ trở thành đối tác thương mại lớn nhất cho những quốc gia trong khu vực vào một ngày không xa? Quân đội Trung Quốc dù không là đối thủ của Hoa Kỳ trên toàn vùng Thái Bình Dương rộng lớn nhưng liệu trong vòng 10-20 năm nữa có đủ lực lượng để đe doạ tàu chiến Mỹ ở khu vực cận duyên vùng Đông Á hay không?

Câu hỏi lớn vẫn là quyết tâm và sự kiên trì của Mỹ tại biển Đông dựa trên bài học của hai cuộc chiến Việt Nam và Trung-Á, điển hình là A Phú Hãn là nơi Hoa Kỳ đã rút lui vào thập niên 80, trở lại năm 2001 và sửa soạn rút lần thứ hai vào năm 2014. Đối với quần chúng Mỹ, họ hiểu rõ quan hệ thiết yếu với Âu Châu, Do Thái, Nhật, Úc và Nam Hàn nhưng về phía biển Đông thì phần đông mù mờ không rõ tại sao Hoa Kỳ phải can thiệp vào các tranh chấp trong khu vực. Do vậy luận điểm rằng Mỹ không cần đối đầu Trung Quốc tại biển Đông như của Tom Hayden cho dù nông cạn trong giới nghiên cứu chính trị lại có sức thu hút đối với quần chúng nhất là khi mà họ phải lo toan đến các vấn đề gần gũi hàng ngày như công ăn việc làm, giáo dục và hưu bổng.
Theo đánh giá của người viết thì trong 5-10 năm tới đây giữa Mỹ-Trung sẽ không vẽ ra một làn ranh đỏ rỏ rệt chia cắt biển Đông. Trái lại quyền lợi của Hoa Kỳ nằm theo 3 vòng đai chiến lược. Trong cùng gồm các nước bạn thân thiết với nền kinh tế hùng mạnh, quân đội trang bị tối tân, đồng thời chia xẻ những giá trị chung như Úc, Nhật, Nam Hàn (và có thể gồm cả Singapore) mà Hoa Kỳ sẽ không ngần ngại trực tiếp bảo vệ. Vòng giữa có Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai: thế thuận lợi của các quốc gia này nhờ vào độc lập về chính trị đối với Trung Quốc, nhưng bên cạnh đó còn nhiều tham nhũng, độc tài, xã hội lại phân hoá giữa các khuynh hướng canh tân và bảo thủ Hồi Giáo nên chưa là các đồng minh bền vững. Ngoài cùng là vùng xôi đậu gồm Việt Nam và Miến Điện dù bị chi phối nhưng đang tìm cách thoát ra phần nào khỏi ảnh hưởng của Hoa Lục, cộng thêm Lào – Cam Bốt – Thái Lan là những quốc gia trái độn tìm cách lợi dụng tranh chấp để đòi quyền lợi từ hai phía.

Mỹ bị xem là một đồng minh không đáng tin cậy. Nhưng thực tế là từ sau Thế Chiến Thứ Hai họ chưa từng bỏ rơi một quốc gia nào cùng chung chia xẻ các giá trị với họ như Tây Âu, Nhật, Úc, Do Thái, và gần đây là thêm Nam Hàn. Trái lại đối với các nước mà Mỹ chỉ hợp tác vì nhu cầu chiến lược thì ngược lại họ cũng sẳng sàng quay mặt khi tình hình thay đổi..

Các nước, nếu dựa vào sự tranh đua giữa các cường quốc để tìm đối trọng, thì ngược lại, trong các sự thương thảo các nước lớn cũng có thể đem quyền lợi của đất nước để trao đổi.


  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

TRÊN CHIẾN TRƯỜNG XƯA

TRÊN CHIẾN TRƯỜNG XƯA
Phạm Tín An Ninh



Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới – thành phố Pleiku.

Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.

Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.

Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm. Chúng tôi tìm đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất.

 

Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi khi không còn bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản.

 

Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.

Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không còn nữa, người ta đã giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.

Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh.

 

Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn tốt bụng, sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó.

 

Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.

Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm.

 

Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào đó.

 

Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làngTân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất.

 

Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.

- Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.
Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này.

 

Anh là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra.

 

Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh.

 

Điều cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh nghèo nàn của gia đình anh, một trung tá phi công của QLVNCH.

- Mấy ông anh từ xa tới, chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà thăm viếng, phải không?
Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật mình. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.
- Không, bọn tôi tìm thăm người quen, nhưng không gặp.
- Ở khu vực nào, có nhớ địa chỉ không ? Tôi sẽ tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.
Tôi mỉm cười:
- Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.
Chị chủ quán khựng lại chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nhìn tôi ngạc nhiên:
- Sao lại phải ở trong nghĩa trang ?
- Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bã trả lời .
- Vậy chắc các anh đây là lính Cộng hòa mình? thuộc đơn vị nào?
Nghe mấy chữ “lính Cộng hòa mình” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện:
- Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.
- À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát?
- Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn . Một người trong chúng tôi trả lời.
Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:
- Em có mấy người bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. - Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.
Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự.

Thì ra chị là bạn gái của anh Bình, trung sĩ Bình, ở đại đội trinh sát của đại úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột.

 

Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là trung úy đại đội phó. Anh Bình thường theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.

Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với lính.

Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói một mình:
- Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện.

Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc: Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn 320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta.

 

Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm nổ lực chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để có thể dùng những khẩu M 72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đã dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh bởi bị chính mìn của ta phát nổ.

 

Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đã nằm xuống dọn đường cho đơn vị mình cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch.

 

Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao.

 

Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chin khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã cùng đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.

- Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không?
Câu hỏi của chị đã cắt mất dòng hồi tưởng của tôi. Tôi lên tiếng trả lời chị:
- Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.
Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc .
- Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.
Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.

Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo . Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.

Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài:
- Tham nhũng bây giờ còn tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước.

Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.

Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.

Đúng vào sáng 30 Tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải tỏa, QL 19 đã khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa thiết lâp lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ.

 

An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như phải xóa sổ.

Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.

Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.
Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum.

 

Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được lần lượt không vận vào ban đêm bằng C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.

Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa phía trước.

Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng.

 

Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang, lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê.

 

 Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng.

 

 Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao, nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của anh) cũng vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân ông, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.
Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của BTL/SĐ23BB, đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đã xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đã gắn lon Tướng cho đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.


Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ.

 

Vợ con anh đã sang Pháp, nhưng chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi – người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về -, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú.

 

 Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh thì đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù.

 

Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn còn phảng phất đâu đây.


Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được – dù chỉ một phần nhỏ nào – món nợ máu xương cho họ.

Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.

Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh Bình, mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi có lẽ ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà mãi mãi vẫn còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu bè bạn, anh em – những người đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.

phạmtínanninh

 

Giáo phận Vinh lên tiếng việc nhà cầm quyền huyện Quỳ Châu đàn áp giáo dân

Giáo phận Vinh lên tiếng việc nhà cầm quyền huyện Quỳ Châu đàn áp giáo dân

Đăng bởi cheoreo lúc

 

 

VRNs (18.06.2012) – Trang nhà Giáo phận Vinh đã đăng tải vụ việc nhà cầm quyền xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đàn áp giáo dân tại giáo điểm Quỳ Châu, hạt Phủ Quỳ xảy ra ngày 11/6/2012.

 

 Ngày 16/6/2012, linh mục Nguyễn Văn Hương, Chánh Văn phòng Tòa giám mục Xã Đoài đã gửi văn thư số 28/12 VTTG lên tiếng về vụ việc trên. Văn thư viết: “UBND huyện Quỳ Châu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về vụ việc ngày 11/6/2012, xâm phạm quyền tự do tôn giáo và đánh đập trọng thương người dân, gây chia rẽ lương giáo, làm hoang mang dân chúng. Chúng tôi mạnh mẽ lên án những hành vi trái Pháp luật và xúc phạm tôn giáo cũng như sức khỏe, tính mạng của nhân dân.

 

Đây không phải là vụ việc đầu tiên xảy ra ở Việt Nam, nhưng lại là vụ việc nghiêm trọng đầu tiên xảy ra trong giáo phận Vinh. Nguyên nhân không phải do “đường lối chính sách đúng, nhưng cấp dưới làm sai”, mà do chính sách sai lầm về tôn giáo.

 

Cần dẹp bỏ các Nghị định liên quan đến tôn giáo để không xảy ra những sự phân biệt, kỳ thị. Công dân Việt Nam chỉ có một luật pháp áp dụng cho mọi người như nhau.

 

 

 

VRNs xin đăng tải nội dung văn thư này:

http://www.chuacuuthe.com/archives/32885

__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link