Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, June 25, 2012

Trung cộng bức tử biển Đông

03/06/12 |

Trung cộng bức tử biển Đông

Xăng dầu tăng giá, chính sách hỗ trợ kém, thường xuyên bị "tầu lạ" đe dọa, khiến nhiều tầu cá nằm bờ.

Trong khi dư luận trên thế giới và khu vực đang nóng lên vì vụ tàu đánh cá TC tràn ngập vùng biển ở bãi đá cạn Scarborouge của Phi luật tân thì TC lại đổ thêm dầu vào lửa, thách thức công luận và thăm dò phản ứng quốc tế khi cho triển khai tàu bán vũ trang đến vùng biển này để thị uy theo kiểu “lấy thịt đè người” hòng khuất phục ý chí của người dân và chính phủ Phi, nhưng họ đã vấp phải thái độ kiên cường của người dân cũng như chính phủ Phi tuy được thể hiện rất “ngoại giao”.

Thái độ ứng xử của Phi luật Tân được sự đồng tình và hậu thuẫn của cộng đồng quốc tế đặc biệt là Hoa kỳ. Người Mỹ đã đưa một chiếc tàu ngầm tấn công thuộc thế hệ mới nhất và hiện đại nhất thế giới đến xứ này để ngầm gởi một thông điệp tế nhị đến cho cả hai phía Phi và TC. Trong một diễn biến khác Thượng nghị sỹ Jonh Mc Cain đã lên tiếng gián tiến ủng hộ Phi và lên án TC “ Mỹ không thể để cho Trung quốc tự do tung hoành ở biển Đông “.

Thế mới biết ở thời đại này không phải là thời mà “chân lý ở trên nòng súng” như thời của Mao trạch Đông. Nếu chúng ta có chính nghĩa và “ dám” bảo vệ chính nghĩa của mình thì thế giới mới giúp chúng ta được, còn nếu vì một lý do nào đó mà thúc thủ thì điều đó đồng nghĩa với sự chấp nhận, như vậy làm sao có ai giúp chúng ta được?.

Bây giờ TC lại tiếp tục tung vào biển Đông hàng trăm tàu đánh cá và một tàu Công xưởng siêu hạng cùng với những tàu hậu cần. Xin được nhắc lại tàu Công xưởng Hải Nam bảo sa có công suất chế biến 2000 tấn hải sản một ngày với nhiều dây chuyền sản xuất và hàng ngàn công nhân.

Không cần phải là “đỉnh cao trí tuệ” mới hiểu được ý đồ của TC, họ muốn đưa tàu đánh cá và ngư phủ của họ tràn ngập biển Đông để “choán hết chổ” và sẵn sàng cho những hành động gây hấn, đe dọa. Mục đích của hành động trên là TC muốn đặt biển Đông trong tầm kiểm soát tuyệt đối của họ, và TC muốn dùng những ngư dân này như những “cột mốc chủ quyền sống và di động” để thực hiện ý đồ xâm lược và đặt thế giới cũng như khu vực trước việc đã rồi. Với sự hiện diện của tàu Hải Nam bảo sa và hàng trăm tàu đánh cá hoạt động hết công suất và không ngưng nghỉ, TC biết rằng chỉ trong một thời gian không lâu nữa biển Đông sẽ cạn kiệt nguồn hải sản vốn đã nghèo nàn vì chính sự khai thác tham lam, tàn bạo và vô trách nhiệm của ngư dân TC.

TC không hề ngây thơ để mà không biết rằng việc khai thác quá mức và tàn bạo này sẽ bức tử biển Đông, đây chính là ý đồ thực sự của họ. TC muốn biển Đông trở thành biển chết, một khi biển Đông đã là biển chết thì không cần xua đuổi, ngư dân VN cũng chẳng có lý do để ra đó làm gì nữa. Như vậy TC sẽ dễ dàng nhổ bỏ những “cột mốc chủ quyền sống” này của VN mà không cần dùng đến những biện pháp thô bạo bị dư luận quốc tế và nhân dân VN lên án như bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, cướp tài sản, tra tấn và sỉ nhục.

TC thừa biết rằng những hành động thô bạo này tạo một ấn tượng bất lợi trong con mắt của cộng đồng quốc tế và bị coi như những hành vi khủng bố của bọn hải tặc chứ không phải là cách hành xử của một cường quốc “trỗi dậy trong hòa bình” như họ mong muốn được quốc tế nhìn nhận và ra sức tô vẽ từ lâu nay. Điều này cho thấy TC hiện nay còn yếu nên họ chưa dám ngang tàn dẫm đạp lên công luận, và chính ở điểm này là điểm mà chúng ta có thể khai dụng, vậy mà đảng CSVN giả vờ không biết!?

Song hành với quyết định mang tính hủy diệt này, như thường lệ TC đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh cá tại biển Đông trong một thời điểm quan trọng nằm trong thời vụ đánh cá của ngư dân VN nhằm phục vụ ý đồ độc chiếm biển Đông.

Mưu đồ của TC thì đã rõ ràng, vấn đề còn lại là đối sách của đảng CSVN.

Trong trường hợp này nếu VN, dưới sự lãnh đạo của đảng CS mà án binh bất động là coi như xuôi tay (hoặc đồng tình hổ trợ?) để cho TC thôn tính biển Đông, tiến đến việc uy hiếp VN và thực hiện tham vọng bá chủ khu vực và thế giới.

Ai cũng biết ngư dân VN chúng ta là những “chiến binh” lão luyện và kiên cường trên biển, chỉ cần chính quyền CS thực tâm hỗ trợ họ bằng cách hãy trang bị phương tiện cho họ như tàu thuyền vững chắc và phương tiện hiện đại cần thiết để ra khơi. Như TC đã làm, chúng ta tung ngư dân VN ra tràn ngập biển Đông để khai thác cá, bảo vệ ngư trường truyền thống của ông cha để lại và chủ quyền quốc gia, danh dự dân tộc.

TC không dễ dàng phiêu lưu để tấn công ngư dân chúng ta mà không trả giá vì song song với việc tung ngư dân ra tràn ngập biển Đông, bộ Ngoại giao VN nên đánh động dư luận và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Kêu gọi người dân Việt khắp nơi trên thế giới hãy nhập cuộc và chia sẻ trách nhiệm bằng những cuộc biểu tình, ký Thỉnh nguyện thư vận động công luận thế giới nhất là các quốc gia dân chủ lớn như Mỹ, Châu Âu, Úc, Gia nã đại …. ủng hộ.

Chắc chắn ngư dân của chúng ta phải đối mặt với hiểm nguy và mất mát, nhưng việc bảo vệ tổ quốc trước một kẻ xâm lược mang tính truyền thống và nham hiểm như bá quyền TC thì không bao giờ là dễ dàng và không đổ máu, còn nếu như không làm gì cả thì đất nước chúng ta sẽ mất biển Đông và hệ lụy của nó thật nguy hiểm cho vận mệnh dân tộc hơn rất nhiều.

Một điều cay đắng cho dân tộc chúng ta là đảng CSVN ngày hôm nay là “đồng chí” của đảng CSTQ, quan hệ của họ được xác lập rất rõ ràng qua “16 chữ vàng” và “4 tốt” , cũng như trước đây đã từng được khẳng định qua thơ Tố Hữu:

Bên ni biên giới là nhà.
Bên kia biên giới cũng là quê hương.

Ngày hôm nay quan hệ VC –TC không còn ranh giới, không còn phân biệt được nữa. Chúng ta hãy nghe ông Thứ trưởng ngoại giao VC Nguyễn thanh Sơn nói gì
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nhắc nhở cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm ăn tại Trung quốc phải “cẩn thận trước âm mưu chia rẽ quan hệ Việt – Trung” . Ông Sơn là chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, đưa ra phát biểu này tại buổi gặp các Việt kiều, các doanh nghiệp và du học sinh Việt Nam tại Bắc Kinh hôm thứ Bảy ngày 26/5.

Ông yêu cầu Việt kiều tại Trung Quốc phải ‘nâng cao tinh thần cảnh giác’ trước ‘các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền và chống phá’ mối quan hệ giữa hai nước của ‘các thế lực phản động và thù địch’, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam.

Ông cũng mô tả mối quan hệ Việt Trung là ‘hữu nghị’ và ‘gắn bó truyền thống’. Mối quan hệ được ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông dày công vun đắp’, theo ông Sơn, là ‘tài sản vô cùng quý báu của nhân dân hai nước’.

Về tình cảm của nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam, ông cho rằng ‘rất chân thành và gắn bó’. ( BBC ngày 27/5/2012 )
Mới đây cũng BBC có một cuộc phỏng vấn với ông Võ minh Quân- thuyền trưởng tàu QNg- 50003-TS . Theo lời ông Quân kể thì bản thân ông và rất nhiều ngư dân VN khác bị TC bắt cóc nhiều lần ,nhiều lần bị cướp hết tài sản, nhiều lần bị đòi tiền chuộc, nhiều lần bị tra tấn, nhưng có một điều “lạ” là chính quyền CSVN không có một chương trình trợ giúp hữu hiệu nào để ngư dân có thể nhanh chóng khôi phục lại sản xuất và nghề nghiệp ,rất nhiều người lâm vào cảnh phá sản nợ nần chồng chất, họ phải tự thân vận động để sống còn và ra khơi đánh bắt cá.

Việc tiếp tục ra khơi đánh cá không đơn thuần là để kiếm sống và góp phần nuôi xã hội, mà còn là cách tốt nhất để khẳng định và bảo vệ chủ quyền đất nước… chẳng lẽ những đỉnh cao trí tuệ không hiểu điều này??

Nếu cứ tiếp tục tình trạng bỏ rơi ngư dân là nạn nhân của TC thì một ngày không xa ngư dân của chúng ta sẽ bỏ biển vì phá sản chứ không phải vì lo sợ TC.( ngư dân chúng ta đã nhiều lần khẳng định là không hề sợ TC).

Đến đây chúng ta thấy hành động của TC và VC có vẽ rất “ăn ý” với nhau, một bên tung ngư dân và tàu Công xưởng tràn ngập biển Đông, liên tiếp bắn giết, bắt cóc ngư dân đòi tiền chuộc, cướp tài sản, tra tấn và sỉ nhục như chúng ta đã thấy trong một thời gian dài, một bên bỏ mặc ngư dân của mình bị phá sản mà không có một kế sách hay chương trình hữu hiệu để đầu tư hổ trợ và phát triển,( một việc đáng ra phải thực hiện một cách nghiêm túc từ lâu rồi mới đúng) nếu như nhà cầm quyền CSVN thực tâm muốn bảo vệ đất nước trước hiểm họa xâm lăng từ TC.

Phải chăng CSVN không có tiền?

Câu trả lời là: CSVN thừa mứa tiền bạc,đối với họ một vài tỷ Mỹ kim không là gì cả, hãy xem cách họ tổ chức Lễ hội Ngàn năm Thăng Long –Hà Nội, hay cách họ đầu tư cho Vinashin, Vinaline chẳng hạn thì biết liền?!

Họ còn có dự kiến dây dựng tượng đài mẹ VN anh hùng ở Tam kỳ- Quảng Nam với chi phí lên đến 400 tỷ đồng VN. Thiển nghĩ với số tiền 400 tỷ đồng đó mà đầu tư cho ngư dân Quảng ngãi ra khơi thì chúng ta sẽ có một đội ngũ 400 chiếc tàu kiên cố. Tràn ngập biển Đông đâu có phải là chuyện xa vời?

Vừa tạo được sinh kế cho người dân vừa nâng cao sức sống của nền kinh tế đang khó khăn vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia và danh dự dân tộc, vậy mà đảng CSVN lại “không nhìn thấy”.

Ôi các “đỉnh cao trí tuệ”!

© Huỳnh Ngọc Tuấn

© Đàn Chim Việt

Cộng sản và đạo thờ ông bà

 

03/06/12 |

Cộng sản và đạo thờ ông bà

Có thể nói là, sau khi nắm vững hai sự kiện: Mọi người, mọi nhà thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đã bị nghiền nát ra thành những mảnh vụn, vỡ, rời rạc, không còn nơi nào để nương tựa, cũng không còn chút khả năng nào kết tụ lại với nhau sau mùa đấu tố; và biết chắc mọi nơi, mọi chốn, từ khu xóm, làng mạc đến từng góc đường, khu phố đã được cài đặt bằng những đôi mắt đảng, là những đôi mắt bệnh hoạn, không nhân tính, để người bước ra khỏi cửa là bị rình rập, theo dõi và bước vào trong nhà là gặp mật báo viên, Hồ chí Minh mới chính thức phát động việc thi hành chủ tuyết thứ hai trong sách Tam vô của cộng sản là Vô Tôn giáo.

Tuy thế, ông Hồ vẫn không dám đồng loạt tấn công vào tất cả các tôn giáo tại miền bắc, cũng không áp dụng cùng một phương cách đối phó. Nhưng đã lựa chọn, tuỳ theo phương cách tổ chức, sinh hoạt của các tôn giáo mà đề ra những cách áp dụng khác nhau.

A. Sách lược đối phó với đạo Thờ Thần, đạo Ông Bà.

Việt Nam là quốc gia theo đa thần giáo. Ngoài những tôn giáo có tổ chức mà nhân gian thường nói đến là Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài… tuyệt đại đa số ngưòi Việt Nam theo đạo Thờ Thần, đạo thờ Ông Bà.

Theo Tác gỉa Trần văn Giang, “ không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về thời điểm phát xuất “đạo” Thờ Thần, đạo thờ cúng Tổ tiên Ông bà ở Việt Nam. Có lẽ đạo thờ cúng Tổ tiên Ông bà bắt đầu phát triển cùng thời với đạo Thờ Thần ở Việt Nam vì tôn chỉ, nghi thức của hai “đạo” có rất nhiều điểm tương đồng”.

Điều này cũng dễ hiểu vì người Việt Nam được sinh ra trong tinh thần Đạo, nên sự khiêm cung là rất mực thước. Cha ông ta thờ thần Sông, thần Núi, thần Đất, Thần Trời…và thờ ngay chính gốc sinh ra mình là cha mẹ, ông bà tổ tiên nên truyền lại cho con cháu. Đây là một điều phúc cho đất nước vì khi thờ cúng đa thần và thờ cúng Ông Bà, Tổ Tiên đã giúp cho dân ta có một Tâm Phúc Gốc, là ăn ngay ở lành theo gương ông bà, và có tinh thần thương yêu, bao bọc lấy nhau mang trọn nghĩa đồng bào. Từ đó, rất dễ hòa đồng và chấp nhận tinh thần của các tôn giáo có hệ thống, tổ chức. Đặc biệt, ngưòi Việt Nam từ xưa không có lệ thờ thần vật, hay vọng thờ thần gian ác, gian dối, gây ra chém giết, thù oán lẫn nhau.

Đạo Thờ Thần, đạo thờ cúng Ông Bà thường theo truyền thống gia đình dòng tộc, làng xã truyền đời cho nhau giữ lấy việc tôn thờ thần linh và cúng bái ông bà, hơn là được xây dựng tổ chức thành hệ thống. Có thể nói, đây là một tôn giáo, hay “Đạo” không có giáo chủ, không có giáo quy và các giáo điều. Cũng không có các chức sắc chuyên lo về đạo lý, nhưng tinh thần đạo của người dân rất cao. Họ có niềm tin sâu sắc vào thần linh và vào cuộc sống ăn ngay ở lành. Về nơi thờ tự thì chả mấy làng, thôn xóm mà không có các Đình, Miếu để thờ thần và chả nhà nào mà không có bàn thờ Gia Tiên. Về nghi lễ trở thành đạo nghĩa thì khá đơn giản. Đó là những nén nhang, mâm hoa qủa cúng bái Ông Bà, Thần Linh. Dâng hương, nhang đèn cho người qúa cố trong lúc cư tang, hay vào những ngày đầu tháng, ngày rằm, để mong cầu cho một cuộc siêu thoát.

Với tinh thần này, Đình theo lệ làng, ngoài việc dùng để thờ vọng thần hoàng, còn là trung tâm sinh hoạt đời sống của dân làng trong các ngày hội, ngày lễ. Đình còn là nơi phân xử những tranh chấp, bất bình trong làng xã; nơi họp hội, công bố những công việc có liên quan đến làng xã do các bậc tiên chỉ trong làng phụ trách, điều động. Đơn giản hơn, Đình ngoài việc dùng làm nơi thờ phụng, tế lễ, còn là nơi phát huy các sinh hoạt văn hóa, phong hóa trong xã hội Việt Nam. Ngôi Đình trong làng còn là biểu tượng sống, riêng biệt cho phong hoá của mỗi làng.

Khi cộng sản tràn đến, từ thập niên 30 thế kỷ trước, nhiều ngôi Đình linh thiêng của làng đã biến thành cái đình cho Việt Minh lạm dụng với nhiều mưu toan. Có nơi, “đội” đã mở ra những cuộc đấu tố, giết người ở ngay sân Đình. Trước đó, khi còn nằm trong hang ổ ở bờ lau bụi cỏ, Việt cộng cũng đã mò về giết hại nhiều hương chức ở trong làng, thân xác hoặc bản án về những ngưòi này cũng được treo lên ở trước cổng Đình, hay sân Đình trong mục đích khủng bố dân làng.

Sau này, những cuộc họp ở sân Đình biến thành nỗi kinh hoàng cho dân làng. Đình, Miếu, không còn là nơi trang nghiêm thờ phượng dành riêng cho đời sống tinh thần của làng nữa. Trái lại, Việt cộng đưa côn đồ vào chiếm Đình, phá bỏ Miếu với những lý do như bài trừ mê tín trong dân gian. Nhưng điều mà họ gọi là mê tín dị đoan trước chưa trừ được, Việt cộng đã đưa vào một loại mê tín cuồng sát mới. Họ thay những Bài Vị, Liễn thờ ở Đình, Miếu bằng cái hình của Hồ chí Minh. Ý bảo là từ đây nhà nước Việt cộng sẽ tạo ra trong xã hội một thứ đạo vô đạo mới mà Hồ chí Minh sẽ là thần. Thần trên tất cả các thần gian ác! Từ chủ đích này, đảng và nhà nước Việt cộng đã dồn hết tâm sức, triệt hạ Thần Linh của các tôn giáo khác trong nhân gian với mục đích: Triệt hạ niềm tin Lành, Thánh của tôn gíao trong xã hội. Phá huỷ nhi ều di tích có liên can đến truyền thống văn hóa và tôn giáo trong chốn nhân gian, và xây dựng một nền văn hóa vô đạo, vô tín ngưỡng theo hệ Mác- Mao.

1.Triệt hạ tôn giáo, niềm tin Lành Thánh trong nhân gian.

Như trên tôi đã viết, Đạo thờ ông bà hay truyền thống thờ cha kính mẹ trong các gia đình Việt Nam đã được chuyển hóa thành đời sống của đại gia đình và của xã hội. Tinh thần này chuyển hóa vào xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dần dần trờ thành cuộc sống và đạo lý của dân tộc. Rồi từ xã hội, tinh thần đạo thờ Thần, thờ Ông Bà, Tổ Tiên trở thành nền văn hóa, tạo thành một phong cách riêng trong lịch sử Việt. Hơn thế, trở thành một tôn giáo trong nhân gian. Người Việt Nam, dù có theo bất cứ một tôn giáo nào thì tinh thần phụng thờ ông bà tổ tiên vẫn là gốc rễ trong cuộc sống của họ.

- Cuộc sống có gốc rễ nhân bản, thần linh ấy, đúng hay sai?

Theo tôi, dù nén nhang, mâm hoa qủa tuy không nói lên nhiều. Nhưng do ở lòng thành, tục lệ thắp nhang đèn trong các ngày giỗ chạp, tang hôn, hiếu hỷ trên bàn thờ kính nhớ gia tiên, hay cầu cho người qúa cố được siêu thoát về cõi Vĩnh Hằng, về với Thần Thánh, Trời, Phật, về với Ông Bà là một nghi lễ tốt lành. Sau này, trở thành bổn phận của con cháu đối với gia tiên. Trở thành Đạo làm người trong nền luân lý của xã hội Việt Nam. Rồi thành một nghi lễ đầy tôn nghiêm không thể nào thiếu trong cuộc sống của người có đạo. Tuyệt đối không phải là biểu hiệu của mê tín dị đoan.

Nay Hồ chí Minh, đã không biết đến đạo làm người trong lòng người dân Việt (bản thân Y không một lần đốt cho cha mẹ mình một nén nhang) còn ra lệnh lệnh đập phá các ngôi đình trong làng. Triệt hạ những Đình Chùa, Đền, Miếu thờ ở nông thôn. Phá đổ nhang đèn ở thành thị, rồi bạo hành các tôn giáo với những lời lẽ như là để bài trừ mê tín dị đoan thì hẳn nhiên chẳng ai dám tin rằng, đó là hành động của kẻ có đạo nghĩa. Trừ ra những kẻ vô đạo và xây dựng tổ chức vô đạo!

2. Mục đích việc phá hủy những di tích lịch sử có liên hệ đến truyèn thống văn hóa và Tôn giáo trong thời cộng sản là gì?

Sau ngày 30-4-75, nhiều ngươi di cư trước kia có dịp quay về, thăm lại nơi sinh trưởng trên đất bắc, họ chi thấy những ngôi làng tan hoang. Tan hoang không phải vì do dấu đạn bom, nhưng là do liềm búa đã đập nát, đạp đổ các ngôi Đình làng và Đền Miếu trước kia. Đó chính là nỗi mất mát lớn nhất của dân làng, của xóm thôn. Xa hơn, là của dân tộc. Bởi lẽ, mái nhà thì được xây dựng do công sức của một gia đình với thời gian năm, mười năm. Nhưng Đình Miếu Chùa Chiền, nhà thờ là sự đóng góp qua nhiều đời, nhiều thế hệ của dân làng và thôn xóm. Nay tất cả đã thành bình địa. Trước cảnh hoang phế này, người về thăm còn thấy cô đơn, trống vắng vì cội nguồn bị tàn phá. Người ở lại ra sao?

- Phá bỏ Đình Miều đi có lẽ cũng…hay ông ạ?

- Ông nói nghe còn lạ hơn.

- Cán bộ bảo thế, nhưng dân chúng lại đóan mò là để cho vừa lòng Tàu! Dân mất Đình, Miếu, Ông Bà, người mất gốc thì dễ đồng hóa ông nhỉ?

Chẳng tìm ra nỗi đau nào hơn thế. Và cũng chẳng cần có thông tin quảng bá, xem ra người dân đã đọc được cả bụng dạ của nhà nước rồi. Tuy nhiên, biết chỉ là biết vậy. Không thể có phản ứng tích cực hơn. Riêng việc cho rằng Hồ chí Minh muốn xóa bỏ những di tích lịch sử, cổ truyền, mang tính tôn giáo, hay văn hóa của Việt Nam là để đưa dân ta vào vòng Hán hóa cho gọn nhẹ, không thuộc phạm vi bài viết này. Xin hẹn bạn đọc trong dịp khác.

Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, việc đập phá các đền miếu, Đình Chùa, đốt nhà thờ, triệt hạ niềm tin trong tôn giáo của Hồ chí Minh chính là một tai họa lớn cho dân tộc Việt Nam. Bởi lẻ, gía trị của tôn giáo trong nền văn hóa của Việt Nam có một vị thế, và một chỗ đứng rất vững chắc trong xã hội, trong đời sống tinh thần của mọi cá nhân, mọi gia đình và ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống xã hội. Nghĩa là, tôn giáo có một vị trí không thể thay thế. Nhờ tôn giáo, xã hội sẽ có được nếp sống lành mạnh, đạo nghĩa hơn. Bởi vì con người không phải chỉ sống vì miếng ăn theo lý luận của duy vật. Nhưng còn cần đến gía trị của tâm linh, tạo cho con người lối sống khác với những động vật hạ cấp theo kiểu của Mác.

Sự khác biệt này được chứng minh ngay ở trên bản thân của các cán bộ, đảng viên Việt cộng là những người trung thành với chủ nghĩa vô thần. Ai cũng biết, họ là những cán cộng suốt đời theo Hồ chí Minh sống đầy gian dối, đả phá, bài xích tôn giáo. Có rất nhiều kẻ trong số này đã đi tiên phong trong việc đập phá Chùa chiền, Đình, Miếu, nhà thờ theo chiêu bài, bài trừ mê tín dị đoan để nên quan cán nhớn, và đẩy dân chúng vào cảnh khốn cùng. Trớ trêu thay, đến lúc chết, họ lại không dùng cái búa, cái liềm để làm vật cúng kiếng, hay làm biểu tượng trên nấm mộ. Nhưng lại dùng nhang đèn, hoa trái, là những phẩm vật trong nghi lễ của người có đạo, để cúng tế lúc ra đi. Đến lạ!

1. Xây dựng một nền văn hóa vô đạo nghĩa.

Chủ nghĩa Mác- Lê-Mao là một học thuyết duy vật, vô thần, không có điểm tới của Sự Thật, Chân Lý. Chỉ có một thực hành trong gian dối. Mác coi tôn giáo như là thuốc phiện ru ngủ nhân dân. Hồ chí Minh thì coi đó là một thứ mê tín dị đoan nên cần phải tận diệt. Tại sao cộng sản (Việt cộng) luôn luôn nhìn tôn giáo bằng ánh mắt hận thù?

Câu trả lời mà không một ai không biết là: Tôn Gíao từ khởi nguyên cho đến tận cùng là sự lành thánh, chân thật. Bất cứ một tôn giáo nào thì cũng đều đặt nền tảng cho con người trong sự ăn ngay ở lành, làm việc lành, tránh việc ác. Trong khi đó, giáo điều của cộng sản là tạo ra gian trá. Sống, tuyên truyền và thực hành trong gian dối. Đó là một thứ đạo vô đạo nghĩa, vô luân lý. Đặt nền tảng trên bạo hành ác tính. Từ đó, gian dối trở thành bản ngã và ngôn ngữ của họ. Xưa hay nay đều thế cả.

Một điểm khác nữa là, những người đi theo cộng sản rồi gia nhập đảng cộng sản, nhất là vào thời gian đầu, hầu hết bị mắc lừa hay thuộc thành phần ít học xuất thân từ giai cấp công nông, Họ bị khích động, bị xô đẩy, dạt vào cuộc đấu tranh kiếm cơm manh áo chống lại phía chủ nhân, địa chủ hơn là có ý thức về chính trị xã hội. Trong hoàn cảnh Việt Nam lại được khóac thêm cái áo thực dân và phong kiến nữa. Sự kiện này, đẩy các đảng viên cộng sản đến hai điểm tiêu cực. Sợ hãi sự thật và thiếu sự hiểu biết về nhân bản và luân lý xã hội.

Để lấp đầy vào những điểm tiêu cực thiếu sót đó, và đi theo chủ trương xây dựng một xã hội độc tài chuyên chế, các đoàn đảng viên Việt cộng được rèn luyện lòng căm thù đối với những giai cấp của xã hội. Được đào tạo chuyên nghiệp bằng phương pháp cầm dao đấu tranh, để nên quan tước. Từ đó, cộng sản tạo cho họ một cái tâm lý hết sức tiêu cực và bi quan. Họ chỉ biết trung thành vô điều kiện đối với đảng, (để được chia cơm, bổng lộc và an toàn) trong mọi hành động cũng như ngôn từ, không có ngoại lệ, không có khoan nhượng. Từ sự kiện trung thành mù quáng vào mớ lý thuyết thuộc lòng để bảo vệ mình, cộng sản đã tạo ra những tai họa lớn, không phải cho họ. Nhưng là cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Bằng chứng là:

Các đoàn đảng viên cộng sản trước kia đã lao đầu vào cuộc đấu tố thù hận để lập công, kể cả Hồ chí Minh, đã tạo ra cái chết cho hơn 170.000 ngàn người Việt Nam, và phá tan hoang rất nhiều những di tích mang tính văn hóa cổ truyền và tôn giáo như các Đình, Chùa, Miếu, nhà thờ tại miền bắc Việt Nam trong những năm 1954-56. Nay nhìn lại, ai cũng phải kinh hãi, kể cả những quan án và những ngưòi ra lời đấu tố xưa kia. Từ cuộc đấu tố đó, cộng sản đã tạo ra sự ruồng, rỗng và giết chết sinh lực của xã hội. Tình nghĩa đồng bào, tình láng giềng trong xóm thôn, tình thương anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái trong gia đình. Việc làm này sẽ còn ảnh hưởng rất lâu dài trong xã hội Việt Nam. Tại sao?

Vì tuyên truyền, vì kém hiểu biết mà họ trở thành những đao phủ giết chết nền luân lý đạo hạnh của xã hội, giết chết tình nghĩa đồng bào và triệt tiêu niềm tin giữa con người với con người. Họ cũng không có đủ tri thức để nhận ra rằng, việc đập phá đình miếu theo lệnh đảng cộng sản không phải là bài trừ mê tín dị đoan. Trái lại, hành động ấy chính là việc họ tự huỷ đi cái bản ngã thuần lương của chính mình. Đơn giản hơn, vì bị khích động, họ đã mắc lừa cộng sản và trở thành những cán bộ mù quáng đi xây dựng một xã hội đặt nền trảng trên sự gian dối. Sự gian dối đã giết chết chính họ và gia đình họ trước khi nó làm băng hoại xã hội.

Lớp cán bộ đi trước bị lầm lạc như thế. Lớp trẻ, trung niên ngày nay cũng không khá hơn. Không khá vì, tuy họ có học, có kiến thức xã hội hơn lớp trước, nhưng từ lối giáo dục vô nhân bản của cộng sản, lớp cán bộ này chỉ khá hơn về những phương cách dối trá hơn là tử tế. Bằng chứng là, việc cưóp tài sản của các tôn giáo đã được tổ chức tinh vi hơn (Vụ TKS, Thái Hà, Tam Tòa…). Nhưng sức sống của xã hội ngày thêm suy đồi. Những loại tội đại ác càng lúc càng gia tăng. Chỉ trong một ngày, nếu theo dõi những bản tin pháp luật của trang điện báo vnexpress.net. qúy vị sẽ phải rùng mình. Con giết cha mẹ, bạn trai giết ngưòi tình. Thầy đưa học sinh nữ tuổi vị thành niên vào nhà nghỉ. Và người ta giết nhau chỉ vì một cái va chạm nhỏ trên đường! Rõ ràng, chưa bao giờ nền đạo lý của dân tộc, và đạo đức xã hội lại băng hoại như thời cộng sản.

Tuy nhiên, nền luân lý trong xã hội Việt Nam bị băng hoại lại không có gì lạ. Bởi lẽ, người khai sáng ra cái chế độ, hay cái đạo ấy ở Việt Nam là Hồ chí Minh đã tạo ra hai sự nghiệp vĩ đại. Việc công thì đập phá Đền Miếu, Chùa Chiền, nhà thờ và triệt hạ niềm tin Lành Thánh của các tôn giáo, giết hại những vị chân tu, phỉ báng chân lý. Việc riêng thì hủ hóa Nông thị Xuân, hiếp em đến có bầu, sinh con rồi Hồ cho người bóp cổ chết, và quăng ra ngoài đường giả như một tai nạn lưu thông. Phạm những loại tội hình sự “vĩ đại” ấy, Y đã không bi truy cứu, còn được nhà nước Việt cộng đề cao thành tích, trương biểu ngữ thành kinh tuyên truyền, “ sống và học tập theo gương bác Hồ vĩ đại”, Học tập cái kiểu ấy thì cái chế độ ấy làm gì có luân lý xã hội, làm gì có đạo nghĩa? Rồi cứ thế, hết lớp này đến lớp khác theo nhau học tập những cái gương ấy để nên quan, thành lãnh đạo thì luân lý đạo đức tìm đâu ra?

2. Kết qủa của sách lược triệt tiêu Tôn Giáo trong nhân gian.

  1. Phần người dân.

Dưới áp lực nặng nề từ chế độ, dân đã bị khủng hoảng, mất niềm tin trong cuộc sống. Đến khi Đình mất, Miếu tan, nền móng văn hóa truyền thống trong làng thôn cũng không còn. Những ngày lễ trở thành những nỗi cô đơn, trống vắng trong lòng ngưòi.Từ đó, dù không muốn, việc lễ lạc thờ cúng Ông bà, Tổ Tiên trở thành thứ yếu, lép vế. Ngưòi dân đứng trơ mắt ra để nhìn những cuộc tàn sát Đền, Miếu, gốc đa mà tưởng là chính thân mình đang bị chặt, chém.

Khi Miếu đổ, Đình tan, cuộc tiêu diệt đạo Thờ Thần, thờ cúng Ông Bà xem ra qúa nhẹ nhàng, chả tốn vài viên đạn! Những tưởng Hồ chí Minh sẽ thành “thần” ở các ngôi đình? Oan nghiệt thay, Hồ chí Minh có chiếm các đình miếu của dân, nhưng đã bị đào thải ra khỏi Đình, Miếu bởi vì Tố Hữu, một cán bộ cao cấp khác của Việt cộng đã hô hào, viết thơ tuyên truyền trong dân chúng là: “Thờ Mao chủ Tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”. Chả có chữ nào nói đến việc “thờ” Hồ chí Minh! Đau hơn thế, Hồ cũng thuộc lòng và phải ngậm tăm vì cái “giáo điều” này. Bởi lẽ, Hồ cũng phải thờ Mao, thờ Sít như Hữu!

Khi Miếu đổ, Đình tan, Việt cộng cho rằng cuộc tiêu diệt đạo Thờ Thần, thờ cúng Ông Bà trong dân chúng đã bị hạ gục và chẳng tốn mấy viên đạn của tầu. Kết quả, Miếu đổ, Đình bị tan nhưng tinh thần của tôn giáo, của đạo Thờ Thần, đạo Ông Bà vẫn vững như đồng. Bởi vì đạo là ở trong lòng người, nên nghi lễ cúng bái tổ tiên và dâng hoa qủa, lo việc hương khói cho các ngài, dù bị ngăn cấm, cũng không bao giờ chết trong lòng người. Nghĩa là, dù ngưòi dân Việt bị áp bức, trong bản lý lịch không còn ghi là theo đạo Ông Bà, hay tên của một tôn giáo có tổ chức nào đó, họ cũng không bao giờ bỏ Đạo của mình. Trái lại, họ tiếp tục sống và giữ đạo, vẫn một lòng tin tưởng vào Thần Linh và giữ Hương Khói, Hoa Qủa cho ông bà tổ tiên trong các dịp tang môn, hiếu hỉ, giỗ chạp hay các ngày lễ. Trên mắt môi họ vẫn còn một niềm tin tồn tại.

2- Về phiá cán cộng, nhà nước.

Mỉa mai thay, những kẻ đập phá, bạo hành các tôn giáo tưởng rằng mình đang đứng trên đỉnh vinh quang của cái liềm, cái búa bạo tàn khi theo và truyền đạo thờ Hồ. Kết qủa là thê lương tận cùng và đúng như lời trong Kinh Thánh đã viết: “khốn cho những kẻ giơ chân đạp mũi nhọn” ( Acts 9:5-6)

Trong bài, “Phú Thọ: ‘Cả làng bị quả báo nhãn tiền vì đập phá Đình Chùa’” có đoạn “Nhiều người cao tuổi trong làng cho biết, trước đây Phú Lạc cũng có phong trào bài trừ mê tín dị đoan, tuy nhiên việc thực hiện đã có sự “quá tay”, khiến cả những công trình, kiến trúc không thuộc “mê tín dị đoan” vẫn bị phá hủy…

“Đến đầu xã Phú Lạc rẽ vào con đường dài thượt nhếch nhác, nham nhở rồi đi tiếp khoảng 1km là đến xóm “rùng rợn”. Người ta gọi là xóm rùng rợn từ bao đời nay vì nơi này nổi tiếng với những câu chuyện như: Cả nhà đều điên, bốn mẹ con đều góa bụa… Những người dân ở đây cũng thừa nhận rằng đàn ông trong xóm ấy “ra đi” rất kỳ lạ. Thời đó có một người tên là Côn, làm cán bộ ở nhà xử lý giống. Sau khi phá đình chùa, một số thứ được chuyển về bếp ăn tập thể, trong đó có đầu của một pho tượng. Ông Côn vốn tính hay nghịch ngợm nên cho đầu của pho tượng vào bếp đun. Về sau ông Côn đã chết tắc tử. Hiện thế hệ con ông còn sống cũng chịu nhiều chuyện đắng cay. Người thì tâm thần, người khuyết tật, gia đình thì lưu lạc…

“Đến bây giờ, người dân Phú Lạc vẫn kể về “thời vang bóng” của vị lãnh đạo xã tên L.V.H. Đằng sau những thành tích trong việc xây dựng địa phương, ông cũng là người tiên phong trong phong trào bài trừ mê tín dị đoan của những thập niên trước. Ông đã chết vì chứng suy thận cấp. Điều đáng lưu tâm là hiện nay nhiều thế hệ con cháu ông vẫn đang sống trong cảnh “sống dở chết dở”. Vợ ông thì nằm liệt giường, con cái thì người tâm thần người thì li biệt”. Đức Thuận – PLXH

Đó là câu chuyện của nhân gian, tôi không mấy dám xác tin về những hậu qủa có tính cách nhãn tiền trong sự kiện cán bộ đảng viên Việt cộng đã “báng bổ thần thánh” để rước lấy hậu quả khốc hại cho chính bản thân và dòng dõi của minh như câu chuyện về cán bộ tên Côn nào đó ở Phú Lạc, Phú Thọ. Nhưng có một sự thật vẩn đang xày ra trước mắt, trong từng ngày là, dù có tôn sùng sự gian dối của chủ nghĩa cộng sản do Hồ chí Minh lãnh đạo cách mấy, cán bộ đảng viên của nhà nước Việt cộng, từ trung ương cho đến địa phương đều rất sợ thần thánh của người có đạo. Nghĩa là, lúc gần chết đều run rẩy, chắp tay cầu đến thần linh, đều mong được hưởng hương khói, hoa trái của người còn sống cúng lễ hơn là ôm lấy cái búa cái liềm mà về với bác!

Tệ hợn trên mộ bia của họ cũng không có khắc hình chạm trổ cái búa và cái liềm cho người đời biết mà bái phục, lại để cái bát nhang. chân hương như những người “mê tín dị đoan” thì thật chả ra làm sao. Đặc biệt, khi đảng và nhà nước Việt cộng đặt hoa trái, nhang đèn lên trước hình tượng cua Hồ chí Minh mới là điều quái di. Quái dị, vì trong chúc thư để lại trước khi chết, Y đã viết rõ là “phòng khi đi thăm cụ Mác cụ Lê”. Ý của Hồ là không muốn về với ông bà, Trời Phật, Ông Bà, Tổ Tiên, nhưng chỉ một lòng vác búa đi theo Mác- Lê. Hơn thế, Hồ là kẻ vô thần, người ra lệnh đập phá Chùa, Miếu, Đình, nhà thờ của người dân. Theo đó, khi Y chết thì phải làm tặng cho Y cái búa và cái liềm chứ? Ai đời lại để hoa trái, nhang đèn trước hình tượng hay mộ cua Y như người trong chốn nhân gian? Làm thế có khác gì việc nhà nước có ý xỉ nhục Y hay là muốn phỉ báng tôn giáo?

Kể ra, đây là chuyện lạ hơn là khôi hài. Bởi lẽ, việc dâng hương và cúng hoa qủa , dù không có sách vở nào minh xác, nhưng ai cũng biết, đó là nghi lễ của những người có tín ngưỡng. Không phải là của những người vô thần. Trong khi đó, các đoàn đảng viên Việt cộng là những người theo thuyết Tam Vô. Kẻ thì đã từng tham gia vào phong trào đập Đình, phá Chùa, đốt Miếu, phá hoại tôn giáo và gọi đó là công tác đi bài trừ mê tín dị đoan. Kẻ thì điên cuồng đi cướp phà tài sản Chùa Chiền, của nhà thờ để chia nhau bổng lộc. Họ là những người sống theo bác, chết thì về với Mác Lê Mao, không về với Ông Bà, Thần Thánh. Tại sao người nhà, thân nhân, đồng chí của họ lại dùng Nhang Đèn, Hoa Quả là những phẩm vật trong lễ nghi của tôn giáo trong nhân gian mà cúng tế cho họ?

Kế đến, người cộng sản luôn cho tôn giáo là một thứ thuốc phiện ru ngủ. Họ đã theo Hồ phá bỏ đình chùa, đập miếu, đốt nhà thờ của nhân gian bằng cái búa, cắt cổ người có đạo bằng cái liềm. Rồi phá bỏ bình hương, bát nhang của người dân vì cho đó là những thứ loại thuộc về mê tín dị đoan. Nay họ chết, tại sao lại đốt nhang đèn, cúng hoa quả? Việc làm ấy thì giải thích làm sao đây? Mác – Lê chết làm gì có nhang có khói? Chỉ những người có đạo khi chết mới “mê tín” dùng đến nhang đèn hương khói cầu siêu thoát về với Ông Bà, Thần Thánh mà thôi. Chả lẽ các đoàn đảng viên cũng cần nhang khói? Cầu như thế thì họ sẽ đi đâu?

Câu hỏi này có phần mới mẻ, có làm phật lòng ai không? Tôi nghĩ rằng chẳng làm phiền lòng ai và cũng chẳng có ý phỉ báng một ai. Trái lại, sự thật phải trả về cho sự thật. Vì như tôi đây, tôi là người công giáo. Khi tôi qua đời, trên mộ bia của tôi ngoài tên thánh, tên họ gọi ra, còn có một cây Thánh Gía, mà trong suốt đời tôi tin theo. Tin theo trong niềm tin Lành Thánh. Nên trên mộ có đặt thêm một bát nhang, chân hương cho tôi thanh thoả ra đi cũng là lẽ thường. Vì tôi hằng mong muốn như thế. Phía anh em đạo hữu bên nhà Phật hay đạo Ông Bà cũng thế. Họ mang một Pháp danh, và chữ Vạn là biểu tượng trên phần mộ của họ. Và dĩ nhiên, bát nhang, hoa quả cho họ là điều phải lẽ. Nhưng đốt nhang, dâng hoa trái, cầu siêu thoát cho một người cả đời phỉ báng tôn giáo, đập phá chùa chiền, triệt hạ nhà thờ, đập đổ lư hương, bát nhang ở Đình, Chùa thì rất lạ, nếu như không muốn nói là nom rất dị!

Ở đây tôi xin mở một dấu ngoặc là, khi viết về cách “dâng hương trái đạo” này, tôi không có ý mỉa mai những người theo cộng sản đã khuất hay còn sống, trong việc họ thắp nhang, dâng hoa trái cho người đồng chí đã khuất, nhưng muốn nói lên một sự thật rất thật là, việc làm này (thắp nhang dâng hoa trái) của họ trong trường hợp này, bề ngoài xem ra là không đúng, ên trong thì hoàn toàn trái với ý nguyện của những người đã khuất. Bởi vì khi còn sống, họ theo đuổi lý tưởng Mác- Mao, tôn thờ chủ nghĩa vô thần, chối bỏ sự hiện diện của thần linh. Nay họ chết, tại sao các đồng chí và người thân của họ lại “áp đặt” lên mình họ chuyện mê tín dị đoan, đốt nhang, cúng hoa trái như thế? Có là bất công cho họ chăng?

Tôi không biết có là bất công hay không. Nhưng khi viết về vấn đề “Tôn Giáo dưới ách cộng sản”, tôi không thể không viết rõ và phân tích về mục dâng cúng hoa trái, nhang đèn trong tang môn, hiếu hỷ, trong các dịp lễ, tết, là một trong những nghi lễ đầy tính thiêng liêng của những người có tín ngưỡng, có niềm tin sâu sắc vào thần linh. Đây không phải là một tục lệ trong nhân gian, tuy rất phổ quát trong cuộc sống của họ. Càng không bao giờ là một thứ hình thức của kẻ vô thần.

Theo đó, cái gì của tôn giáo thì nên trả về cho Tôn Giáo. Cái gì của thần linh thì trả về cho thần linh. Cái gì thuộc về bác đảng thì trả cho bác đảng. Cái gì của dân chúng thì trả về cho dân chúng. Tóm lại, Chân Lý trả về cho Chân Lý. Có thế, xã hội mới được ổn định,

Kỳ sau: Hướng đối phó với các tôn giáo có tổ chức

© Bảo Giang

© Đàn Chim Việt


  

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Từ “Tiếng hát sông Hương” đến công nghệ… mãi dâm

Từ “Tiếng hát sông Hương” đến công nghệ… mãi dâm

Đặng Văn Sinh

(Nhân đọc bài Hoan nghênh Quốc hội trả lại nhân quyền cho phụ nữ bán hoa của Luật gia Trần Đình Thu, đăng trên trannhuong.com)

 Cách đây gần năm mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp 3 phổ thông, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy Hoàng Bỉnh Nhu bình bài Tiếng hát sông Hương của nhà thơ lớn Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa có một chút khái niệm nào về loại nghề buôn phấn bán son.

Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx – Lenin, thầy Nhu khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị dày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa thơm quả ngọt. Cả lớp lặng đi. Một vài bạn gái len lén lấy ống tay áo quệt nước mắt. Ôi ! Sức mạnh của nghệ thuật. Chúng tôi cảm phục thầy Nhu một thì cảm phục Tố Hữu mười, bởi ông đã đem đến cho lớp trai trẻ dốt nát một cảm quan mới, một chân lý sáng ngời trong chế độ XHCN tốt đẹp có Bác, Đảng dẫn đường.

Quả thật, bằng vào cái huyễn tượng về một tương lai xán lạn ấy, sau năm năm tư, (1954) Nhà nước ta đã tiến hành những cuộc tảo thanh trên quy mô lớn để bài trừ tận gốc những gì còn rơi rớt lại của nền văn hóa thực dân phong kiến trên nửa phần đất nước mà điểm nhấn của nó là nạn mại dâm. Các đối tượng hành nghề bị lực lượng công an thu gom đưa vào các nhà tù trá hình được gán cho danh xưng mỹ miều là “Trại phục hồi nhân phẩm”. Tại đây, những chị em “cải tạo” tốt còn được “ưu tiên” chuyển sang lực lượng thanh niên xung phong hoặc nông trường quốc doanh trồng chè hay cao su ở vùng sơn cước. Và thế là, chỉ sau một kế hoạch ba năm, ngành Lao động – Thương binh – xã hội miền Bắc XHCN đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch triệt phá tệ nạn mại dâm. “Từ ấy”… mảnh đất ngàn năm văn hiến được xem như tuyệt giống “gái bán hoa”!?. Thật là một kỳ tích mà chỉ có những người thật sự yêu chủ nghĩa cộng sản mới làm được.

Cũng vào thời gian này, trên các phương tiện tuyên truyền chính thống, trong đó có cả những tờ báo lớn công bố số phụ nữ làm nghề mại dâm ở thành phố Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam cộng hòa là ba mươi vạn!? Tất nhiên chúng tôi tin sái cổ. Lại dám không tin báo chí của Đảng à? Có họa là tên phản động hoặc kẻ mắc chứng tâm thần phân liệt mới có đủ bản lĩnh đặt dấu hỏi nghi ngờ. Sau này, khi non sông đã về một mối, các nguồn thông tin không còn bị ách tắc như trước, tôi có đọc một bài trên mạng Đối thoại mới hiểu con số ấy được người ta thổi phồng ít nhất là năm mươi lần. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Phách, tính vào thời điểm những năm sáu mươi, trừ cánh mày râu, cộng với các bà già trên sáu mươi cùng các cháu gái dưới mười sáu tuổi, thì tất cả phụ nữ Sài Gòn đều làm… điếm nếu ta tin vào con số kỷ lục nặng về màu sắc chính trị kia.

Sau ba mươi bảy năm giải phóng miền Nam, tức là một phần ba thế kỷ, một nửa đời người, có vẻ như những kỳ tích chống tệ nạn xã hội đã đi vào dĩ vãng, đặt dấu chấm hết cho một thời vàng son. Chưa bao giờ và chưa lúc nào nạn mại dâm hoành hành dữ dội và đều khắp như lúc này. Không ít khách sạn tên tuổi với nhãn hiệu ba sao, thậm chí năm sao có hẳn một đường dây gọi gái. Các nhà nghỉ thường kèm thêm dịch vụ “tươi mát”. Mỗi nhà hàng karaoke đèn mờ là một động lắc thâu đêm suốt sáng. Mỗi tiệm hớt tóc, gội đầu là một nhà thổ trá hình. Ngày trước “ra ngõ gặp anh hùng” thì ngày nay, mỗi khi bước chân ra đường toàn gặp lũ tham nhũng và ca ve. Các Tú Ông, Tú Bà nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm, nhân danh thời mở cửa lại được các anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm… ngồi ngất ngưởng trên cao bảo kê, tha hồ bóc lột đám chị em chân yếu tay mềm. Đến lúc này, thi hào Tố Hữu, con chim đầu đàn của nền thơ cổ động Việt Nam, nếu còn sống, chắc ông sẽ phải viết lại “Tiếng hát sông Hương”. Ta hãy nghe lại tác giả thương hoa tiếc ngọc bằng một bài thơ kết hợp giữa lục bát truyền thống với thể loại dân ca Huế và gieo bằng vần “eo”, tạo ra một không gian nhẹ tênh, mang nét thanh thoát yêu kiều của sông Hương, đối lập hẳn với thân phận nhục nhã của cô gái làng chơi:

    Em buông mái chèo
    Trời trong veo
    Nước trong veo
    Em buông mái chèo
    Trên dòng Hương Giang

Rồi tấm lòng cộng sản vô bờ bến của ông thương cảm người con gái đã hơn một lần lầm lỡ :

    Thuyền em rách nát
    Mà em chưa chồng
    Em đi với chiếc thuyền không
    Khi mô vô bến rời dòng dâm ô!

Nhưng điều đáng chú ý nhất là ông phó chủ tịch HĐBT (Hội đồng Bộ trưởng) tương lai đã thổi vào tâm hồn cô gái một ảo tưởng ngọt ngào, tạo cho cô niềm phấn khích vô bờ bến, nếu không bỏ nghề, dấn thân vào sự nghiệp cách mạng thì cũng nhẫn nại đợi thời cơ đến ngày được chiêu tuyết :

    Ngày mai bao kiếp đời dơ
    Sẽ tan như đám mây mờ hôm nay
    Cô ơi tháng rộng ngày dài
    Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
   Trên dòng Hương Giang…

Hương Giang thơ mộng trong một chiều tím biếc, con đò rách nát bồng bềnh trôi mang nỗi u uất cuả một thân phận còn rách nát hơn cả nó, phút chốc như đốn ngộ bởi thứ ánh sáng lung linh của chân lý. Nhà thơ thật khéo chuyển được cảm xúc, đem cái huyễn tưởng ngoài nghìn dặm đặt vào tâm thức cô đào xứ Thần Kinh trong gang tấc.

Ngược lại với Tố Hữu lúc ấy, tám mươi năm trước (nếu tính từ thời điểm những năm ba mươi của thế kỷ XX), Nguyễn Công Trứ, cũng sau những lần xuôi đò trên sông Hương , đã không giấu giếm sự đắc ý của mình cho dù ông là một nhà nho từng được đào luyện kỹ càng trong trường học Khổng Mạnh:

    Lênh đênh một chiếc đò ngang
    Một cô đào Huế, một quan đại thần
    Ban ngày quan lớn như thần
    Ban đêm quan lớn lần mần như ma
    Ban ngày quan lớn như cha
    Ban đêm quan lớn ngầy ngà như con…

Chúng ta kính phục Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng nói thật tuy có chút mỉa mai, tự trào cái sự hành lạc với một cô gái làng chơi dù có lúc ông là quan đầu triều. Hành vi của cụ Thượng hoàn toàn tương phản với phần lớn các bậc “dân chi phụ mẫu” ngày nay, đi nhà thổ như điên, bồ bịch tùm lum, ăn cắp công quỹ thành thần nhưng lại lên mặt đạo đức giả, lúc nào cũng muốn nêu tấm gương “cần kiệm liêm chính”.

Sau những năm ép xác, nhịn thèm nhịn nhạt phục vụ chủ thuyết “Thế giới đại đồng”, nay, xã hội Việt Nam đang ở vào thời kỳ “ăn trả bữa”. Cái “thằng” quy luật tâm lý ấy lại lừng lững xuất hiện, chẳng khác gì ma dẫn lối, quỷ đưa đường, dẫn dụ các nạn nhân của nó vào “kiếp đoạn trường” trong một mê lộ quanh co đầy cạm bẫy. Chưa có bao giờ trên đất Việt thân yêu của chúng ta lại nở rộ tệ nạn mại dâm như bây giờ. Nó hiện diện theo quy luật của dòng nước lũ, từ lâu bị chặn lại, đương nhiên là tích tụ năng lượng, đến một lúc nào đó tìm ra lối thoát, thế là “tức nước vỡ bờ” thành một cơn hồng thủy. Hiện tượng này đã được nhà thơ Trần Nhuận Minh khái quát bằng mấy câu trong bài “Thoáng” như sau :

    Sách cấm xưa lòe loẹt cổng Đền Thờ
    Ngõ tối bật tiếng coóc xê tanh tách
    Gã trốn tù tội đánh người và khoét ngạch
    Vào quán ghểnh chân làm choác bia hơi.

Còn thi sỹ Nguyễn Trọng Tạo ở bài “Quán Lý Thông” thì lại tiếp cận các cô gái “bán hoa” ở khía cạnh văn hóa:

    Tôi hỏi ca ve, ca ve cười ngất
    Chợt nhận ra mình giữa quán Lý Thông

Hiển nhiên, mại dâm không chỉ dừng lại ở thành phố, thị xã, thị trấn mà từ lâu nó đã lan đến cả những vùng quê hẻo lánh. Các đức ông chồng mất nết, từ những lão già sáu bảy mươi đến lũ ranh con miệng còn hơi sữa, rủ nhau thập thò trước quán cà phê hay hớt tóc trá hình vào lúc trời còn nhập nhoạng. Không có tiền thì xúc trộm thóc của vợ bán dấm giúi, thậm chí có anh chàng còn “ký sổ nợ” hẹn đến mùa thanh toán…

Cũng như nạn tham nhũng, mại dâm bây giờ đã trở thành một thứ “văn hóa”. Loại “văn hóa” này hình như đang được phát triển và nâng cao đến mức “đậm đà bản sắc ” tùy thuộc vào đẳng cấp xã hội của các đấng mày râu. Các quan chức là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền luôn là “thượng đế” của những nhà chứa cao cấp. Có những ông lớn nuôi hẳn ba, bốn bồ nhí ở mấy nơi khác nhau (tất nhiên là bằng tiền chùa), để thứ bảy, chủ nhật đánh xe về thư giãn. Không hiếm các ông “đầy tớ của dân”, ban ngày thì lên diễn đàn rao giảng đủ thứ đạo đức nhưng ban đêm lại mò vào các động mãi dâm lăn lóc với “mấy ả mày ngài”, sáng ra mệt phờ râu trê, đến nỗi quên cả cuộc họp quan trọng mà chính mình phải chủ trì.

Từ môi trường xã hội cởi mở để con người thả lỏng bản tính của mình như vậy, tự nhiên hình thành một loại gái điếm cao cấp mà cách hành xử của type người này có những lúc khá ngược đời như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết trong bài thơ “Việt Nam, nhìn từ xa tổ quốc” :

    Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
    Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn
    Vật giá tăng
    Nên hạ giá linh hồn       

Loại “ca ve” này, tất nhiên không chỉ bán phấn buôn son mà thực chất là bán buôn “cái gì đó” lớn hơn bằng “vốn tự có” của mình. Chị em biết lợi dụng thời cơ, nắm chắc tâm lý các sếp sòng, triệt để vận dụng lời dạy “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” của tổ sư Tú Bà, để len vào bộ máy công quyền. Từ chiêu “mỹ nhân kế”, đã có không ít trường hợp thành công, thậm chí còn được bổ nhiệm vào những chức vụ không nhỏ chút nào, cho dù loại hình hoạt động duy nhất của chị em chỉ là… trên giường.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam chẳng bao giờ công bố con số phụ nữ làm nghề mãi dâm, nhưng đến giờ này, theo những nguồn tin của một vài tổ chức phi chính phủ thì có thể đã đến hàng chục vạn (?). Phần lớn trong số này là những cô gái còn rất trẻ đều có gốc gác nông thôn, thất học, không nghề nghiệp, bỏ nhà lên thành phố làm gái bán hoa, sau một vài năm kiếm được chút vốn thì hoàn lương, về quê lấy chồng. Đây là đối tượng dễ bị các Tú Ông, Tú Bà hành hạ, bóc lột nhất. Các cô thường xuyện bị chủ ăn quỵt sau mỗi lần đi khách, nếu có biểu hiện phản ứng lập tức bị bọn ma cô, đầu gấu “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”, đành nhắm mắt buông xuôi mặc dòng đời đưa đẩy cho đến lúc thân tàn ma dại. Cũng phải kể đến đội ngũ “ô sin” trong chương trình xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Một lượng không nhỏ người hầu gái này chấp nhận hành nghề mãi dâm nhằm mục đích thu ngoại tệ qua các công ty môi giới. Có trường hợp, một “Ô sin” buộc phải đáp ứng nhu cầu tình dục cho cả gia đình, thậm chí, để giảm bớt chi phí, gã chủ nhà còn rủ thêm một vài anh hàng xóm “đánh ké”. Tất nhiên họ không được ăn cả mà thường là phải chia năm sẻ bảy dưới danh nghĩa “lệ phí” hoặc thuế cho các công ty lừa đảo núp dưới những cái tên rất ấn tượng, mặc dù các khoản thu ấy chẳng bao giờ được chuyển vào ngân sách nhà nước.

Loại mạt hạng nhất là dịch vụ lấy chồng Tàu đại lục qua các tổ chức buôn bán phụ nữ đang hoành hành gần như công khai từ hai chục năm qua. Không hiếm những nàng quá lứa nhỡ thì được bọn cò mồi tân trang, qua biên giới bỗng nhiên thành đắt giá. Có điều rất ít trường hợp kiếm được tấm chồng tử tế. Đa số các cô bị đưa đến những nơi xa xôi hẻo lánh vùng dân tộc thiểu số, gá nghĩa với những “chàng rể” bất thành nhân dạng, trong một môi trường sống vô cùng mông muội. Ngôn ngữ bất đồng, thân gái dặm trường, thậm chí còn bị bán chuyền tay qua vài ba ông chủ để rồi cuối cùng lọt vào một nhà chứa nào đó nơi đất khách, liệu còn có dám nghĩ đến ngày về cố hương?

Như trên đã nói, cũng như tệ tham nhũng, mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một thứ “văn hóa”, nếu nói theo các nhà xã hội học, hay một thứ “công nghệ”, nếu nói theo thuật ngữ của các nhà kinh tế học. Cái đáng bàn ở đây là Đảng và Nhà nước dứt khoát không thừa nhận. Kể cũng đúng thôi. Nhà nước ta là nhà nước XHCN, lấy chủ nghĩa Marx – Lenin làm kim chỉ nam. Thừa nhận loại hoạt động “đồi trụy” này thì còn gì là thể diện? Vì lẽ đó, tuy là một thực thể tồn tại khách quan, là thị trường hoạt động rất sôi nổi và đầy màu sắc, nhưng mại dâm bị vứt ra ngoài lề đường, sống vất vưởng như những cô hồn phiêu bạt, không bị chi phối bởi bất cứ chế tài nào.

Lịch sử cho biết, mại dâm, với tư cách là một loại hình hoạt động tham gia vào cơ cấu xã hội đã có từ rất lâu, chí ít ra là từ nền văn minh Hy – La, Ai Cập, Xuân thu chiến quốc… Như vậy, mại dâm là hiện tượng xã hội, chính quyền khôn ngoan là chính quyền biết cách kiểm soát nó thông qua chế tài chứ không thể triệt tiêu nó. Còn vì hệ ý thức mà sĩ diện, bỏ rơi nó là thiếu sáng suốt, sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Trước năm 1954, chắc chắn số lượng đĩ điếm trên lãnh thổ Việt Nam không đáng là bao nhưng người Pháp đã có đạo luật rõ ràng cho những đối tượng hành nghề này. Các chính quyền địa phương quản lý chị em bằng môn bài đồng thời buộc các chủ chứa đóng thuế. Mặt khác, nhằm bảo vệ sức khỏe cho gái mại dâm, tránh tình trạng gieo rắc bệnh hoa liễu, nhà nước bảo hộ còn xây nhà thương chuyên chữa bệnh phụ khoa. Ai không tin điều này xin đọc phóng sự Lục xì của văn hào Vũ Trọng Phụng. Về một mặt nào đó, có thể nói, người Pháp, tuy là thực dân nhưng cũng có một số chính sách nhân đạo. Trong bộ tiểu thuyết Ông cố vấn của nhà văn Hữu Mai có đoạn Ngô Đình Diệm vi hành ra đường phố Sài Gòn. Ngồi trong xe hơi quan sát cuộc sống dân tình, tổng thống bị các cô gái bán hoa xúm vào chèo kéo, sau khi về dinh Gia Long, được cận vệ nói rõ sự thật, ông cho gọi Tổng Giám đốc Nha cảnh sát phải triệt hết các ổ mại dâm, làm trong sạch đường phố. Em ruột ông, cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu không đồng tình với biện pháp trên. Ông ta nói đại ý rằng, một nhà nước dân chủ, văn minh phải chấp nhận hoạt động mại dâm, điều quan trọng là phải biết cách kiểm soát nó.

Thực trạng mại dâm ở Việt Nam đã trở thành quốc nạn phát triển theo kiểu phản ứng dây chuyền vì nó chưa bao giờ được nhìn nhận như một nguy cơ làm tổn thương danh dự dân tộc, băng hoại đạo đức, phá vỡ những giá trị văn hóa tốt đẹp bằng nguy cơ “diễn biến hòa bình” thường trực trong não trạng của các nhà lãnh đạo quốc gia. Mại dâm bị thả nổi thực chất là môi trường béo bở để các quan chức tham nhũng đua nhau hành lạc bằng tiền chùa và lũ đệ tử của thần Bạch My kiếm những món lợi kếch xù trên thân xác người phụ nữ. Đó là thứ quan hệ hai chiều trong một liên minh ma quỷ luôn hành xử như những băng đảng của thế giới tội phạm ngầm. Đại dịch HIV/AIDS đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Tính đến cuối năm 2011, Việt Nam với hơn 90 triệu con Lạc cháu Hồng, mà nạn mãi dâm gần như bị thả nổi triền miên, thử hỏi, đến thời điểm này chúng ta đã có bao nhiêu người nhiễm căn bệnh thế kỷ?

Bảy mươi tư năm đã qua kể từ khi Tiếng hát sông Hương ra đời, giờ, mỗi khi đọc lại tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây lời bình đầy cảm xúc của thầy Hoàng Bỉnh Nhu, cho dù ông đã thành người thiên cổ. Ông chết tức tưởi sau những năm liệt giường vì xuất huyết mạch máu não. Cô Hoàng Lệ Chi, con gái út của thầy bỏ học giữa chừng bởi nhà nghèo, có bao nhiêu tiền dồn vào thuốc thang cho bố, đành phải từ biệt bà mẹ già mắc chứng quáng gà, ra Hà Nội làm nghề rửa bát thuê. Và rồi đây liệu em có thoát khỏi kiếp đoạn trường?

 

Đ.V.S.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

 

 

Tàu Trung Quốc đâm tàu cá Philippines làm một ngư dân thiệt mạng và bốn người mất tích

TRUNG QUỐC - PHILIPPINES - Bài đăng : Chủ nhật 24 Tháng Sáu 2012 - Sửa đổi lần cuối Chủ nhật 24 Tháng Sáu 2012

Tàu Trung Quốc đâm tàu cá Philippines làm một ngư dân thiệt mạng và bốn người mất tích

Hai tàu hải giám Trung Quốc xen vào chiến hạm của Philippines để ngăn không cho bắt ngư dân trên 8 tàu cá Trung Quốc tại bãi Scarborough.

Hai tàu hải giám Trung Quốc xen vào chiến hạm của Philippines để ngăn không cho bắt ngư dân trên 8 tàu cá Trung Quốc tại bãi Scarborough.

REUTERS/Philippine Army/Handout/Files

Đức Tâm  RFI

Hôm nay, 24/06/2012, chính quyền Manila cho biết là một tàu của Trung Quốc đã « bất ngờ » đâm vào một tàu cá của Philippines ở phía bắc bãi đá Scarborough, nơi đang có căng thẳng giữa hai nước do tranh chấp chủ quyền.

Lãnh đạo Cơ quan Phòng vệ Dân sự Philippines Benito Ramos nói với AFP rằng chiếc tàu cá Philippines ra khơi hôm thứ Hai, 18/06, xuất phát từ phía bắc thành phố duyên hải Bolinao, thuộc tỉnh Pangasinan. Hai ngày sau, có tin báo là tàu đã bị đâm chìm. « Trong số 8 ngư dân, 4 người mới được cứu vớt hôm qua, nhưng 1 trong số 4 người này đã qua đời tại bệnh viện. Bốn người khác mất tích ».

Vẫn theo đại diện chính quyền Manila, các ngư dân Philippines được cứu vớt nghĩ rằng chiếc tàu đâm vào thuyền đánh cá của họ là tàu Trung Quốc, cho dù điều này chưa được kiểm chứng một cách độc lập. Vụ việc xẩy ra ở phía bắc bãi đá Scarborough, nhưng không rõ cách xa bãi đá này bao nhiêu hải lý.

Ngày 15/06 vừa qua, Tổng thống Benigno Aquino đã ra lệnh rút các tàu của Philippines ra khỏi khu vực bãi đá Scarborough, vì thời tiết xấu. Động thái này được Trung Quốc đánh giá là góp phần làm dịu căng thẳng. Đồng thời, Bắc Kinh cũng yêu cầu các tàu cá Trung Quốc ra khỏi nơi đây, nhưng nhấn mạnh là họ không có ý định rút các tàu lớn khác.

Tuần trước, Bộ Ngoại giao Philippines cho biết vẫn còn 7 tàu của Trung Quốc trong khu vực bãi đá Scarborough.

Căng thẳng gia tăng từ đầu tháng Tư, khi các tàu của Philippines tìm cách ngăn chặn và phong tỏa các tàu cá Trung Quốc đánh bắt hải sản ở Scarborough, nơi mà Manila khẳng định là thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines, chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Ngay lập tức, Bắc Kinh đã đưa nhiều tàu hải giám và ngư chính đến cứu giúp các tàu cá Trung Quốc. Đối với chính quyền Bắc Kinh, gần 80% diện tích Biển Đông, trong đó có khu vực bãi đá Scarborough, là thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Các tàu của Trung Quốc và Philippines đã đối mặt với nhau trong nhiều ngày. Trước thái độ quyết đoán của Bắc Kinh khẳng định chủ quyền tại những nơi đang có tranh chấp, chính quyền Manila cho biết có kế hoạch đưa hồ sơ này ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), có trụ sở tại Hamburg (Đức), để giải quyết.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link