Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, July 7, 2012

Lạc quan tếu!

Lạc quan tếu!

Đoàn Thi 

Sáng thứ Năm 21 tháng 6 vừa qua, sau một phiên họp “thâu đêm suốt sáng”, Quốc hội liên bang Úc đại lợi vẫn không đạt được một giải pháp nào cho vấn đề thuyền nhân. Dự luật do dân biểu độc lập Rob Oakeshott đệ trình và được Hạ viện thông qua đã bị các nghị sĩ Liên Đảng và Đảng Xanh chận lại, ngay cả bằng nước mắt của thượng nghị sĩ Đảng Xanh Sarah Hanson Young.

 

Chính phủ vẫn khăng khăng với giải pháp Mã Lai, vốn đã bị Tối Cao Pháp Viện ngăn chặn. Đối lập thì vẫn một mực bám vào giải pháp Nauru, tức giải pháp “Thái bình dương” được đề ra dưới thời thủ tướng John Howard. Vào giữa lúc vấn đề thuyền nhân đang phải “lênh đênh” như chính số phận của các thuyền nhân giữa biển khơi thì các ông bà dân biểu và nghị sĩ bận...đi nghỉ mùa Đông.

 

Chuyến viếng thăm Úc đại lợi của ông Susilo Yudhoyono, tổng thống Nam Dương, xem ra cũng chẳng mang lại chút hy vọng nào cho chính phủ trong việc tìm kiếm một giải pháp thuyền nhân. Trong một tuyên ngôn chung sau cuộc gặp gỡ tại Darwin, thủ tướng Julia Gillard và tổng thống Nam Dương cam kết đẩy mạnh những nỗ lực nhằm chận đứng nạn đưa  lậu người từ Nam dương vào Úc đại lợi. Nhưng những hứa hẹn của tổng thống Yudhoyono xem ra cũng chẳng bảo đảm chận đứng được hiện tượng chuyển lậu người vào Úc bằng đường biển.

 

Chuyện thuyền nhân có làm “mủi lòng người dân Úc và gây sóng gió tại nghị trường Quốc hội” đấy, nhưng đối với các chính trị gia cũng như đại đa số người dân Úc hiện nay, vấn đề trước mắt vẫn là thuế Khí thải, vừa bắt đầu có hiệu lực kể từ kể từ ngày 1 tháng 7 vừa qua. Lợi dụng kỳ nghỉ mùa Đông này, chính phủ cũng như đối lập tung người đi khắp nơi để tìm cách thuyết phục dân chúng về “lợi ích” hay “tác hại” của thuế này.

 

Dĩ nhiên, Đối lập thì vẫn một mực rêu rao rằng thuế Khí thải làm cho giá sinh hoạt gia tăng, trong khi chính phủ thì lại khẳng định rằng “trời vẫn chưa sập” như Đối lập luôn đoán mò; mọi sự vẫn tốt đẹp; rồi đây dân chúng Úc sẽ thấy được “lợi ích” của thuế này và nhận ra thiện ý của chính phủ.

 

Mà thật vậy, trái với tiên đoán của Đối Lập, một cuộc khảo sát do Đài ABC thực hiện cho thấy thuế Khí thải không làm cho giá hàng tạp hóa thay đổi. Mới đây, chính thủ tướng Gillard cũng đã đích thân viếng thăm 3 cửa hàng tạp hóa tại Sydney và đưa ra nhận xét rằng giá cả không thay đổi sau khi thuế Khí thải có hiệu lực. Giá cả trong các siêu thị lớn cũng chẳng thay đổi.

 

Quả thật, mọi sự xem ra vẫn như cũ. Có khác chăng là mới đây, các ông bà dân biểu và nghị sĩ liên bang lại được tăng lương thêm 3 phần trăm nữa. Chẳng hạn như lương hiện nay của thủ tướng lên đến 495.430 Úc kim, nghĩa là mỗi tuần được tăng thêm 2500 đô.

Nhưng chắc chắn đây không phải là lý do khiến cho thủ tướng Gillard và chính phủ Lao động “lạc quan”.

 

 Nếu bà và những người ủng hộ bà có lạc quan là vì vẫn tin tưởng rằng rồi đây thuế Khí thải sẽ được dân chúng Úc “đón nhận” như đã từng đón nhận thuế GST cách đây 12 năm và sẽ trả lại uy tín cho chính phủ Lao động.

 

Đây quả là một thái độ “lạc quan tếu” bởi vì, bất kể giá sinh hoạt có lên xuống hay không, bất kể Đối Lập có hù dọa hay không, lòng dân đối với bà Gillard và chính phủ Lao động xem vẫn không thay đổi. Những cuộc thăm dò mới nhất cho thấy có đến 62 phần trăm dân chúng Úc không chấp nhận thuế Khí thải. Và dĩ nhiên, sự ủng hộ dành cho Lao động vẫn không vượt khỏi làn ranh 30 phần trăm.

   

Tự lừa dối mình

 Thủ tướng Gillard vẫn không ngừng kêu gọi dân chúng hãy tự mình xem xét và phán quyết về thuế Khí thải chứ đừng “nhẹ dạ”  nghe theo lời phỉnh gạt của các “chính trị gia”, dĩ nhiên ý bà muốn ám chỉ các chính trị gia đối lập. Vậy mà khi trên 60 phần trăm cử tri Úc cho biết không ủng hộ thuế này, thì bà và chính phủ của bà lại xem thường phản ứng này.

 

Chính phủ Lao động vẫn tiếp tục tự an ủi mình bằng cách so sánh thuế Khí thải với thuế GST dưới thời thủ tướng John Howard. Thủ tướng Gillard có lẽ quên mất kinh nghiệm cay đắng mà Liên Đảng đã từng trải qua, bởi vì chính thuế GST đã làm cho Liên Đảng thất cử trong cuộc bầu cử Liên bang năm 1993.

 

Ông Peter Reith, phát ngôn viên về kinh tế  của Liên đảng đối lập lúc bấy giờ cho biết trong 3 năm từ 1990 đến 1993, ông là người đại diện chính của Liên đảng để quảng bá thuế GST. Mặc dù vào thời đó, tại Âu châu và nhiều nơi khác trên thế giới, thuế GST đang rất thịnh hành, Liên đảng vẫn không thể thuyết phục được cử tri Úc ủng hộ thuế này.

 

Năm năm sau, một lần nữa vì tìm cách đưa thuế GST trở lại mà chính phủ Howard đành phải mất hai ghế. Nói cách khác, cứ mỗi lần bầu cử mà đưa thuế GST ra là mất phiếu. Nếu phải so sánh thuế Khí thải với thuế GST, thì chính phủ Lao động nên nhớ đến bài học trên đây của Liên Đảng. Số phận của chính phủ thiểu số Lao động lại đang như sợi chỉ mành treo trên một...chiếc ghế: chỉ cần mất chiếc ghế này là chính phủ đi đoong! Theo ông Reith, nếu cần so sánh, thì có lẽ chính phủ Lao động nên so sánh thuế Khí thải với thuế thân (poll tax) do thủ tướng Anh Margareth Thatcher đề ra: sự nghiệp chính trị của nữ thủ tướng được mệnh danh là “Bà Sắt Thép” (The Iron Lady) này đã tiêu tùng vì  thuế này!

 

Dù chính phủ Lao động có biện minh thế nào đi nữa, trong cái nhìn chung của dân chúng, thuế Khí thải vẫn là thứ thuế gây tổn thất cho doanh nghiệp và như vậy hạ giảm khả năng cạnh tranh của Úc đại lợi. Mà hiện nay, trong thời buổi kinh tế toàn cầu này, cạnh tranh vẫn là mục tiêu của kinh tế.  Do đó, tại Úc đại lợi, không thể so sánh thuế Khí thải với bất cứ thứ thuế nào khác. Thuế này lại gây tranh cãi đến độ ngay cả chính phủ cũng không tìm được một lý do khả dĩ đủ thuyết phục để biện minh cho lý do hiện hữu của nó.

 

Đó là dân chúng cũng không cần phải chạy theo thủ lãnh đối lập Tony Abbott để lập lại rằng thuế này được khai sinh từ một hành động dối trá của bà Gillard. Đây mới thực sự là nguyên nhân chính dẫn đến thái độ thiếu tin tưởng của dân chúng đối với thủ tướng Gillard và thuế Khí thải.

 

Thật ra, không cần phải có thuế khí thải, ngay từ đầu chính phủ Lao động đã không được lòng dân. Theo ông Reith, kết luận duy nhất mà người ta có thể rút ra trong lúc này là Lao động cần phải thay đổi lãnh đạo và đồng thời cũng thay đổi chính sách.

 

 Đáng tiếc thay, các thành viên nội các lão thành xung quanh bà Gillard lại xem ra không có đủ uy tín, sự sáng suốt hay sự tinh nhạy để nhận ra hay đúng hơn chấp nhận cái thực tế phũ phàng  trước mắt là “cửa tử” của Lao động. Họ biết quá rõ rằng với thuế Khí thải, Lao động cầm chắc trong tay là sẽ bị đánh bại trong cuộc bầu cử Liên bang vào năm tới. Nhưng như bày thiêu thân, họ vẫn lao đầu vào chỗ chết.

 

Ông Reith viết: “Một trong nhiều vấn đề của bà Gillard chính là phe nhóm của bà, nhưng lại không thay đổi được”.

 

Một chút hy vọng trong con đường cùng

Biết mình sẽ chắc chắn thất bại trong cuộc bầu cử Liên bang vào năm tới, tại sao Lao động vẫn cố bám chặt vào thuế Khí thải? Theo ký giả Christopher Pearson của báo The Australian, chính phủ Lao động đang làm hết sức có thể để ngăn cản không cho Liên Đảng thực hiện các chương trình của mình. Một trong những chương trình mà thủ lãnh đối lập Tony Abbott luôn đề ra  như ưu tiên hàng đầu của ông là ngay trong ngày đầu tiên lên làm thủ tướng, ông sẽ đẩy lui thuế Khí thải và thuế Hầm mỏ.

 

Liệu ông Abbott có thể thực hiện được cam kết của mình không? Ký giả Pearson đưa ra một giả thuyết gần như chắc chắn rằng những dân biểu Lao động nào cương quyết bảo vệ thuế Khí thải cho đến cùng sẽ không có hy vọng được tái cử trong cuộc bầu cử Liên bang vào năm tới.

 

Cứ như đà chống đối của dân chúng đối với thuế Khí thải vẫn tiếp tục gia tăng như hiện nay và nhất là tỷ lệ ủng hộ dành cho Lao động lại không thể vượt qua được ngưỡng cửa 30 phần trăm như hiện nay, thì nếu có diễn ra một cuộc bầu cử bán phần Thượng viện Liên bang,  may mắn lắm Lao động chỉ chiếm được hai ghế tại mỗi tiểu bang.

 

Theo giả thuyết này thì ông Abbott đương nhiên sẽ nắm được phe đa số tại Thượng Viện. Với sự giúp đỡ của thuợng nghị sĩ độc lập Nick Xenophon và thượng nghĩ sĩ John Madigan, thuộc tiểu bang Victoria, ông Abbott sẽ đẩy lui thuế Khí thải và thuế Hầm mỏ một cách dễ dàng như trở bàn tay. Đó là chưa nói đến lá phiếu của một thượng nghĩ sĩ Liên Đảng cầm chắc sẽ được bầu lên tại tiểu bang Queensland.

 

Cũng  theo suy đoán của ông Pearson,  vì tổng trưởng kinh tế Wayne Swan không đạt được thặng dư ngân sách như đã hứa, thủ tướng Gillard có thể bị buộc phải cho tổ chức một cuộc bầu cử sớm vào mùa Xuân tới đây.  Dựa trên Hiến Pháp, Tổng toàn quyền Quentin Bryce sẽ không có lý do gì để không cho phép thủ tướng Gillard được tổ chức một cuộc bầu cử sớm như thế. Trong trường hợp này, một cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện cũng sẽ được tổ chức cho phù hợp với cuộc bầu cử Hạ Viện.

 

Trong lịch sử Liên Bang, ít nhất là trong một phần tư thế kỷ vừa qua,  Tổng toàn quyền thường không để cho hai cuộc bầu cử hai viện Quốc hội diễn ra vào hai thời điểm khác nhau, vì những cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện rất tốn kém.

 

Vì khôn ngoan, các chính phủ cũng thường làm hết sức có thể để tránh những cuộc bầu cử riêng rẽ như thế ngay cả khi được phép cho tổ chức bầu cử sớm, bởi vì theo tâm lý thông thường dân chúng không thích đi bầu cử nhiều lần trong cùng một năm. Hơn nữa, các cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện cũng dễ biến thành một thứ trưng cầu dân ý qua đó người dân bày tỏ sự bất tín nhiệm với chính phủ và tạo áp lực để thủ tướng phải ra đi.

 

Trong bất cứ trường hợp nào, với Lao động, bầu cử sớm chỉ có nghĩa là chấp nhận thua cuộc và nhường quyền lại cho Liên Đảng.

Điều này xem ra không phải là điều mà thủ tướng Gillard chờ đợi hay mong muốn. Dẫu biết chắc sẽ thất bại trong cuộc bầu cử Liên bang vào năm tới, bà Gillard hay người kế vị của bà vẫn cố gắng lê lết cho đến cùng.

 

Hồi tuần trước, bà Gillard và ông Greg Combet, đương kim tổng trưởng về Thời tiết thay đổi, Năng lượng và Kỹ nghệ, đã đả kích thậm tệ chiến dịch “hù dọa” của ông Tony Abbott. Theo bà và ông Combet, không chóng thì chày, bộ mặt thật của ông Abbott sẽ được lộ ra chẳng khác nào một anh “sơn đông mãi võ”. Thật ra, nói như thế cũng oan và thiếu công bình đối với lãnh tụ của một Đảng Đối Lập, bởi vì Đối lập cũng là những vị dân cử được dân chúng tín nhiệm bầu lên và họ được bầu lên với nhiệm vụ trở thành một thứ rào cản cần thiết đối với những chính sách sai lầm của chính phủ. Thuế Khí thải đã có hiệu lực, nhưng cuộc tranh luận, nhất là trong nghị trường, vẫn tiếp diễn.

 

 Chính phủ vẫn cho rằng kể từ ngày 1 tháng 7 vừa qua, Úc đại lợi bước vào một khúc quanh mới với một cuộc cải tổ quan trọng về kinh tế và môi sinh. Với 5 tỷ Úc kim được bỏ ra để bù lỗ cho những thiệt hại do thuế Khí thải có thể tạo ra, chính phủ Lao động cũng tự nhận mình là chính phủ của giới trung lưu và giai cấp lao động có thu nhập thấp.

 

 Về phía Đối lập, lãnh tụ Abbott cũng không ngừng nói rằng với thuế Khí thải, Úc đại lợi đang bước một bước thụt lùi gây thiệt  hại cho kinh tế và dĩ nhiên đời sống của dân chúng. Thực tế cho thấy bên nào cũng phóng đại về những “lợi ích” hay “thiệt hại” của thuế Khí thải. 

 

Thủ tướng Gillard vẫn một mực cho rằng chính vì chiến dịch hù dọa của Đối Lập mà dân chúng Úc đã không chịu đón nhận thuế Khí thải.

 

Kỳ thực, không đợi cho đến khi thuế Khí thải có hiệu lực, chính thái độ “không thành thật”, tiền hậu bất nhất, hứa một đàng làm một nẻo của bà Gillard mới khiến cho chính phủ Lao động lâm vào “cửa tử” như hiện nay.

 

Điều gì sẽ xảy ra nếu có một cuộc bầu cử sớm? Nếu Liên Đảng chiến thắng một cách áp đảo tại cả hai viện Quốc hội, thì luật thuế Khí thải sẽ bị đẩy lui và chắc chắn tên tuổi của bà Gillard sẽ đương nhiên được ghi đậm trong lịch sử Úc đại lợi.

 

Nhưng liệu bà Gillard có chịu bó tay đầu hàng một cách nhục nhã như thế không? Có thể làm thày mò để đoán rằng ông Abbott sẽ chỉ chiếm được đa số ghế tại Hạ viện, còn Thượng Viện thì vẫn còn do Lao động và Đảng Xanh kiểm soát.

 

Trong vai trò đối lập, chắc chắn Lao động sẽ chiến đấu cho tới cùng để thuế Khí thải và thuế Hầm mỏ không bị chính phủ Liên Đảng đẩy lui.

 

 Đây có thể là chút hy vọng còn sót lại của Lao động trong con đường cùng hiện nay.

 

Là một người đầy mưu tính, bản lĩnh và giỏi thương lượng, thủ tướng Gillard chắc chắn sẽ còn rất nhiều trò ngoạn mục để “cứu” cái ghế thủ tướng của mình.

 

Giá mà bà dùng mưu trí và thì giờ đó vào những chuyện quốc gia đại sự khác hay ít nhất chuyện “cứu” người tầm trú khỏi số phận “lênh đênh” vì chưa có “chính sách” như hiện nay thì tốt biết bao nhiêu.

 

Đoàn Thi 

 

Chân Dung & Chân Tướng

Chân Dung & Chân Tướng

Tưởng Năng Tiến

Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc Huỳnh Nhật Hải 

Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam - Huỳnh Nhật Tấn


Cách đây chưa lâu, hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất văn chương
của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

 

“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật (chả may) lại là ác mộng của một người làm thơ khác, cùng thời: 

 

“tôi sống yên ổn với những việc làm hàng ngày của mình

không định được ngày mai

có một đồng để mua cho con nửa cái bánh tráng hay hai 

cái kẹo gừng

có hai đồng cất dưới chân đèn trên bàn thờ 

lỡ khi hết dầu thắp tới bữa thiếu ruốc hết bột ngọt

mả cha cuộc đời quá vô hậu

cơm không có mà ăn

ngó lui ngó tới không biết thù ai

những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất”

lâu ngày tôi thấy quen đi

như quen thân thể của mình

tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi

buổi chiều không có cơm ăn

những con ruồi ăn nước mũi khô trên má

những đứa đau quan sát những con chuột

chết lòi ruột ở bến xe đò

những tiếng cha mẹ vợ chồng anh em

con cái chưởi bới la hét trong bữa ăn

người điên ở trần đứng làm thinh

giữa trời mưa ngoài chợ

những ngày hết gạo hết tiền hết củi

muối sống không còn một hột của tôi

những trách canh rau khoai tháng năm không có bột ngọt

hai mắt tôi mở to

đầu tôi cúi thấp

miệng tôi há ra

những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm

dồn cứng chật cuống họng"

 

(Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

 

Toàn bản bài thơ thượng dẫn vừa được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, vào hôm 11 tháng 6 năm 2012, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả:

 

“Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở Đường Tuy Lý Vương, Phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài thơ người yêu nước mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà ,năm 1988, ông có bài thơ ‘ Người đàn ông 43 tuổi nói về mình’ in ở Tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị , phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rửa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ . Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ ( Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch...”

 

Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia cho biết chi tiết hơn:

 

“Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên - Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó, theo như Hồi ký ‘Tôi bị bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông”.

Nguyễn Đính Trần Vàng Sao, ảnh chụp 3-2012. 

Nguồn ảnh:ngominh.vnweblogs.com

 

Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

Thứ Ba, ngày 31.10.1978 

Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt. 

 

Thứ Hai, 22.07.1979 

Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu. 

Gạo. 

Bây giờ ai cũng chỉ mong, không phải bữa nào cũng cơm mà sắn cũng được, mỳ hột cũng được. Miễn là dộng vào cho đầy cái dạ dày. Ước mơ của thiên hạ thì cũng đơn giản thôi: làm sao bữa nào nồi cũng đầy cơm, đầy tràn ra, đến nỗi hôi khói. Có cơm ăn với chi cũng được, với muối, nước mắm thì tuyệt rồi. Người ta không ao ước gì hơn nữa. Không có mơ ước, không có hy vọng. 

Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần...

Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng Cung:

Gót nhọc men về thung cũ

Qùi dưới chân quê

Trăm sự cúi đầu

Xin quê rộng lượng

Chút thổ phần bò xéo cuối thôn 

Phùng Quán cho biết thêm là Nguyễn Hữu Đang phải sống nhờ vào… rắn rít và cóc nhái! Ông cũng đã chọn sẵn chỗ trong “… một búi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (“Ngày Cuối Năm Tìm Thăm Người Dựng Lễ Ðài Tuyên Ngôn Ðộc Lập”. Nhớ Phùng Quán. Ngô Minh và nhiều tác giả. Việt Nam: Trẻ 2003, tr. 474).

Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước CHXHCNVN:

“Hoà bình lập lại đã hai năm, dù cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước có phức tạp, gay go thế nào thì cũng không thể coi miền Bắc như ở một hoàn cảnh bất thường để duy trì mãi tình trạng thiếu một nền pháp trị hẳn hoi…”

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…” (Nhân văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA:

“Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó...” 

“Chúng tôi biết hết những việc anh làm, nhưng chúng tôi muốn tự anh nói ra hết. Vì chỉ có như thế, anh mới hưởng được lượng khoan hồng của Đảng...” 

“CIA giỏi thật, cài anh ta vào sâu đến như thế”.

 

Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam. 

Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Trần Dần, Trần Duy, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu... đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng và qúi mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có nhận tình cảm tương tự. Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của nhiều người trong bọn họ khiến cho tiên hạ cảm thấy khó gần!

Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, họ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoạ Chân Dung của thế hệ mình và mô tả là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối”.

 

Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước, như hiện cảnh.

 

Không ít kẻ thuộc thế hệ Nguyễn Đính đã được choàng vào người những vòng hoa (giả) và họ cứ thế mà đeo mãi cho đến cuốn đời. Tội!

 

Tưởng Năng Tiến

 

 

Lý lẽ kẻ mạnh

Lý lẽ kẻ mạnh 
 

Lê Phan 

Hôm đầu tuần, blog Anh Ba Sàm đã cung cấp cho bạn bè công dân mạng bản dịch của một bài trên Baidu mang cái tựa đề “Về Nam Hải, năm ấy đã vẽ đường chín đoạn đến tận cửa nhà người ta như thế nào?”

 

Nam Hải, như chúng ta đều biết chính là Biển Ðông của Việt Nam. Tác giả ký tên Thiên Nam Ðịa Bắc Song Phi Yến, chứng tỏ là một kẻ biết cổ văn Trung Quốc, một việc hiếm có trong làng trí thức Trung Quốc hiện nay, đã lửng tửng đặt hai câu hỏi, “Ai là người đầu tiên tuyên bố Nam Hải là lãnh thổ của Trung Quốc? Và rồi căn cứ vào cái gì?”

 

Tác giả có vẻ cũng khá hiểu biết khi nhắc lại là con đường chín đoạn phát xuất từ thời chính phủ Dân Quốc. Tác giả viết, “Nghe nói năm 1946, Lâm Tuấn (?)dẫn đầu hạm đội đi thu phục nhiều đảo, gọi là thu phục, chứ tôi thấy còn có cả việc tiếp nhận phần tài sản của người thua cuộc, có những hòn đảo thực ra không biết là của ai, người Nhật chiếm, rồi lại thua chúng ta, thế là tự nhiên chúng ta liền vui vẻ đi theo hạm đội ra biển, một vị quan chức cấp giám đốc ở Bộ Ðịa Chất Khoáng Sản (?)phóng bút vẽ một cái, dùng 9 đường chấm chấm thành một cái túi lớn. Cái túi này lớn đến nhường nào? Trên bản đồ của chúng ta đành ra mở ra một cửa sổ mới tinh, chuyên để hiển thị nó. Khi quay trở về đưa in lên bản đồ của chính phủ Dân quốc, công bố với thiên hạ, và đường biên giới đã được tháo cũi sổ lồng như vậy đấy.”

Phải công nhận ông ta nói khá đúng, nhưng cũng không hoàn toàn đúng.

 

Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc quả có vẽ ra con đường chín đoạn đó, nhưng cũng chẳng cần gửi hạm đội đi đâu cả. Tất cả chỉ là dựa trên trí tưởng tượng của các vị vẽ bản đồ ở Cục Ðịa Chánh mà thôi.

 

Tiếp theo đó, tác giả nói vì đã gọi biển Nam là biển nhà, Trung Quốc bèn phải tiếp tục duy trì lập trường này, nhất là khi hàng xóm chẳng nói gì cả. Tác giả có biện minh là tại lúc đó các hàng xóm đang bận rộn, người còn lo giành độc lập, kẻ còn đang bận nội chiến.

 

Thực ra điều đó cũng không đúng nữa. Tác giả viết, “Việt Nam khi ấy còn đang đánh nhau hừng hực khí thế, vua Bảo Ðại mải lo giữ thân, chạy tới nước Pháp cầu cứu khắp nơi, cũng đâu có quan tâm được đến việc quản hồ sơ này.” Vua Bảo Ðại tuy vậy vẫn còn nhớ bảo vệ chủ quyền lãnh hải.

 

Tại hội nghị San Francisco mà hồi xưa chúng ta gọi là hội nghị Cựu Kim Sơn, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trong bài diễn văn chính thức đại diện cho Quốc Gia Việt Nam, một trong 51 quốc gia đã được chính phủ Mỹ mời, đã kết thúc với lời khẳng định như sau, “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này.

 

Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.” (bản dịch của Tập San Sử Ðịa)

Nhưng tác giả lại nói tiếp là cái trò chơi chủ quyền này cũng giống như hôn lễ Ki-tô giáo khi vị mục sư hay linh mục nói, “Nếu có ai có lý do chính đáng tại sao họ không nên kết hợp - hãy nói lên bây giờ hay là vĩnh viễn giữ im lặng.” Bởi không ai nói gì nên kẻ nào nói sẽ thắng cuộc!

 

Tác giả tuy vậy cũng tỏ ra khá độ lượng, viết, “Nhưng cái đường 9 đoạn này thực ra đã vẽ hơi quá đáng, về cơ bản đều là vẽ men theo đường bờ biển của người ta, cuộc nội chiến trong nhà người ta kết thúc, đương nhiên là cần phải đứng ra tranh luận thôi, tranh chấp Nam Sa, thế là trở nên ngày càng gay gắt.”

 

Thực ra không những men theo bờ biển của người ta mà có chỗ còn leo cả vào sân trước nhà người ta nữa. Nhưng so với những bài khác được thường xuyên đưa lên các tờ báo của nhà nước, tác giả đã tỏ ra sáng suốt hơn và có vẻ hiểu rõ lý do của sự tức giận của hàng xóm.

 

Tác giả sau đó đã khẳng khái viết lên sự thật “Cái đường 9 đoạn này rốt cuộc là gì? Nó không phải là đường cơ sở lãnh hải, mà cũng chẳng phải là đường lãnh hải, ý nghĩa pháp lý của nó rốt cuộc là gì?

 

Chính trong nhà chúng ta cũng cảm thấy hết sức chột dạ, cho nên khi công bố đường cơ sở lãnh hải vào năm 1995, ta đã không hề nhắc nhỏm gì đến nội bộ giới luật học về biển, mà gọi luôn đó là 9 đường đứt đoạn, trong số các chư vị đồng bào yêu nước có ai đó đã thử đi đếm xem từ ven biển Việt Nam đến vịnh Subic, xung quanh cái túi lớn này rốt cuộc là dùng tới mấy đường?” Chắc chắn nhiều hơn là chín đoạn nếu muốn bao gồm trọn Biển Ðông.

 

Tác giả cũng kể lại chuyện không hiểu có đúng hay không nói là các cơ quan chính quyền Trung Quốc đã cho đi thăm dò địa chất vật lý trong vùng, lúc đầu ở gần vùng biển thực sự của Trung Quốc, sau đó lấn dần, không thấy hàng xóm đánh tiếng gì, thế là đắc thắng trở về. Nhưng tác giả cũng bảo thực sự thì “xung quanh đó toàn những nước láng giềng nghèo, rất có thể là không có lực lượng giám sát không trung, nên không biết anh đang làm gì.”

 

Tác giả sau đó phân tích kỹ lưỡng các định nghĩa của luật Biển về lãnh hải và theo ông, dựa trên đường cơ sở lãnh hải thì “Nam Sa không phù hợp cho lắm.” Nhưng khổ một nỗi lâu nay dạy dân trong sách giáo khoa là Nam Sa ở “phía Nam đến bãi ngầm Tăng Mẫu” (James Shoal) nhưng nếu đã là bãi ngầm thì làm sao có thể khẳng định chủ quyền thành ra nay không dám nói ngược lại đàng phải dùng chiêu “xập xí xập ngầu.”

 

Sau khi chỉ ra rất rõ ràng là nếu tính theo Luật Biển của Liên Hiệp Quốc thì lập luận “Nam Sa” là của Trung Quốc hoàn toàn vô lý. Tác giả cũng quay sang bảo liệu có thể dùng biện luận “vùng biển mang tính lịch sử.” Tác giả có đưa ra trường hợp của Vịnh Hudson và biện minh của Canada.

 

Nhưng cũng chính tác giả đã đưa ra vấn đề của lý luận này, đó là “cái túi Nam Hải” đó bao gồm một trong những vùng nơi nhiều quốc gia vận chuyển hàng hóa qua lại bao gồm cả Mỹ và Nhật và họ đều tới hỏi, “Nghe nói các anh muốn tuyên bố đây là vùng biển mang tính lịch sử? Vậy thì chẳng lẽ sau này chúng tôi có đi qua lại phải thỉnh thị, báo trước hay sao?”

 

Bởi như trường hợp của Hudson Bay, vùng biển đó coi là nội hải, nhưng Canada không gây sự với ai nên cũng không ai gây sự với Canada. Trung Quốc gây sự với tất cả mọi người nên bây giờ tất cả mọi người đều quay lại không bằng lòng.

 

Rút cuộc tác giả đề nghị giải pháp tranh chỗ ngồi trên xe bus như sau: “Ném trước lên một cái bao, người khác muốn ngồi, liền kêu lên, ‘Có người rồi!’ Câu này có căn cứ pháp luật gì? Không có, kỳ quặc là ở chỗ mọi người nhìn thấy cái bao ấy, nghe thấy câu ấy, mà phần đông đều ngoan ngoãn tránh ra, tìm một chỗ khác. Mọi người thừa nhận là được rồi, đây gọi là sức mạnh của thông lệ.”

 

Tức là sức mạnh của kẻ ăn hiếp. Nhưng trên đời này kẻ ăn hiếp lại có thể bị kẻ khác ăn hiếp lại. Lúc đó kẻ nào mạnh nhất sẽ là kẻ thắng. Và hiện nay trên địa cầu này, kẻ mạnh nhất là Hoa Kỳ, vậy liệu Trung Quốc có chấp nhận “sức mạnh của thông lệ” đó không?

 

Nhưng điều cũng đáng nói hơn là mặc dầu những sai lầm, bài báo cho thấy cái thế kẹt của Bắc Kinh khi đã “nuốt” quá khả năng, bây giờ lùi thì mất mặt mà tiến thì cũng khó mà nuốt nổi.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link