Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, July 14, 2012

Chuyện Chử Ðồng Tử Với Nàng Tiên Dung

Chuyện Chử Ðồng Tử Với

           Nàng Tiên Dung                   

                            (I)

 

* Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

                               

    (Phóng tác từ dã sử Việt Nam)

 

               TRƯỚC KHI VÀO CHUYỆN

 

 

       LNXB:  Nước Văn Lang ta với bốn ngàn năm văn hiến đã nẩy sinh rất nhiều huyền thoại.

       Huyền thoại “Con rồng cháu tiên”, Sơn tinh Thủy tinh, Phù Ðổng thiên vương, Mị Châu Trọng Thủy v.v... đã làm chúng ta say mê từ thuở bé khi đọc sử nước nhà.

       Ở đây, Nhà Văn Trần Đình Ngọc muốn nhắc lại một câu chuyện tình vô cùng đẹp, một chuyện thần tiên, với một chút hư cấu do trí tưởng tượng cho cuộc tình tiên-tục thêm đậm đà khởi sắc. Đó là chuyện Chử Ðồng Tử, một thanh niên nghèo nàn đến không có quần áo mặc lại được sánh duyên với Công chúa - lúc đó gọi là Mị nương - Tiên Dung, con gái yêu của vua Hùng Vương thứ ba.

       Câu chuyện này cũng cho ta một khái niệm, không nhất thiết :”Con vua thì lại làm vua, Con bác sãi chùa phải quét lá đa” mà trái lại, nếu có đức, có tài - nhất là đức - thì người bần dân ở giai cấp thấp nhất trong xã hội cũng được vươn lên, được sánh ngang với công chúa là giai cấp cao nhất trong xã hội thời đó, một quan niệm xã hội rất tiến bộ trong lịch sử loài người nhất là ở thời kỳ hồng hoang. Mời bạn đọc cùng tác giả đi vào chuyện. 

 

                                         *

 

 

                                                       

         CHỬ ĐỒNG TỬ VỚI CÔNG CHÚA TIÊN DUNG

       

        Đời vua Hùng Vương thứ 3, ở khu chợ Bài, làng Chử xá, huyện Phong Châu có một cặp vợ chồng, tên người chồng là Chử Phù Vân.

         Hai ông bà Chử Phù Vân chỉ sinh hạ được một cậu con trai, cưng quí lắm, đặt tên là Chử Đồng Tử.

         Trước kia Chử ông đi bắt tôm bắt cá cũng đủ ăn; nhờ làng xóm mỗi người một tay phụ giúp, ông bà làm được ngôi nhà ba gian hai chái bằng gỗ soan ở khu chợ Bài, có sân đất nện phía trước, vườn rau nhỏ phía sau và cái cổng tre chống lên ban ngày, ban đêm hạ xuống ngăn ngừa thú vật vào sân. Bà Vân buôn rau buôn cải phụ giúp chồng, gia đình tuy chẳng gọi là giầu có nhưng cũng mát mặt, đủ ăn, đầm ấm.

       Một bữa ông Chử đi đánh giậm, bà vợ đem con  - lúc đó mới có mười tháng - gửi cho người em họ ở xóm Tây rồi ra chợ bán hàng.

 Chẳng hiểu gió thổi bay tàn lửa hay sao mà lửa trong bếp bốc lên, cháy lan qua chuồng rơm rạ dùng đun bếp ở cạnh, ngọn lửa bốc cao thiêu rụi căn nhà  xinh xắn của gia đình ông bà.

Khi người ta tri hô lên và đi gọi được ông bà Chử về thì cả cái nhà chỉ còn là một đống than hồng.

       Hàng xóm đến an ủi ông bà Chử nhưng họ cũng nghèo chỉ giúp được vài đấu gạo, mớ rau qua bữa; hai ông bà Chử phải bồng con ra bãi biển dựng tạm một túp lều làm chỗ che mưa, trú nắng. Ít lâu sau, bà Chử lên cơn bệnh và từ trần trong căn lều tồi tàn này. 

Vợ qua đời, Chử ông gà trống nuôi con lúc con mới được hơn năm, gia tư có chút gì thì đã cháy rụi theo thần hỏa, ông rất vất vả cơ cực nhưng vẫn cắn răng chịu đựng không hề than trời trách đất.

 Chử Đồng Tử lớn lên trong tình yêu thương của cha, lúc mười hai tuổi đã có thể theo cha đi bẫy chim, đánh cá làm kế độ nhật.

Rồi càng lớn, anh càng  trở nên một trang thanh niên khôi ngô, tuấn tú, tư cách hơn người. Anh có đôi mắt trong sáng với tia nhìn thẳng thắn, thân hình nẩy nở, vạm vỡ vì anh thường đến học võ với võ sư họ Chu ở xóm Đông làng Thượng kế bên. Nhưng cái quan trọng nhất trong con người anh Chử Đồng Tử là tính tình cương trực, ngay thẳng của anh. Anh cũng có lòng nhân hậu hay giúp đỡ mọi người nhất là những người đang cơn họan nạn. Một điểm đặc biệt khác là anh rất có hiếu với cha mẹ. Mẹ anh không còn nhưng anh tuyệt đối vâng lời và kính yêu bố. Nghèo, thanh đạm nhưng trong sạch còn hơn là giầu mà trọc phú, đê tiện, anh thường nghĩ vậy.

 Trước kia hai bố con  ông Chử mỗi người có  một cái khố để che thân, đi chợ đi búa. Thực sự hồi đó nước Việt Nam ta cũng còn nhiều người nghèo, đóng khố quanh năm. Vả lại đóng khố cũng là một cách ăn mặc ở thời đó, không ai dị nghị người đàn ông tứ thời bát tiết đóng khố, ngọai trừ những lễ hội cần phải ăn mặc trang trọng hơn. Chỉ cách nay khoảng hơn trăm năm, nghĩa là vào khoảng đầu thê kỷ thứ 20 (thời Pháp thuộc)nhiều dân quê vẫn đóng khố thay vì mặc những quần áo như hiện nay.

Rồi một bữa nọ. Nào có cái vụ:

“Yêu nhau cởi khố cho nhau”

như ở thế kỉ 21 này trai gái vẫn thường làm, chẳng biết phơi phóng sau khi giặt giũ ra sao mà anh Chử Ðồng Tử mất cái khố duy nhất:

”Về nhà bố hỏi qua cầu khố bay.”

Thế có chết người không kia chứ?

Nhưng ông Chử Phù Vân, đúng là từ phụ, người cha nhân từ một lòng thương con, không phàn nàn nửa lời. Giá như bây giờ, dân làng, dân phố  sẽ  làm một cái kiệu hoa như cái kiệu của hai vua Trưng Trắc và Trưng Nhị mỗi năm, khiêng ông đi diễu phố để tôn vinh ông vào ngày từ phụ, vì chẳng những ông không cằn nhằn Ðồng Tử một câu, mà còn an ủi:

         “Thôi con ạ, gió bay mất thì thôi. Của đi thay người. Hoặc giả có người nào túng nhỡ nhặt được thì để cho họ mặc, mình lấy phước. Mai mốt kiếm được mớ tôm, mớ cá bán mua lại mấy hồi.”

       

         Bố không la, lại an ủi, Ðồng Tử rất mừng. Nhưng mừng chưa được nửa ngày thì cái sầu lại tới. Cứ tồng ngồng thế này thì còn ra cái thể thống gì? Con trai hai chục tuổi rồi chứ bé dại sao, nằm chết dí trong xó lều mãi à ?

          Vô kế khả thi. Khổng Minh Gia Cát, Trang Trình, Trạng Bùng... lại không có đó cho mà vấn kế (có sao được, các ông này chưa thành hạt bụi). Ông Chử Phù Vân thấy con cứ nằm úp bụng xuống cát, mới đầu không nghĩ ra, ông nghĩ thằng con tiếc của, vài ngày là khuây. Nào ngờ con ông cứ nằm miết. Ông bố khá thông minh nên chợt nghĩ ra, thôi rồi, có một cái khố mà mình cứ “diện” hoài, thằng con lấy gì đi đây đi đó?

        Bèn âu yếm bảo con:

“Này con, lấy khố của bố mà đóng khi cần ra ngoài. Từ nay, hễ con cần khố thì con cứ lấy, bố nằm nhà và ngược lại. Con hiểu không ?”

        Dĩ nhiên, cậu con hiểu ngay: 

        “Dạ, thưa bố, con hiểu. Cám ơn bố.”

        Thế là từ đó, cái khố chung được trịnh trọng treo trên cây sào trong góc lều. Ai cần thì “diện” lên đi rồi lúc về lại treo lên sào. Người kia cần thì lấy. Thành thử hai người đàn ông, lúc làm lúc nghỉ, còn cái khố thì làm cả ngày, không mấy lúc ngơi nghỉ.

        Cuộc sống thanh đạm nhưng an hòa của hai bố con Chử ông cứ thế trôi đều.. Ngày đánh giậm, đánh lờ, câu cá, bẫy chim... được mẻ tôm, mẻ cá gì đem vào ngôi chợ Bài gần đó bán mua gạo, mua muối, mua cải, diêm quẹt hoặc những thứ cần thiết khác v.v...nhưng có cái thiết yếu nhất là cái khố thì hai bố con ông Chử chưa sao sắm được nên vẫn còn phải dùng chung một cái duy nhất. 

Cá tôm thực ra bắt được cũng nhiều mà giá quá rẻ vì gia đình nào cũng có người đi mò giậm, quăng lưới.

       Khác hẳn thời nay, thời đó tôm cá đông đặc dưới sông, dưới ao hồ nhưng dân chài lưới lại khổ vì cái nạn thủy quái như thuồng luồng, giải, bạch tuộc, ba ba khổng lồ, cá sấu... Ðã không ít người bị hại vì thủy quái ăn thịt.

 Chính Chử đồng tử đã hai lần: một lần vật lộn với một con sấu dài hơn gian nhà, một lần ở dưới sông với một con thuồng luồng  mười sáu cánh tay như loài bạch tuộc dưới biển. Anh Chử chỉ có con dao đá và phải chiến đấu đến gần kiệt lực mới thoát thân được không thì đã bị hại với hai con  ác thú này rồi.

 Người Việt lúc đó vẫn nhỏ con so với người da trắng nhưng khoẻ  hơn bây giờ. Tay vo vật cọp, beo là thường vì đàn ông thường luyện tập võ nghệ tinh thông để giữ nhà, giữ nước.

 Nhưng thủy quái rất tinh khôn, chúng chỉ lừa lúc người sơ ý không đề phòng mà tấn công nên vua Hùng vương bèn ra lệnh cho nhân dân xâm mình (chính là tattoo ngày nay) cho giống với hình thù thủy quái. Chúng tưởng đồng loại nên không tấn công. Từ đó nạn thủy quái bớt dần.

 

       Khi Chử Ðồng Tử trên hai mươi tuổi, một bữa ông Chử Phù Vân bảo con:

       “Con người, ai cũng vậy, hễ đến tuổi trưởng thành thì phải lấy vợ, lấy chồng để nối dõi tông đường, sinh con đẻ cháu. Đó là cái luật tự nhiên của Tạo hóa. Bố thấy con đã thành nhân mà vẫn chưa thành gia thất, chưa có gia đình riêng của con, bố buồn lắm! Vậy con thử coi quanh vùng xem có con bé nào coi được được mà tính tình ngoan ngoãn dễ thương thì cho bố hay rồi bố đi hỏi cho con.”

       Chử Ðồng tử nghe bố đề nghị chuyện lấy vợ thì ngượng ngùng, cứ tần ngần ngồi nhìn dải mây trắng trong khung cửa lều trên bầu trời xanh thẫm.

       Chử ông lại tiếp:

       “Ngày xưa, bằng tuổi con, bố cũng được ông nội  con đi hỏi mẹ con cho bố. Nếu ông nội  không xăng xái thì có lẽ giờ này cũng chưa có con. Bà ấy còn sống thì mày cũng có một lũ em trai, em gái rồi. Nhưng sinh mày được hơn một năm, bà ấy bị hậu sản vì đi mò cua bắt ốc sớm quá, tối về lều lại trống hốc trống hác, gió heo may mùa Ðông lùa vào cả ngày cả đêm mà bận việc lo kiếm cái ăn, bố chưa kịp bỏ giờ ra sửa chữa lại. Căn nhà ba gian gần khu chợ Bài thì trước đó đã bị thiêu rụi nên bố với mẹ con phải ra đây dựng tạm cái lều này.

Một bữa, tao không thể quên được bữa đau khổ đó. Tao đi mò giậm, lúc về thì bà ấy đã tắt thở nằm trong cái ổ rơm này mà mày thì đang nhay hai cái vú đã hết sữa của bà ấy. Tao đau đớn, khổ sở vô cùng, khóc hết nước mắt, nhưng cũng phải ráng tìm nơi an táng mồ cao mả đẹp cho bà ấy. Rồi từ đó, gà trống nuôi con, bố đã phải bế mày đi bú rình, bú chực bà tư Gấm và chị Miền ở khu chợ Bài nhiều lần, sau đó mày hơi lớn, nhai tôm nhai tép với cơm ra đút, mãi năm lên bốn, mày mới biết ăn cơm một mình, bố mới đỡ cực. Thực là  nhọc nhằn! Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ. Tao lại càng nhớ ơn ông bà nội mày đã sinh và nuôi nấng tao nên người.”

       Chử Ðồng tử nghe bố nói lòng buồn buồn. Thực lòng, anh chẳng muốn nghĩ đến chuyện vợ con. Kiếm đâu ra cô thôn nữ vào tuổi cập kê, được được người, lại ngoan ngoan nết?

Người ta giầu có, ruộng sâu trâu nái thì chưa mở miệng, gia đình nhà gái đã ưng thuận vì người ta “trông giỏ bỏ thóc”. Mình nghèo đến cái khố phải chia thời gian với bố thì ai thèm. Nếu có ngon thì cô nhỏ Trinh con ông bà Hàng đó. Coi bộ Trinh cũng có cảm tình với mình và thường khen mình có tấm thân cân đối, rắn chắc, khoẻ mạnh với khuôn mặt chữ điền vuông trượng, sau này làm nên và tính tình ngay thẳng đàng hòang.

       Nhưng con gái nào chẳng ham tiền, thời nào cũng vậy. Hai bố con chỉ có độc một cái khố thì quá khó! Anh Chử Đồng Tử vẫn lan man nghĩ.

       Phải chi thời đó đã có một nhà thơ Nguyễn Bính, chắc anh Chử  Đồng Tử đã ngâm nga:

       Con tằm được mấy tiền tơ

       Chao ơi mà ước mà mơ lấy nàng!

và hai câu:

       Nếu không có giậu mồng tơi

       Chắc là tôi đã sang chơi nhà nàng

sẽ được đổi là:

       Mình ên một khố khơi khơi

       Chắc là tôi đã sang chơi nhà nàng!

       Tâm sự của anh Chử với người yêu là cô Trinh ở khu chợ Bài thì chỉ mình anh biết, mình anh hay, chứ anh không thổ lộ với bố vì biết có thổ lộ can tràng bố cũng chẳng giúp được gì cho mình. Lực bất tòng tâm là vậy.

       Chuyện Chử ông đề nghị anh Chử kiếm vợ  chưa đi tới đâu thì khoảng sáu tháng sau, một bữa mưa to gió lớn, lều dột lung tung, ông Chử Phù Vân ngã bệnh.

       Trải qua ba ngày đêm mưa gió, chỉ cầm hơi bằng mấy con cá con tôm mới đánh được, hai bố con ông Chử thật khổ sở, thảm não. Người ta có tiền thì vài thang thuốc Nam trong chợ, mấy bát cháo hành thật nóng, nồi nước xông cho đổ mồ hôi cũng khỏi. Nhưng nghèo quá, ông bố nằm liệt ổ, anh con không cựa quậy vào đâu được.

 Cho đến một đêm không trăng sao, Chử ông trút hơi thở cuối cùng trên tay người con trai yêu quí. Trước đó, khi biết bố khó qua khỏi, anh Chử Đồng Tử ghé vào tai bố:

       “Thưa bố, bố có điều gì trối bảo, dặn dò con không?”

       Người cha đưa đôi mắt đã lạc thần nhìn con với vẻ vô cùng âu yếm. Ông nở một nụ cười gượng gạo:

       “Bố chỉ có hai điều dặn con. Một là sau khi bố chết hai năm, chứ đừng chờ ba năm, con liệu lấy một người vợ để làm bạn với con cho bớt buồn và cô đơn. Sống mình ên như thế này  vò võ buồn khổ lắm. Mà khi trái gió trở trời không ai phụ giúp, đêm bị cơn gió độc chết trong lều không ai biết. Hơn nữa, người vợ con sẽ cho con mấy đứa con - nhất là con trai - để nối dõi tông đường họ Chử chứ. Bố mong điều đó lắm. Hai là khi chôn cất bố, con lấy cái khố ra, đừng chôn theo bố kẻo uổng đi. Con đang không có cái mặc, hãy lấy ra mà mặc. Chết rồi thì có khố hay không có khố không thành vấn đề. Nghe con!”

       Anh Chử gật đầu khóc với bố:

       “Dạ, thưa bố. Con sẽ theo đúng lời bố dạy. Nhưng bố ơi, bố nỡ bỏ con một mình trên cõi đời này sao? Bố mất đi con còn ai mà sớm tối phụng dưỡng, hầu hạ, chuyện trò? Dù nhà mình chẳng có bát ăn bát để nhưng bắt được con tôm, con cá nào to, ngon, con cũng để dành kho, nấu mời bố xơi. Con chỉ mong bố khoẻ mạnh và sống mãi với con thôi bố ạ! Con không cần một sự gì khác.”

       Người cha nhìn vào mắt con, cười như mếu:

       “Sinh lão bệnh tử là lẽ thường con à. Ai rồi cũng đến lúc phải chết, phải từ giã cõi đời. Mẹ con mất rồi, bố còn có con. Bố mất trên tay con như thế này là bố mãn nguyện lắm.”

       Chử ông nói một hơi mệt quá, nằm thở dốc. Hạ cơn mệt, ông tiếp:

       “Trước đây đã có lần bố vật lộn với một con giải khổng lồ ở khúc sông làng Thượng, bố đã tưởng phải bỏ mạng với nó. Chết vậy thì uổng lắm. Chứ được chuyện trò, trối trăng với con rồi chết, bố thật vui lòng. Con nhớ phải đi kiếm lấy một người con gái. Dễ thương như con Trinh nhà ông bà Hàng thì bố ưng lắm, chết bố an lòng nhắm mắt...”

        Ðến lúc hơi thở gần tàn rồi mà Chử ông vẫn còn nghĩ đến tương lai của con, nghĩ đến người vợ đầu ấp tay gối của con, vẫn còn nhắm cô con gái chanh cốm thông minh nhất, xinh xắn nhất, được người được nết ở khu chợ Bài cho con bởi ông nghĩ, người vợ là điều hệ trọng nhất. đáng phải lưu tâm nhất trong cuộc đời mỗi người đàn ông.

(còn tiếp)

Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Trích Tập Truyện “Tình Mẹ Con” Đông A xb 2009, 17 truyện, 360 trang. Liên lạc mua sách: julie.nb.tran@gmail.com

       

 

Friday, July 13, 2012

Công an chặn, đập bể kính xe công dân

THỨ BẢY, NGÀY 14 THÁNG BẢY NĂM 2012

Công an chặn, đập bể kính xe công dân

Đăng bởi cheoreo1 lúc 11:37 Chiều 13/07/12

VRNs (13.07.2012) - Sài Gòn – Công an chặn xe anh Lê Quốc Quyết tại góc đường Hoàng Văn Thụ và đánh bể kính xe hơi của anh, lúc 23:00, ngày 13.07.2012. Trên xe của anh Lê Quốc Quyết có chị Bùi Thị Minh Hằng, chị Tân (vợ anh Điếu Cày) blogger Nguyễn Hoàng Vi và anh Lee Nguyen.

Được biết tối nay, nhiều anh chị em vong niên đã gặp nhau tại quán Hương Đồng 4 để mừng sinh nhật của các blogger Diệp Lê, Trịnh Kim Tiến và Bùi Hằng. Đến dự tiệc có nhiều blogger, hoạ sĩ, đạo diễn, nhiếp ảnh gia, nhà văn, luật sư và hai linh mục.

 

Cách vách tường thấp của bàn tiệc là các bàn của an ninh chiếm trọn. Họ ngồi đó suốt một thời gian dài chỉ với một món nhắm, để nghe ngóng tin tức, và liên tục đứng lên ngồi xuống gọi điện thoại. Bên ngoài và bên trọng chụp hình lẫn nhau.

Buổi họp mặt sinh nhật tập thể thật vui và thấm tình huynh đệ. Khi buổi tiệc kết thúc, từng người về nhà. Do có xe hơi, và một số người đang định gọi xe ôm, nên anh Lê Quốc Quyết đã tình nguyện làm xe taxi miễn phí đưa mọi người về nhà. Khi xe bắt đầu chạy từ hướng Phú Nhuận về phía Tân Bình, công an mặc thường phục đã chặn xe lại và đập bể kính xe. Mọi người trong xe đều bị thương.

Anh Lê Quốc Quyết là giám đốc một doanh nghiệp chuyên nghiên cứu thị trường và cung cấp các dữ liệu các các nhà đầu từ, đang hoạt động chính thức tại sài Gòn. Anh là em trai của luật sư Lê Quốc Quân.

Trong lúc ăn tiệc tối nay, anh Quyết cho biết hầu hết các nhân viên của anh bị công an quấy rối, liên tục gọi đi làm việc. Nhiều người bị công an đe doạ, buộc nghỉ việc, nhưng họ từ chối.

PV.VRNs

Cập nhật ..

Trao đổi giữ các nạn nhân sau khi bị khủng bố


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XUONG DUONG

__._,_.___

Hỡi Đồng Bào ! Giặc phương Bắc đang tràn vào Tổ Quốc .

Hỡi Đồng Bào !

Giặc phương Bắc đang tràn vào Tổ Quốc .

Nhục nào hơn là nhục mất giang san .

Ta thề nguyền dù thịt nát xương tan,

Không để giặc nghênh ngang trên đất Việt.

    

 Hỡi đất trời ! Hỡi hồn thiêng đất nước,

Có nghe chăng đây tiếng thét vang trời .

Tiếng thề nguyền dù thân xác tả tơi,

Không để giặc dẫm bừa lên sông núi .

 

Hỡi tuổi trẻ ! Có nghe chăng tiếng gọi,

Đây giang san xương máu của tiền nhân.

Đang đắm chìm trước thảm hoạ xâm lăng,

Quằn quại dưới gót giày quân bán nước .

 

Hỡi Anh Em ! Những người lao phía trước ,

Kia !  Mây đen vần vũ góc trời Nam .

Xé đêm trường dầy đặc của ngoại bang ,

Tận tâm huyết ta phơi bày khí tiết.

 

 Mẹ Việt Nam đang đêm ngày rên xiết,

Mẹ Mẹ ơi ! Con của mẹ còn đây .

Con thề nguyền dù có phải phân thây,

Phải cứu mẹ thóat vòng vây kẻ địch .

 

Mẹ Việt Nam ơi ! Đất trời  mù mịt,

Hãy tiếp sức con, mạnh dạng đứng lên .

Hãy cho con trổi dậy trống vang rền,

Đây Lê Chân , Triệu Chinh Nương thời đại .

 

Ta  thề nguyền lấy máu đào phơi trải,

Khắc lên trang sử mới thế kỷ này .

Nay  thế cờ vận nước đang vần xoay,

Việt Nam hỡi ! Hãy cùng nhau trổi dậy.

 

Việt Nam ơi ! Tổ quốc đang quằn quại,

Hồn Non sông ! Đất nước gọi mời.

Dân Tộc ta ! Chìm đắm chơi vơi

Việt Nam ơi ! Đây tiếng kêu đời đời .

 

LÊ CHÂN

 

 Sĩ phu ơi! Hỡi Sĩ phu ơi !

VẬN NƯỚC TANG THƯƠNG ĐẾN NGẤT TRỜI

Tổ Quốc đã mất biển dân ta đang mắc cạn
Mất Hoàng Trường sa, mất ải Nam Quan
Ải Nam Quan ơi ! Ải Nam Quan !
Còn đâu những chiến tích huy hoàng
Phi Khanh suối lệ ngày đưa tiễn
Bây giờ ôi ! Hỡi Ải Nam Quan !

Nơi đây trùng điệp núi đồi,
Tôi con én nhỏ giữa trời tang thương.
Thét cơn quốc nạn nhiểu nhương
Thét cùng nhân loại đoạn trường dân tôi.

Sĩ phu ơi !  Hỡi Sĩ phu !
Non sông bóng tối mịt mù kéo giăng.
Mê Linh trống giục rền vang,
Bạch Đằng xác giặc ngổn ngang một thời.

Ta phải trả lời quân xâm lược,
Để nếm mùi khí phách của dân ta!
Giặc vào đây phải gặp cảnh can qua,
Muôn vạn tấm lòng quyết đền ơn nước.


Ta giữ mạng để cùng em xông lướt,
Chớ thác sinh xem nhẹ tựa lông hồng.

Ơn đồng bào  là Hy Mã lạp Sơn,

Nguyện báo đáp bằng tâm hồn xương máu.

Hồn thiêng sông núi hiển linh ,

Giúp con chém cá tràng kình .

Nối chí tiền nhân đạp làn sóng dữ,
Vận nước cheo neo ta quyết vững tay chèo.

 

Lê Chân

 

LỊCH SỬ LẠI TÁI DIỄN ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN VIỆT

 

Tinh thần tự chủ và giữ vững độc lập là khát vọng của người dân Việt suốt gần 5000 dựng nước và giữ nước trước các thế lực ngoại nhân.

Trung Hoa trong quá khứ và hiện nay là Trung cộng luôn tìm mọi dịp thôn tính, xâm lăng, lấn chiếm đất biển hải đảo hòng đô hộ và đồng hóa dân Việt; nhưng luôn thất bại. Cơ hội chỉ đến với chúng khi dân Việt có kẻ vong bản và bội phản như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống .... và nay là Hồ Chí Minh. 

 

Thật khốn thay, HCM và đảng cs vì vong bản, gian ác,... đã cúi đầu, phục tòng và nhận Trung Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt, làm cha/thầy, phản bội các đảng phái quốc gia và người dân trong cao trào giải phóng dân tộc khỏi ách đô và bảo hộ của thực dân Pháp, thực hiện âm mưu "nhuộm đỏ" miền Bắc năm 1954 và miền Nam 1975.

 

Ngô Vương Ngô Quyền và trận đánh đi vào lịch sử trên sông Bạch Đằng

 Quyền lợi của đảng cs quốc tế nói chung và CSVN nói riêng đã được HCM và BCT đặt lên trên hết. Trong khi đảng CS đã tan vỡ tại Nga, các quốc gia Đông Âu thì Trung cộng và Việt cộng lại ngoan cố tiếp tục độc đảng, độc trị, độc tôn và biến người dân thành những "người máy" vô trí, vô hồn, vô cảm chỉ biết làm theo lệnh của đảng cs không hơn không kém.

 

Phúc thay, dù hàng ngàn năm đô hộ của kẻ thù phương Bắc, dân Việt có những vị cứu tinh xuất hiện để cùng với người dân hóa giải sự xâm lăng, bành trướng của "con hổ dữ" Trung Cộng. 

 

Đó là hai bà Trưng đánh đuổi quân nhà Hán dành lại chủ quyền cho người dân Việt; Ngô Quyền, quân Nam Hán; Lê Lợi, quân Minh; vua nhà Trần và Hưng Đạo Vương, quân Mông Cổ; Nguyễn Huệ quân Thanh; Ngô Đình Diệm, thực dân Pháp; và hiện nay linh mục Nguyễn Văn Lý đang bị giam cầm, vì tranh đấu không nhân nhượng đòi "tự do tôn giáo hay là chết" để chống lại sự độc đảng, độc tôn, độc trị của Việt cộng do Hồ Chí Minh vong thân, vong bản du nhập từ Nga Sô và Trung Cộng.

 

Người dân Việt trong và ngoài nước chắc chắn không thể trở thành những con người máy vô trí, vô hồn, vô cảm đối với quốc gia và dân tộc. Nhưng nam phụ lão ấu luôn tin tưởng, đoàn kết, dùng trí óc, tâm tư, tài năng, sức lực, tiền bạc một cách quang minh chính đại và luôn quảng đại cho dù "lực bất tòng tâm" tranh đấu không ngừng nghỉ chống đảng CSVN, độc đảng, độc tài, độc tôn, và cùng toàn dân đồng lòng chống lại hiểm họa Trung cộng bành trướng hiện nay, đừng chỉ cậy dựa, nhờ vả vào đồng minh Hoa Kỳ. 

 

Chúng ta hãy cầu nguyện và hiệp thông cho một ngày không xa để bạn và tôi sẽ về lại một quê hương Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền, không Việt cộng. 

 

Trân trọng,

Đặng Bảo.

 

 

DIỀU HÂU BẮC KINH NGÀY CÀNG CÔ ĐỘC

 

Nhiều người ở Việt Nam lo ngại về tham vọng bành trướng của Trung Quốc

Cho đến nay nhiều người vẫn còn tin rằng những cuộc diễu võ dương oai và phô trương của Trung Quốc chỉ là trò bịp chẳng có nguy hiểm thật sự nào.

công an Việt Nam luôn ngăn chặn người dân biểu tình phản đối Trung Cộng

 

Một số là do không có ý thức và không biết bản chất thật của bọn diều hâu Trung Hoa. Một số người khác là vì điều đó biện minh cho trạng thái khó chịu do thái độ thụ động tội lỗi của họ. Một số khác nữa vì là những kẻ bảo thủ cố cựu, dù không có chút ý thức hệ đã tiêu tán hết rồi, họ dính chặt với Bắc Kinh về mặt chính trị quá lâu và theo thói quen. Số nữa do những vụ áp phe khổng lồ đủ loại, công khai hay ám muội, trước đây hay hiện nay, đã bị cột chặt vào "Ông Anh lớn"... Tất cả đều nhìn thấy mối hiểm nguy nhưng không còn biết làm thế nào để lùi lại.

 

Nhưng hôm nay gây hấn đã cụ thể, rõ rệt và dấn sâu tới mức không ai có thể giả vờ không biết đến nữa. Tới mức đã thấy một sự lo lắng nào đó ngay trong những đám người vốn ủng hộ Bắc Kinh vô điều kiện. Thôi thì muộn còn hơn không. Hãy tha thứ cho cái bệnh cận thị chính trị và dối trá do sợ sệt hay thiển cận con buôn.

 

Ý đồ thật sự

Sự thật là, ngay từ lúc khởi đầu của mọi khởi đầu trong cuộc tấn công của họ, cần phải nhận rõ ý đồ thật sự của những người lãnh đạo Trung Quốc muốn thôn tính hầu hết không gian biển đảo trên vùng biển Đông Nam Á.

 

Hành động đó, được chuẩn bị từ rất lâu bằng các bản đồ, các cuộc tuyên truyền dựa trên một thái đồ mềm yếu, thậm chí đồng lõa công khai của các thế lực thực dân và tân thực dân, đã bắt đầu một cách cụ thể bằng việc chiếm đóng đẫm máu Hoàng Sa năm 1974.

 

 Rồi chiếm đóng, cũng đẫm máu như vậy, Gạc Ma và các đảo khác của Việt Nam ở Trường Sa, năm 1988. Năm 2009, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên 80% biển Đông Nam Á tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, khẳng định về chính trị, thiết lập về pháp lý từ Bắc Kinh, về hành chính từ Hải Nam, tăng cường quân sự cả bằng nhân lực và bằng trang bị kỹ thuật cao và siêu cao, gần đây hơn là rao mời thầu 9 lô có tiềm năng dầu lửa nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gửi đến Trường Sa các tàu tuần tra vũ trang “ sẵn sàng chiến đấu “ đã bắt đầu truy đuổi một tàu của Việt Nam...

 

 

Chẳng còn nghi ngờ gì nữa: rất đồng bộ và đều chứng tỏ Bắc Kinh không chơi trò bịp, rằng họ đã lao vào vòng cuốn của một tấn công mù quáng mà họ không còn biết đâu là chỗ dừng. Toàn bộ cuộc leo thang đó chỉ có thể dẫn đến đổ máu, tàn phá, đổ nát và đau khổ. Chắc chắn, trước máu và đau khổ của nhân dân, tất cả cái đám lãnh đạo "cộng sản", "xã hội chủ nghĩa", "quốc tế vô sản" vĩ đại tỷ phú đôla Mỹ kia đã nhiều lần chứng tỏ chúng không hề đắn đo: đè nát các sinh viên của nhân dân dưới xích xe tăng, xả súng vào những người bảo vệ các đảo của mình đang sắp chìm giữa biển khơi, quay phim và cho phát đi một cách vô liêm sĩ tội ác đó, đầu độc, tra tấn, bỏ tù chung thân hàng trăm nghìn đồng bào của họ ...

 

 Đấy là chuyện thường ngày của chính quyền của họ, chỉ dựa trên một đạo luật trung cổ duy nhất: giết sạch những kẻ yếu hơn mình và những ai chống cự lại...

"Từ khi kinh tế của họ tăng trưởng mạnh, họ gào thét đòi hải chiến trên khắp các vùng biển mà lại bắt chước một loài chim khác: con đà điểu. Ai cũng biết cái con chim to sụ ấy, giữa sa mạc mênh mông, dấu đầu sau một hòn sỏi mà cứ tưởng không ai nhìn thấy mình vì chính nó không nhìn thấy ai cả ... Trong khi, làm thế, nó càng phơi cái mông to tướng của nó ra trước mắt mọi người."

 

Được rồi, nhưng hãy xem: cái nước Trung Hoa muốn tự coi là hiện đại ấy không phải là thế giới. Chỉ là một bộ phận. Và cái bộ phận ấy, dù lúc này có đông và mạnh về kinh tế đến mấy, vẫn phải phụ thuộc một cách sinh tử vào bộ phận khác đông hơn và mạnh hơn nhiều. Bọn diều hâu Bắc Kinh cứ nhìn mãi vào mỗi cái rốn của mình đã hóa thành cận thị. Từ khi kinh tế của họ tăng trưởng mạnh, họ gào thét đòi hải chiến trên khắp các vùng biển mà lại bắt chước một loài chim khác: con đà điểu.

 

Ai cũng biết cái con chim to sụ ấy, giữa sa mạc mênh mông, dấu đầu sau một hòn sỏi mà cứ tưởng không ai nhìn thấy mình vì chính nó không nhìn thấy ai cả ... Trong khi, làm thế, nó càng phơi cái mông to tướng của nó ra trước mắt mọi người. Và dư luận công chúng toàn cầu ngày càng không thể chịu đựng được cảnh tượng cái mông to sụ của đám lãnh đạo Bắc Kinh, cái ngạo mạn trần trụi lông lá cùng những cái nhọt sưng phù của nó.

 

Ngây thơ

Ngày càng nhiều người, như kẻ đầy tớ của các vị là tôi đây, đã quyết liệt chiến đấu chống xâm lược của Mỹ, vì nền độc lập thật sự của Việt Nam, và do vậy, về khách quan đã từng đứng bên cạnh nước Trung Hoa của Mao và Chu Ân Lai mà chúng tôi từng coi là những người tiến bộ, những đồng minh trung thành của cuộc chiến đấu giải phóng các dân tộc. Ngày ấy chúng tôi ngây thơ biết bao!

Nhiều người trong chúng tôi vẫn mãi ngưỡng mộ tất cả những đóng góp của nền văn minh Trung Quốc cho nhân loại.

 

 Nhưng nhiều người trong chúng tôi vốn cũng say mê thư pháp, hôm nay rất mong ước được vung tay phóng bằng lôi chữ thảo lên bức tường Trung Nam Hải, dinh thự của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh, một dòng này: “Thật may là có người Mỹ!" Vâng, tôi lặp lại lời đó, dù là với đắng cay và một đau nhói thật trong lòng khi tôi nghĩ đến những đau khổ mà Johnson, Nixon, Mac Namara với Kissinger đã bắt hàng triệu người Việt Nam phải chịu đựng. Nhưng tôi nói lên và viết lên điều đó chẳng chút ngập ngừng dưới ánh sáng trần trụi của ngày hôm nay: “Rất may là có người Mỹ, và cả người Nhật, ngưới Ấn, người Úc, người Nga, người châu Âu, người Philippin và các dân tộc khác của ASEAN đang ngẩng cao đầu!"

 

Chỉ có một đám cận vệ già cỗi chậm trễ và cố chấp còn dám bênh vực cho sự xâm lược của Trung Quốc, như cái bà nhà báo của tờ Nhân Đạo, trong một bài viết dối trá thảm hại. Chẳng chút khách quan bà lần theo dòng các sự kiện để nói rằng Trung Quốc chống lại một cuộc bao vây do Hoa Kỳ gây ra. Mọi người đều thấy rằng hoàn toàn trái ngược lại, Hoa Kỳ đã kiên nhẫn hy vọng, trì hoãn sự can thiệp của họ, hy vọng một thái độ biết điều của Trung Quốc.

 

 

"Nhiều người trong chúng tôi vẫn mãi ngưỡng mộ tất cả những đóng góp của nền văn minh Trung Quốc cho nhân loại. Nhưng nhiều người trong chúng tôi vốn cũng say mê thư pháp, hôm nay rất mong ước được vung tay phóng bằng lôi chữ thảo lên bức tường Trung Nam Hải, dinh thự của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh, một dòng này: “Thật may là có người Mỹ!""

 

 

Họ đã cố thương lượng trong một tình thế mà các công ty dầu lửa của họ bị đe dọ, các tàu của họ bị tấn công trên đường biển quốc tế (UNSS Impeccable), rất nhiều lần họ đã khẳng định sự trung lập của họ về các “vùng tranh chấp", và làm điều đó khi đồng minh của họ bị tấn công.

 

 

Bắc Kinh không cho họ có chọn lựa nào khác ngoài cách triển khai một lực lượng chiến lược nhằm bảo vệ tự do lưu thông quốc tế - tức cũng là của nước Pháp – trong không gian biển sống còn đối với nhiều nước. Hoàn toàn hợp pháp, họ cũng phải cứu giúp các đồng minh của họ là nạn nhân của cuộc cướp bóc kinh khủng của Trung Quốc dưới hình thức “đường lưỡi bò" được Bắc Kinh thông báo rất chính thức từ năm 2009 tại Liên Hiệp Quốc.

 

 

Những sự kiện mới đây ở Scarborough hẳn đã tạm thời làm giảm nhuệ khí săn mồi của Bắc Kinh. Đơn độc, chắc chắn người Philippines không thể ngăn chặn Trung Quốc lấn tới và máu đã có thể đổ. Thật may là người Mỹ đã có mặt ở đấy bên cạnh Philippines và đã chứng tỏ đàng hoàng. Không có họ và khẳng định quyết tâm của họ ở lại trong khu vực, có thể luật biển được Quốc hội Việt Nam thông qua còn chưa ra đời, dù nó là kết quả của nhiều năm đấu tranh nội bộ và dũng cảm của những người yêu nước Việt Nam.

 

 

Bài học lịch sử

Còn về cái lý lẽ hàng đầu, thực tế là duy nhất và lố bịch của Bắc Kinh là uy hiếp bằng quân đội, hung hăng tung ra cái bóng ma của một cuộc tràn ngâp bằng đoàn quân khổng lồ và được siêu trang bị của họ, thì này Bắc Kinh, hãy suy nghĩ lại một chút đi.

 

 

Dù chẳng có chút lương tri nào, các nhà chiến lược bàn giấy lạnh lùng ấy quá biết rằng khó nhất không phải là đưa các binh đoàn, với xe tăng và máy bay vào một nươc láng giềng. Họ đã thấy rõ điều đó hồi 1979 rồi.

 

Khó nhất thậm chí không thể làm được là ở lại đấy. Họ quá biết một quả lựu đạn đơn giản thôi, một quả bom tự tạo thôi cũng có thể phá tan một chiếc máy bay, một kho quân sự. Chỉ cần một bàn tay, thậm chí bàn tay trẻ em đặt thôi, nó có thể phá tan một chiếc tàu, một căn cứ quân sự, một giàn khoan dầu ...

 

Kỹ thuật tàn phá tinh vi phức tạp nhất cũng chẳng là gì cả trước ý chí kháng chiến của một nhân dân ở tại quê hương mình, trên đất đai của tổ tiên mình, ý thức về quyền chính đáng và về nền văn hóa của mình.

 

 

Đấy là bài học của Lịch sử, luôn luôn giữ nguyên giá trị và riêng dành cho bọn háu chiến tranh ở Bắc Kinh suy nghiệm...

 

 Nếu bọn hiếu chiến điên cuồng Trung Hoa chơi với lửa thì chúng sẽ bị thiêu cháy bởi ngọn đuốc Việt Nam. Và các ngọn đuốc khác nữa. Và toàn bộ nước Biển Đông cũng không đủ để dập tắt đâu!

 

 

"Tình thế đang ngày càng nghiêm trọng chẳng còn chừa chỗ cho những bào chữa, cho chỉ những tuyên bố về nguyên tắc, cho những chần chừ tránh né, cho những cuộc thăm viếng hữu nghị dối trá. Gỡ mặt nạ xuống đi mà chọn lấy chỗ đứng rõ ràng và tỏ rõ mình là ai. Xác định rõ ranh giới không thể vượt qua, với phẩm cách và quả quyết. Ở cấp độ chính trị cũng như trên thực địa."

 

Nếu bọn hiếu chiến điên dại Bắc Kinh đẩy tới nữa những hành động tấn công và cướp bóc có tính nhà nước của chúng, một ngày nào đó chúng sẽ đổ máu. Chắc chắn. Và ngày đó Bắc Kinh sẽ mất sạch tất cả kể cả an ninh nội địa của họ trong một sự suy sụp quốc gia không đường quay lại, đau đớn và ô nhục. Đến lúc đó bầy diều hâu sẽ phải ra quầy thanh toán mà trả nợ cho nhân dân của chúng.

 

Những kẻ đã ủng hộ chúng hay cúi đầu quá lâu trước chúng, do vậy mà khuyến khích cuộc cướp mồi, cũng phải thanh toán trong đất nước của mình. Cái cơn ham muốn thống trị điên cuồng bằng nanh và vuốt đó quá hiểm nguy đối với chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc và với nhân dân của họ, quá chắc chắn sẽ thất bại, đến mức nó mang màu sắc tự sát.

 

 

Trong khi có thể có một dường lối khác. Đường lồi thương lượng. hòa bình, trung thực, đa phương, tôn trọng chặt chẽ luật pháp quốc tế. Đó là đường lối của một cường quốc xứng đáng với danh xưng ấy như Trung Quốc có thể là vậy. Một đường lối cơ sở trên sự tôn trọng hoàn toàn đối với các láng giềng của mình trong hợp tác lành mạnh, không thiên vị và cùng có lợi. Trong sự tôn trọng quyền của các dân tộc, tôn trọng các nền văn minh và các quyền của con người.

 

Đấy là cách tốt nhất cho Bắc Kinh để gìn giữ an toàn biên giới, tăng cường sức mạnh quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị bằng một sự phát triển kinh tế vững chắc và tạo ra một tình thế công bằng xã hội êm thấm. Sức mạnh và uy tín của Trung Quốc nhờ đó sẽ được tăng cường và sẽ phát triển bền vững.

 

Khi đó Trung Quốc sẽ có thể trở thành một cực hấp dẫn không chỉ đối với châu Á mà cả toàn cầu chứ không phải, như hiện nay, là một kẻ xấu xí nguy hiểm chẳng bao lâu sẽ là mục tiêu của các liên minh tự vệ hùng mạnh. Chọn con đường bạo lực, bành trướng, đe dọa chiến tranh, Bắc Kinh đã chọn con đường ngược lại: con đường đơn độc, tự cô lập, chắc chắn sẽ chặn đứng phát triển, rất nhanh chóng đưa đến suy thoái.

 

 

Lãnh đạo Việt Nam?

Còn đối với một số lãnh đạo Việt Nam, đã đến lúc để họ chọn con đường của họ trước cuộc tấn công đang tăng lên của Trung Quốc vào đất nước và các tài nguyên của nó, chống lại nhân dân và tương lai của dân tôc.

 

 

Tình thế đang ngày càng nghiêm trọng chẳng còn chừa chỗ cho những bào chữa, cho chỉ những tuyên bố về nguyên tắc, cho những chần chừ tránh né, cho những cuộc thăm viếng hữu nghị dối trá. Gỡ mặt nạ xuống đi mà chọn lấy chỗ đứng rõ ràng và tỏ rõ mình là ai. Xác định rõ ranh giới không thể vượt qua, với phẩm cách và quả quyết. Ở cấp độ chính trị cũng như trên thực địa.

 

Nếu những người lãnh đạo không làm điều đó, thì nhân dân sẽ tự mình đảm nhiệm lấy mà làm khi cuộc leo thang của Trung Quốc khiến cho việc đàn áp các hành động kháng cự lành mạnh và hợp pháp của nhân dân trên đường phố, trên báo chí, ở Quốc hội, kể cả trong một bộ phận quân đội cảm thấy bị sỉ nhục, sẽ ngày càng không thể thực hiện được nữa.

 

Hợp tác với Bắc Kinh hôm nay đã phơi bày rõ diện mạo của một liên minh với ma quỷ trong một sự quy phục không thể chấp nhận. Và những ai còn nán lại trong hợp tác mang tính khổ dâm ấy rất có nguy cơ chẳng bao lâu nữa đâu sẽ phải chia sẻ nổi cô độc đắng cay của những kẻ mà họ bám theo và đã đưa họ đến ngõ cụt.

 

Andre Menras (tên tiếng Việt: Hồ Cương Quyết), một người Pháp, nhập quốc tịch Việt Nam năm 2009. Bài viết này được tác giả viết bằng tiếng Pháp, được nhà văn Nguyên Ngọc dịch sang tiếng Việt.

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link