Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, July 26, 2012

Nhận định về ý nghĩa lịch sử 30-4-1975,

Nhận định về ý nghĩa lịch sử 30-4-1975,

 “QUỐC GIA THUA ÐỂ THẮNG, CỘNG SẢN THẮNG ÐỂ THUA”

 

Thiện Ý

·       Bài này được viết cách nay nhiều năm, được phổ biến nhiều lần vào các Tháng Tư Đen và lần đầu tiên đã được nhiều báo đăng tải trong đó có báo Người Việt đăng vào dịp 30-4 năm nào (không nhớ rõ năm) cùng trang với bài viết của Ông Bùi Tín, một đảng viên cộng sản phản tỉnh, viết cảm nghĩ về ngày 30-4-1975.

·        Nhân vụ việc báo Người Việt cho đăng tải một bài viết của một độc giả bút danh Sơn Hào, nội dung xuyên tạc sự thật lịch sử và thực tiễn, nhục mạ Việt quốc, chúng tôi sẽ lần lược gửi lại một số bài viết đã phổ biến trước đây liên quan đến cuộc chiến Quốc-Cộng tại Việt Nam và ý nghĩa của sự kết thúc cuộc chiến này vào ngày 30-4-1975.

 

 

      Ðúng 37 năm trước đây, ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc nội chiến ý thứ hệ Quốc-Cộng giai đoạn 2 tại Việt Nam đã chấm dứt sau 21 năm diễn biến khốc liệt (1954-1975). Một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt như thế, nhưng đã kết thúc nhanh gọn và khá bất ngờ với cả hai phe bản xứ tham chiến: Việt QuốcViệt Cộng.

      Sau cuộc chiến, đã có nhiều cách lý giải và đánh giá về sự kết thúc chiến tranh Việt Nam một cách không bình thường. Riêng chúng tôi, nhân ngày 30 tháng 4  lần thứ 37 hôm nay, chỉ xin nhắc lại một cách đánh giá tổng quát đã được đưa ra chỉ vài năm sau cuộc chiến chấm dứt (1), để quý độc giả cảm nghiệm xem có đúng với những gì đã và đang xây ra trên thực tế hay không. Ðó là ý nghĩa lịch sử về Ngày 30-4-1975: “Quốc gia thua để thắng, Cộng sản Thắng để thua”. Vì sao?

        Vì cả lý luận lẫn thực tiễn, chẳng cần đợi sau 37 năm sau, mà đã từ lâu,ngày một khẳng định cho sự đánh giá tổng quát này.

      Thật vật, vào ngày 30-4-1975 chấm dứt chiến tranh và một thời gian sau đó, quả thực nhiều người đã nghĩ rằng: Ðảng CSVN và chế độ độ XHCN độc tài Miền Bắc đã thắng người Việt Quốc Gia và chế độ dân chủ VNCH ở Miền Nam Việt Nam? Ðiều này dễ hiểu, vì dưới cái nhìn hiện tượng, trong một cuộc chiến giữa hai phe, bên nào tiêu diệt được đối phương, chiếm được mục tiêu sẽ là kẻ chiến thắng. Công sản Bắc Việt đã đạt mục tiêu thôn tính Miền Nam bằng chiến tranh vào ngày 30-4-1975,thì như vậy cứ nhìn hiện tượng rõ ràng phe CSVN đã thắng phe Quốc Gia Việt Nam (QGVN). Tuy nhiên chẳng bao lâu sau đó, thực tế đã dần dần ghi nhận và cho đến hôm nay có thể khẳng định không sợ sai lầm rằng: “Cộng sản  đã THẮNG để THUA”. Cái chiến thắng mà họ có được, chỉ là “ Một chiến thắng biểu kiến” (giả tạo). Và ngày 30-4-1975 chỉ là điểm mốc thời gian khởi đầu một quá trình đưa CSVN đến sự thua bại hoàn toàn vào cuối quá trình này.Vì sao?

      Vì CSVN vốn là công cụ bành trướng chủ nghĩa thực dân mới của Ðế quốc Ðỏ Liên Xô trong thời kỳ “Chiến Tranh Ý Thức Hệ” diễn ra dưới hai hình thái “Chiến Tranh Lạnh” giữa các nước giầu và “Chiến Tranh Nóng” nơi một số các nước nghèo, trong đó có Việt Nam được chọn làm tiền đồn của hai phe tư bản và cộng sản (Chiến lược quốc tế cũ). Do đó ý đồ và mục tiêu của đảng CSVN không thể khác ý đồ và mục tiêu của đảng Cộng Sản Liên Xô (CSLX). Như vậy, thực tế sau ngày 30-4-1975, nếu là một “Chiến thắng thật”, CSVN phải được Liên Xô và các nước “Xã Hội Chủ Nghĩa anh em” hổ trợ tích cực, toàn diện và vô điều kiện để xây cựng thành công chủ nghĩa xã hội tại thuộc địa kiểu mới Việt Nam, phát huy thắng lợi để tiếp tục đẩy mạnh “Chiến tranh Cách Mạng”, “Chiến tranh Giải phóng” đến các nước trong vùng như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Ðiện, Mã Lai. Phi Luật Tân.v.v...Thế nhưng thực tế hoàn toàn khác: Tất cả những điều đáng lẽ phải xẩy ra đó đã không xẩy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.

      Thực tế sau đó Liên Xô đã thất bại trong nỗ lực “Cải Tổ” (Glasnost) và “Tái cấu trúc” (Perestroika) đi đến sụp đổ, kéo theo sự tiêu vong các nước XHCN Ðông Âu. Trung Cộng thực hiện chính sách “Mở cửa” làm ăn với Tư Bản. Công cụ CSVN vội đưa ra chính sách “Ðổi Mới” theo gương “Cải Tổ” Liên Xô (1986). Rồi vội cầu hoà với Trung Cộng và học tập lý luận sáng tạo mới của nước đàn anh xấu bụng và có tham vọng bá quyền này, rằng: Chủ Nghĩa Xã Hội cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường” được Việt cộng hoá thành con đường “Ðổi mới” qua “Kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”(!?!).

      Ðây là lối lý luận ngụy biện, cưỡng ép nhằm che đậy thực trạng và chiếu hướng mới không thể đảo ngược tại Việt Nam cũng như toàn cầu: Chủ nghĩa xã hội đã phá sản, đã tiêu vong tại Nga Xô, đang tiêu vong tại Việt Nam và các nước XHCN còn lại (Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba).

      Quá trình tiêu vong CNXH tại Việt Nam khởi đi từ ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Việt cộng đã lý luận cưỡng ép, ngụy biện, vì nó trái ngược với thực tế. Thực tế phát triển trong môi trường kinh tế thị trường không thể định hướng XHCN, mà tất yếu sẽ phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa. Trong môi trường này, tất yếu nhà nước XHCN sẽ bị tư bản hoá, chế độ chuyên chính vô sản sẽ được dân chủ hoá từng bươc, và các cán bộ đảng viên cộng sản đã và đang được tư sản hoá trở thành những nhà tư bản Ðỏ, những “Đại gia Đỏ vỏ xanh lòng”. Chiều hướng phát triển này đã được thể hiện ngày càng rõ nét trên thực tế tại Việt nam, ai cũng có thể thấy và kiểm chứng được.Một chiều hướng không thể đảo ngược như từ ngữ Việt cộng quen dùng sau “Chiến thắng 30-4-1975” để khẳng định con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội là một tất yếu đối với Việt Nam và toàn thế giới !!!

      Và thực tế như thế rõ ràng là ngày 30-4-1975 “Cộng sản THẮNG để THUA” cuộc thực sự vào cuối quá trình của sự tiêu vong chế độ XHCN về mặt bản thể. Bởi vì, cuối cùng thì mục tiêu và lý tưởng của những người CSVN đã không đạt được. Trái lại, thực tế đã thúc ép, dẫn dắt và buộc được CSVN phải đi vào quỹ đạo (Tự do, kinh tế thị trường) của đối phương (Việt quốc) và thực hiện theo đúng lý tưởng của người quốc gia (Tư do , dân chủ, nhân quyền tất thắng)và mục tiêu tối hậu (Dân chủ hoá Việt Nam, phát triển toàn diện đất nước trong nền kinh tế thị trường) của đối phương (Việt quốc).Đây mới đúng là “Chiều hướng mới không thể đảo ngược” (Dân chủ pháp trị tất thắng độc tài toàn trị)

      Thật vây, đối phương của Việt cộng là những người Việt Quốc Gia, lý tưởng và mục tiêu đấu tranh trước sau như một: tiêu diệt độc tài, xây dựng chế độ dân chủ tự do, xã hội công bằng, phát triển toàn diện đất nước đến phú cường, văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại.

      Và vì vậy, kể từ sau ngày giành được độc lập từ tay thực dân Pháp vào năm 1954, mong muốn chân thành của những người Việt Quốc Gia ở Miền Nam Việt Nam, kẻ cầm quyền cũng như dân giả, là thiết lập một chế độ độc lập dân tộc, dân chủ tự do (Việt Nam Cộng Hoà) và phát triển toàn diện Miền Nam đến giầu mạnh. Thành quả mong muốn này sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp chính trị (dân chủ), kinh tế (giầu mạnh), xã hội(công bình) khả dĩ đánh bại chế độ của những người Cộng sản Bắc Việt: chính trị (độc tài toàn trị), kinh tế (nghèo đói), xã hội (áp bức, bất công), mà không cần xử dụng sức mạnh quân sự tiêu diệt đối phương (Việt cộng).

      Nói cách khác, thay vì dùng chiến tranh để áp đặt mô hình chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa xã hội, hai chế độ chính trị đối nghịch trên hai Miền Bắc, Nam sẽ có thời gian và cơ hội thi đua thực hiện mô hình chính trị, kinh tế, xã hội của mình, chờ cơ may thống nhất đất nước một cách hoà bình, thông qua con đường hòa bình và dân chủ. Lúc đó, mô hình xây dựng và phát triển đất nước nào có hiệu quả thực tiễn sẽ ưu thắng, sẽ được nhân dân hai miền chọn lựa bằng lá phiếu của đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý tự do thực sự, có giám sát quốc tế nếu cần.

      Thế nhưng ước muốn chân thành và hết sức có lợi cho đất nước và dân tộc trên đây của những người Việt quốc gia ở Miền Nam đã không được những người CSVN ở Miền Bắc đáp ứng.

       Bởi lý tưởng và mục tiêu của những người CSVN hoàn toàn khác biệt với lý tưởng và mục tiêu của người Việt quốc gia. Sự khác biệt rõ nét nhất là Người Quốc Gia hành động tất cả vì Quốc Gia Dân Tộc, cho Tổ Quốc Việt Nam, trong khi những Người Cộng Sản Việt Nam hành động tất cả vì Quốc Tế Cộng Sản, cho Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô. Do đó, để làm tròn nghĩa vụ công cụ bành trướng hầu áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên cả nước, đảng CSVN đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, đẩy chính quyền và nhân dân Miền Nam Việt Nam vào một cuộc chiến tranh tự vệ và Hoa Kỳ có cớ can thiệp ngày càng sâu rộng vào chủ quyền VNCH.  Cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn này đã kéo dài hơn 20 năm (1954-1975), sát hại hàng triệu sinh linh, tàn phá đất nước, di hại lâu dài nhiều mặt cho đất nước và dân tộc.

      Nhưng rồi sau cùng thì cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn cũng đã phải kết thúc và đã kết thúc một cách không bình thường, do sự sắp xếp tiền định của ngoại bang, đã để cho CSBV “thắng” cuộc chiến một cách dễ dàng, không cần chiến đấu(vì đối phương bị ép buộc đầu hàng) không cần giữ đất và không đủ người để tiếp thu (vì bất ngờ, tốc độ rút lui của VQ nhanh hơn tốc độ tiến quân của VC)

      Chính vì sự kết thúc chiến tranh không bình thường này, mà ngay từ những ngày tháng năm đầu, khi cuộc chiến vừa tàn, người Việt Quốc Gia ở Miền Nam không khỏi nghĩ lại nhận định có tính tiên liệu của hai ngoại nhân. Một là Tướng độc nhản Moise Dayan, Bộ Trưởng Do Thái lúc bấy giờ khi đến thăm Miền Nam; hai là Sir Wilson. một chuyên viên Anh quốc làm cố vấn về du kích chiến cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam; Cả hai ngoại nhân này đều có chung nhận định đại ý  “Muốn chiến thắng cộng sản tại Việt Nam, chỉ còn cách cộng sản hoá Nam Việt Nam”. Nay thì Miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản hoá sau ngày 30-4-1975. Chế độ cộng sản đã thiết lập 37 năm qua trên toàn cõi Việt nam. Như vậy phải chăng “Quốc gia đã THUA để THẮNG” “Cộng sản Thắng để thua”

        Nếu đúng như vậy thì tại sao và QUỐC thắng CỘNG như thế nào?

      1.- Tại vì mục tiêu và lý tưởng đấu tranh của người Việt Quốc Gia trước sau như một, vẫn là chân lý tất thắng của thời đại (độc lập dân tộc, tự do dân chủ, nhân quyền và chủ nghĩa quốc gia), có chính nghĩa, đáp ứng đúng khát vọng toàn dân(Ðộc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc). Chân lý, chính nghĩa và khát  vọng ấy, nếu người Việt Quốc Gia đã mất cơ hội thành đạt trước 30-4-1975, trong chiến tranh tự vệ, trên chiến trường, thì hôm nay, sau 37 năm kiên trì tiếp tục cuộc đấu tranh cho lý tưởng và mục tiêu của mình, đã và đang buộc được CSVN phải mặc nhiên tự thú sai lầm, phải sửa sai và từng bước lùi dần về phía dân chủ, trả lại dần dần cho nhân dân quyền tự do và các quyền dân chủ, dân sinh và  nhân quyền căn bản..

         Mặc dầu cho đến lúc này, đảng CSVN chưa dám công khai thú nhận sự chọn lựa con đường XHCN là SAI LẦM, tác hại toàn diện cho đất nước và dân tộc. Ðồng thời họ cũng chưa dám công khai thừa nhận  lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của người Việt Quốc Gia theo đuổi từ bao lâu nay là ÐÚNG, có lợi cho đất nước và dân tộc. Thế nhưng, tất cả những gì  chế độ CSVN đã và đang thực hiện, đem lại phần nào những hiệu quả thực tế hôm nay, chính là họ đã làm theo sách của người Quốc Gia. Nghĩa là những người CSVN đã và đang bị buộc phải làm, không thể khác hơn, những gì mà lý tưởng, mục tiêu và con đường mà người Quốc gia theo đuổi. Ðối với người Việt Quốc gia quan niệm chiến THẮNG trong cuộc đấu tranh, không nhất thiết phải là lật đổ, tiêu diệt đối phương để độc quyền thực hiện lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của mình, mà chỉ cần bất cứ ai, lực lượng nào, kể cả đối phuơng VC thực hiện được lý tưởng của mình. Vì vậy nếu người cộng sản Việt nam chỉ cần thực hiện đúng lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của người Việt Quốc Gia, thì điều đó đủ yếu tố xác địn “QUỐC ÐÃ THẮNG CỘNG và cuộc đấu tranh chống cộng sẽ chấm dứt.

      2.- Vậy QUỐC thắng CỘNG như thế nào?

       Chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam do đảng CSVN áp đặt tại Việt nam đã và đang trên quá trình tiêu vong và đã bước vào giai đoàn cuối cùng: Tiêu vòng hoàn toàn về mặt bản thể trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”. Trong môi trường mật ngọt này,từng bước tịnh tiến cán bộ đảng viên CS được tư sản hoá, nhà nước CS được tư bản hoáchế độ CS được dân chủ hoá. Ðó là quá trình tiêu vong tất yếu của đảng và chế độ CSVN, xác định sự toàn thắng của các lực lượng quốc gia, dân tộc, dân chủ Việt nam. Sự tất yếu này đến mau hay chậm là tùy thuộcc vào ba lực đẩy, lực xoay chủ yếu:

   - Một là sự tự hủy do phân hoá nội bộ đảng và chế độ CSVN.

   - Hai là cường độ và hiệu quả thực tế của các hình thức đấu tranh của các lực lượng quốc gia, dân tộc, dân chủ trong cũng như ngoài nước, thu hút được quần chúng,tạo ra cao trào đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền  của nhân dân trong nước.(Chủ lực)

   - Sau cùng là áp lực trên đảng và chế độ CSVN của các cực cường, các chính quyền dân chủ,Liên Hiệp Quốc, các tổ chức kinh tế tài chánh quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế.

      Dưới áp lực của ba mũi giáp công trên đây, cùng chiều trên đây, đã thúc ép được chế độ độc tài toàn trị hiện nay lùi dần về phía dân chủ. Chất dân chủ đã và đang đẩy lùi chất độc tài và tích lũy thành lượng. Khi lượng dân chủ tích lũy đủ triệt tiêu hoàn toàn chất độc tài, thì theo qui luật duy vật biện chứng mà những người cộng sản Việt nam từng tin như giáo điều, rằng “Lượng đổi, chất đổi”, thì chế độ độc tài toàn trị hiện nay sẽ tiêu vong hoàn toàn bản thể để hình thành chế độ dân chủ tại Việt nam.

 

      Tóm lại:  37 năm trước đây, ngày 30-4-1975 cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam đã kết thúc không bình thường  đã chỉ đem lại một chiến thắng biểu kiến cho cộng sản Việt Nam.

        Thực tế đã ngày một khẳng định cuộc chiến tranh kết thúc như thế không phải là thắng lợi của phe này (Việt cộng)  đối với phe kia (Việt quốc), mà chỉ là do nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực, nắm trung tâm quyền lực thế giới. Do đó, thực tế đã ngày một khẳng định ngày 30-4-1975 chỉ là khởi điểm một quá trình đưa CSVN đến sự tiêu vong về bản thể, để hình thành một chế độ dân chủ mai hậu tại Việt nam theo chiều hướng mới KHÔNG THỂ ÐẢO NGƯỢC : Dân chủ tất thắng độc tài.

        Một khi chế độ độc tài cộng sản tiêu vong về mặt bản thể, lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của những người CSVN đã không đạt được, nay phải xoay chiều cố thực hiện những điều mà người Việt Quốc Gia đấu tranh chưa đạt. Và như thế có thể kết luận rằng: 30-4-1975 quả thực  “Quốc Gia đã thua để Thắng  Cộng sản đã Thắng để Thua”.

                           

Thiện Ý

Houston, Tháng Tư 2012

 

(1)Xin vào: luatkhoavietnam.com, mục “Diễn Đàn”, tiểu mục “Tác giả & Tác phẩm” để đọc “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, khởi thảo tứ trong nước (1976-1977), ấn hành lần đầu 1995 và tái bản năm 2005 tại Hoa Kỳ. Vào tiểu mục “Phỏng vấn & Hội luận” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả Thiện Ý về tác phẩm này.

 

Chân dung và chân tướng

 

 23/07/12 |

Chân dung và chân tướng

- Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

Huỳnh Nhật Hải

-Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Tấn

Cách đây chưa lâu, hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật (chả may) lại là ác mộng của một người làm thơ khác, cùng thời:

“tôi sống yên ổn với những việc làm hàng ngày của mình
không định được ngày mai
có một đồng để mua cho con nửa cái bánh tráng hay hai
cái kẹo gừng
có hai đồng cất dưới chân đèn trên bàn thờ
lỡ khi hết dầu thắp tới bữa thiếu ruốc hết bột ngọt
mả cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất”

lâu ngày tôi thấy quen đi
như quen thân thể của mình
tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
buổi chiều không có cơm ăn
những con ruồi ăn nước mũi khô trên má
những đứa đau quan sát những con chuột
chết lòi ruột ở bến xe đò
những tiếng cha mẹ vợ chồng anh em
con cái chưởi bới la hét trong bữa ăn
người điên ở trần đứng làm thinh
giữa trời mưa ngoài chợ
những ngày hết gạo hết tiền hết củi
muối sống không còn một hột của tôi
những trách canh rau khoai tháng năm không có bột ngọt
hai mắt tôi mở to
đầu tôi cúi thấp
miệng tôi há ra
những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
dồn cứng chật cuống họng

(Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

Toàn bản bài thơ thượng dẫn vừa được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, vào hôm 11 tháng 6 năm 2012, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả:

Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở Đường Tuy Lý Vương, Phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài thơ người yêu nước mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà ,năm 1988, ông có bài thơ ‘ Người đàn ông 43 tuổi nói về mình’ in ở Tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị , phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rửa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ . Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ ( Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…

Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia cho biết chi tiết hơn:

“Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên – Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó, theo như Hồi ký ‘Tôi bị bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông.”

Nguyễn Đính Trần Vàng Sao, ảnh chụp 3-2012. Nguồn ảnh:ngominh.vnweblogs.com


Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

Thứ Ba, ngày 31.10.1978
Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt.

Thứ Hai, 22.07.1979
Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu.
Gạo.
Bây giờ ai cũng chỉ mong, không phải bữa nào cũng cơm mà sắn cũng được, mỳ hột cũng được. Miễn là dộng vào cho đầy cái dạ dày. Ước mơ của thiên hạ thì cũng đơn giản thôi: làm sao bữa nào nồi cũng đầy cơm, đầy tràn ra, đến nỗi hôi khói. Có cơm ăn với chi cũng được, với muối, nước mắm thì tuyệt rồi. Người ta không ao ước gì hơn nữa. Không có mơ ước, không có hy vọng.
Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần…

Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng Cung:

Gót nhọc men về thung cũ

Qùi dưới chân quê

Trăm sự cúi đầu

Xin quê rộng lượng

Chút thổ phần bò xéo cuối thôn

Phùng Quán cho biết thêm là Nguyễn Hữu Đang phải sống nhờ vào… rắn rít và cóc nhái! Ông cũng đã chọn sẵn chỗ trong “… một búi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (“Ngày Cuối Năm Tìm Thăm Người Dựng Lễ Ðài Tuyên Ngôn Ðộc Lập.” Nhớ Phùng Quán. Ngô Minh và nhiều tác giả. Việt Nam: Trẻ 2003, tr. 474).

Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước CHXHCNVN:

“Hoà bình lập lại đã hai năm, dù cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước có phức tạp, gay go thế nào thì cũng không thể coi miền Bắc như ở một hoàn cảnh bất thường để duy trì mãi tình trạng thiếu một nền pháp trị hẳn hoi…”

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…” (Nhân văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA:

“Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó...”
“Chúng tôi biết hết những việc anh làm, nhưng chúng tôi muốn tự anh nói ra hết. Vì chỉ có như thế, anh mới hưởng được lượng khoan hồng của Đảng...”

“CIA giỏi thật, cài anh ta vào sâu đến như thế”.

Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam.

Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Trần Dần, Trần Duy, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu… đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng và qúi mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có nhận tình cảm tương tự. Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của nhiều người trong bọn họ khiến cho tiên hạ cảm thấy khó gần!

Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, họ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoạ Chân Dung của thế hệ mình và mô tả là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước, như hiện cảnh.

Không ít kẻ thuộc thế hệ Nguyễn Đính đã được choàng vào người những vòng hoa (giả) và họ cứ thế mà đeo mãi cho đến cuốn đời. Tội!

© Tưởng Năng Tiến

dangnguoivietyeunguoiviet.org

HRW : Các trại cai nghiện Trung Quốc và Đông Nam Á tra tấn nhiều hơn là chữa trị

Thứ tư 25 Tháng Bẩy 2012

HRW : Các trại cai nghiện Trung Quốc và Đông Nam Á tra tấn nhiều hơn là chữa trị

VIETNAM MAP

DR

Thanh Phương

Tổ chức Human Rights Watch hôm nay 25/07/2012, vừa ra thông cáo cho biết hàng trăm ngàn người bị xem là nghiện ma túy đang bị giam giữ trái phép tại các trung tâm cai nghiện, nơi mà họ có thể đã bị tra tấn, bạo hành về thể xác và tình dục, thay vì được điều trị.

Trong báo cáo dài 23 trang tựa đề « Tra tấn nhân danh điều trị : Những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, Trung Quốc, Cam Bốt và Lào », HRW nêu lên trường hợp các cá nhân đã từng bị giam ở bốn nước nói trên. Theo báo cáo này, hơn 350 ngàn người được xem là nghiện ma túy đang bị giam ở những trung tâm cai nghiện, với thời gian có thể lên tới 5 năm. Trong nhiều trại, họ bị giam chung với những người vô gia cư, người bệnh tâm thần và trẻ em đường phố.

Theo HRW, những người ở các trung tâm cai nghiện trong bốn nước nói trên thường là bị giam trái với ý muốn họ, bị cảnh sát bắt hoặc bị chính quyền địa phương và gia đình ép buộc « tự nguyện » đi cai nghiện.

Riêng tại Việt Nam, theo bản báo cáo của HRW, « liệu pháp lao động » là một phần của việc chữa trị cai nghiện theo quy định của luật pháp. Các trung tâm cai nghiện có phần nào giống như các trại lao động cưỡng bức, nơi mà hàng chục ngàn trại viên phải làm việc 6 ngày trên 7 để tham gia chế biến hạt điều hoặc sản xuất các mặt hàng khác. Ai mà từ chối làm việc hoặc vi phạm nội quy trại sẽ bị kỷ luật và một số người đã bị dùng nhục hình.

Báo cáo của HRW nêu lên trường hợp của một cựu trại viên từng bị bắt khi tìm cách trốn trại. Anh kể : « Đầu tiên họ đánh vào chân để tôi không thể chạy được nữa. Rồi họ dùng roi điện chích vào tôi và giữ tôi trong phòng giam phạt trong suốt một tháng ». Một người khác từng bị giam 4 năm trong một trung tâm cai nghiện ở Việt Nam thì cho biết họ không hề được chữa trị cai nghiện và khoảng mỗi tháng một lần, họ phải đi vòng quanh trại suốt hai tiếng đồng hồ, vừa đi vừa hô khẩu hiệu.

Báo cáo HRW nhắc lại là vào tháng 3 vừa qua, các cơ quan Liên hiệp quốc đã từng ra tuyên bố chung yêu cầu phải đóng cửa các trại cai nghiện ở các nước Trung Quốc và Đông Nam Á, đồng thời thả ngay lập tức các trại viên. Nhưng các nhà tài trợ quốc tế vẫn tiếp tục cấp tài trợ và các hỗ trợ khác cho nhiều trung tâm cai nghiện này. Đối với HRW, những trung tâm cai nghiện nói trên cần phải được đóng cửa và thay vào đó là đề ra những phương pháp chữa trị hiệu quả và tự nguyện đối với người nghiện ma túy.

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Nguoi Amish - Lối sống Cổ Điển ở Mỹ-Chối bỏ văn Minh Mỹ.



Người Amish -Lối sống Cổ Điển ở Mỹ-Chối bỏ văn Minh Mỹ

 

Người Amish: 

Lối sống cổ xưa ngay giữa lòng nước Mỹ

Nhóm người Amish đầu tiên từ châu Âu đến Hoa Kỳ định cư năm 1730 gần quận Lancaster, bang Pennsylvania. Những người Tin Lành này quả là một hiện tượng lạ lùng ngay trên nước Mỹ, quốc gia được coi là một trong những nước tân tiến nhất trên thế giới. Người Amish vẫn dùng xe ngựa và nhất định không sử dụng bất cứ những trang thiết bị gì có gắn động cơ hay chạy bằng điện.

Người Amish chối bỏ những thành quả của công nghệ và kỹ thuật. Không có nhà nào được nối với mạng điện mà họ dùng đèn đốt khí để thắp sáng

Họ không gắn điện thoại, không dùng máy vi tính. Quần áo họ mặc may bằng thứ vải thô, màu đậm, trơn, không in hoa hay mẫu mã gì cho đẹp mắt. Ngay cả khi may quần áo họ cũng không dùng khuy nút hay dây kéo vì những thứ phụ tùng này được coi là vô ích, thừa thãi. Lối sống của người Amish gợi trí tò mò và thích thú cho quảng đại quần chúng Mỹ, và hằng năm cả ngàn người kéo nhau đến quận Lancaster để tìm hiểu về người Amish.

 

 

Người Amish 

Cộng đồng người Amish lại không thực sự được điều hành bởi chính những người trong cộng đồng. Lý do là vì người Amish không muốn tham gia vào xã hội. Họ là người sống trên đất Mỹ nhưng họ không thuộc về xã hội Mỹ. Họ trả thuế, vì luật pháp qui định họ phải làm như vậy. Nhưng họ không đi bầu hoặc cho con cái họ đến trường công lập. Họ cũng không chịu lãnh tiền hưu của chính phủ hay tham gia vào các chương trình liên bang dành cho những người cao niên để  chăm sóc y tế cho họ. Họ không mua bảo hiểm, không giao dịch ngân hàng. Khi mua nhà, mua đất mở rộng lãnh thổ canh tác, họ trả bằng tiền mặt chứ không cần vay mượn của ai.

 

Xe ngựa là phương tiện giao thông chính của người Amish 

Ông Robert Allen là một tín đồ Tin Lành Mennonite làm việc tại Trung Tâm Văn Hóa Amish ở thị trấn Intercourse. Về mặt lý thuyết tôn giáo thì Tin Lành Mennonite cũng tương tự như Tin Lành Amish nhưng cởi mở hơn, họ được dùng điện và ô-tô riêng. Một số người Tin Lành Mennonite cũng tập cách sống mà họ gọi là” đơn giản”. Ông Allen nói rằng những người Amish sống lối sống đó vì họ cho rằng xã hội Mỹ hiện đại  làm cho cá nhân phân tâm, chia trí xa rời khỏi những điều "thực sự quan trọng".

nguoi Amish

Người Amish luôn hát thánh ca trước bữa ăn

Những người trong nhóm Tin Lành Amish không hề cho công nghệ tự nó, là điều xấu xa. Tuy nhiên theo họ, công nghệ không giúp người ta sống đúng với cuộc sống của một tín đồ Tin Lành chân chính. Lấy ví dụ, họ không sử dụng điện, điện thoại, xe hơi, và các loại máy móc... và một trong những lý do  mà họ đưa ra ngay từ đầu, như ánh sáng đèn điện làm cho mọi người trong gia đình tản mạn ra nhiều phòng khác nhau, hơn là quây quần lại với nhau ở trong một phòng. Đã vậy khi có điện thì người ta thường có khuynh hướng mua radio, truyền hình, xem video, vào mạng internet và những thứ khác nữa... Đây là những phương tiện có thể đem những thứ mà bạn không muốn vào tận trong nhà bạn.

 

Xe đạp đẩy và xe ngựa là phương tiện di chuyển chính của người Amish  

Về cách ăn mặc, người Amish hết sức giản dị. Biểu tượng cho niềm tin tôn giáo, lối trang phục của người Amish khuyến khích đức khiêm tốn, chỉ một màu trơn, thường là màu tối không kiểu cọ sặc sỡ. Đàn ông không thắt cà vạt, trước khi lập gia đình họ cạo râu nhưng sau khi cưới vợ họ để râu dài. Phụ nữ vận áo tay dài, váy dài, không cắt tóc. Tóc họ để dài thắt bím hoặc búi tó.

Phụ nữ đội những chiếc mũ nhỏ bằng vải thêu tinh tế...

Khoảng trên 200 ngàn người Amish sinh sống tại Hoa Kỳ. Từ thế kỷ thứ 16 tại Châu Âu, phong trào có tên là Anabaptist, trong số này có người Amish Đức và Thụy sĩ, qua nhiều thập niên họ bị ngược đãi vì lý do tôn giáo khiến họ phải bỏ xứ di cư đến bang Pennsylvania của Hoa Kỳ. Vùng đất này lúc đó còn là thuộc địa của Anh và quyền tự do tín ngưỡng  được bảo đảm. Khi mới đến, những người Amish đều là các nông gia, giống như hầu hết mọi người vào thời ấy. Cho dù nước Mỹ đã công nghiệp hóa hơn vào thế kỷ thứ 19 và 20 những người Amish vẫn tiếp tục sinh sống bằng nghề cày cấy, trồng trọt. Trong kinh thánh có không biết bao nhiêu sự tích nói về công việc đồng áng, thế nên người Amish tin rằng đó là cuộc sống mà thượng đế muốn họ sống.

 

Người Amish vẫn dùng sức ngựa để làm nông

Người Amish chỉ kết hôn với người Amish mà thôi. Không có chuyện kết hôn với người thuộc thành phần khác. Họ không được phép ly dị và các trường hợp ly thân rất hiếm khi xảy ra. Các biện pháp tránh thai đối với người Amish là vô đạo đức nên số thành viên trong gia đình rất đông, 7 đến 10 con là chuyện rất thường. Cha mẹ, con cái cùng chung sức lo chuyện nhà cửa và kiếm sống, theo vai trò nam nữ. Trong một gia đình người Amish, đàn ông con trai thường làm việc đồng áng còn đàn bà con gái thì nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa cùng những chuyện tề gia nội trợ khác, người cha được coi là trưởng gia đình.

Đàn ông trưởng thành thì để ria mép hay để râu rậm

Trẻ em đi học trong những trường riêng của cộng đồng và thường đến lớp 8 rồi thôi, để học cách sống và sinh hoạt trong gia đình, hiếm có trường hợp nào học lên cấp 3 hoặc đại học. Thanh niên Amish, lúc đến tuổi trưởng thành, có Lễ Trưởng Thành (17 tuổi), họ được ra ngoài cộng đồng sống tự do 2 năm, nhưng hết khoảng thời gian này họ phải tự quyết định sống ở thế giới bên ngoài hay trở về cộng đồng. Thực tế là 99,9% thanh niên đều quay về sau thời gian phiêu bạt vì họ không muốn bị người thân, bạn bè ghẻ lạnh và sống tách rời khỏi cộng đồng suốt quãng đời còn lại...

 

Quần áo của người Amish rất đơn giản, nhưng chất lượng tốt. Họ không được dùng khuy áo mà dùng kim băng

Họ có một cộng đồng lớn, thường làm việc chung với nhau, họ trồng trọt, có những sạp bán hàng nơi khách có thể đến mua rau quả, họ nuôi gà lấy trứng bán, một số có trại nuôi bò sữa để lấy sữa và làm những phó sản của sữa. Một số thì làm nghề đóng đồ đạc hay làm nghề xây cất hoặc sửa chữa nhà cửa. Họ cày cấy bằng ngựa. Ngựa của họ to khỏe và rất đẹp. Ngoài những rau quả, họ còn nướng các loại bánh đem bán nữa. Họ có một loại bánh nướng đặc biệt gọi là Shoofly. Họ còn may, bằng tay, rất nhiều những tấm phủ giường (quilt) thật đẹp. Và đấy là những cách kiếm sống của họ. 

 

Đàn ông Amish đội mũ nan khi đi làm và trong ngày thường, còn chủ nhật thì đội mũ dạ đen 

Chủ nghĩa hiếu hòa là yếu tố chính trong lý thuyết tôn giáo của họ, cho nên trong thời kỳ thế chiến thứ hai, người Amish bị khinh bỉ vì họ từ chối không tham gia chiến tranh. Ngay cả đến những năm của thập niên 1980, chủ nghĩa hiếu hòa và lối sống chống lại các phương tiện hiện đại của họ vẫn còn bị nhiều người coi là không thể chấp nhận được. Nhưng từ 20 năm trở lại đây, công nghệ đã khiến cho đời sống tại Hoa Kỳ trở nên quá phức tạp và hối hả đến chóng mặt, khiến nhiều người lại thấy lối sống đơn giản của người Amish trở nên hấp dẫn.

Họ sống biệt lập với thế giới bên ngoài, nhưng cộng đồng của họ thì có giá trị rất cao 

 

Nông trại người Amish

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link