Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, August 1, 2012

CÁCH TRỊ DÂN

CÁCH TRỊ DÂN

tka23 post

Thời Xuân thu, có Tử Sản, tự là Công Tôn Kiều, làm quan Đại Phu nước Trịnh hơn bốn mươi năm, thường đề ra những kế sách để giúp vua vỗ về bá tánh, trị quốc an dân, nên thường đem điều hay lẽ phải, mà nói với vợ rằng:

- Đối với trong thì dân bình trị. Đối với ngoài thì các nước nể nang. Được như thế là nhờ ta mỗi ngày khi thức dậy - đều tự vấn lương tâm - mà xét rằng:

Đối với mình, ta có tự trọng không?

Đối với người, ta có thành kính không?

Đối với dân, ta có thiên lệch không?

Và đối với những lầm lỗi của ngàn phương bá tánh, ta xử có tình có nghĩa chăng?           

      Bốn điều đó, như những tấm gương, đã giúp ta đem sự yên vui về cho nước Trịnh.

Vợ của Tử Sản là Vương thị, thấy vậy, mới nhỏ nhẹ mà nói với chồng rằng:

- Ai có thân người ấy lo. Ai có hồn người ấy giữ. Nay chàng cứ miệt mài lo về trăm họ, mà quên đi bệnh bao tử đang hoành hành trong thân xác, là cớ làm sao?

Tử Sản mĩm cười, đáp:

- Giá trị cao cả của con người ở trong trái tim. Vậy phải nâng nó lên mà mơ ước điều đại sự. Chớ không thể đóng lòng của mình trước, mà mong muốn mai này thiên hạ sẽ mở ra, thì có khác chi giữa đêm Đông mơ nắng chiều cuối Hạ.

Vương thị lắc đầu, nói:

- Lúa tới đâu, trâu tới đó. Hà cớ chi phải đày đọa xác thân, đến nỗi trong giấc mơ cũng kêu gào tên... bá tánh?

Tử Sản lại cười thêm phát nữa, rồi dịu giọng nói rằng:

- Khi nào tôi kêu chỉ một người. Bà mới phải lo. Chớ kêu tá lả bùng binh thì chẳng ăn thua đến tình phu phụ. Vương thị bỗng nghẹn cả lời mà chẳng biết nói sao. Mãi một lúc sau mới thì thầm bảo dạ:

- Cá không ăn muối cá ươn, còn chồng mà cãi vợ, thì rõ ràng đang thiếu... muối, nên hổng chóng thì chầy. Hổng trước thì sau, ắt phải có ngày chu du miền tiên cảnh...

Một hôm, trời trở lạnh. Tử Sản thấy trong mình không được khoẻ, bèn cho người mời Tử Thái Thúc đến, mà bảo rằng:

- Ta như ngọn đèn dầu sắp tắt, nên có đôi lời nhắn nhủ. Mong ngươi chẳng đặng quên, để tâm huyết ta không đi vào cõi lạnh...

Thái Thúc vội vàng đáp:

- Ấy ấy! Sao Đại phu lại nói thế? Trong khi sắc mặt hồng hào. Mắt lộ tinh quang, thì sao có thể... tím chiều hoang cho được?

Tử Sản bỗng thở dài mấy cái, rồi chậm rãi nói rằng:

- Con chim sắp chết cất tiếng bi ai. Con người sắp chết nói lời nói phải, thì ngươi cố mà nghe. Chớ đừng nói tới nói lui mà phí đi thời gian đang có được!

Rồi không đợi Thái Thúc trả lời trả vốn làm sao, Tử Sản lại ào ào nói tiếp:

- Ta chết, tất nhà ngươi được cất nhắc lên làm quan Đại Phu nước Trịnh. Ngươi phải biết người có Đức mới lấy Khoan mà phục được dân. Còn... ít Đức như ngươi thì phải lấy Nghiêm mà trị. Tỉ như lửa nóng, dân trông thấy mà sợ, nên chết cháy thì ít. Còn nước mát, dân cho đó là thường, nên chết đuối lại nhiều. Thế cho nên, dùng Khoan thật là khó lắm vậy!

Thái Thúc gật đầu đáp:

- Tôi sẽ nhớ lời ông dặn. Nguyện suốt đời chẳng thể nào quên!

Lúc ấy, Vương thị ở nhà trong nghe hết đầu đuôi câu chuyện, mới tá hỏa trong lòng mà nghĩ thật mông lung:

- Vợ chồng là duyên trăm năm, không phải duyên sớm tối. Sao chồng ta lại có thể ơ hờ như thế được? Đáng lẽ những giờ phút còn lại này - phải dành tặng riêng ta - Chớ không thể lúc sắp đi lại... tùm lum đến thế!

Đoạn, rầu rĩ trong lòng, bèn cho người gọi con là Tử Trung đến, mà buồn bã nói rằng:

- Cuộc đời là thế! Trong bất cứ lãnh vực nào, nếu gieo cay đắng thì đừng bao giờ trông mong trái ngọt. Con có hiểu vậy chăng?

Tử Trung nghệch mặt ra, rồi ngơ ngác đáp:

- Con thật không hiểu điều mẹ mới nói!

Vương thị uất ức mà nói rằng:

- Cha con, thường tự cho mình là quân tử, mà lại xem việc nước trọng hơn tình nghĩa phu thê, thì còn đứng trong đất trời làm sao đặng?

Tử Trung vội vàng đáp:

- Sở dĩ cha chu toàn được việc nước, là nhờ mẹ đảm đang, đã thay cha quán xuyến việc trong ngoài cho êm xuôi hết cả. Ví bằng mẹ không làm như vậy, thì cha chẳng được yên. Làm sao có thể đêm ngày lo cho bá tánh? Vả lại, cha làm đến chức Đại Phụ Quyền cao chức trọng, mà chẳng vợ lẽ vợ hai, thì con thiết nghĩ mẹ phải mừng vui mới đúng. Chớ đâu lại u buồn rã rượi, mất vẻ xinh tươi, thì có khác chi cái hay mà cho là dỡ vậy! Đoạn, dõi mắt lên nhìn mẹ, thì thấy Vương thị mười phần... bay hết tám, bèn trong bụng mừng vui, mà chậm rãi nói rằng:

- Mẹ! Mẹ đừng nhả tơ tự trói mình. Có đặng hay chăng? Mấy tháng sau, Tử Sản mất. Tử Thái Thúc được vua Trịnh cử lên thay, liền hớn hở về khoe với vợ. Vợ của Thái Thúc là Hàn thị, nghe thế, mới khoái trá mà nói với chồng rằng:

- Rủi người phúc ta. Tưởng là nói chơi ai dè cũng đúng thiệt.

Thái Thúc bỗng âu lo hiện tràn trên ánh mắt, rồi ấp úng nói rằng:

- Trước khi mất, Tử Sản có dặn ta phải dùng Nghiêm để trị dân. Chớ không thể dùng Khoan như ông được, bởi Đức ta còn mỏng chưa được sâu, thì e đặng ít hôm sẽ tùm lum tứ tán. Ta giật mình trộm nghĩ: Bỏ Khoan mà chụp lấy cái Nghiêm, thì phải mần răng cho dân đừng hoảng sợ?

Hàn thị liền quơ lịa quơ lia vài chục cái, rồi lớn tiếng mà nói với chồng rằng:

- Rún còn không tin được bụng. Hà cớ gì chàng lại tin người đến như thế?

Thái Thúc liền vội đưa tay bịt miệng của Hàn thị lại, rồi đỏ phừng cả mặt mà nói nọ nói kia:

- Ngàn vàng dễ được. Lời tốt khó tìm. Lẽ nào nàng không hiểu đặng điều đó hay chăng? Sao lại thốt những lời nghe tào lao quá xá?

Hàn thị vênh mặt đáp:

- Có gì mà chàng phải sợ? Tử Sản tập cho dân quen lề lối của Khoan, rồi nay lại bảo đổi qua Nghiêm mới là điều phải đạo. Nói thật với chàng. Tử Sản làm vậy chẳng phải thương chàng mà nói. Chẳng qua muốn người đời tưởng nhớ đến mình thôi, nên mới phán lung tung cho chàng không phân biệt, rồi đến lúc dân bỗng thấy mình vô khuôn phép, mới la ó ì xèo chàng sẽ liệu làm sao? Khi mới thăng quan đã ôm điều không đẹp...

Thái Thúc mặt mày xám ngoét. Tay run bần bật. Mãi một lúc sau, mới yếu ớt hỏi rằng:

- Vậy theo nàng, ta phải làm sao?

Hàn thị cười cười đáp:

- Chàng hãy giảm thuế. Bỏ bớt hình phạt. Chuyện phạm pháp lớn thì làm cho nhỏ. Chuyện phạm pháp nhỏ thì làm như không có, bảo đảm trăm ngày tăm tiếng sẽ rền vang. Sẽ khiến tha nhân sướng vui vì hết sợ...

Tử Thái Thúc nghe vợ nói có lý, bèn nhẹ cả tâm tư, mà tự nhủ rằng:

- Tiền của có thể qua đi. Danh vọng có thể mai một, nhưng lời dạy của.. vợ. Mãi mãi trường tồn theo bước chạy của... thời gian!

Từ đó, Thái Thúc cứ Khoan mà phang tới tới. Đã vậy còn xá tội lung tung, nên chẳng bao lâu trong nước sinh ra nhiều... cướp cạn. Nhũng nhiễu lương dân. Làm điều tắc trách, khiến đâu đâu cũng kêu Trời ta thán. Không sao mà yên được. Vua Trịnh thấy vậy, mới truyền cho Thái Thúc đến, mà giận dữ nói rằng:

- Ngươi ăn cơm vua, Hưởng lộc nước, mà làm ăn như vậy. Là cớ làm sao?

Thái Thúc cúi gầm mặt xuống, mà ấp úng tâu rằng:

- Xin Bệ hạ bớt giận, mà cho kẻ hạ thần một khoảng thời gian, để sửa lại cái sai trái của mình.

Vua Trịnh bực mình, gắt:

- Được. Ta kỳ hạn cho người một tháng. Nếu không đem lại cho dân chúng sự bình yên, thì cầm chắc ngươi sẽ đi vào... miên viễn...

Thái Thúc lạy tạ ra về. Lòng tràn dâng nỗi hối hận mà không biết tỏ cùng ai, nên thì thầm bảo dạ:

- Chớ phải chi ta biết nghe theo lời của Tử Sản, thì đâu đến nỗi phải đem sinh mạng ra mà đánh... cá!

Tối ấy, Thái Thúc không làm sao ngủ được. Hàn thị thấy vậy, mới nấu vội chén sâm, mà tha thiết nói rằng:

- Nhân vô thập toàn. Hà cớ chi chàng lại dày vò đến như thế?

Thái Thúc nghẹn ngào đáp:

- Đành là vậy! Nhưng ta là người gánh chịu trước muôn dân, thì không thể nói xuông mà êm liền ngay được. Hàn thị bèn nhìn vào mắt chồng, rồi vui vẻ nói:

- Người ta trở thành kiện toàn hơn, là nhờ học hỏi từ những lầm lỗi của chính mình. Nay chàng có cơ hội... học hỏi, thì phải lấy làm vuị Sao lại lấy cái may biến ra thành cái rủi?

Thái Thúc ngập ngừng đáp:

- Nhưng cái lầm lỗi này, lại liên lụy đến cái... mạng của ta, thì nàng bảo ta không lo làm sao được?

Hàn thị bỗng cười to một tiếng, rồi mạnh dạn nói rằng:

- Mạng của chàng có sao Tử vi đóng ở cung Mệnh, thì dẫu chàng muốn... tự tử mà chết. Cũng chẳng dễ đâu. Huống chi cái chết kia từ xa bay đến!

Thái Thúc bỗng thấy trong lòng cất đi gánh nặng, bèn phan phái mà nói với Hàn thị rằng:

- Đàn ông mà không có vợ, như phản gỗ long đong. Trôi lên trôi xuống chẳng ra cái gì hết cả!

Qua ngày sau. Thái Thúc tức tốc ban hành luật mới. Lấy Nghiêm mà trị, cùng lúc sai tướng giỏi đem quân đi tiểu trừ giặc cướp. Từ đấy nước Trịnh mới yên. Lúc ấy, có Đức Khổng Tử từ xa bang tới. Nghe rõ đầu đuôi câu chuyện, mới gọi môn hạ tới, mà trịnh trọng nói rằng:

- Thái Thúc biết mình sai mà vội sửa, là một điều hay. Nghe vợ đến nỗi bị vua la, mà không đổ thừa cho vợ, lại can đảm chịu lấy một mình, là hai điều hay. Làm việc dứt khoát, Không chần chừ do dự, nên chưa tròn một tháng đã mã đáo thành công, là ba điều hay. Không nhân lầm lỗi của vợ, mà đi... cưới vợ khác, là bốn điều hay. Làm người, mà được bốn điều hay đó, thì coi như đã thành người quân tử!

Đoạn, vuốt râu một cái, rồi ào ào nói tiếp:

- Dùng Khoan để trị dân, thì dân không sợ. Dân không sợ, thì phải đổi lại Nghiêm, để dân sợ mà đi vào điều phải. Vậy Khoan giúp cho Nghiêm, cũng như Nghiêm giúp cho Khoan vậy. Đạo làm tướng, là phải biết khi nào... nhặt khi nào khoan. Chớ không thể cứ nhắm mắt mà phang tràn cho được! Bởi Khoan thì dân lờn. Nghiêm thì dân oán, mà dân oán hoặc lờn đều trở ngại cho việc nước cả. Cho nên phải có Khoan, lại phải có Nghiêm, thì mới đỡ đần cho nhau đặng.

Lúc ấy, có Bật Tử Tiện là học trò của Khổng Tử, nghe thế, mới bụng bảo dạ rằng:

- Tưởng việc nước ra sao. Hóa ra cũng giống như chơi... bài ba lá. Hễ tụ này không được phải đặt lại tụ kia, thì cần chi phải là người quân tử?

MÕ  SAIGON

oOo

 

GIÁO SẮC.

GIÁO SẮC.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

(Viết theo lời kể của một Thương Phế Binh loại 3 (Tàn Tật Vĩnh Viễn 80%), cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khoá 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.)

Thân tặntg các bạn bè đã quen, chưa quen, ở:

Trường Tiểu Học Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây II, Thị Nghè,

Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn,

Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt,

Sư Đoàn 9 Bộ Binh,

Và các bạn bè còn lành lặn, các Thương Phế Binh trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật, khắp Bốn Phương Trời.

Tôi tên là Giáo, sinh quán Bắc Việt, di cư vào Nam ngày 20 Tháng Bẩy Năm 1954.

Mặc dù trên giấy khai sinh của tôi ghi rõ ràng là Giáo, nhưng bạn bè lại gọi tôi là . . . GIÁO SẮC.

Số là, sau khi vào Nam, bố mẹ tôi chọn định cư tại vùng Thị Nghè, thuộc Quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. 

\

Hơn một trăm gia đình mà người dân Nam Kỳ gọi chúng tôi là “Bắc Kỳ Di Cư” được tạm trú tại Trường Tiểu Học Thạnh Mỹ Tây. Sau hai tháng tạm cư, trung tâm được giải tán để  cho học sinh kịp nhập học vào đầu niên khoá mới.

Đám học sinh cũ của trường nhập học đúng vào đầu niên khoá, nhưng đám học sinh Bắc Kỳ chúng tôi thì không, vì trường Thạnh Mỹ Tây chỉ nhận học sinh vào lớp Năm (lớp 1) mà thôi, còn học sinh cũ thì đã đủ chỗ rồi. Một số Cô và Thầy giáo “Di Cư” cũng đã xin với Bộ Giáo Dục để mờ thêm lớp cho chúng tôi, nhưng trường ở đâu ra bây giờ? Không có trường thì lấy đâu ra lớp cho chúng tôi học?

Các Thầy Cô đã nghĩ nát óc để rồi tìm ra một giải pháp tuyệt hảo:

Học sinh cũ của trường Thạnh Mỹ Tây học hai buổi sáng (từ 8 giờ sáng tới 11 giờ sáng) và buổi chiều (từ 2 giờ chiều tới 6 giờ chiều). Như vậy, thì đám học trò di chuyển có thể xen kẽ vào học từ 11 giờ sáng tới 2 giờ chiều. Bộ Giáo Dục và các giáo viên họp lại với nhau để cùng . . . nghiên cứu cách thức nào tốt nhất cho các học sinh. Cuối cùng, một trường Tiểu học Di chuyển được thành lập tại Thị Nghè, gọi là Trường Tỉểu Học Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây II (cho khắp vùng Thị Nghè, Cầu Sơn). Trong khi chờ đợi được cấp trường mới, các học sinh di chuyển tạm thời học tại trường Tiểu học Thạnh Mỹ Tây, từ 11giờ 30 sáng cho tới 1 giờ 30 chiều.

Thế là chúng tôi đã có trường, có lớp để đi học.

Trong thời gian chờ đợi để di cư vào Nam, nhiều đứa trong chúng tôi không được đến trường cả mấy năm trời, nên khi được đến trường trở lại, chúng tôi phải ngổi học ở lớp tiếp theo, do đó mà tôi và một số học sinh khác, dù tuổi đời đã mười hai, mười ba . . . mười sáu . . . vẫn ngồi lại lớp Nhì, vì trươc đây, chúng tôi chỉ mới tốt nghiệp . . . lớp Ba trường làng mà thôi.

Nhớ lại những ngày đầu tỉên tôi đi học, thật là vui: Trường học thì thật là gần nhà và đã quá quen thuộc rồi, nên chúng tôi chẳng cần ai đưa đón gì cả. 11 giờ 30 mới vào lớp, vậy mà chúng tôi đã rời nhà từ 10 giờ sáng. Học trò như chúng tôi, học là chuyện phụ, gặp nhau bầy trò vui chơi mới là chuyện chính. Một tay tôi cầm cuốn vở viết kẹp cái bút mực ở trong, tay kia cầm bình mực xanh, đầu đội trời chân đạp đất, cứ thế mà chạy tưng tưng đến trường.

Vì lạ nước lạ cái, hơn nữa đây là ngày đầu tiên đi học, nên chúng tôi không dám ham chơi, gần tới giờ vào lớp là chúng tôi đã ngừng chơi, cả thầy cả trò đứng lóng ngóng ngoài cổng trường chờ tới giờ học.

Trống tan học vang lên đúng 11 giờ, đám học trò Nam Kỳ tan học, túa ra sân, tò mò nhìn đám Bắc Kỳ đang đứng sớ rớ bên ngoài. 

Chúng tôi được xếp vào Lớp Nhì, học với Cô Giáo Đoan. Buổi học đầu tiên chỉ là xếp lớp, xếp chỗ ngồi và ghi tên điểm danh mà thôi.

Đám con trai được xếp ngồi bên ngoài gần cửa ra vào, đứa nào nhỏ con thì ngồi trên, đứa nào lớn con thì ngồi cuối lớp, còn con gái ngồi bên trong. Khi ghi tên điểm danh, cô giáo nhờ một đứa con trai trong dám lên phụ đọc tên. Khi đến lượt tôi, tôi đứng lên khai:

“Thưa cô, tên con là Giáo”

Thằng phụ tá nghe không rõ, hỏi lại tôi:
“Giáo là Giê Đ hay là Giê I?

Tôi đánh vần trả lời:

“Giê i ao Giao sắc Giáo”

Thằng phụ tá nhìn tôi, nhắc lại cho chắc ăn:

“Giao sắc Giáo? Phải không?”

Mấy thằng trời đánh ở dưới nghe thấy tôi đánh vần thì cũng bắt chước nhái theo:

“Giao sắc Giáo”

Giờ học trôi qua thật nhanh, mới đó mà trống trường đã vang lên báo hiệu giờ về. Đám chúng tôi mau mau dọn dẹp sách vở để trả lớp lại cho học sinh người Nam học buổi chiều.  

Phải mất cả tuần lễ, chúng tôi mới quen nhau, mới dám cùng nhau chơi đùa thoả thích. Đám con trai tụi tôi họp lại chơi trốn bắt, chơi chạy đuổi, chơi đá bóng, còn đám con gái thì chơi nhẩy dây, đánh đũa, nhẩy lò cò . . .

Giờ náo nhiệt nhất là giờ tan học của đám học trò người Nam và giờ vào học của đám học trò người Bắc. Đám tan học thì chưa muốn về, nán ở lại để xem đám Bắc kỳ chúng nó chơi đùa ra sao? Khi thấy chúng tôi chơi bi,  đám Nam kỳ dòm đã rồi chê tụi tôi:

“Chơi bắng đạng gì mà . . . kỳ cục dzậy.”

Còn đám Bắc Kỳ thì cũng chưa muốn vào lớp ngay, cũng lớ xớ đứng đó, chờ xem đám Nam kỳ chơi những trò chơi nào? Khi thấy bọn Nam kỳ mỗi khi bắn bi, chúng dang hai tay ra đằng trước, để hòn bi vào ngón giữa mà bắn đi, chúng tôi cười ồ lên, chê bọn này:

“Chơi bi gì mà . . . lạ thế”

Mấy ngày hôm sau, vào giờ ra chơi, tôi và mấy thằng bạn mới quen tụ lại chơi với nhau, khi hỏi tên, tôi xưng là Giáo, một thằng trong đám nhắc lại cái điệp khúc:

“Giao sắc Giáo . . . Giao sắc Giáo . . .”

Cứ thế, thằng này truyền miệng thằng kia. Tôi học chưa được chữ nào mà đã được mang cái tên là . . . GIAO SẮC

(đọc thì nghe như là DAO SẮC, nói theo tiếng Nam, tức là con dao . . . béng.)

Thằng đứng đằng sau tôi, cũng xưng tên là . . . GIAO.

Nhưng mà tôi đã là Giao rồi (dù là Giáo sắc Giáo), thì nó đâu có thể có tên là Giao nữa. Hơn nữa, nhìn mặt nó . . .  hiền khô hà, đâu có thể là là dao . . . béng như tôi được, nên khi Giao nhà ta xưng tên Giao, mấy thằng bạn trời đánh đã nhìn nó mà phê bình:

“Nhìn mặt mày hiền quá đi, lại cao nhòng nhõng hà, làm sao gọi mày là . . . Giao Sắc (dao) được, thôi, cho mày là GIAO . . . CÙN đi”

(dao cùn, phiên âm qua tiếng Nam, kêu là . . . dao lụt.)

Thế là từ đó, trong lớp tôi có hai thằng Giao: Một thằng là Giao Sắc (Giáo), thằng kia là Giao Cùn.

Thời gian đầu tiên, đám Bắc Kỳ và Nam Kỳ chơi riêng rẽ. Nhưng khoảng một hai tháng sau thì đã quen nhau rồi, nên cả hai đám ráp lại chơi chung với nhau. Nhưng cũng vì giọng nói khác nhau, và cũng có khi vì cùng một môn chơi nhưng luật chơi lại khác nhau, cho nên đã có một vài đụng chạm nhỏ xẩy ra.

Hẳn là các bạn còn nhớ, chơi bi (người Nam gọi là chơi bắn đạn), tuy cùng là một môn chơi, nhưng khi dân bắc chơi thì hòn bi ở đâu, người chơi phải để tay ở ngay đó mà bắn đi. Nhưng dân Nam thì lại khác: Cục đạn ở đâu thì ngồi ở đó, vươn hai tay dài ra mà bắn vào đạn của phe bên kia. Vì thế, khi chơi chung, đám Bắc Kỳ thua là cái chắc, vì đâu có biết dang tay dài ra mà bắn? Khi chơi thua hết cả túi bi ve (đạn mướt) đám Bắc Kỳ mới khôn ra, thay vì ngồi tại chỗ cục bi mà bắn, thằng Hà bắt chước đám Nam Kỳ duỗi hai tay ra tới đâu thì gạch đánh dấu ở đó rồi bước tới để tay ngay lằn gạch mà bắn đi, giống y hệt đám người Nam chơi, nhưng thằng Hai "Bớ Tí" (Petite, tiếng Pháp, có nghĩa là Nhỏ) trong đám Nam Kỳ không chịu, cho là thằng Hà ăn gian, nó nhất định đòi lại số đạn mà thằng Hà đã thắng. Thằng Hà không chịu trả lại, thế là đánh nhau. Đám Nam Kỳ chơi chung hè nhau đè thằng Hà xuống mà khện, đám Bắc Kỳ gần đó thấy thằng Hà bị đánh thì nhào vào bênh bạn, thế là đánh lộn tùm lum hết. May quá, trống đã đánh lên, đám Bắc Kỳ gom bi chạy hết cả vào lớp học, đám Nam Kỷ cung tay thủ võ la lối um xùm ở bên ngoài.

Tan học về, thằng Hà không dám về một mình, kêu đám bạn đi về chung để bảo vệ mình. Tôi, thằng Giao cùn, thằng Nam lùn, thằng Tự dẹo cổ, thằng An  . . . cùng đi với thằng Hà, chúng tôi chọn con đường lớn đi ngang qua rạp hát "Văn Cầm" để về nhà, vì nghĩ rằng ở đường lớn, bọn Nam Kỳ sẽ không dám gây chuyện đánh lộn. Nhưng chúng tôi đã lầm, vừa mới qua rạp hát, tới ngã ba là bọn Nam Kỳ đã đứng một đám ở đó. Thằng Hai Bơ Tí chỉ mặt thằng Hà mà la:
"Nó đó . . . uýnh chết cha mấy thằng Bắc Kỳ đi tụi bay"

Thằng Tự thấy tụi Nam Kỳ đông quá, liền ra dấu cho cả bọn rồi dắt thằng Hà chạy ngược về phía trường học:

"Tụi mình chạy về đường Sở Bông, tuốt lên Hồ Nước, qua bót cảnh sát mà về nhà."

Thế là cả bọn chạy theo thằng Tự mà tìm đường về.

Chạy hùng hục một đoạn, thằng Tự quay lại nhìn, thấy bọn Nam Kỳ chỉ còn có vài thằng, nó vừa chạy vửa hỏi cả đám:

Rp xinê Casino Dakao (tương t như rp Văn Cm Th Nghè.)

"Tụi nó chạy đi đâu hết rồi?"

Thằng An chỉ tay váo cái ngõ hèm phía sau, lanh miệng trả lời:

"Tao thấy tụi nó chạy vào ngõ hèm kia kìa. Ngõ này ăn thông qua đường Sở Bông. Tao nghi tụi nó sẽ . . . phục kích mình ở đầu ngõ đó."

Tôi nghĩ ra một kế:

"Tụi nó phục kích mình thì mình chơi trò "Phản phục kích". Thằng nào dám chạy theo tao vào ngõ theo sau tụi nó, lúc tụi nó ào ra đánh mình thì trong lúc bất ngờ mình nhào ra đánh tụi nó, hai đầu ráp lại đánh, tụi nó thua là cái chắc."

Thế là đám chúng tôi chia làm hai, một đám theo thằng Tự và thằng Hà, đám tụi tôi có thằng An, thằng Giao cùng đi . . .

Quả như lời thằng An tiên đoán, bọn chúng tôi vừa tới đầu ngõ thì đã thấy đám thằng Hai đang chặn tụi thằng Tự mà đánh. Chúng nó vừa đánh vừa la:

"Bắc Kỳ Cong, bỏ dô loong kiu chít chít . . .

Bắc Kỳ ăng cá rô cây . . ."

Cả đám tụi tôi cùng nhau la lên thật lớn:

"Đừng sợ . . . Có Giao Sắc tới cứu viện đây . . . Chặt què chân mấy thằng Nam Kỳ đi . . ."

Đám tụi Nam Kỳ đang thắng thế, bị tụi tôi ào ra đánh, lại nghe trong đám tụi tôi có . . . Dao Sắc  . . . và đòi . . . chặt chân tụi nó nữa, nên tụi Nam kỳ có mòi . . . ớn xương sống, lại thêm đám thằng Tự vùng lên đánh trả, nên tụi Nam kỳ túng thế, tính đường . . . rút lui.

Những người hàng xóm bên đường thấy tụi con nít đánh lộn, có người nhìn mặt được một đứa:

"Con nít uýnh lộn . . . Có thằng Tòng con thầy giáo Cảnh đánh lộn nữa đó."

Cũng có một vài bà Bắc Kỳ Di Cư đang quét sân, la lên tiếp theo:

"Trẻ con đánh nhau . . . Có cả cậu An, con ông Giáo Trọng nữa kìa . . ."

Tin học trò hai trường Thạnh Mỹ Tây đánh nhau đã đủ làm cho hai ông Hiệu trưởng nhức đầu rồi, lại thêm có hai đứa con ông Giáo cũng đi đánh lộn nữa, làm cho cả hai hội Giáo Chức mất mặt với phụ huynh học sinh trong vùng. Đương nhiên là thằng An và thằng Tòng bị gọi lên phòng Hiệu Trưởng rồi.

Đánh nhau thì không sợ, chứ bị gọi lên phòng Hiệu Trưởng thì hai thằng sợ ra mặt, nhất là lại có hai ông bố thầy giáo ngồi đó nữa.

Khi được nghe rõ là hai ông "quý tử" không phải là hai đứa gây ra chuyện đánh nhau, hai ông bố thầy giáo vui vẻ ra mặt, bắt tay nhau lia lịa.

Khi nghe hai cậu học trò kể lại nguyên nhân đánh lộn chỉ là vì bên này tố bên kia là . . . ăn gian, không biết chơi đánh bi, bắn đạn, hai thầy Hịệu trường như trút đươc hai gánh nặng ngàn cân, cho gọi hai thằng gây ra chuyện lên trình diện. Thằng Hà và thằng Hai Bơ Tí đứa nào đứa nấy mặt mày xanh lét,  thằng này vừa khóc vừa đổ lỗi cho thằng kia chơi ăn gian. Hai thầy Hiệu Trưởng cũng là dân đánh bi bắng đạng hồi xưa nên nhìn thấy ngay cách khác biệt của trò chơi. Cuối cùng, để . . . huề cả làng, các thầy đồng ý cho đám người Nam chơi bắn đạn đưa hai tay vươn dài ra đằng trước, và đám Bắc kỳ cũng bắt chước như thế mà làm theo cho nó đúng luật chơi người Nam. Còn nếu đứa Bắc Kỳ nào không quen đưa tay ra đằng trước thì có thể đưa tay ra tới đâu thì gạch mức mà ngồi tại chỗ đó  nhưng với điều kiện là phải nói ra như vậy trước khi chơi. Cuối cùng, các thầy giáo khuyên đám học trò không được đánh nhau nữa, phải bắt tay làm huề với nhau.

 

Lên trung học, vì phải thi vào lớp Đệ Thất trường công, nên anh em chúng tôi phân tán khắp nơi để thỉ vào các trường như Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục, Nguyễn Trãi, Chu Văn An . . .

May mắn thay, tôi, thằng Giao Cùn, Tự . .  thi đậu vào Hồ Ngọc Cẩn (Nam Lùn thi vào Lê Văn Duyệt, năm sau mới được đổi về Hồ Ngọc Cẩn với tụi tôi). Lên trung học rồi, lớn rồi, chúng tôi phải mặc đồng phục quần Xanh biển áo sơ mi trắng có gắn bảng tên trên túi áo, mỗi sáng Thứ Hai phải mặc đồ trắng để làm lễ chào cờ. Hồ Ngọc Cẩn là trường dành riêng cho Nam sinh, nên không có bóng hồng nào xung quanh chúng tôi cả (trừ trường Lê Văn Duyệt trong năm đầu tiên có cả trai lẫn gái học chung. Nhưng qua năm sau, trường cho dời đám nam sinh qua trường Nam Tỉnh Lỵ để trở thành trường dành riêng cho Nữ sinh).

Tôi và thằng Tự lớn tuổi hơn các bạn đồng lớp, nên tới năm Đệ Tam, hai thằng rủ nhau đi . . . học nhẩy Đệ Nhị. Thằng Nam lùn cũng muốn theo tụi tôi, nhưng thầy giáo nói

“Em nó còn . . . bé lắm”

Nên nó không dược học. Buồn tình, nó nhẩy qua học . . . Judo với thầy Hồ Cẩm Ngạc.

Cuối năm Đệ Tam, hai thằng tôi cũng làm gan nộp đơn đi thi Tú Tài I. May mắn làm sao, cả hai thằng đều thi đậu hết. Mừng hết lớn, chúng tôi tổ chức một buổi ăn mừng ở tiệm hủ tíu trước cửa rạp hát Cao Đồng Hưng, gần chợ Bà Chiểu. Sẵn trớn, tôi quyết định học tiếp để năm sau thi Tú Tài II, còn thằng Trần Đình Tự thì ngồi trầm ngâm hút thuốc hoài. Cuối cùng, nó tuyên bố vói anh em:

“Tao . . . tình nguyện đi . . . Thủ Đức. Trường đang nhận đơn cho khoá 14, ngày mai tao sẽ đi nộp đơn.

Bn bè ngày xưa, hình chp anh em chúng tôi ti S Thú, nhân dp Tết Canh T 1963.

Qua năm, tôi điềm nhiên nộp đơn đi thi Tú Tài II. Có thể là vì  . . . Thánh Nhân đãi kẻ hiền lương (?) và cũng có thể vì Ông Trời hôm đó đi vắng, để cho phụ tá thay mình viết tên thí sinh được chấm đậu, tên này chẳng biết tôi tên Giáo hay tên Giao Sắc, nên cứ viết bừa tên tôi vào đám học sinh được chấm đậu. Tôi vinh quang lên đài là đứa đầu tiên trong nhóm học sinh trường Tiểu Học Thạnh Mỹ Tây II đậu bằng Tú Tài II niên khoá 1962-1963.

Vào thời điểm tôi đậu Tú Tài II, nước nhà vẫn còn đang ở trong thời thịnh trị, Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn còn đang cầm quyền (Đảo chánh vào tháng 11/1963), đám Cộng sản vẫn còn ở trong tình trạng sơ khai, nên trong đám con trai chúng tôi, việc đi lính chưa là một đề tài nóng hổi. Hơn nữa, tôi lại là con trai độc nhất trong gia đình, nên dù là có lệnh tổng động viên ban ra ngay lúc này, tôi cũng nghĩ rằng mình sẽ được hoãn dịch vì lý do gia cảnh.

Bố mẹ tôi khuyên nên chọn ngành y khoa hay dược khoa để cứu giúp những người bệnh hoạn. Người yêu bé nhỏ học sinh của tôi cũng nghĩ rằng tôi sẽ trở thành một sinh viên đại học.

Riêng tôi, tôi lại có một ý nghĩ khác.

Gia đình tôi là dân di cư, tức là đã phải bỏ cửa bỏ nhà bỏ mọi của cải để  từ Miền Bắc di cư vào Nam tìm Tự Do. Còn rất nhiều người ở miền Bắc muốn di cư vào miền Nam như chúng tôi, nhưng không may bị kẹt lại để phải sống dưới chế độ Cộng sản không tự do không dân chủ mà chỉ cai trị người dân bằng bạo lực, bằng bắt bớ tù đầy. Cũng như những người trai thế hệ khác, chúng tôi mơ một ngày đoàn quân Miền Nam Bắc Tiến trở vể giải thoát cho tất cả những người dân khỏi ách nô lệ Cộng sản.

Tôi đã đọc nhiều tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Trường này vừa luyện VĂN vừa luyện VÕ cho những ai muốn theo nghiệp kiếm cung, ngang hang với các trường Quân Sự nổi tiếng trên thế giới, như:

“École Spéciale Militaire De Saint – Cyr” ca Pháp,

“States Military Academy At West Point” ca Hoa Kỳ,

“The Royal Military College in Duntroon” ca Úc Đi Li.

Giống như tất cả các quân trường nói trên, nhũng sinh viên sĩ quan sau khi tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, sẽ được cấp bằng “Cử Nhân Khoa Học” có giá trị tương đương với văn bằng đại học do Viện Đại Học Sàigòn cấp, và được mang cấp bậc Thiếu Úy Hiện Dịch của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Đứa con trai Việt nào cũng mang trong người dòng máu hào hùng của người Dân Việt, mong ước một ngày mai tươi đẹp với ánh nắng Vàng trải khắp quê huong.

Tôi quyết định gia nhập Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, khoá 20.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

Pencil versus camera Artist




Pencil versus camera Artist

LỜI NGƯỜI LÍNH VNCH GỞI CÁC CHIẾN HỮU ĐỔI MÀU.

 

 Chúng tôi muốn nói đến những người trước đây đã từng "ăn cơm Quốc Gia " mà nay lại đi "thờ ma Cộng Sản"

    Tôi rất ngại, không biết phải xưng hô thế nào với các bạn, trước đây tôi và các bạn đứng dưới lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, nay có một số đã chấp nhận đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ mà trong cuộc chiến bảo vệ tự do, chúng ta không bao giờ chấp nhận và truy lùng trong những cuộc hành quân, cũng như hạ xuống tại những vùng nông thôn kẻo lánh để thay vào bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ.

 

Đau lòng là ngày nay, các anh không còn thích chào cờ nầy khi về Việt Nam, phải đứng trước lá cờ đỏ sao vàng và chân dung Hồ chí Minh, thậm chí khi trở sang nước tạm dung, các anh tỏ ra khiếp sợ một cách hèn nhát, ít khi dám tham dự các sinh hoạt có lá cờ vàng, nhất là không dám chụp những tấm ảnh có những thứ mà chế độ cộng sản thù ghét, đã sống tại các nước dân chủ, nhưng các anh vẫn còn sợ hải đảng cộng sản, thì làm sao giải trừ được chế độ phi nhân, mang lại tự do cho đồng bào Việt Nam.

 

Tôi cảm thấy ngượng ngùng khi gọi các anh là chiến hữu, các anh đã thực sự đổi màu, trở thành đồng chí với cán binh cộng sản khi về đây vui chơi hay với nhiều lý do khác.

     Nhớ thuở xưa, quân nhân chúng mình đã thề trung thành với tổ quốc, đứng dưới lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngày nay các anh đã quên tất cả và đổi màu chỉ sau lần về Việt Nam và sau đó là những chuyến hồi hương, càng thắt chặt tình đồng chí với cán bộ, công an, bộ đội để kết bạn tâm giao, mua sự an toàn bằng những tiệc tùng do chính các anh xuất tiền chiêu đãi.

    Những năm tháng chiến đấu chống lại kẻ thù cộng sản, tay sai của khối cộng sản quốc tế, những năm tù đày tưởng như không sống sót sau khi miền nam thất thủ.

 

Một số các anh may mắn di tản trong giờ phút sau cùng của cuộc chiến và nay một số các anh đã quay về, không còn như bài ca: Người Di Tản Buồn, một thời làm xúc động trái tim của những người xa tổ quốc, khi quê hương lọt vào tay quân thù.

 

Những người di tản buồn ấy tiêu biểu như thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và gia đình với con gái Kỳ Duyên, vợ là Tuyết Mai, đã quay về, sánh vai cùng những kẻ mạt sát mình là bọn phản động nước ngoài, đĩ điếm du côn...chắc chắn là những người di tản buồn ấy đã mất hết tâm hồn, trở thành công cụ tuyên truyền cho chế độ phi nhân.

   Người di tản buồn Nguyễn Phương Hùng, về Việt Nam vài lần và tự xóa bỏ căn cước tị nạn, khóc lóc như là đứa trẻ trước mặt bọn cán bộ cộng sản, thật là nhục nhã, còn đâu phẩm cách con người, chứ chưa nói đến tác phong của người lính Việt Nam Cộng Hòa, với tấm gương Trần Bình Trọng:" thà làm quỷ nước nam, còn hơn làm vương đất bắc".

 

Các anh em quân nhân, nhất là cùng binh chủng Biệt Động Quân, cảm thấy đau lòng khi trong hàng ngũ có Nguyễn Phương Hùng, đổi màu, đón gió, trở thành quân nhân quốc gia, thờ ma cộng sản. Ấy thế mà Nguyễn Phương Hùng cảm thấy hãnh diện, niềm tự hào của tên phản bội đê hèn, là hạng người mà bất cứ xã hội nào cũng khinh khi, sớm đầu tối đánh.

 

Ngay cả những đồng chí mới của Nguyễn Phương Hùng cũng không bao giờ tin được hắn, nhưng trong giai đoạn nầy, đảng cộng sản dùng thân xác của anh lính Biệt Động Quân đón gió để thực hiện mục đích tuyên truyền.

 

Chính cá nhân Nguyễn Phương Hùng cũng có thể là không nhận ra sự thâm độc của đảng cộng sản, như con chó được chủ nó ném khúc xương để ngoan ngoãn nằm gọn trong thòng lọng và sau đó bị đập đầu, xẻ thịt cho một tiệc nhậu, cái băng Youbube mà Người di tản buồn năm nào, Biệt Động Quân Sát như bài ca hành khúc, bị Nguyễn Phương Hùng hạ nhục thành Biệt Động Quân khóc như đứa trẻ lên ba tại một phòng họp ở đảo Song Tử Tây, đưa Nguyễn Phương Hùng thành thân bại danh liệt, xú danh muôn đời, nhất là sau đó trở sang Hoa Kỳ, sống trong vùng đất tự do mà hầu hết mọi người nguyền rủa kẻ phản bội.

 

Đảng cộng sản đã giết Nguyễn Phương Hùng bằng cái youtube ấy, hắn lại hãnh diện và cám ơn kẻ giết mình. Nhưng nếu Nguyễn Phương Hùng trở về Việt Nam, sống trọn vẹn với tấm lòng mê đảng, hiếu với bác như Trần Trường, thì trong tương lai, bị trấn lột, phải bỏ của chạy lấy người, như nhiều kẻ lập công dâng đảng từ trước, trở về và bị vắt chanh bỏ vỏ.

 

Nguyễn Phương Hùng ngây thơ, dù làm báo lâu năm với nghề ký giả tự do ở Hoa Kỳ, hắn không biết hay cố tình không muốn biết con tàu Việt Nam Thương Tín, đã đến bến bờ tự do mà còn quay về và tất cả đã bị đảng tống vào tù.

 

Nếu Nguyễn Phương Hùng về Việt Nam cách đây 35 năm trước, thì hắn không bao giờ nói là hối tiếc là không về sớm để phục vụ chế độ cộng sản.

 

 Những nạn nhân Việt Nam Thương Tín vẫn còn hổ thẹn và hối tiếc sau khi trở về quê hương.

    Những bạn lính may mắn khác, vượt biển, đi bằng đường bộ thành công, đến bến bờ tự do. Sau bao năm lăn lóc nơi xứ người, thành công trên nhiều lãnh vực, bỗng trở về, mang tiền về giúp đảng cộng sản từ nhiều năm qua, họ trở thành khách cung cấp tiền thường trực hàng năm cho chế độ cộng sản, giúp đảng vượt qua những khó khăn kinh tế, nợ nần lút đầu, nên tránh được sụp đổ từ lâu, khi cạn kiệt tài chánh, là bài toán chung cho sự sụp đổ các chính quyền trên thế giới.

    Một số tù cải tạo, sống sót, được Hoa Kỳ cứu vớt theo chương trình O.D.P, sau thời gian định cư, quay về, kết bạn với những kẻ đã từng hành hạ, mạt sát trong các nhà tù, lương tri của con người không nằm trong ấy, ngay cả thú vật cũng không quên sau vài lần đánh đập nó, nhưng các anh quân nhân H.O trở về, kết bạn mới với cán bộ, trở thành đồng chí, kiêm mạnh thường quân trong các tiệc, sáng nhậu với ủy ban nhân dân, chiều công an đãi tiệc... đó là những đồng tiền hưu dưỡng được chính phủ Mỹ chu cấp để sinh sống, hay những món tiền hưu sau nhiều năm làm việc, thay vì chi cho gia đình, giúp cho các bệnh viện sở tại để chửa trị, trong đó có phúc lợi gia đình và cá nhân mình.... thì các anh lại tiêu xài cho cán bộ cộng sản để mua sự an toàn trong thời gian lưu lại, với nhiều ly do như thăm gia đình, hú hý với gái tơ, du lịch...

 

Những quân nhân như Phạm Tín An Ninh, sau 9 năm tù, quay về để làm quen với những kẻ hành hạ trước đây, còn viết sách ca tụng quản giáo và giúp đỡ cả con quản giáo nữa.

   Một số bạn bè của tôi cho biết ở nước Úc, chính phủ ưu ái dành cho quân nhân đồng minh quyền lợi, được cấp hưu dưỡng từ bộ cựu chiến binh, nhưng đã có nhiều anh đã dùng 11 tháng trong năm số tiền cấp dưỡng để sống tại Việt Nam, đó là tiền đóng thuế của dân Úc, lại được các anh nuôi chế độ cộng sản.

 

Theo nhiều người biết, nhiều quân nhân đã quay về, mua nhà, chỉ sang Úc 1 tháng cho hợp chính sách và trở về sống 11 tháng còn lại trong năm, các anh ấy là đồng chí, chứ không còn là chiến hữu nữa. Tại sao những quân nhân ở đây không báo cho chính phủ Úc biết những người như thế?.

 

Một số quân nhân quay về Việt Nam thường viện lý do là có quan hệ bang giao, các cựu chiến binh đồng minh ở Hoa Kỳ, Úc...trở về Việt Nam du lịch, vì họ có nguồn gốc khác với các quân nhân VNCH, chúng ta ra đi vì chế độ cộng sản, nay không thể viện lý do bang giao, là quốc tịch được ban cấp để trở về nơi mà chúng ta cho là nguy hiểm, không thể quay về.... đó là trường hợp một giàn dây leo, có cây mướp, bầu, khổ qua...chung một giàn, nhưng khác giống.

 

Những người tỵ nạn cộng sản năm nay, trở về an toàn, thì đã tự mình xé bỏ căn cước tỵ nạn chính trị, chính phủ các nước ban cấp quyền công dân, nhưng họ cũng có quyền thu hồi khi cần và xét thấy những người được cấp vi phạm luật, giống như thu hồi giấy phép thương nghiệp, hành nghề luật sư, bác sĩ...của những kẻ vi phạm luật.

    Kẻ thù cộng sản đã đạt thắng lợi lần nữa sau cuộc chiến Việt Nam, không phải chúng tài giỏi, nhưng là do trong hàng ngũ quốc gia, có một số người đón gió trở cờ, đặt cá nhân trên tổ quốc, trở thành những kẻ phản bội.

    Trước năm 1975, chính sách chiêu hồi của chính phủ miền nam đã cải hóa hàng chục ngàn cán binh trở về với chính nghĩa quốc gia.

 

Nhưng phía cộng sản cũng có cái gọi là: trở về với nhân dân và cách mạng, thực tế là con số người giác ngộ cách mạng không nhiều, đa số là những kẻ nằm vùng trong hàng ngũ quân đội, chính quyền bị lộ nên phải bỏ vào bưng để an toàn, hay những tên gây tội phạm hình sự, sợ bị pháp luật chế tài, nên vào rừng để trốn tránh.

 

Vào những ngày gần cuối cuộc chiến, có một số quân nhân phản bội, nằm vùng như Nguyễn Thành Trung, quay súng làm phản, được cộng sản cấp giấy " Tiền Khởi Nghĩa", số người nầy đa số là gia đình cán bộ cộng sản, được móc nối bỏ hàng ngũ để sau nầy được an toàn.

Ngày nay, sau cuộc chiến, các quân nhân may mắn thoát khỏi tay kẻ thù, nay trở thành "tiền khởi nghĩa", trở về làm đồng chí của những kẻ chiến thắng thời cơ, mang tiền về đóng góp cho bọn tư bản đỏ tại Việt Nam và đã thành kẻ phản bội.

 

Đây là những tâm tình của một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhắn gởi những ai còn lương tri và đồng thời xác định lập trường, bảo vệ chính nghĩa quốc gia, từ nay những kẻ phản bội, trở cờ, không còn là chiến hữu nữahttp://multiply.com/.

 

ĐỖ VĂN XUÂN
( Người lính chưa nhận chứng chỉ giải ngũ)
25.07.2012

 

 

 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link