Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, August 13, 2012

“Back To The Future” – Đào Nương


From: Dien H. Nguyen
Subject: “Back To The Future” – Đào Nương



Mời đọc..

 
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo trúng nhằm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý có người tôi thương.(thơ Yên Thao)
Bài đọc suy gẫm: “Back To The Future” hay Việt Nam Cộng Hòa, biết mới tiếc của tác giả Đào Nương, báo Sài Gòn Nhỏ.

Hình ảnh minh họa: Lễ khai mạc Đại Nhạc Hội Thương Binh – “Cám Ơn Anh” kỳ 6, do các hội đoàn phối hợp tổ chức trong ngày Chủ Nhật 12, tháng 8 năm 2012 tại trường trung học Bolsa Grande, Little Sài Gòn, Nam California – Hoa Kỳ.

VNCH, biết mới tiếc…

Đào Nương
Sau 36 năm Miền Nam rơi vào tay cộng sản, ngày nay không chỉ những người sinh sống tại Miền Nam Việt Nam trước đây, không công nhận lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Việt Nam mà ngay cả những người trong nước cũng không tôn trọng lá cờ này mặc dù đó là lá cờ đang tung bay khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Người Việt hải ngoại tôn trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không chỉ thuần túy vì đó là lá cờ của Việt Nam Cộng Hoa, của chính phủ Miền Nam Việt Nam mà vì đó là một biểu tượng cho một quốc gia mà đáng lẽ dân tộc Việt Nam phải có, một chính phủ tự do dân chủ, một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội công bằng bác ái mà lá cờ đỏ và cái chính phủ Việt gian cộng sản ngày nay tại Hà Nội sau 36 năm làm chủ đất nước đã chứng minh những điều ngược lại.

Dĩ nhiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ mà những người sinh sống tại Miền Bắc không quen mắt, không chấp nhận dù họ có thù ghét chế độ cộng sản mà họ đang sinh sống đến tận xương tủy. Người ta không thể chấp nhận một biểu tượng mà người ta không biết, không hiểu, không có những kỷ niệm đẹp, không hy sinh xương máu để bảo vệ nó.

Nhất là khi chỉ một sớm, một chiều, những người Việt Nam không chấp nhận Cộng Sản đã mang theo lá cờ vàng trên đường lưu vong, dù phải trải qua những nơi địa ngục trần gian là những nhà tù của cộng sản, và đã phải để lại sau lưng quê hương yêu dấu, mảnh vườn nhỏ, mái nhà ấm cúng, con sông hiền hoà, sau khi đã được chứng kiến chủ nghĩa xã hội cộng sản tiêu biểu cho văn hoá, đạo đức, luân lý Việt Nam phân hoá dần dần trước mắt.  

Việt Nam Cộng Hoà mặc dù là một xã hội chưa hoàn bị nhưng đã hình thành được mọi cơ cấu của một xã hội văn minh, công bình và dân chủ.

Người Việt sống tại Miền Bắc đói khổ, đã phải hy sinh mọi thứ cho nhu cầu chiến tranh theo sự tuyên truyền của cộng sản nên có thể nói hầu hết đều không biết gì về Việt Nam Cộng Hoà.

Việt Nam Cộng Hòa không phải là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ… mà là xã hội Miền Nam Việt Nam xây dựng trên căn bản giáo dục. Đó là những cô bé, cậu bé đến trường mỗi buổi sáng, mặc đồng phục với nét mặt tinh anh trong sáng của tuổi thơ.

Đó là những cô nữ sinh áo trắng dễ thương và ngoan ngoãn, thuần hậu trong gia đình. Đó là những thầy, cô giáo sống và hãnh diện với thiên chức của một bậc thầy và được mọi người trong xã hội kính trọng.

Trước 1975 Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo nhiều chuyên viên với tiêu chuẩn quốc tế, văn bằng của VNCH được chính phủ Hoa Kỳ, Pháp và nhiều quốc gia khác công nhận tương đương hoặc gần tương đương.

Nghề thầy do đó không phải là một thứ… “chuột chạy cùng đường mới vào sư phạm” như ngày nay.

Nhưng trong ký ức của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam thì Việt Nam Cộng Hoà là những con đường ngợp bóng lá me, các nam sinh đi theo nữ sinh mỗi khi tan học nhưng không dám có một cử chỉ sàm sỡ, một lời nói vô lễ.

Phải nhắc đến điều này vì những kỷ niệm đẹp của thời thiếu niên thường ghi sâu trong ký ức người ta suốt đời:

Lời ru nào níu được
Lúc những cánh me xanh
Bay mềm con lộ nhớ
Em sau khung cửa đạn soi
Sách ngăn tầm mắt đời ngoài lộ cao
Khi không lòng bỗng dạt dào
Sông tôi cạn nước nguồn nào bỗng đi
(Bài cho người trong vườn dược thảo, thơ Du Tử Lê)

Cuộc chiến càng thảm khốc thì lại có biết bao thanh niên theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ để bảo vệ một hậu phương bình yên trong đó có cha, có mẹ, có anh, có em, có cái gia đình nhỏ bé của mình.

Đó là lý tưởng. Đó là những chàng trai anh hùng của thế hệ.

Hàng trăm ngàn bài hát, bài thơ đã được viết ra trong giai đoạn này và cho đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng bất tận cho toàn nước Việt Nam thống nhất. Nó chính là “nhạc vàng” của văn hoá Việt:
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo trúng nhằm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý có người tôi thương. (Thơ Yên Thao)
Hay
Năm năm rồi đi biệt
Đường xưa chưa lối về
Thương người em năm cũ
Thương goá phụ bên song (Thơ Phạm Văn Bình)

Hình ảnh của những tân sinh viên sĩ quan trong quân phục đại lễ ngày tốt nghiệp ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Thủ Đức là những hình ảnh tinh anh của dân tộc Việt, không phải là hình ảnh của “nợ máu với nhân dân” sau ngày 1975 đâu. Họ đã chọn binh nghiệp để bảo vệ từng tấc đất của quê hương đang bị dày xéo vì bom đạn gây ra bởi bọn lãnh tụ cộng sản vô thần.

Bây giờ sau 36 năm nhìn lại, nhìn thế hệ thanh niên tan rã mệt mỏi, tương lai không lối thoát của Việt Nam thời cộng sản mà thương cho họ không biết là bao nhiêu.

Thương tuổi thơ của những người không lý tưởng, chỉ nắm “cái đuôi của đảng cộng sản Việt Nam” mà nhìn ra thế giới bên ngoài và trở thành một thế hệ “vô cảm” đến rợn người.

Đời sống chỉ còn là sự tranh đua để đạt được điạ vị trong đảng vì quyền đi với tiền. Bằng được mua bằng tiền chứ không cần học để có kiến thức. Trong một quốc gia nghèo đói vào hàng nhất thế giới nhưng có hàng nửa triệu “tiến sĩ ma” làm trò cười cho thế giới.

Xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 không phải là hoàn toàn trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng nhưng tham nhũng không phải là một chính sách để cai trị nước như đảng cộng sản Việt Nam ngày nay. Người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an.

Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo.  

Sĩ quan đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng. Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy chứ không phải trả tiền mới được chữa cháy.

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự mặc dù cũng có những khuyết điểm. Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân.

Có những ông giáo sư đại học nhận mình là thành phần thứ ba, theo chủ thuyết xã hội chứ không phải là chủ thuyết Mác Lê công khai ra báo, viết sách, viết luận án đại học lên án chính phủ, lên án chiến tranh, nhưng lại ve vãn cộng sản vì lý luận ấu trĩ rằng chính phủ Miền Nam bị Mỹ giựt dây, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải nói chuyện với Hà Nội.

Kinh tế thương mại tự do không bị chính phủ kiềm chế, về an ninh xã hội người dân được luật pháp bảo vệ, cảnh sát công an ức hiếp nhân dân bị truy tố ra trước pháp luật ngay.

Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện.  

Ngày nay, sau 36 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau, Việt Nam chưa thể có lại. Miền Nam Việt Nam không chỉ “sản xuất” có hai “thiên tài” là Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng đâu.

Nhưng Việt cộng chỉ “chấp nhận’ có hai người này vì một anh thì trốn lính, sống hèn mọn trong sự che chở bao dung của chính phủ Miền Nam tôn trọng nghệ sĩ, còn người kia thì mang bệnh tâm thần.

Cứ đếm lại số sách đã được xuất bản tại Miền Nam trong 20 năm từ 1954 đến 1975, từ khoa học đến chính trị, từ truyện ngắn, truyện dài, thơ văn đến âm nhạc rồi so sánh với 60 năm cộng sản CAI TRỊ Việt Nam thì sẽ hiểu.

Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam cần nhiều thập niên mới “back to the future” được.

Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 36 năm.
*
Vì không được sống, không được trưởng thành, không được hoạt động chính trị, văn hoá hay sống đời quân ngũ của xã hội Miền Nam nên không có gì ngạc nhiên khi những người trí thức Cộng Sản thù ghét bọn cầm quyền cộng sản vì đã hất cẳng họ, đã đẩy họ ra khỏi nước, rồi vì hậm hực nên suốt ngày ngồi viết những điều phản đối bọn cầm quyền cộng sản nhưng vẫn vinh danh bác Hồ và “kẻ cả” xem cộng đồng Người Việt hải ngoại là những kẻ bại trận, lá cờ vàng là vô nghĩa nên không muốn đoàn kết để lật đổ chế độ độc tài cộng sản mà họ là một thành phần cốt cán trước đây.

Sống nơi xứ sở tự do này, chúng ta nên tôn trọng họ. Thái độ không muốn đứng chung trong hàng ngũ với Người Việt quốc gia cũng là một điều dễ hiểu: bối cảnh lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam từ 60 năm qua đã chia dân tộc và đất nước Việt Nam ra thành nhiều khối: trí thức, công nhân, cộng sản, quốc gia, vv…vv…

Điều khó hiểu là những người cán bộ đảng trung kiên bị thất sủng như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên thường viết bài dạy Người Việt quốc gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà chống cộng trong khi họ nhìn thấy trước mắt, cái đảng tạo ra họ, cho họ một vị thế, một tên tuổi, chính cái đảng đó đang làm tan rã đất nước và con người Việt Nam.

Cái đảng bất nhân đó đang chia 85 triệu Người Việt ra làm hai khối: đại đa số quần chúng bình dân, không có phương tiện về an sinh xã hội, không có giáo dục, sống đời nô lệ phục vụ cho một thiểu số cán bộ tham ô mà ngôn ngữ Việt cộng gọi là “quan tham”. Cái đảng bất nhân đó đang đưa đất nước đến cái họa diệt vong trong tay Tàu Cộng.

Nhóm hận duệ trong màn hoạt cảnh “tấn công và truy lùng địch” đặc sắc được đồng bào hoan nghênh, cổ võ.
Nhóm phóng viên chiến trường và các bloggers cũng chuẩn bị… tiến công :)
Sau 1975, Người Việt Quốc Gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà vì thất thế nên chúng gọi là “ngụy”, đày ải quân dân cán chính trong rừng già để chết dần chết mòn, gia đình ly tán, con cái thất học, nên bằng mọi cách Người Việt Quốc Gia phải ra đi và bằng ý chí cương cường quật khởi cuả dân tộc Việt Nam, khối Người Việt Tự Do, những công dân cuả Việt Nam Cộng Hoà đã chọn thế giới làm lãnh thổ, phát triển tài lực và trí tuệ, ngăn chận được sự tuyên truyền và bành trướng của bọn Việt gian cộng sản khắp nơi.

Có mà nằm mơ, người ta cũng không thể nghĩ rằng những công dân Việt Nam Cộng Hòa trong điều kiện sinh sống dù lưu vong, dù trong lao tù cộng sản đã giữ vững được ý chí chống cộng đến thế.

Thế hệ thứ hai của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản, của những công dân của Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ được nguyên vẹn đạo đức và luân lý của Việt Nam.

Trong mọi gia đình, những đứa trẻ không nói rành tiếng Việt hay nói tiếng Việt với giọng ngọng nghịu của người bản xứ nhưng đều là những đưá trẻ ngoan ngoãn vì chúng biết rằng cha mẹ chúng phải lưu vong, phải hy sinh nhiều để chúng được lớn lên ở một đất nước tự do, có cơ hội để phát triển trí tuệ, những điều chúng sẽ không có được nếu sống dưới một chế độ cộng sản, như Việt Nam cộng sản ngày nay, như Cuba, như Bắc Hàn, hay ngay cả Trung cộng…

Nhưng những người như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín đâu phải là ngụy. Các ông này là những “trí thức cộng sản” lớn lên trong lòng chế độ. Đáng lẽ các ông đừng hèn, hãy ở lại Việt Nam, hãy kêu gọi nổi dậy, hãy dẫn dắt toàn dân chống lại cái đảng cướp đã tạo ra các ông, hãy cho toàn dân biết ‘chúng” đã đi sai… đường cách mạng. “Con đường Bác đi” cuả các ông không lẽ lại là con đường… bi đát, đưa hàng trăm ngàn gái Việt ra hải ngoại lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, làm mãi dâm mới có cơm ăn? “Con đường Bác đi” không lẽ lại là con đường dâng nước Việt cho Tàu?

Các ông hãy can đảm đứng dưới ngọn cờ do các ông lựa chọn miễn là các ông bảo vệ được dân, được đất nước khỏi rơi vào tay giặc là được. Hãy hành động như các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã làm trước khi bị tước súng vì một thế cờ chính trị thế giới: họ đã đứng lên, đã anh dũng hy sinh, đã chống lại áp bức của chính quyền để bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất Miền Nam để rồi đảng các ông đã lừa gạt dân Miền Bắc, đưa họ vào Nam, đem sinh mạng làm bia đỡ đạn để “giải phóng” một Miền Nam trù phú, một xã hội tôn ti trật tự, đạo đức văn hoá, luân lý cần được bảo tồn.

Mới đây có một bài viết của một người thuộc thế hệ trẻ có tựa đề “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” do diễn đàn danchimviẹt.info (BBT: Trong bài, tác giả viết .com) phổ biến với lời toà soạn như sau:

(Trích)

LTS: Trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN hôm nay, tìm hiểu tư duy của lớp người trẻ không tham dự vào cuộc chiến quốc-cộng trước kia – mà sẽ là chủ lực cách mạng nay mai – là một điều cần thiết. ĐCV chọn đăng bài viết của tác giả Tiên Sa trên mạng xã hội facebook cũng nằm trong tinh thần đó. Mời bạn đọc cùng suy tư và chia sẻ. (hết trích)

Nội dung bài viết của người bạn trẻ này cũng như nội dung bài viết của ông cán bộ già thất sủng Nguyễn Minh Cần giống nhau ở chỗ: cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản chưa xảy ra nhưng họ đã sợ lá cờ vàng và chế độ Việt Nam cộng hoà được tái lập ở Việt Nam… sau 36 năm bỏ chạy.

Đào Nương tôi không tin đây là bài viết của một người viết trẻ ở hải ngoại.

Thật ra, tháng 4, 1975, Người Việt Miền Nam đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến không lối thoát giữa hai ý thức hệ tự do và cộng sản.

Cái thành trì bảo vệ thế giới tự do đã không còn đứng vững sau khi tổng thống Hoa Kỳ Nixon qua gặp Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Giữa một bên chiến đấu với viện trợ có điều kiện và một bên được viện trợ vô điều kiện của khối cộng sản, sự chiến thắng khó lòng ở về phía VNCH.

Khi buông súng năm 1975, Người Việt Miền Nam đã muốn “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” để hai miền cùng nhau xây nước và dựng nước chứ.

Nhưng việc gì đã xãy ra sau đó, chắc Ban Biên Tập của Đàn Chim Việt, nơi phát tán những bài viết của ông Nguyễn Minh Cần và “người bạn trẻ” Tiên Sa chắc đã biết rõ hơn ai hết: hàng triệu quân dân cán chính Miền Nam bị đầy vào lò “cải tạo”, gia đình họ bị đẩy đi vùng kinh tế mới, cướp nhà, cướp cuả, con cái họ không được đến trường.

Cho đến ngày nay, những người sinh sống tại Miền Nam vẫn còn là những công dân hạng hai trên đất nước mình.

Vì nghĩ rằng “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” nên hàng triệu người Miền Nam đã buông súng, xếp hàng đi tù cải tạo vì nghĩ rằng một giai đoạn chiến tranh tương tàn đã đi qua, đi trình diện một tháng rồi về sống đời công dân của một quốc gia độc lập và thống nhất.

Chuyện gì đã xy ra cho họ, cho những người sinh sống tại Miền Nam sau 1975?

Không lẽ ngày nay, trong công cuộc cứu nước, khi không còn ở vị thế cầm quyền thì những công dân của Việt Nam Cộng Hoà không thể là một tiếng nói đối lập với cái chính quyền vô nhân đang cai trị đất nước Việt Nam hay sao?

Chúng ta sẽ đấu tranh để những người dân của đất nước Việt Nam dân chủ và tự do có quyền lựa chọn cho họ một đảng phái cầm quyền, họ sẽ biểu quyết về một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có 3 triệu đảng viên hầu hết là bọn thất học, tham ô. Cứ nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay thì thấy rõ.

Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản ở nước ngoài có 3 triệu người nhưng đồng thời họ cũng là công dân của những quốc gia tự do và dân chủ. Việc họ phải sống lưu vong ở hải ngoại không phải là một việc trốn chạy hèn nhát mà là hậu quả tất nhiên cuả một cuộc chiến tương tàn có kẻ thua, người thắng.  

Khi họ tập hợp để nói lên tiếng nói của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản, một tiếng nói đối lập là một việc làm cần thiết khi Người Việt không thể làm được điều này ở quê hương.

Tiếng nói đối lập này và lá cờ vàng trong giai đoạn này chắc hẳn là cần thiết cho công cuộc đấu tranh hơn là tiếng nói “lèm bèm” của những ông đảng viên thất sủng “chạy trốn” ra nước ngoài chứ?

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh từ xa về yểm trợ đại hội.
Ca sĩ Dạ Lan, Phóng viên đài truyền hình 57.3 đang phỏng vấn các chị mang phù hiệu thuộc… Cục Chính Huấn?
Nữ Hải Quân Thiếu Tá Hoa Kỳ gốc Việt.
Anh trở về anh trở về…còn có 1 tay. (Nhạc nhái Kỷ Vật Cho Em – PD.)
Gớm ! Bé tí thế mà đã biết yêu màu áo lính.


Hy vọng bài viết này sẽ giải thích được phần nào tại sao Người Việt không cộng sản không thể “Để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” được. Vì đó là tương lai của đất nước Việt Nam. Đừng bàn cãi trên những trang giấy hay trên những trang mạng điện tử.

Thực tế chứng minh cho hành động. Trong 60 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã tàn phá đất nước và con người Việt Nam đến tận cùng đáy vực, khi các ông “trí thức cộng sản” đủ hết hèn để la làng (nhưng cũng phải núp đàng sau cái xác còn thở của “đại tướng”) về cái hoạ mất nước mà cũng chỉ như tiếng rên trong lăng Ba Đình cuả cái xác thối rữa chưa chôn thì chúng ta có cần bàn cãi thêm về cờ vàng hay cờ đỏ không?  

Ngược lại, chỉ trong 36 năm, cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản đã “bành trướng” điạ bàn hoạt động khắp năm châu, những khu phố Việt Nam sầm uất, vững mạnh hơn các ChinaTown của người Tàu, mỗi năm cộng đồng Người Việt gửi về nuôi thân nhân hàng chục tỹ đô la. “Chạy trốn, thua trận” mà làm nên … nghiệp lớn như vậy trong khi bọn cộng sản Việt Nam thì co cụm lại trong các toà sứ quán, ra đường thì mắt la, mày lét sợ người dân bắt gặp. Lãnh tụ ngoại giao như tên Nguyễn Xuân Việt ở Jordanie thì hành xử như bọn đầu gấu, du đãng khiến thế giới phải bàng hoàng và người nữ công nhân 20 tuổi bị xúc phạm đã được Hoa Kỳ cho nhập cảnh vì lý do chính trị thì đủ hiểu.

Dĩ nhiên, ở đâu, xã hội nào thì cũng gồm đủ con gà, con công, con phụng… đừng nhìn vào đàn gà của cộng đồng Việt Nam hải ngoại rồi kết luận tất cả chỉ là một đàn gà mà lầm to. Nhưng có một điều có thể coi như là chân lý “không thay đổi” dù bên này hay bên kia bờ Thái Bình Dương: đảng viên cộng sản thì anh nào cũng hèn, cứ phải dựa vào nhau để sống còn, để được làm “quan tham” bóc lột dân lành.

Chúng đoàn kết theo đúng tôn chỉ “tranh đấu đến cùng với kẻ thù, chỉ hoà gii với nội bộ”. Trong khi nếu vì tương lai dân tộc thì phải tìm cách liên kết mọi người với nhau chứ. Ra đến hải ngoại vẫn còn sợ lá cờ vàng nhưng tiền bạc của cờ vàng thì đưa lên mặt mà hít hà. Khinh bọn “thất trận, giặc ngụy” bỏ chạy, nhưng lại sợ chúng nó trở thành một thế chính trị đối lập trở về nhưng vẫn ra chính sách ve vãn Việt kiều.

Chơi với cái đầu “ngụy” thì không dám chơi chỉ muốn chơi với các “khúc ruột thừa” của họ?

Việt Nam Cộng Hoà phải sống mãi trong lòng người Việt không cộng sản là vì thế! Vì không muốn nhận sự nhục nhã là công dân của một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, muốn bảo vệ ngư dân cũng phải xin phép “thằng” Tàu cộng!

Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.

© Đào Nương
Nguồn: Tuần Báo Saigon Nhỏ số ra ngày 11 tháng 3, 2011.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


ĐẠO HIẾU VỚI CON NGƯỜI Bút Xuân Trần Đình Ngọc


TẠP GHI MÙA VU LAN

  

ĐẠO HIẾU VỚI CON NGƯỜI

Bút Xuân Trần Đình Ngọc

                        

Sau ngày 30-4-1975, đàn chim Việt không còn cái may mắn “Việt điểu sào nam chi” được nữa nên đã tung cánh đến bốn phương trời. Ở những nơi là quê hương thứ hai đó, đàn chim Việt đã học hỏi được nhiều điều hay, lạ cũng như nhiều điều không hay. Ở đây, chỉ xin nói về những cái hay. Cái dở - của mình  và của người - xin sẽ nói sau.

Một trong những cái hay ở Hoa Kỳ hay ở Pháp là những xứ này đặt ra “Ngày Từ Phụ” và “Ngày Hiền Mẫu” (Father’s Day, Mother’s Day hay Fête des Pères, Fête des Mères).

Chẳng phải do sáng kiến của người Hoa Kỳ, người Pháp hay người các nước khác mà người Việt chúng ta mới nhớ đến cha mẹ chúng ta. Tộc Việt vốn là giống dân hữu thần, trọng lễ nghĩa, truyền thống của dân tộc. Khi tam giáo (Phật, Khổng,  Lão) chưa du nhập Việt Nam thì người Việt đã biết kính thờ tổ tiên, trọng kính cha mẹ, thương yêu anh, chị, em và hầu như mọi gia đình đều lập bài vị ông bà, cha mẹ để thờ cúng. Những ngày giỗ kị thì thắp nhang, dâng hoa quả, cơm nước đặt trên bàn thờ để mong ông bà, cha mẹ (nhũng người đã khuất) về hưởng. Nhà nghèo nhất cũng có bát cơm trắng với quả trứng luộc dâng lên với tất cả lòng thành. Tuy người đã khuất không hưởng được nhưng lễ nghi ấy lại cần thiết để giáo hóa con trẻ để sau này chúng cũng nhớ đến ông bà, cha mẹ như vậy.

Tam giáo du nhập Việt Nam rất sớm, như đạo Phật từ cuối thế kỉ thứ II, đạo Khổng kể từ Tích Quang (Thái thú Giao chỉ, đời Hán Bình đế), Nhâm Diên (thái thú quận Cửu Chân từ năm 29 đến năm 33), Sĩ Nhiếp (làm thái thú quận Giao Chỉ từ năm 187-226) lấy lễ nghĩa văn hóa dạy dân ta thì đạo Hiếu lại càng được khuyến khích nhiều hơn. Tôi nhớ trong mấy cuốn sách vỡ lòng về Nho giáo tôi đã học hồi năm, bảy tuổi, như Tam tự kinh, Minh Tâm bảo giám chính văn, và sau này tại trường đại học Văn Khoa Sàigòn, cuốn Đại học, thụ giáo LM Sàng Đình Nguyễn văn Thích, các sách đó bàng bạc toàn dạy về chữ Hiếu, chữ Nghĩa, chữ Trung Tín.... Xin trưng dẫn vài câu:

       Quân tử hữu bách sự, hiếu vi tiên.

       Người quân tử có một trăm công việc để làm, hiếu là ưu tiên.

Chẳng những quạt nồng ấp lạnh, phụng sự cha mẹ mà khi có công việc phải đi xa cũng chớ nên khinh xuất bỏ cha mẹ ở nhà một mình:

       Phụ mẫu tại đường, bất khả viễn du.

       Còn cha mẹ đấy, không nên đi chơi xa.

Chữ Hiếu trong kho tàng Ca dao, Tục ngữ lại càng nhiều nữa và hầu như ai cũng thuộc nằm lòng đôi câu:

       Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

       Một lòng kính mẹ, thờ cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.



       Công cha đức mẹ cao dày

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ

       Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết thờ song thân



Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá

 Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đang đua

       Ta về lập miếu thờ vua

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Nho giáo không dạy kĩ thuật mà chỉ dạy lễ nghĩa “tiên học lễ, hậu học văn”.

Hầu như câu nào trong Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử) và Ngũ kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu) cũng dạy cách làm người: đạo Hiếu kính và Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chúng ta hãy đọc lại bài “Thế nào là hiếu?” sau đây trích trong sách Luận ngữ:

Mạnh Ý tử hỏi thờ đấng thân, thế nào gọi là hiếu? Đức Khổng tử nói rằng: “Thờ đấng thân mà không ngang trái là hiếu.”

Thày Phàn Trì ngự xe cho đức Khổng, đức Khổng bảo cho rằng:”Họ Mạnh Tôn hỏi ta điều hiếu, ta thưa rằng:”Không ngang trái.” Thày Phàn Trì hỏi rằng:”Lời ấy là ý bảo thế nào?” Đức Khổng nói rằng:”Ta nói không ngang trái là không ngang trái với lẽ phải. Người con thờ đấng thân, khi đấng thân còn thì phụng dưỡng cho phải lễ; khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ; khi tế đấng thân thì tế cho phải lễ.”

Mạnh Vũ Bá hỏi điều hiếu. Đức khổng tử nói rằng:”Cha mẹ chỉ chăm lo về tật bệnh người con.”

Thày Tử Du hỏi điều hiếu. Đức Khổng tử nói rằng:” Đời nay chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như khuyển mã, cũng còn nuôi nó cả. Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính thì có khác gì!”

Tử Hạ hỏi điều hiếu. Đức Khổng tử nói rằng:”Khi thờ cha mẹ, khó nhất là nét mặt hòa vui. Nếu kẻ đệ tử chỉ biết phục dịch làm thay việc khó nhọc cho phụ huynh và có rượu cơm mời ngài xơi, những điều ấy có kể là hiếu đâu!”

 (Nguyễn hữu Tiến và Nguyễn đôn Phục dịch).

Chú thích: Phàn Trì, Tử Du, Tử Hạ: học trò Đức Khổng tử. Mạnh Ý tử: quan đại phu nước Lỗ. Mạnh Vũ Bá: con Mạnh Ý tử.

Xem thế, vật chất cung phụng cha mẹ không quan trọng bằng tấm lòng, bằng cái tinh thần. Cha mẹ con cái, có no ăn no, có đói ăn đói, cùng nhau chia bùi sẻ ngọt, nét mặt, cử chỉ, lời ăn tiếng nói của con ôn tồn, kính cẩn thì dù hoàn cảnh thiếu thốn, cha mẹ nào cũng vui lòng. Trái lại, thừa mứa của cải, nuôi cha mẹ trong nhà nhưng đối xử như nuôi đầy tớ, dằn vặt, chì chiết, đập nồi quăng rế, chửi chó mắng mèo thì đến cao lương mĩ vị hàng ngày, giường êm nệm ấm ban đem cha mẹ cũng buồn tủi mà xin đi! Cái nét mặt đức Khổng tử nói chính là cách đối xử, ăn ở vậy.

 Đạo Phật cũng hoằng dương đạo Hiếu. Chuyện kể rằng có một phụ nữ tuy không vào chùa xuống tóc đi tu nhưng mộ đạo lắm, giữ mọi giới của nhà Phật.

Một bữa, chị thấy buồng chuối ngoài vườn có vài nải chín vàng, trông tươi đẹp, ngon lành. Chị cắt cả buồng, để lại mấy nải còn xanh, bỏ hai nải chín đẹp nhất vào trong cái rổ, lấy vỉ đậy lại rồi hối hả đội lên chùa, hí hửng lễ Phật, nghĩ rằng ắt sẽ được nhiều phước.

Chị vào đến cổng chùa, sân chùa vắng ngắt vắng ngơ vì là ngày thường, chị đi thẳng vào gian bếp, thấy chú tiểu đang đứng tưới cảnh ngoài vườn, chị chào hỏi và mượn chú cái đĩa lớn. Đặt chuối vào đĩa, chị đưa lên gian tam bảo, đặt đĩa chuối trước bàn thờ Phật, đốt thẻ hương, khấu đầu vái lạy hết lòng cung kính rồi cắm hương vào bát, ra về.

Chị vừa ra tới sân thì gặp Hòa thượng trụ trì. Rổ cắp ở tay, chị cúi đầu chào sư cụ. Sư cụ đã biết chị từ lâu nhưng ngạc nhiên sao hôm nay ngày thường chị cũng lên chùa.

       “Bạch hòa thượng.”

       “Chào thí chủ. Thí chủ có việc gì lên chùa hôm nay?” Sư cụ hỏi.

       “Bạch hòa thượng, buồng chuối trong vườn có nải chín đẹp và ngon lắm, con đưa lên cúng Phật.”

       “Chị để chuối ở đâu rồi?”

       “Thưa cụ, con đã thắp hương và cúng trên bàn thờ Phật.”

       “Đâu, chị chỉ cho tôi coi.”

Người đàn bà đi trước hướng dẫn sư cụ vào trước bàn thờ Phật. Cây hương còn cháy và đĩa chuối vàng tươi vẫn y chỗ cũ. Sư cụ bảo người đàn bà:

       “Thí chủ có lòng đến lễ Phật, lại cúng quải những thứ đặc sản của vườn nhà, một điều rất quí hóa. Ta có nghe, thí chủ còn song thân phải phụng dưỡng, phải không?

       “Bạch hòa thượng, phải.”

“ Vậy thí chủ đã dành nải nào dâng lên song thân thí chủ chưa?”

Người đàn bà luống cuống vì câu hỏi. Còn lại bốn nải nữa nhưng chị không định dành cho cha mẹ nải nào mà chỉ đợi phiên chợ tới, đem ra bán. Chị trả lời cho qua:

“Dạ, thưa hòa thương, mấy nải kia còn xanh, khi chín con sẽ dâng cha mẹ.”

“Không,” Giọng sư cụ ôn tồn nhưng nhìn nét mặt luống cuống của người đàn bà, sư cụ đã đoán ra, hơn nữa lời đồn về chị ta đối với cha mẹ không tốt đã vô tình đến tai sư cụ từ lâu nay, ” Thí chủ phải dành những nải này cho cha mẹ thí chủ đã, những nải kia chín hãy đem cúng dường. Nếu thí chủ không dâng cha mẹ trước thì Phật không nhận lễ vật của thí chủ đâu.”

Nói xong, sư cụ cầm đĩa chuối trao cho người đàn bà:

“Thí chủ hãy cầm về dâng lên cha mẹ. Cha mẹ thí chủ chính là Phật sống tại gia của thí chủ đó.”

Người đàn bà mắc cở đỏ mặt, vái chào sư cụ xong cắp rổ chuối đi một mạch.

Trong những kinh nhà Phật, Phật cũng dạy:

Thiên chi cực mạc đại ư hiếu, ác chi cực bất hiếu giả: Hiếu thảo là điều thiện to lớn nhất, bất hiếu là điều ác to lớn nhất.

Thế nhược vô Phật, thiên sự phụ mẫu. Sự phụ mẫu tức thị sự Phật. Người sinh ra đời không gặp Phật mà phụng thờ cha mẹ thì cũng như thờ Phật.

       Tu đâu bằng tu tại gia

Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Cách nay hơn bốn thế kỉ, Thiên Chúa giáo từ phương Tây truyền vào Việt Nam qua các nhà truyền giáo Pháp, Tây ban Nha, Bồ đào Nha, Ý đại lợi. Thiên chúa giáo hay Kitô giáo cũng dạy con người phải “thảo kính cha mẹ.” Trong 10 điều răn của Thiên Chúa buộc giáo dân phải hết sức giữ thì ba điều đầu nói về bổn phận của tín hữu đối với Thiên Chúa, đấng toàn năng sinh ra vũ trụ vạn vật. Điều thứ 4 nói về bổn phận làm con đối với cha mẹ, đứng trên các điều đối với người ta (từ 5-10) đủ biết bổn phận này quan trọng như thế nào. Khi có dịp, các Linh mục trong các thánh lễ cũng giảng giải về điều răn thứ 4 này một cách kĩ lưỡng để mọi giáo dân ý thức bổn phận làm con đối với cha mẹ.

Trước kia việc thờ cúng ông bà, tổ tiên còn bị thắt chặt vì nơi xuất phát đạo Thiên Chúa là Âu châu lại không có tục thờ cúng ông bà, tổ tiên. Nhưng từ sau Công Đồng Vaticanô II, hội thánh Công giáo đã thích nghi với những tập tục, thói quen thờ cúng ông bà tổ tiên của dân Á châu nên nới rộng rất nhiều. Khi tôi còn bé, quan tài người chết mang vào nhà thờ làm lễ không thể cùng đi với khung ảnh người quá cố, nhất là lại để khung ảnh ấy trên cao nhìn xuống giống như bức ảnh một vị thánh. Hồi đó không cho thắp nhang trong nhà thờ và dù là con cháu cũng không được lậy người đã quá cố. Ngày nay, nhiều tập tục đã được dễ dàng.

Có một câu chuyện tôi nghe được khi còn rất bé, nhớ đến ngày nay, xin kể hầu quí vị.

Thầy tôi có một người cháu, con bà chị ruột, ở họ Thôn Đông, Trà Đoài, đã thụ phong Linh Mục từ khi tôi mới khoảng 10 tuổi. Hồi trước tôi không biết Ngài đi những giáo xứ nào nhưng sau này Ngài là Bế trên dòng Trinh Vương, nhà dòng chính ở Bùi Môn. Một bữa Linh mục và ông bà cố đến thăm thầy mẹ tôi vì thầy tôi mới từ Hà Nội về. Trong bữa cơm gia đình thật vui vẻ, Linh Mục Trung hỏi thầy tôi:

“Thưa cậu, đã lâu con không được nghe chuyện của cậu. Cậu ở Hà Nội về, có chuyện gì hay cậu kể cho cả nhà nghe cho vui.”

Sau khi kể một câu chuyện vui, thầy tôi hỏi Linh mục:

“Bây giờ cậu hỏi Trung nhé. (Thày tôi chỉ gọi tên, không gọi là cha). Nếu như có người vào xưng tội với Trung là anh đó (hay chị đó) đã hỗn láo chửi  cha mắng mẹ, Trung có tha tội cho người ta không?”

Linh Mục Trung suy nghĩ một chút rồi nói:

“Thưa cậu, con cũng tha cho họ với điều kiện là họ phải về xin lỗi cha hoặc mẹ mà họ đã làm phiền lòng, lại cũng hứa không tái phạm. Cũng tựa như khi người ta xưng tội lấy tiền bạc của cải  của người khác thì phép công bằng đòi buộc họ phải trả mới hết tội. Lấy tiền bạc hay lấy mất danh dự của người ta thì cũng như nhau, một đàng vật chất, một đàng tinh thần, thưa cậu.”

Thầy tôi khen ngợi Linh mục Trung hết mình. Ông rất hãnh diện có một ông Linh mục cháu giỏi giang đạo hanh như thế (LM Trung đã qua đời khoảng 6 tháng nay, 2006) Những năm ở Sàigòn, vùng Hóc Môn là khu cử tri của tôi khi tôi là Dân Biểu Hạ Viện. Đi hoạt động ở Hóc Môn rất thường nên thỉnh thoảng tôi lại ghé vào thăm LM Trung. Khi gặp bữa, Ngài bảo:

”Hôm nay chú có bận đi đâu không?”

“Thưa anh, em được rảnh cho đến 2 giờ.”

“Vậy chú ở đây ăn cơm trưa với anh rồi hãy đi.”

Cơm nhà Dòng thanh đạm nhưng cái tình thì đầy ắp những yêu thương và thanh tịnh như những bông huệ trắng tươi các Nữ tu trồng ở lối vào Tu viện.

 Nhờ vì thường ghé, tôi quen các Nữ tu ở nhà Dòng rất nhiều. Tôi cũng nợ các Nữ tu nhiều vì ngày bầu phiếu, tháng 8-1971, hơn 400 Nữ tu nhà dòng đã bỏ phiếu cho tôi. LM Trung không xin phiếu cho tôi mà chỉ bảo:”Các chị coi tiểu sử của chú ấy, được thì bó, không thì chọn người khác.” Sau khi đắc cử, tôi tới cám ơn ông anh Linh mục và nhà Dòng. Nữ tu coi sóc nhà Dòng bảo tôi:”Chị em tôi đã lựa trong số 98 Ứng cử viên đơn vị (6 ghế)Tân Bình-Hóc Môn-Bình chánh này, sau cùng đồng ý dồn phiếu cho “quan chú”. Hơn 400 Nữ tu đi bỏ hết, chúng tôi bỏ “độc phiếu” cho quan chú chứ thực ra được phép bỏ tối đa 6 người.”

Tôi chỉ còn biết cám ơn nhà Dòng.

Linh Mục Trung đã làm cho dòng Trinh Vương khởi thủy là một nhà dòng nhỏ sau ít năm đã thành một dòng lớn, rất đông Nữ tu. (tôi không biết chính xác “sĩ” số). Nếu tôi không lầm, ở Hoa Kỳ cũng có một Chi nhánh.

Trở lại với ngày “Từ Phụ” và ngày “Hiền Mẫu” ở  Hoa Kỳ, tức vào khoảng giũa tháng 6 và tháng 5 dương lịch. Hầu như mọi gia đình ở Hoa Kỳ đã dùng hai ngày này để con cái nói lên lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Đây là một tập tục tốt, nước Việt Nam cũng nên đặt ra hai ngày đó, không phải để tiêu thụ hàng hóa nhưng để ôn lại đạo Hiếu, đạo quan trọng nhất của con người trong khi tôn giáo là đạo với thần linh, ai tin thì theo, ai không tin không có luật nào bắt buộc. Nhưng đạo Hiếu là đạo bắt buộc vì không ai là không có cha mẹ. Người chỉ hơn thú vật ở chỗ biết cha mẹ, thảo kính cha mẹ. Nếu không biết trọng kính cha mẹ tất nhiên những hạng người đó đã tự đặt mình ngang với loài súc vật rồi. Ở thời đại chúng ta, có thiếu gì những kẻ vì quyền lợi riêng tư, phe đảng, muốn ăn trên ngồi trốc, hay lòng dạ độc ác đã nhẫn tâm hành hạ, đày đọa cha mẹ. Những kẻ ấy không thể được dùng danh từ “người” vì chúng bất xứng, bôi nhọ con người.

Trong Kitô giáo, cứ sau lễ các Thánh (Toussaint) vào tháng 11 là đến Lễ Cầu hồn. Mọi gia đình đi dự lễ cầu cho ông bà, cha mẹ, xong ra nghĩa trang đặt vòng hoa tưởng niệm và cầu nguyện tại chỗ. Thầy tôi dùng lễ này hoặc là trước Tết Nguyên Đán, cùng con cháu đi tảo mộ ông bà, tức sửa sang phần mộ, đắp thêm đất hoặc xây gạch, chỉnh đốn bia mộ. Người Việt mình có câu:”Sống vì mồ vì mả, không sống vì cả bát cơm” do đó mồ mả tiền nhân rất quan trọng.

Sau bữa cơm đoàn tụ gia đình, khá giả thì giết con chó, không thì mua thịt lợn ở chợ, người trưởng tộc hay anh cả nói về cha mẹ, ông bà đã khuất cho cả gia tộc cùng nghe, kể những đức tính tốt, những tài năng, thiên khiếu để khuyến khích các cháu chắt noi gương ông bà, làm rạng danh cho gia tộc.

Phật giáo dùng ngày 15-7 âm lịch làm lễ Vu Lan để nhớ đến công đức ông bà cha mẹ, đã khuất hay còn sinh tiền. Ngày Vu Lan người ta nhắc đến chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ trong ngục a tì vì mẹ đã làm điều ác bị đọa xuống đó. Lòng hiếu thảo của Mục Kiền Liên đã giúp mẹ sớm thoát cảnh đọa đày.

Còn người Nhật có tập tục nhân ngày nhớ ơn cha mẹ, bạn đi ra đường, nếu bạn trả lời thiếu nữ tiến đến trước bạn rằng cha mẹ bạn đã khuất núi cả thì thiếu nữ sẽ cài lên ve áo bạn một bông hồng bạch. Trái lại, nếu bạn còn cha hoặc mẹ, bạn sẽ được cài một bông hồng đỏ tượng trưng sự vui mừng, trái với mầu trắng là mầu tang tóc, buồn tủi.

Trong cuộc đời viết văn, làm thơ, làm báo gần nửa thế kỉ (từ 1958), tôi đọc được rất nhiều bài viết cảm động về mẹ nhưng rất ít về bố. Tôi hiểu rằng đứa con bao giờ cũng gần gũi với mẹ hơn bố nhưng không lẽ nói về mẹ mười bài, ta không có một bài cho bố ta sao? Có những nhà thơ, nếu gọi được họ là nhà thơ, cả đời chỉ ca tụng ái tình và đàn bà. Người đàn bà kế là mẹ mà chẳng bao giờ thấy họ “đụng đậy” đến những ông bố. Không lẽ họ không có bố? Tôi yêu thương mẹ tôi thế nào thì tôi yêu thương bố tôi như thế. Ngoài ra, nếu kể về phương diện tinh thần thì bố tôi khai tâm, chỉ bảo cho tôi nhiều hơn bởi lẽ bố tôi học nhiều hơn mẹ tôi. Nếu bố tôi không cho tôi một hạt mầm để hợp với cái trứng của mẹ tôi thì chắc chắn không có tôi. Hạt bụi là tôi khởi đầu từ bố tôi.

Nhân tiện cũng xin đề cập, khi tôi còn nhỏ, theo tập tục của những nhà Nho, bố tôi bảo con cái gọi bố tôi là thầy vì ngoài việc sinh thành, thầy còn khai tâm mở trí cho mình. Chữ dùng khác là bố, hoàn toàn Việt Nam, còn chữ “ba” nó lai căng từ tiếng Pháp “papa” đi với “maman” (má măng) mà ta gọi tắt là “má”. Ba nên đi cặp với má, bố với mẹ, cho nó thuần túy Việt Nam. Nên nhớ tiếng “ba” không có văn vẻ hơn tiếng “bố”. “Ba” đi với “mẹ”, nghe nửa tây, nủa ta, nửa nạc nửa mỡ.Tuy nhiên, ai thích gọi sao tùy ý. Ta cũng nên biết, con cái tộc Việt đã gọi “bố” từ thời Lạc long quân. “Bố ơi, sao bố không về mà cứu chúng con?”Có một vị tướng tài là “Bố cái Đại vương” . Cái là mẹ.

Để kết thúc bài Phiếm về đạo Hiếu nhân lễ Vu Lan, tôi xin sửa đổi đôi chút về câu ngụ ngôn Pháp:”Hãy cho tôi biết anh (chị) giao du với ai, tôi sẽ nói anh (chị) là hạng người nào.” thành ra:”Hãy cho tôi biết anh (chị) đối xử với cha mẹ ra sao, tôi sẽ cho biết anh (chị) là hạng người nào.” Kẻ đã coi bố mẹ đẻ dứt ruột ra như cục gạch thì những người khác, chúng coi ra cái gì!”

Thân ái gửi đến quí bạn đọc bài thơ song ngữ tôi đã làm khá lâu:



                                      NHỚ ƠN CHA MẸ

Thân, tâm con có  hôm  nay

Nhờ  ơn  Cha  Mẹ những ngày xa xưa.



Lễ Vu Lan nhớ ơn Cha Mẹ

Bao công lao dưỡng dục sinh thành

Vì ai nên mới có mình ?

Trông nom, bú mớm hết tình với ta !



Thuở còn nhỏ cho ta đi học

Mong sau này ta được thành nhân

Làm vinh Quốc tổ, quốc dân

Làm vinh dòng giống con dân Lạc Hồng.



Khi khôn lớn gả  chồng,  dựng vợ

Lo cho ta như đũa có đôi

Gia đình nề nếp,  mai rồi

Sinh con đẻ cháu đời đời truyền lưu.



Lúc về hưu người già khó tánh

Ta lựa lời hợp cảnh, hợp tình

Gửi thưa lễ phép phân minh

Sao cho xứng với tâm tình đạo con.



Chớ bao giờ dùng lời hỗn láo

Cũng chẳng nên cao ngạo ta đây

Dù ta tiếng Mỹ, tiếng Tây

Dù danh phận lớn ông này, bà kia.



Nên khuya sớm thần hôn định tỉnh

Ðạo làm con phải nhớ luôn luôn

Núi Thái Sơn - Nước trong nguồn

Làm con Ðạo Hiếu phải cho vuông tròn.



Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

(Trích NHƯ ÁNG MÂY TRÔI)

              GRATITUDE TOWARD OUR PARENTS



We want to show our gratitude toward our parents

on the occasion of Vu Lan ceremony,

They did so much things for us:

giving birth, feeding and teaching.

Thanks to them, we are present in this world,

They also took care of us very carefully.



When we were young,

 they sent us to school,

They expected us to become good people,

And become good citizens

who made our ancestors,

countrymen and nation proud.



When we were growing up,

they were worried about our marriage.

Once we find our soul-mates,

matched like a couple of chopsticks,

we’ll start our families.

Soon there will follow grandchildren,

 great grandchildren

down through the generations.



When our parents retire,

that’s the time they get older.

They become fastidious some times,

Therefore, we need to choose our words carefully

 and with courtesy.

In order to fulfill our duty as children.



Do not use any rude words,

or arrogance with our parents;

Though we’re able to speak English

or French fluently,

And have a high position in the society,

We need to speak humbly

and politely with our parents.



Moreover, we should visit  our parents very often,

We always need to remember

to accomplish our duty

toward  our beloved parents.

Their merit is incomparable!



Little Saigon, CA Vu Lan Ceremony 1991

GS Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC


Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link