Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, August 16, 2012

Vợ là người quan trọng nhất trong đời




Vợ là người quan trọng nhất trong đời



Chuyện xảy ra tại một trường đại học.
Sắp hết giờ giảng, giáo sư bỗng đề nghị với các sinh viên,

- "Tôi cùng mọi người thử một trắc nghiệm nhỏ, ai muốn cùng tôi thử nào?"
Một nam sinh bước lên.

Giáo sư nói,

- "Em hãy viết lên bảng tên của 20 người mà em khó có thể rời bỏ".
Chàng trai làm theo. Trong số tên đó có tên của hàng xóm, bạn bè, và người thân...

Giáo sư nói:

- "Em hãy xoá tên của một người mà em cho rằng không quan trọng nhất!"
Chàng trai liền xoá tên của người hàng xóm.
Giáo sư lại nói:

- "Em hãy xoá thêm một người nữa!".
Chàng trai xoá tiếp tên của một đồng nghiệp.
Giáo sư nói tiếp:

- "Em xoá thêm tên một người nữa đi". Một người không quan trọng nhất trong cuộc đời. chàng trai lại xoá tiếp.....
Cuối cùng, trên bảng chỉ còn lại ba tên: bố mẹ, vợ, và con.
Cả giảng đường im phăng phắc,
Mọi người lặng lẽ nhìn vị giáo sư, cảm giác dường như đây không còn đơn thuần là một trò chơi nữa rồi !!

Giáo sư bình tĩnh nói tiếp :
- "Em hãy xóa thêm một tên nữa! "

Chàng trai chần chừ, rất khó khăn mới đưa ra được sự lựa chọn... anh đưa viên phấn lên... và gạch đi tên của bố mẹ!
- "Hãy gạch đi một cái tên nữa đi!", tiếng của vị giáo sư lại vang lên bên tai.

Chàng trai sững lại, rồi như một cái máy, từ từ và kiên quyết gạch bỏ tên của đứa con trai... Và anh bật khóc thành tiếng, dáng điệu vô cũng đau khổ.
Vị giáo sư chờ cho anh bình tĩnh lại hồi lâu và hỏi:

- "Lẽ ra người thân thiết nhất với em, phải là cha mẹ và đứa con, bởi cha mẹ là người sinh thành và dạy dỗ em nên người, đứa con là do em dứt ruột sinh ra, còn người vợ thì có thể tìm người khác thay thế được, vậy tại sao, với em người vợ lại là người mà em khó rời xa nhất?"
Cả giảng đường im lặng, chờ nghe câu trả lời.
Chàng trai bình tĩnh và từ tốn nói:

- "Theo thời gian, cha mẹ sẽ là rời bỏ tôi mà đi, con cái khi trưởng thành, cũng chắc chắn sẽ rời xa tôi, người luôn ở bên, làm bạn với tôi suốt đời, thực sự chỉ có vợ tôi!

Nói xong rồi chàng trai quay sang nói nhỏ vào tai vị giáo sư:

- "Thưa thầy con phải nói như vậy là vì con vợ của con đang ngồi bên dưới ... không nói như vậy thì chỉ có chết với nó, xin thầy thông cảm giùm con."
Vị giáo sư cười như mếu:

-"Thầy cũng chẳng khác gì con!"



Lần Gặp Bác Hồ ...và bị





Huỳnh Thị Thanh Xuân Quãng Nam - Đà Nẵng



Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi.

Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành uỷ, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện uỷ Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ " Bác " như là thần thánh trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn : “Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khoẻ của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ biết im lặng.


Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”.

Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng ca màu rêu.

Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.

Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên) Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác,

Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác dễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con ngươì bác thật sự.

Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang ...”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gaí, tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bac còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.


Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam ... Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào ?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu ...”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hoà mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt.

Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai ...”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói : “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ Quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi.

Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những " hạt giống đỏ " của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khoẻ, vui và học tập thật giỏi”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị ...


Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam.

Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng.


Hãy nhìn kỷ gương mặt tên Quỷ Ấu Dâm Hồ Tặc

Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa 3 tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.

Bác bồng tôi lên gường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay ... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròng 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.

Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình.

Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ.

Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu.

Kể cã chồng tôi khi hỏi tới trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN.

Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là " Bác hồ " hảm hiếp tôi cho chồng tôi nghe.
Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy : “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của của bác cho đồng bào miền Nam”.

Huỳnh Thị Thanh Xuân Quãng Nam - Đà Nẵng 02/09/2005


2 bồ nhí của "Bác" trong chiến khu, Châu & Quyên

Cho tao chưởi mầy một tiếng

Trạch Gầm

Đụ má, cho tao chưởi mầy một tiếng,

Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu?

Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng,

Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao.

Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng,

Cầm súng làm gì… chẳng lẽ hiếp dân.

Tao không tin lính lại hèn đến thế,

Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm.

Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngõ,

Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin

"Môi liền răng" à thì ra vậy đó

Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh.

Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước,

Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu.

Thân phận mầy cũng là Lê, là Nguyễn

Hà cớ gì.... mầy hèn đến thế sao!

Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến,

Mầy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn.

Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi,

Cứ đà nầy... chết tiệt còn sướng hơn.

Đàn gãy tai trâu..... xem chừng vô ích,

Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không...


Tầu Cộng sẽ chết nếu cùng nhau làm việc nhỏ bé này


Subject: Tầu Cộng sẽ chết nếu cùng nhau làm việc nhỏ bé này. Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho bạn, Hãy hỏi bạn đã làm gì cho Tổ Quốc



 

Thưa quý vị.

Nếu mỗi gia đình Người Việt Tỵ Nạn trên khắp thế giới chỉ cần làm một bảng thế này đem để trước cửa nhà, cửa tiệm và thực thi tẩy chay đúng như vậy thì Tầu Cộng sẽ biết lễ độ là gì.

Có rất nhiều người hỏi chúng ta có thể làm gì cho đất nước lúc này ?

Thực hiện một bảng như thế này thì gia đình nào cũng có khả năng. Nhưng đồng bào ta có chịu làm hay không mới đáng nói.

Tôi bảo đảm Tầu Cộng sẽ chới với sập tiệm không chừng. Lúc đó VC cũng tiêu ra ma luôn.

Tầu Cộng chết thì Việt Cộng làm sao còn đất sống ?

Xin mọi người cùng phổ biến.



Cám ơn các cháu đã phổ biến hình này trên Facebook.



VHT



Bích Lam Thiên Uyên chia sẻ ảnh của Loan Nguyen.

PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, NGƯỜI ĐẦU TIÊN PHÁT HUY NỀN VĂN HỌC CHỮ QUỐC NGỮ VIỆT NAM.

Blog EntryAug 17, '12 1:32 AM
for everyone
PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, NGƯỜI ĐẦU TIÊN PHÁT HUY NỀN VĂN HỌC CHỮ QUỐC NGỮ VIỆT NAM.

Đối với thế giới, vào cuối thế kỷ 19, sự nghiệp văn học vĩ đại của Petrus Trương Vĩnh Ký đã nâng ông lên địa vị nhà bác học, và được liệt vào sổ vàng của (18) mười tám nhà danh nhân thế giới (Dix Huit Sommites Culturelles et Scientifiques du Monde, 1873 - 1874).


Riêng với dân tộc Việt Nam, ông đã chủ trương hòa hợp hai nền học thuật văn hóa Đông Tây. Ông có công phát huy nền văn học chữ quốc ngữ, một loại chữ mới, phổ thông hiện đại, để thay thế cho loại chữ Hán-Nôm. Cùng với công trình biên khảo trước tác của ông đã được các nhà phê bình văn học sử nước ta nhìn nhận, và ca ngợi như một ngôi sao sáng, trên vòm trời văn hóa Việt Nam. Ông còn được liệt vào“Thất Tinh Hội Đông Phương” mà tờ “Courier de Saigon” thời bấy giờ đã viết. Do đó, Ông rất xứng đáng được mọi người tôn kính và tưởng nhớ.

1- TIỂU SỬ: Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898) thường được gọi là PETRUS Ký, tự Sĩ Tải, sinh năm 1837, Đinh Dậu, vào năm Minh Mạng thứ 18, tại Cái Mong, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (sau thuộc tỉnh Kiến Hòa, hay BếnTre). Ông mất vào năm 1898, Mậu Tuất, vào năm Thành Thái thứ 9. Ông có tư chất rất thông minh, tinh thông Pháp văn, Hán văn, và nhiều thứ tiếng khác, tất cả 27 thứ ngôn ngữ và văn tự trên thế giới, vào cuối thế kỷ 19. Năm 1863, ông được cử làm thông ngôn trong sứ bộ Phan Thanh Giản, công cán tại Pháp. Sau đó, ông được bổ nhiệm giáo viên, rồi đến đốc học Trường Thông Ngôn (Collègge des Interprêtes). Sau đó, ông được bổ nhiệm giáo sư Trường Cai Trị (Collège des Stagières) tại Sàigòn.
Năm 1886, Toàn Quyền Paul Bert triệu ông ra Huế sung vào Cơ Mật Viện, để giúp việc ngoại giao giữa chính phủ Pháp và Nam triều. Không lâu, ông về hưu tại Nam kỳ, để chuyên lo trước tác, và phổ biến chữ Quốc Ngữ, cho đến khi ông mất vào năm 1898.


2- VĂN NGHIỆP: Ông đã viết rất nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm,Quốc Ngữ,và Pháp văn như sau:
-LOẠI SÁNG TÁC: 1-Chuyện Đời Xưa (1866), 2-Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm Ất Hợi (1881), 3-Chuyện Khôi Hài (1882), 4-Bất Cượng Chớ Cượng Làm Chi(1882), 5-Phép Lịch Sự Của Người An Nam (1883), 6-Kiếp Phong Trần (1885), 7-Sách Dạy Quốc Ngữ, 8-Sách Dạy Chữ Nho, 9-Grammaire de la Langue Annamite(1883), 10-Petit Dictionnaire Francais - Annamite (1884), 11-Cours d'histoire Annamite (1875-1877), 12-Miscellanées (1888-1889),13-Voyage au Tonkin en 1876,....

LOẠI DỊCH THUẬT: Dịch âm từ chữ Nôm ra chữ Quốc Ngữ: 14-Kim Vân Kiều (1875), 15-Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca (1875), 16-Gia Huấn Ca của Trần Hy Tăng (1882), 17-Nữ Tắc (1882), 18-Lục Súc Tranh Công (1887), 19-Phan Trần Truyện (1889), 20-Lục Vân Tiên Truyện (1889). Dịch sách chữ Nho gồm có: 21-Tam Tự Kinh (1887), 22-Đại Học(1889), 23-Trung Dung (1889), 24-Minh Tâm Bảo Giám (1891 - 1893).

3-GIỚI VĂN HỌC V.N. NHẬN ĐỊNH VỀ PETRUS KÝ:
Theo Ông Ưng Hòe Nguyễn Văn Tố nhận định về PETRUS Ký: “-Sự nghiệp, thân thế của PETRUS Trương Vĩnh Ký có thể tóm lại bằng ba tiếng: -Bác Học, -Tâm Thuật, -Khiêm Tốn.

Riêng với nền văn chương chữ Quốc Ngữ, vai trò đặc biệt của PETRUS Ký đã được Linh Mục Thanh Lãng nhận định như sau: “-Với PETRUS Ký mới thật sự khai mở một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên văn xuôi. Vai trò “Khai đường mở lối “ của PETRUS Ký được giáo sư Phạm Thế Ngũ nói rõ hơn trong quyển “Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên” là đã đề xướng lên những công việc mà rồi nhóm Nam Phong ngoài Bắc tiếp tục như: phiên âm văn Nôm cũ, khảo cứu về văn hóa và chế độ nước nhà, sưu tầm những ca dao, tục ngữ, cổ tích của ta, dịch thuật ngoại văn ra quốc ngữ,.. “
Trong quyển 1, “Nhà Văn Hiện Đại”, tái bản lần 3, tại Sàigòn, 1960, tác giả Vũ Ngọc Phan đã viết phê bình PETRUS Ký như sau: “-Như vậy khoảng 35 năm trời, Trương Vĩnh Ký đã cho ra đời biết bao nhiêu là sách, ấy là mới chỉ kể những quyển chính thôi. Mới đây, ông xuất bản những sách bằng chữ quốc ngữ, phiên dịch ở những sách chữ Nôm ra. Hồi đó ông cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những truyện phổ thông làm lợi khí cho quốc ngữ được lan rộng trong dân gian, không như bây giờ chúng ta dùng quốc ngữ làm lợi khí để truyền bá tư tưởng và học thuật,...Nếu xét tất cả những sách rất khác nhau do Trương Vĩnh Ký biên tập, dịch thuật, sáng tác và xuất bản trong thời gian 1863 - 1898, người ta thấy rõ ông là một nhà bác học, có óc tổ chức và có phương pháp, chứ không còn phải là một nhà văn như những nhà văn khác.”
Theo tác giả Vũ

Đình Trác, trong quyển “Công Giáo Việt Nam Trong Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc” 1996, Orange County, California, đã viết về PETRUS Ký: “...-Ông xứng đáng là một chiến sĩ văn học đã đưa chữ Quốc Ngữ lên đài danh dự với một địa vị vững chắc. Ông dịch thuật và sáng tác thơ văn quốc ngữ để truyền bá học thuật, giáo dục và canh tân nếp sống của người dân. Văn tự quốc ngữ từ đây sẽ trở thành văn tự chính thức của Việt Nam, giúp dân ta đi vào quỹ đạo của văn tự thế giới.”

Trong quyển “Trường PETRUS Ký Và Nền Giáo Dục Phổ Thông Việt Nam”, tác giả Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Nguyên Thứ Trưởng Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên trước 4/1975, và là Cựu Học Sinh, Cựu Giáo Sư, Cựu Hiệu Trưởng Trường PETRUS Ký, đã nhận định trong phần mở đầu về thân thế và sự nghiệp của PETRUS Trương Vĩnh Ký như sau:

“... Nói đến PETRUS Trương Vĩnh Ký là phải nói đến vai trò “Khai Đường Mở Lối” của ông trên các địa hạt sau đây:
1-Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo trước tác.
2-Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho, và

3-Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ của Nho gia. PETRUS Ký đã hoàn tất mỹ mãn vai trò “Khai Đường Mở Lối” của ông nhờ ở sự gặp gỡ của những yếu tố đặc biệt nầy: Bản chất thông minh hiếu học của cá nhân ông, khả năng bẩm sinh về ngôn ngữ, môi trường học hỏi, và hoàn cảnh xã hội miền Nam Việt Nam hồi hạ bán thế kỷ thứ XIX.
Tính hiếu học, khả năng bẩm sinh và môi trường học hỏi đã giúp ông có một quá trình học vấn và một vốn liếng kiến thức khác hẳn các nhà nho đương thời như Nguyễn Khuyến hay Trần Tế Xương chẳng hạn. Khi cái vốn hiểu biết đó được dùng để khảo cứu biên soạn và xuất bản thì hoàn cảnh xã hội bên ngoài đã trở nên vô cùng thuận tiện để giúp ông thành công tốt đẹp.

Đây là lúc Pháp bắt đầu đô hộ miền Nam và đang bành trướng thế lực xâm lăng ra miền Bắc và miền Trung. Cùng lúc với sự thất trận và mất chủ quyền về phía triều đình Huế, nền học thuật cũng như sự ngự trị của nho gia trong xã hội cũ cũng hoàn toàn sụp đổ theo, trước hết là ở miền Nam vào cuối thế kỷ thứ XIX. Đó là điều kiện thuận tiện để xây dựng và phát triển nền học thuật mới. “

Ngoài ra, trong phần kết luận của quyển “Trường PETRUS Ký và Nền Giáo Dục Phổ Thông Việt Nam”, Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm còn viết: “-Cuộc đời tận tụy làm việc cũng như công trình biên khảo qui mô phong phú của PETRUS Trương Vĩnh Ký đã cho thấy lý tưởng giáo dục và văn hóa của ông. Lý tưởng đó là đào tạo một lớp người mới có đủ những kiến thức khoa học và kỹ thuật của nền văn minh Âu Tây, đồng thời, cũng nắm vững những nguyên tắc đạo đức cổ truyền của Đông phương, vừa có tâm hồn khai phóng cởi mở vừa có tinh thần dân tộc vừa biết tôn trọng giá trị của con người dù bất cứ ở trong thời đại hay xã hội nào.

Lý tưởng đó đã được thể hiện trong sự nghiệp văn chương của ông tiếp nối bởi hai tờ báo Đông Dương và Nam Phong tạp chí trong lãnh vực văn hóa. Trong địa hạt giáo dục, lý tưởng đó cũng đã được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam manh nha từ thời Pháp thuộc để phát triển và bành trướng mạnh mẽ từ Đệ Nhất qua Đệ Nhị Cộng Hòa.

Trường trung học được cái vinh dự mang tên PETRUS Ký từ khi ra đời đã mang lý tưởng giáo dục đó biểu lộ trong hai câu đối của giáo sư Ưng Thiều ghi khắc trước cổng trường:

“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,

Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”

Từ ngày được thành lập cho đến khi bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi (50) năm hoạt động, trường PETRUS Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở miền Nam Việt Nam “ ./.

Tác giả Âu Vĩnh Hiền (trích Hồn Quê)

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link