Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, August 20, 2012

Tầu Làm Không Nói, Việt Nam Nói Không Làm


 Tầu Làm Không Nói, Việt Nam Nói Không Làm

(08/17/2012)

Tác giả : Phạm Trần

“Có thể nói rằng chủ quyền lãnh thổ nước ta đang đứng trước thử thách lịch sử rất to lớn.

Trách nhiệm trước lịch sử đang đòi hỏi thế hệ chúng ta nhận rõ nguy cơ và có quyết sách sáng suốt, quyết tâm mạnh mẽ để bảo vệ giang sơn gấm vóc, đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc vững bền của các thế hệ con cháu muôn đời sau.”

Đó là lời nói như đanh đóng cột rất hiếm được nghe từ một nguyên Đại biểu Quốc hội của Nhà nước Cộng sản Việt Nam như trường hợp của Tiến sỹ, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết tuyên bố với báo Tiền Phong trong số ra ngày 13/08/2012.

Giáo sư Thuyết, 64 tuổi, quê qúan Hà Nội từng giữ chức Đại biểu Quốc hội Tỉnh Lạng Sơn trong hai nhiệm kỳ khoá XI và XII, tổng cộng 10 năm. Ông là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

Giáo sư Thuyết là người nói thẳng và không ngại phê bình Chính phủ về nhiều việc làm không ích quốc lợi dân. Ông cũng là một trong một trong số rất ít Đại biểu Quốc hội đã công khai chống các dự án khai thác Bauxite trên Tây Nguyên vì lợi ít mà hại nhiều; dự án cho người nước ngòai mà chủ yếu là người Tầu Bắc Kinh, Hồng Kông và Đài Loan thuê đất rừng dài hạn 50 năm trên vùng biên giới Việt-Tầu và tại các vùng đất chiến lược khác.

Ông đã đóng vai quan trọng tại diễn đàn Quốc hội chống thành công dự án làm Đường cao tốc nối liền Sài Gòn-Hà Nội. Ngòai ra ông cũng đã đề xuất, nhưng bị Ban thường vụ Quốc hội bác, việc yêu cầu Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời điều tra trách nhiệm các viên chức lãnh đạo Chính phủ, kể cả Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, trong vụ làm ăn thua lỗ mất ngót 1000 tỷ bạc của Tổng Công ty Công nghiệp Tầu thủy Việt Nam (Vinashin Business Group).

Vì vậy, khi còn ngồi ở nghị trường, ông là người được báo chí quan tâm theo dõi và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của người dân.

Vậy lần này, khi tình hình Biển Đông sôi sục bởi những hành động hung hãn và công khai bành trướng chiếm lấn biển đảo và tài nguyên Việt Nam của Trung Cộng thì những lời nói của Tiến sỹ Thuyết không phải là vô ích với người dân trong khi Nhà nước chưa biết nên cầu “hòa” hay “chiến” dù giặc đã vào trong nhà rồi !

Thật vậy, khi Giáo sư Thuyết nói “chủ quyền lãnh thổ nước ta đang đứng trước thử thách lịch sử rất to lớn” vì thực tế chứng minh Trung Cộng đã ngang nhiên “Tầu hóa” hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào cơ sở hành chính tự họ đặt tên gọi là Tam Ta, bao gồm cả vùng đảo và biển họ đang tranh chấp với Phi Luật Tân quanh bãi đá ngầm Macclesfield mà Bắc Kinh gọi là Trung Sa.

Tệ hại hơn là việc Trung Cộng đã đặt trụ sở hành chính của Tam Sa ngay trên đảo Phú Lâm của Hòang Sa mà họ gọi là đảo Vĩnh Hưng. Một Bộ chỉ huy quân sự để bảo vệ Tam Sa cũng đã được thành lập.

Sau đó, Tầu ngang nhiên đưa 30 thuyền đánh cá xuống đánh bắt ở vùng biển Việt Nam ở Trường Sa trong 3 tuần từ ngày 12/07/2012, sau khi Việt Nam thông qua Luật biển ngày 21/ 06/2012 xác nhận Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Ngang ngược hơn nữa, kể từ ngày 01/08/2012, Bắc Kinh còn ra lệnh cho trên 23,000 tầu đánh cá, được bảo vệ bởi các tầu Hải quân trá hình Hải giám có võ trang, tràn ngập Biển Đông để tự do đánh bắt ở hai vùng biển Việt Nam quanh Hòang Sa và Trường Sa.

Thậm chí nhiều tầu cá đã xâm nhập sâu vào đánh bắt trong vùng vịnh Bắc bộ của Việt Nam mà lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam lại không dám thi hành Pháp lệnh (ban hành ngày 26/01/2008)để nghiêm trị các tầu đánh cá Trung Cộng khi chúng vi phạm lãnh hải.

Trong khi ấy thì Trung Cộng lại gia tăng đâm đầu đánh cá Việt Nanm, chận bắt, tịch thu tài sản và bắt ngư dân Việt Nam phải ký giấy nhìn nhận vi phạm biển đảo của Trung Cộng trước khi thả.

Tầu chiến của Hải quân Việt Nam và Lực lượng Biên phòng không dám ngênh chiến với Tầu Trung Cộng để bảo vệ ngư dân Việt Nam.

Về mặt nhà nước thì Việt Nam chỉ biết phản ứng bằng nước bọt và vài bản công hàm ngọai giao cho “phải phép” với nội dung

16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”!

Nhà cựu lập pháp Nguyễn Minh Thuyết còn khẳng định “trách nhiệm trước lịch sử đang đòi hỏi thế hệ chúng ta nhận rõ nguy cơ và có quyết sách sáng suốt, quyết tâm mạnh”, như vậy chẳng nhẽ “một bộ phận không nhỏ người dân” vì qúa tin vào lời đảng rao “đã có đảng, nhà nước lo” nên không cần biết giặc đã vào nhà ?

Hay là đảng và nhà nước cũng đã bị Trung Cộng “cho lên đồng” bằng bùa “16 chữ vàng mã” và “tinh thần 4 đểu” nên không còn minh mẫn và quyết tâm đối phó ?

Khi được hỏi : “Trước nguy cơ bị xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta cần hành động thế nào?”

Giáo sư Thuyết đáp : “Chúng ta phải tăng cường sức mạnh quốc phòng. Nhưng quan trọng hơn là phải luôn mài sắc tinh thần cảnh giác. Về đối nội, phải khoan sức dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phải làm cho mỗi người Việt Nam thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và tin tưởng vào sức mạnh Việt Nam trong cuộc đấu tranh thiêng liêng bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.”

TÌNH HÌNH TRƯỚC MẮT

Căn cứ vào tình hình thực tế trên đất liền, Việt Nam đã mất cảnh giác với âm mưu của Trung Cộng từ cái thuở thương thuyết để phân định biên giới giữa hai nước, sau khi hai bên nối lại bang giao năm 1991.

Nhưng “Hiệp ước biên giới trên đất liền”, được hai bên ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 có công bằng không, hay Việt Nam đã để mất bao nhiêu đất thì hãy đọc lại một đọan trong Bài viết của Cụ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1989.

Ông viết: “Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 (Tầu gọi là núi Lão Sơn,xã Thanh Thủy) ở huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang, tên cũ là Hà Tuyên), cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn. Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định theo hiện trạng”, tranh luận qua lại, Trung Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì đại cục (?), cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận ải Nam Quan, trước nay ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc….”(Bauxite Viet Nam, 17-03-2010)

Sau đó, dưới hai thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (Khóa đảng VIII) và Nông Đức Mạnh, hai Khoá đảng IX và X), Việt Nam đã để cho Tầu vào xây dựng hai Nhà máy khai thác quặng Bauxite ở Lâm Đồng và Đắk Nông.

Nhà nước Việt Nam cũng đã phê duyệt kế họach “ phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025” do Quyết định 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 01/11/2007.

Mặc dù Chính phủ Việt Nam và cả Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã tuyên bố không có kế họach ưu tiên bán quặng Bauxite cho Trung Cộng, nhưng khó mà tin chuyện Trung Cộng không phải là khách hàng số 1 của Việt Nam sau khi cả hai nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) đều do Công ty Chalieco của Tầu thực hiện từ đầu đến cuối.

Tiếp đến là hàng loạt các Công ty lớn bé của Tầu đều “bỗng dưng” lại nối đuôi nhau “trúng thầu rẻ” để nhẩy vào làm hầu hết các dự án xây dựng và phát triền kinh tế của Việt Nam, trong số này quan trọng là các nhà máy điện và nhà máy làm xi-măng. Nhiều nhà thầu Việt Nam, dù có khả năng hơn, cũng đã bị đá văng ra ngoài.

Thế là hàng chục ngàn lao động Tầu được các hãng Tầu “bế” sang Việt Nam làm việc với lý do tự bịa rằng công nhân người Việt “không có khả năng tay nghề” trong khi các “chuyên viên Tầu” lại chính là các lao động tay chân trộn hồ, bẻ sắt, đủn xe con rùa hay cột dây, thu dọn !

Nhà nước Việt Nam, trách nhiệm là Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội lại không nắm vững được có bao nhiêu ngàn công nhân người Tầu đang làm việc ở Việt Nam đã cướp mất công ăn, việc làm của người Việt !

Bộ này chỉ biết chung chung có từ 30 đến 45 ngàn công nhân người nước ngòai đang làm việc ở Việt Nam. Trong khi báo chí Việt Nam đã đăng tin nhiều lần con số công nhân người Tầu làm chui, không có giấy phép hợp lệ bị phát giác tại mỗi nhà máy từ 100 đến vài trăm người là chuyện thường.

Thế rồi đến chuyện các phố Tầu cứ đua nhau mọc lên với đủ mọi nhà hàng, tiệm buôn và cư dân đến nhập cư nột cách tự nhiên như họ đang ở trên đất Trung Hoa.

Các công trường làm việc của Tầu cũng cứ việc tự do trèo Cờ nước Tầu, treo bảng hiệu chữ Hán, rào cao kín cổng cao tường cấm chỉ người Việt, đôi khi có cả cán bộ Chính quyền Việt không được bén mảng tới dòm ngó.

Chuyện “tham quan” bất ngờ đến một công trường của công ty Tầu để cho biết sự tình của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã một lần bị chận ngòai cửa không cho vào, dù ông và người trợ lý đã cho biết họ là ai.

Như vậy liệu nhà nước Việt Nam đã có “mài sắc tinh thần cảnh giác”, như Giáo sư Thuyết đã khuyến cáo, để biết bên trong hàng rào và chiếc cổng có người Tầu canh gác ấy những công nhân trai tráng người Tầu đang làm gì không ? Hay là họ đang học tập tư tưởng Mao, hoặc là đào hầm giấu súng đạn, hoặc rèn binh luyện tường để chờ thời và “sẽ phất khi cờ đến tay” ?

Lại còn chuyện thương lái Tầu đã và đang ra vào Việt Nam như đến chỗ không người để tự do chuyển hàng lậu qua biên giới, đầu cơ, tích trữ và thao túng thị trường thực phẩm, hàng hóa, gia súc, hải sản khắp hang cùng ngõ hẻm…ấy là chưa kể các kế họach xúi nông dân, ngư dân Việt Nam pha trộn các chất hóa học giết người vào thực phẩm, cây kỹ nghệ để hại kinh tế Việt đã được báo chí nói tới.

Gần đây lại lòi ra cả chuyện kỹ thuật viên Trung Quốc dùng máy nén khí công suất lớn để “cố vấn” ngư dân Việt đánh bắt sá sùng và các loại hải sản khác gây nguy hại cho sự tồn tại của sinh vật dưới biển.

Báo An Ninh Thủ Đô (Hà Nội) đã trích dẫn Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn “cho biết, vừa nhận được báo cáo của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh cho biết, thời gian qua, các cơ quan chức năng trên địa bàn đã bắt giữ được một số vụ kỹ thuật viên Trung Quốc chỉ đạo, hướng dẫn ngư dân Việt Nam dùng máy nén khí công suất lớn để đánh bắt các loài thủy sản như sá sùng, tôm, cua, cá... Điều nguy hại là nếu hình thức đánh bắt này không được kịp thời ngăn chặn sẽ tận diệt toàn bộ nguồn lợi thủy sản ở cả tầng mặt và tầng đáy biển, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái.” (Báo ANTĐ, ngày 09/08/2012)

Như vậy thì “tinh thần 4 tốt” mà Lãnh đạo Việt Nam học được từ Lãnh đạo Tầu sau Hội nghị Thành Đô bên Trung Quốc năm 1990 có chỗ nào “tốt” không ?
Cũng trong cuộc phỏng vấn của báo Tiền Phong, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết còn yêu cầu nhà nước “phải đưa vấn đề Biển Đông, bao gồm những chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam và hành vi xâm phạm chủ quyền ngang ngược của Trung Quốc ra các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Mặt khác, phải sẵn sàng đáp trả đúng mức các hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”, nhưng ý kiến này không mới.

Trước Giáo sư Thuyết cũng đã có nhiều nhà Trí thức, Cựu Tướng lãnh và chuyên gia biển đảo, chuyên gia pháp luật đã khuyến cáo Chính phủ Việt Nam phải mạnh dạn tố cáo Trung Cộng ra trước các cơ quan Quốc tế, kể cả Liên Hiệp Quốc để bảo vệ chủ quyền, nhưng nhà nước đã bỏ mọi lời khuyên ngòai tai.

Vì vậy, mới đây, vào ngày 06/08/2012, đã có 71 nhà Trí thức đã gửi Thư ngỏ đến các cấp Lãnh đạo Đảng và Nhà nước lên án những “mưu đồ chiến lược bá quyền” của Trung Cộng “nhằm làm cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc”

Đồng thời họ cũng “mong Nhà nước công bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung” vì rất nhiều người không hiểu vì sao mà Nhà nước không dám làm mạnh với Trung Cộng như phản ứng của Phi Luật Tân.

TRÁI CẤM TRUNG QUỐC

Thái độ ngập ngừng “như có điều gì đã mắc nghẹn trong cổ” không nói ra được của Nhà nước Việt Nam trước hành động xâm lược của Tầu đã phản ảnh trong thái độ từ chối tổ chức biểu tình hay cấm và thẳng tay đàn áp người dân biểu tình tố cáo Trung Cộng xâm lăng càng ngày càng đẩy người dân đến chỗ hòai nghi về tinh thần ái quốc của giới cầm quyền hiện nay ở Việt Nam.

Vì vậy lời khuyến của Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết muốn đảng nên “phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” để tạo sức mạnh cho công cuộc tranh đấu bảo vệ Tổ Quốc đã cho thấy rõ là hiện nay ở Việt Nam sở dĩ người dân còn thờ ơ với vận mệnh sống còn của đất nước vì họ chưa có trọn quyền “nhân dân làm chủ” đất nước như đảng vẫn nói.

Do đó muốn đòan kết được tòan dân thì đảng phải “nói và làm” để cho dân thấy cái tâm và cái tầm của Lãnh đạo chứ không thể cứ nói rồi để đấy, hay nói ra như một mệnh lệnh để cho người khác làm còn mình thì cứ ì ra rồi khi cấp dười thất bại thì lãnh đạo phủi tay hoặc “xóa bài làm lại” như đang được lập đi lập lại trong nhiều lĩnh vực.

Riêng trong thái độ và hành động dương đầu với bành trướng của Trung Cộng ở Biển Đông thì những lập luận của Lãnh đạo coi quan hệ Việt-Trung là vấn đề “nhậy cảm” không nên làm ồn lên để phương hại đến lợi ích chung, hay kế họach của đảng nên tốt hơn hãy “tuyệt đối cấm nói đến Trung Quốc để tránh chia rẽ Việt-Trung” là một quan niệm tháo chạy của những con người bạc nhược và chủ trương đầu hàng cần bị lọai bỏ để tránh hiểm họa cho dân cho nước.

Đối với những cấp lãnh đạo đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh mới đây đã nói với 3 ông Lê Công Giàu, Nguyễn Quốc Thái và Cao Lập hôm 10/08/2012 rằng ” Trong quá trình lãnh đạo đất nước và dân tộc, Đảng Cộng sản VN đã lãnh đạo thành công các cuộc cách mạng bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước. Đảng đã chứng tỏ bản lĩnh lãnh đạo đưa đất nước và dân tộc vượt qua bao khó khăn và giành thắng lợi, do vậy phải tin tưởng vào Đảng. Về việc chống Trung Quốc, Đảng đã làm được nhiều việc trên các mặt quân sự, ngoại giao. Quan điểm của Đảng là mềm dẻo nhưng kiên quyết. Phải giữ ổn định để bảo vệ thành quả bao năm nay và để phát triển. Phải mạnh để bảo vệ tổ quốc tốt hơn. Về việc yêu nước có nhiều cách yêu nước, UBND và Thành ủy chưa chủ trương biểu tình lúc này, biểu tình không giải quyết được tình hình chống Trung Quốc” cũng chỉ là một cách nói để trốn bổn phận bảo vệ nước và vuốt lòng 42 Trí thức đã sốt sắng với sự an nguy của Tổ quốc trước đe dọa của quân Đại Hán.

Nhưng lập luận này chẳng hy vọng gì cứu được nước nếu Trung Cộng xua quân đánh chiếm Trường Sa và làm chủ Biển Đông ngay bây giờ, hay trong tương lai.

Nó cũng không đủ khả năng ngăn cấm hàng ngàn tầu đánh cá của Trung Cộng đang và sẽ tiếp tục hoành hành và tự do đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam trước con mắt them thuồng và cay đắng của ngư dân Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, thái độ “tụt dù” này không thể nào ngăn được Tầu đào dầu, lấy khí đốt và khóang sản ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông.

Tuy nhiên cái điệu ru này lại làm cho giới cầm quyền an phận với những gì họ đang có dù có làm cho người dân buồn ngủ và nhụt chí thêm.

Đây cũng chính là sự khác biệt giữa “làm không nói của Tầu và nói không làm của Việt”. -/-

Phạm Trần
(08/012)






 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Đi khiếu kiện đòi đất trở thành vô gia cư


Đi khiếu kiện đòi đất trở thành vô gia cư


Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok

2012-08-16

Người dân ở Việt Nam có đất đai nhà cửa bị trưng thu và kéo nhau đi khiếu kiện là chuyện xảy ra như cơm bữa trong đời sống hàng ngày.


Source Vietnamexodus

Dân oan từ nhiều tỉnh thành kéo về vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở thủ đô Hà Nội đòi nhà nước giải quyết các bất công về đất đai.


Tải xuống - download

Những công dân không nhà


Những người này tự nhận mình là dân oan vì tài sản của họ bị lấy đi mà không được đền bù thỏa đáng. Ra trung ương kiện thì trung ương chỉ về địa phương, về địa phương thì chính quyền địa phương không giải quyết.

Họ phần lớn là dân quê, ở tận trong Nam ra hay ở mãi ngoài Trung vào:

Dân oan Bình Dương: Chính quyền tỉnh Bình Dương thu hồi cưỡng chế lấy đất trái pháp luật nên là bà con chúng tôi ra khiếu nại nay là chín năm rồi mà chính quyền chưa giải quyết.

Dân oan Đak Nông: Tám năm nay lang thang lếch thếch đi làm mướn kiếm ăn vừa đủ tiền là gởi đơn đi kiện. Vừa rồi đi kiện thì ngoài trung ương chỉ đạo vô như vậy là bảy lần để cho tỉnh giải quyết, nhưng mà ông chủ tịch tỉnh giải quyết không đạt tình đạt lý. Gia đình của em là ba liệt sĩ. Một là ông nội, thứ hai là mẹ, thứ ba là anh trai, chết toàn bộ trong chiến tranh, có huy chương có ba bằng tổ quốc ghi công đàng hoàng.

Từ năm 83 chủ tịch huyện Y Yút là ông Hoàng Phú ra lịnh cưỡng chế nhà em, bắt chồng bắt con em bỏ lên xe, ủi hết nhà cửa, lấy ba bằng tổ quốc ghi công bỏ vô bao vất đi đâu không biết nữa, tám năm nay rồi mà chưa trả lại cho em.

Đó là bà Hồng Loan, gia đình liệt sĩ, nhà cửa ở Dak Nông bị trưng thu để xây đường làm chợ. Một dân oan khác ở Thanh Hóa, bà Nguyễn Thị Cúc:

Đang ở phòng tiếp dân của Thanh Hóa, bữa nay là ngày tiếp dân của chủ tịch tỉnh. Tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất từ năm 2002 nhưng ông chủ tịch giữ lại không đưa cho tôi. Đến năm 2005 ông cho người đến cắt một phần hai nhà tôi giao cho người bên cạnh. Đến lúc tôi đi vắng thì coi như nhà bị phá, tài sản bị mất. Từ 2005 đến giờ là không được trả lại đất không được cơ quan nào giải quyết. Như thế là tám năm rồi. Chồng tôi mười năm trong bộ đội, bốn năm ở chiến trường B, con tôi bị chất độc da cam đến nay vẫn chưa được giải quyết chế độ. Còn tôi cũng bị thu hồi sỗ hưu. Tôi trước là Thanh Niên Tình Nguyện theo tiếng gọi của đảng gọi là công tác xây dựng, nơi nào cũng đi.

Ngay bây giờ trên Tuyên Quang là nó lấy đất lấy nhà hai mươi bốn năm rồi không trả, năm nay là hai mươi lăm năm. Không trả thì tôi không có nhà ở, đang nằm khổ cực đói khát ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng đây.

Bà Phạm Kim Thu 87 tuổi

...Ngay bây giờ trên Tuyên Quang là nó lấy đất lấy nhà hai mươi bốn năm rồi không trả, năm nay là hai mươi lăm năm. Không trả thì tôi không có nhà ở, đang nằm khổ cực đói khát ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng đây. Phạm Kim Thu 87 tuổi

Công an đang giải tán nhóm dân oan ở Hà Nội, năm 2009 RFA file

Công an đang giải tán nhóm dân oan ở Hà Nội, năm 2009. RFA file

Dân oan ở Chapa, bà Kiều Chinh: Tôi hiện đang ở số 1 Mai Xuân Thưởng. Ba mẹ tôi là lão thành cách mạng, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được đảng nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất và các huân huy chương khác. Gia đình tôi được ủy ban nhân dân huyện Chapa cấp đất sử dụng lâu dài, bỏ tiền mồ hôi nước mắt xây dựng được hai khách sạn. Được mười năm thì thi hành án Chapa Lào Cai ập đến cưỡng chế, kê biên tài sản để bán cho người khác đến giờ là bốn chủ, lấy tiền chia nhau bỏ túi và bắt tôi vào tù oan sai hai năm với lý do là tôi có nợ tiền Ngân Hàng Nông Nghiệp Chapa. Đến bây giờ là mười bốn năm không có một ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân tỉnh nào đưa vụ án của gia đình nhà tôi ra xét xử.

Dân oan Tuyên Quang: Tôi là Phạm Kim Thu 87 tuổi đây. Tôi ở Tuyên Quang, chồng liệt sĩ, con liệt sĩ, mẹ có công với cách mạng. Ngay bây giờ trên Tuyên Quang là nó lấy đất lấy nhà hai mươi bốn năm rồi không trả, năm nay là hai mươi lăm năm. Không trả thì tôi không có nhà ở, đang nằm khổ cực đói khát ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng đây. Kêu thì kêu mãi ở Hà Nội đây mà cũng chẳng ai gặp.

Bà Trần Thị Huỳnh Mai, từ Dĩ An, Bình Dương : Tôi chỉ là một công dân bình thường, còn các bác ở đây là gia đình liệt sĩ. Đất cát của tôi bị cán bộ tỉnh Bình Dương thu hồi không đúng. Tôi ở vườn hoa Lý Tự Trọng để đưa đơn nhờ chính phủ giải quyết nên còn dây dưa đây, tôi kiện hoài mà không ra. Tôi đi nay là mười năm rồi. Mười năm thì đi ra đi vào chứ không phải là liên tục ở đâu, vì cuộc sống gia đình nhiều khó khăn thì cũng phải tự lực.

Hộ khẩu : vườn hoa


Có người đi khiếu kiện năm mười năm, có người những hai mươi đến hai mươi mấy năm. Họ trở thành người vô gia cư giữa lòng Hà Nội, ngày vác đơn đến phòng tiếp dân, tối về ngủ ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng sát văn phòng chính phủ số 1 Hoàng Hoa Thám, hoặc tại vườn hoa Lý Tự Trọng đối diện Hồ Tây.

Ngay giữa lòng thủ đô mà có những người sống lây lất trong công viên thì quả là một sinh hoạt lạ thường. Họ sinh sống như thế nào trong hoàn cảnh màn trời chiếu đất ngày này qua ngày khác. Bà Huỳnh Mai nói ở vườn hoa Lý Tự Trọng ai sao thì mình vậy:

Tôi ngủ trong mái nhà của cơ quan, ban ngày cơ quan làm việc, ban đêm cơ quan nghĩ thì mình vào mái hiên của cơ quan mình ngủ, giăng mùng lên mà ngủ, gần bờ hồ thì muỗi mòng nhiều. Nhưng nhờ được sự cứu mạng của nhân dân miền Bắc thương người dân miền Nam chúng tôi, họ cho chúng tôi chăn màn để đắp, tuy cũ nhưng sạch sẽ, tươm tất. Mưa thì có mái hiên, nếu tạt thì có những tấm bạt ni lông che lại, cũng của bà con cô bác người cho tấm cũ tấm rách gì đó, chèm ghép với nhau để mà che chắn lên. Ăn uống thì chúng tôi tự nấu, nước tắm thì tới nhà vệ sinh công cộng, một lần tắm

Người dân khiếu nại đất đai phải ngồi chờ ngày này qua ngày khác số lượng người khiếu kiện về Hà nội ngày càng nhiều. Source vietnamexodus

Người dân khiếu nại đất đai phải ngồi chờ ngày này qua ngày khác số lượng người khiếu kiện về Hà nội ngày càng nhiều. Source vietnamexodus

vậy là năm ngàn đồng.

Sinh hoạt của dân oan nơi vườn hoa Mai Xuân Thưởng cũng vậy, cũng là cảnh chùm đụp vá víu của người không nhà. Bà Kiều Chinh, một trong những người lui tới vường hoa Mai Xuân Thưởng lâu nhất, kể là khi nào trời lạnh quá thì mọi người phải dắt díu nhau vào nhà trọ, không thì cứ ngã lưng ở ghế đá công viên cũng được rồi:

Mang màn theo này, rồi dùng mấy cái áo mưa áo bạt ấy, xong dùng mấy cái que rồi mắc lên cái xe đạp, trùm luôn cả xe đạp qua ghế đá, cắm những cái que cao lên và che cái bạt, xong họ còn kê thêm áo quần rồi co người nằm thì vừa cái ghế đá.

Nấu nướng thì bắc những hòn gạch ra nấu ngay tại công viên vườn hoa. Ba hòn gạch xong để nồi lên nấu. Có người nấu một bữa ăn, có người nổi khói lên cả ba bữa luôn.

Bà Kiều Chinh

Còn mưa thì cắm bốn năm cái cọc cao lên, bắt như kiểu đi cắm trại ấy, còn nếu không mưa thì cứ mắc mùng che qua ghế đá họ ngủ với họ để cái ô che cái chỗ mặt ấy.

Cuộc sống ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng là ăn, ngủ giặt rửa nấu nường ngay tại chỗ:

Cứ sáng thì ra chỗ cái bể nước ở công viên có vòi phun nước lên đó, cứ mua những cái bình của những người đồng nát, mỗi người ba bốn cái bình, gần chục lít nước vừa tắm vừa rửa vừa nấu ăn trong ngày, hết thì sáng mai lại lấy.

Nấu nướng thì bắc những hòn gạch ra nấu ngay tại công viên vườn hoa. Ba hòn gạch xong để nồi lên nấu. Có người nấu một bữa ăn, có người nổi khói lên cả ba bữa luôn. Chung quanh vườn hoa đầy củi trên những cành khô gãy xuống.

Những người gọi là đội tử quản đi cùng với công an có hôm tám chín mười hai giờ đêm họ còn ra đây họ thu hết đồ họ đuổi xong lại ngồi dậy, họ đi rồi lại mắc màn ngủ. Một vài lần có cả công an phường Thụy Khuê với lại đội tự quản ra dọn dẹp những thứ các bà bày bừa ra vườn hoa. Túi bóng túi giấy linh tinh, đại khái làm mất cái mỹ quan đường phố công viên nó bẩn thì họ thu vất lên ô tô. Lúc sau ô tô đổ ở chỗ nào thì họ lại ra họ nhặt về nguyên bản như cũ. Ở đây có mấy chục người như thế.

Đó là về mặt chính quyền, còn người dân thủ đô có lấy chuyện này làm sự khó chịu hay không. Bà Kiều Chinh kể tiếp:

Có người mang quần áo rồi các thứ ra cho những người đi kiện đấy. Có người cho tiền, cho cơm, cho gạo, cho bánh, có người thì cho lòng lợn. Hôm nào cũng có một túm lòng lợn mang ra cho những người ngồi đây.

Nhưng còn ngày rộng tháng dài, những người dân oan quyết bám vườn hoa thủ đô để có chỗ đi khiếu kiện đó , phải làm thế nào để có tiền trang trải từng ngày:

Ở đấy thì đi làm thuê đi nhặt ve chai hầu như gần hết. Chỉ một hai người không chứ còn hầu như nhặt hết. Nhặt ve chai để bán cho cái chú đồng nát cứ buổi chiều là chú ra đấy mua cho các bà. Bán được năm nghìn mười nghìn là cao nhất.

khổ lắm tính nấu tí cơm thì trời mưa chẳng nấu được, có ngày nó thu hết son nồi thì chẳng có cơm ăn. Đêm thì muỗi nó cắn, màn mùng nó giột coi như cứ thức suốt. Kéo dài cuộc sống để mà thưa kiện vậy thôi chứ chả có nguồn nào để mà sống.

bà Cấp ở Điện Biên

Nhiều người gia đình có công với cách mạng như gia đình của các chị, nhiều ba có con liệt sĩ hy sinh cả chồng cả con, rồi nhiều người bị nạn trôi sông nước lũ ở Điện Biên, mất chồng mất con như bà Cấp đấy. Bà Cấp ở Điện Biên là nằm ở đây lâu nhất, cũng đi nhặt ve chai rồi lượm rác các kiểu đấy.

Cũng đang có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng lúc này, bà Cấp ở Điện Biên, Sơn La, mà bà Kiều Chinh vừa nhắc tới, có đất bị trưng thu làm đập thủy điện mà không được tiền đền bù:

Cuộc sống bay giờ chẳng có cơm ăn, quần áo thì bị thu sạch, công an Việt Nam thu hết rồi. Mười tám năm nay chồng chết chẳng có đồng lương đồng bổng nào. Di dân thủy điện Sơn La đấy mà chính quyền nhà nước chiếm của tôi một nghìn mét vuông đất thổ cư cả nhà xây với cây cối.

Ối giời ơi khổ lắm tính nấu tí cơm thì trời mưa chẳng nấu được, có ngày nó thu hết son nồi thì chẳng có cơm ăn. Đêm thì muỗi nó cắn, màn mùng nó giột coi như cứ thức suốt. Kéo dài cuộc sống để mà thưa kiện vậy thôi chứ chả có nguồn nào để mà sống.

Có vẻ những tiếng than van kêu khổ của bà Cấp hay của những phụ nữ khác mà quí vị vừa nghe, so ra chẳng thấm vào đâu với nỗi oan ức mà họ phải gánh chịu. Những trường hợp được kể trong bài này chỉ là sơ lược, và nếu để các bà mẹ bà vợ thương binh liệt sĩ nói cho hết thì sẽ thấy quá nhiều chi tiết tròng tráo, nhức đầu và phức tạp mà nguyên nhân là cung cách xử lý tùy tiện của viên chức chính phủ cấp địa phương.

Cuộc sống lây lất cực khổ vậy mà cớ gì những người đi khiếu kiện không chịu bỏ cuộc. Câu trả lời chung của những ông bà cô bác tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng và vườn hoa Lý Tự Trọng là họ vẫn hy vọng vẫn tin tưởng rằng lý lịch thương binh liệt sĩ của gia đình, rằng họ là người có công với cách mạng thì phải được quan tâm và đền bù một cách xứng đáng.

Thế nhưng ngày 27 tháng Bảy vừa qua, Ngày Thương Binh Liệt Sĩ, thì chẳng cấp nào người nào trong chính quyền để mắt tới những gia đình thương binh liệt sĩ bị mất nhà mất cửa và đang luẩn quẩn lầm than ở những vườn hoa rất gần văn phòng tiếp dân của chính phủ ở trung tâm Hà Nội.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tạm ngưng ở đây. Thanh Trúc kính chào và xin hẹn lại tối thứ Năm tuần tới.








 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Có nên để Đảng và Nhà nước tiếp tục lo không?



THỨ SÁU, NGÀY 17 THÁNG TÁM NĂM 2012


Có nên để Đảng và Nhà nước tiếp tục lo không?





Trần Tiến (Danlambao) - Mỗi khi đọc được những lời khuyên bảo “mọi chuyện để Đảng và Nhà Nước lo”, tôi lại cảm thấy bồi hồi như vẫn còn nghe vang vọng đâu đây những cái loa phường khóm phát thanh ra rả nhiều năm trước ở khắp đất nước Việt Nam. Lời dạy dỗ của Đảng và Nhà Nước đã được mang đến từng nhà, từng người, mọi lúc mọi nơi, qua phương tiện truyền thông hết sức thuận lợi này. Sau một thời gian im ắng, cái câu “mọi chuyện để Đảng và Nhà Nước lo” giờ đây được sử dụng nhiều hơn để đối phó với những ý kiến đóng góp, phản bác… về các động thái kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng của Nhà Cầm Quyền Việt Nam hiện nay.

Tôi xin tóm tắt một cách rất sơ lược về những gì mà Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam đã lo cho dân tộc và đất nước trong những giai đoạn dưới đây (có thể không hoàn toàn chính xác nhưng về đại thể thì chắc là không sai gì lắm):



1954 – 1975:



Tự xưng là Đảng và Nhà Nước nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam hình như chưa bao giờ xây dựng được một nền kinh tế đủ mạnh để bảo đảm được cơm no áo ấm cho người dân dưới quyền cai trị của mình, nhưng họ lại có một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đến mức đa số người dân miền Bắc đều tin rằng cần phải giải phóng người dân miền Nam không có cơm ăn áo mặc, đang rên siết đau khổ dưới ách cai trị của Mỹ Ngụy, dù trong thực tế miền Nam những năm ấy tuy chưa phải là sung túc, dư thừa nhưng chắc chẳng hề thiếu đói như những năm sau 1975 dưới sự chăm lo của Đảng & Nhà Nước.



Bộ máy tuyên truyền của Đảng & Nhà Nước này cũng hữu hiệu đến mức đã lôi kéo được biết bao nhiêu người miền Nam từ trí thức đến nông dân… bỏ ruộng đồng, bỏ trường học, hy sinh tính mạng, tài sản và tất cả mọi thứ khác vì những khẩu hiệu tổ quốc, nhân dân và cách mạng.



Những năm tháng ấy, thay vì gìn giữ hòa bình trong độc lập tự chủ và chăm lo cho người dân được cơm no, áo ấm (vốn phải là nghĩa vụ đầu tiên của một Nhà Nước vì dân đúng nghĩa) thì một nhóm người tự cho mình là Đảng & Nhà Nước đã biến đất nước ta thành tiền đồn của một chủ nghĩa hoang tưởng, cực đoan, biến dân tộc mình thành lính xung kích và hy sinh hàng triệu sinh linh chỉ để chứng tỏ tín điều mình đang theo là đúng. Không ngại hy sinh xương máu của người khác và con cái người khác, họ đã thành công trong việc áp đặt cái chủ nghĩa hoang tưởng và cuồng tín ấy lên đầu cả dân tộc.



Đảng & Nhà Nước đã rất giỏi trong việc lôi kéo nhân dân đi theo họ làm một cuộc cách mạng hoang tưởng vĩ đại để rồi dù theo hay không, dù chống lại hay trung lập thì cả dân tộc Việt Nam đã phải trả giá bằng rất nhiều xương máu và đau khổ và cuối cùng thì kẻ thắng lại lên làm vua, và vẫn cái cảnh “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”.



Những bất công trong xã hội ngày càng lớn hơn và đất nước VN dưới sự lãnh đạo của Đảng & Nhà Nước đang xuống cấp về mọi mặt, ngoại trừ sự phát triển của các tệ nạn, các cuộc thi hoa hậu và chỉ số tham nhũng…



1975 – 1990:



Sau khi chiến thắng trong cuộc chiến tranh ý thức hệ (không hề là một cuộc chiến tranh vì nhân dân như họ rêu rao), Đảng & Nhà Nước ta nghiêng hẳn sang phía Liên Xô và không biết có phải vì sự kiêu hãnh một cách ngốc nghếch hoặc vì những lý do nào khác, Đảng & Nhà Nước đã chọc giận Trung Quốc là cựu đàn anh vốn từng nhường cơm xẻ áo cho Việt Nam (một cách có tính toán và luôn rình rập cơ hội để thống trị nước ta) và thế là;



Một mặt cựu đàn anh xui Pôn-Pốt quậy phá, giết chóc biên giới phía nam để Việt Nam phải hy sinh thêm hàng chục nghìn thanh niên Việt Nam khác cho cuộc chiến này.



Một mặt, trong một chiến dịch tấn công chớp nhoáng, cựu đàn anh xỏ lá này mang quân tấn công biên giới phía Bắc và tàn phá các tỉnh biên giới của ta gây ra thiệt hại không biết bao nhiêu về người và của.



Với sự lãnh đạo của cái gọi là Đảng và Nhà Nước, lại thêm hàng chục, hàng trăm nghìn người Việt ngã xuống trong các cuộc chiến sau năm 1975.



Trong thời gian này, với thái độ tự mãn, xem trời bằng vung, ngoài thì gây ra đủ kẻ thù, trong nước thì cai trị bằng chuyên chính vô sản cùng với việc áp dụng một nền kinh tế tập thể chỉ có vượt kế hoạch trên giấy, kết quả là Đảng & Nhà Nước cho toàn dân ăn gạo mục, khoai sùng, bột mì, bo bo… và nhiều loại hàng thứ phẩm khác đi xin xỏ được của đàn anh Liên Xô và các nước Đông Âu.



Đây là thời kỳ ngăn sông cấm chợ hay còn gọi là bao cấp, mà một thời gian gần đây, các tờ báo lề đảng hay đem ra bêu rếu xem như là một thời kỳ mông muội của đất nước. Mà ai là tác giả của trò hề kinh tế này, nếu không phải là Đảng và Nhà Nước khi ấy, là những bậc đàn anh, đàn chú của Đảng & Nhà Nước đương quyền?



1990 – ?:



Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Trung Quốc vẫn còn là kẻ thù không đội trời chung của VN. Đảng & Nhà Nước lo quay lo quắt vì bơ vơ một thân một mình không còn ai để bám víu, tình hình hết sức căng thẳng.



Sau vài năm loay hoay mà không thấy người dân trong nước hưởng ứng xu thế quốc tế lật đổ nền cai trị chuyên chính vô sản tại nước nhà (không như những nước Đông Âu có nền tảng dân trí cao hơn và hiểu biết về dân chủ hơn, khá đông người dân Việt Nam vẫn còn tin vào Đảng & Nhà Nước vì họ có được biết điều gì khác đâu và cũng vì Đảng & Nhà Nước vẫn còn nắm giữ bộ máy quân đội và công an chỉ biết còn Đảng còn mình), các lãnh tụ của Đảng vẫn vì sự an nguy, yên ổn và phú quý lâu dài của bản thân, của gia đình dòng tộc, bàn mưu tính kế tìm cách quay trở lại với kẻ cựu thù – Trung Quốc – người khổng lồ lân bang, mối đe dọa truyền kiếp của đất nước và dân tộc ta. Đảng & Nhà Nước tham dự hội nghị Thành Đô năm 1990 chẳng hề vì sự sống còn của ý thức hệ, của chủ nghĩa xã hội, thậm chí là vì tương lai của đất nước chút nào cả, tất cả chỉ vì sự an nguy và quyền lực của một nhúm người tự cho mình là Đảng & Nhà Nước và những kẻ ăn theo.



Chỉ trong khoảng 10 năm từ lúc TQ trở mặt chính diện tấn công và sau đó liên tục gây đủ mọi thứ khó khăn cho VN, tiếp tục xâm lấn biển đảo, đất đai…, chỉ vì lợi lộc và yên bình của bản thân chứ không hề liên quan gì đến đất nước và dân tộc, nhóm người tự nhận là Đảng & Nhà Nước, đã muối mặt ký kết những điều khoản gì đó, giấu diếm nhân dân cả nước, một lần nữa lại thần phục Trung Hoa.



Và sau đó thì Đảng & Nhà Nước đã lo như thế nào:



- Chịu đựng việc lấn chiếm đất đai biên giới của người TQ;



- Để mặc cho TQ dùng vũ lực lấn chiếm thêm biển đảo mà không có phản ứng gì ngoài những lời tuyên bố chung chung, yếu ớt, bưng bít;



- Đục bỏ những bia ghi công anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc;



- Để mặc cho ngư dân bị tàu TQ xâm hại, tàn phá;



- Cho người TQ thuê rừng vàng biển bạc từ Nam ra Bắc, khai thác quặng mỏ; 



- Để cho người TQ nắm giữ/thắng thầu 90% dự án hạ tầng cơ sở;



- Tấn công và trấn áp mọi người Việt có hành động và lời nói xâm phạm đến TQ;



Dù TQ có hành xử, có o ép như thế nào thì những người nhân danh Đảng & Nhà Nước vẫn im hơi lặng tiếng, chịu đựng và chịu đựng, tai tiếng một chút nhưng dinh thự, lâu đài còn đấy, quyền lực vẫn còn đấy, vợ đẹp con khôn vẫn còn đấy… Đảng & Nhà Nước thật là vinh thân phì gia.



Đấy là về mặt chính trị, đối ngoại, còn về tài kinh bang tế thế của Đảng & Nhà Nước thì chỉ cần nhắc đến Vinashin, Vinalines, EVN,… những doanh nghiệp hàng đầu mà giờ đây những món nợ, những tổn thất và những di hại khổng lồ mà chúng gây ra cho nền kinh tế VN thì chắc không ai không biết.



Nhưng Đảng & Nhà Nước To cũng rất khôn ngoan, nó đã chiêu dụ và sinh đẻ ra một mớ những Đảng & Nhà Nước đàn em và đàn con khác ký sinh và bám chặt trong quân đội, công an, trong các phương tiện truyền thông độc quyền, trong các doanh nghiệp kinh tế đủ loại, trong mỗi cơ sở hành chính từ to đến nhỏ, từ bộ xuống đến phòng ban, từ trung ương xuống đến thôn xã... Nói chung là trong mọi lĩnh vực, mọi cơ sở trên đất nước này. Như những con giun sán sống ký sinh trong cơ thể người, những thứ này vì sống ký sinh nên dù to hay nhỏ chúng chỉ có cùng một mục đích duy nhất, đó là đục khoét, hút máu và rúc rỉa toàn bộ chất bổ dưỡng của cơ thể mà chúng ký sinh… Mà cơ thể đó chính là đất nước Việt Nam cùng với nhiều chục triệu người Việt còn lại đang lao động cật lực để nuôi Đảng & Nhà Nước các loại.



Đảng & Nhà Nước là thế đấy, từ trung ương đến địa phương, mỗi nơi đều có Đảng & Nhà Nước của mình. Do đó khi cần nói chuyện với những người không đồng ý với cách cai trị và hành xử của Đảng & Nhà Nước thì Đảng & Nhà Nước To sẽ chỉ thị cho các Đảng & Nhà Nước Nhỏ đi nói chuyện: “Các anh chị, các cô chú, các đồng chí hoặc chúng mày nói chung, đừng có lo, đã có Đảng & Nhà Nước lo”.



Kết Luận:



Đảng và Nhà Nước đã như thế, liệu những người dân Việt bình thường, phần đông đã thoát khỏi cơn mê ngủ bởi liều thuốc phiện kéo dài hơn nửa thế kỷ, có nên để cho Đảng và Nhà Nước tiếp tục ký sinh và rút tỉa máu thịt của chính mình và trong tương lai là của con cháu mình, đồng thời lại luôn cầm súng và dao ngồi trên đầu chúng ta, khuyên răn, thuyết giảng, phỉ nhổ, đánh đập, tù đày và hứa hẹn dẫn chúng ta đến một thiên đàng hoang tưởng không?



Người dân Việt đã được Đảng và Nhà Nước dẫn đường và chăm lo rất lâu, đã đổ biết bao xương máu, mồ hôi và nước mắt trên con đường ấy, nhưng bóng dáng thiên đàng thì chả thấy đâu mà đất nước thì càng lúc càng chứa đầy rác rưởi, tệ nạn, hỗn loạn và sự điên khùng, chưa kể là sắp lao đầu vào vòng nô lệ mới với đế quốc phương Bắc trong sự hướng dẫn của Đảng và Nhà Nước. 



Thiết nghĩ đã đến lúc mỗi người Việt phải suy nghĩ, hành động và dứt khoát với cái gọi là Đảng và Nhà Nước để tự cứu mình và cứu cả đất nước Việt Nam thôi.










Hồ Chí Minh và âm mưu Hán hóa toàn diện Việt Nam






HCM là tên tướng cướp tội đồ Qủy Truyền Kiếp của Đảng Cộng Sản VN.

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 9) - Hồ Chí Minh và âm mưu Hán hóa toàn diện Việt Nam



Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Như chúng ta đã biết, hiện nay đảng cộng sản Việt Nam đang thực hiện chính sách “hèn với giặc Trung cộng, ác với nhân dân yêu nước Việt Nam”.



Cụ thể là họ im lặng trước các hành động xâm lấn, bắt giữ ngư dân của Trung cộng. Đề ra luật biển làm một lá bùa mị dân, rồi chính họ cho công an đàn áp người biểu tình ôn hòa ủng hộ cái luật “ảo” đó. Ngoài ra là việc mất ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Boxit Tây Nguyên, người Tàu tràn ngập Việt Nam… và gần đây là việc đảng cộng sản có chủ trương dạy tiếng Hoa trong trường học.



Vấn đề ở đây không phải mới, nhưng trước đến nay nhân dân ta quan niệm đó là lỗi của những thế hệ đảng viên sau này như: Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh… Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Trong khuôn khổ bài này tôi sẽ gửi tới bạn đọc âm mưu Hán hóa toàn diện bắt đầu từ ai.



Bài thơ tiếng Hán đầu tiên của Hồ Chí Minh



Như chúng ta đã biết, ở phần 2 và phần 4 tôi đã đề cập đến việc ông Hồ Chí Minh chỉ đạo việc bán nước (HS-TS) cho Trung cộng và thực hiện nhiều chính sách theo chủ trương của Trung cộng. Tuy nhiên để một âm mưu Hán hóa toàn diện lộ rõ thì cấn phải có một bài bổ sung đầy đủ chỉ ra âm mưu của ông Hồ và đảng cộng sản Việt Nam.



Quay trở lại phần 5 (Cải cách ruộng đất) tôi đã gửi đến bạn đọc 2 bức thư ông Hồ gửi Stalin về vấn đề xin vũ khí và báo cáo Cải cách ruộng đất. Trong đó có một bức thư ông Hồ ký bằng tiếng Hoa.

Trong bài trước do links của viện lưu trữ Liên Bang Nga đang trong quá trình sửa chữa nên tôi đã gửi links từ trang diendannuocnga.net (được sự bảo trợ của sứ quán Việt Nam tại Nga) về bức thư đó. Nay xin gửi lại đường links từ viện lưu trữ liên bang Nga để bạn đọc tiện kiểm chứng: http://www.rusarchives.ru/evants/exhibitions/vietnam1/23.shtml





Trở lại vấn đề bức thư có chữ ký bằng tiếng Hoa của ông Hồ gửi Stalin. Từ trước tới nay chúng ta có 2 luồng ý kiến. Ý kiến thứ nhất coi ông Hồ là gián điệp của Trung cộng. Ý kiến thứ hai thiên về giả thuyết ông Hồ muốn chứng tỏ mức độ Hán hóa của mình. Về quan điểm cá nhân tôi, tôi đã nói ở những bài trước. Tôi chưa thiên về giả thiết ông Hồ là người Tàu vì tất cả chúng ta chưa có được kết luận chính xác như thử DNA. Tôi dùng bài này để khẳng định luồng ý kiến thứ hai của mình.



Cách đây không lâu trên tờ báo An ninh biên giới của quân đội nhân dân Việt Nam, số 15, trang 24 với tiêu đề: "Bài báo bằng thơ chữ Hán đầu tiên của Bác Hồ" của tác giả Phạm Duy Trưởng. Bài báo này đã được 1 blogger là một người lính cộng sản post lại các bạn có thể tham khảo tại links sau:




 



 Trong đoạn đầu của bài báo có viết: "Nhờ sự giới thiệu của văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm (TQ). Một buổi tối tháng 11 năm 1940, Nguyễn Ái Quốc mang bản thảo bài thơ làm bằng chữ Hán "Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ" (Cứu Trung Quốc là tự cứu mình) đến số nhà 12, đường Thái Bình là nơi ở của tổng biên tập tờ "Cứu vong nhật báo" tên là Hạ Diễn. Đọc song bài thơ này Hạ Diễn rất thích, nhưng Hạ Diễn đề nghị người cầm về rồi gửi bằng đường bưu điện đến cho tòa báo để phòng khi bọn Quốc dân đảng lục soát thì Hạ Diễn có chiếc phong bì đã được đóng con dấu bưu điện mang ra đối phó.

 Từ đó Nguyễn Ái Quốc thường gửi bài đến tòa báo.



"Cứu vong nhật báo" là một tờ báo do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, sáng lập ở Thượng Hải tháng 8 năm 1937, năm 1938 rời về Quảng Châu, đầu năm 1939 rời về Quế Lâm vào tháng 10 năm 1940 và trung tuần tháng 12 thì rời Quế Lâm. Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm vào tháng 10 năm 1940 và trung tuần tháng 12 thì rời Quế Lâm. Trong thời gian đó, Người đã viết cho CỨU VONG NHẬT BÁO tám bài sau đây với bút danh là Bình Sơn:”



Như vậy ta có thể thấy, ông Hồ với bài báo đầu tiên của mình bằng tiếng Hán đã viết một bài thơ có tiêu đề "Cứu Trung Quốc là tự cứu mình". Ngay từ đầu bài chúng ta đã thấy rõ được tâm ý của ông Hồ giành cho Trung cộng. Tại sao cứu Trung quốc lại là tự cứu mình? Hay chăng ông Hồ tự coi Việt Nam đã là một phần máu thịt của Trung quốc nên ông ta mới nói vậy. Chúng ta cùng tìm hiểu thêm về bài thơ. Trong bài báo của tác giả Phạm Duy Trưởng có đoạn:



"Tạp chí Hàn Nôm số 1 năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho đăng bài: "Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ" đăng trên tờ "Cứu vong nhật báo" ngày mồng 4 tháng 12 năm 1940. Theo bài viết này, đây là bài thơ chữ Hán sớm nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo. Xin giới thiệu lại cùng bạn đọc nguyên văn bản chữ Hán, được Phác Can phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ:



Cứu Trung Quốc là tự cứu mình



Nhật Bản phát xít ở phương Đông,

Dã man cuồng bạo lại tàn hung.

Vào Trung Hoa gây chiến xâm lược,

Nhân dân Trung Quốc khổ vô cùng.

Người thì bị giết, nhà bị thiêu,

Núi đầy xương, đất đầy máu đỏ.

Tàu bay, bom đạn, tránh làm sao?

Đói rét, ốm đau, sống thật khó.

Họ đang đấu tranh rất gian khổ,

Giữ gìn dân chủ và hòa bình.

Họ đang cần có người viện trợ,

Họ đang cần được sự đồng tình.

Giặc Nhật tấn công cả thế giới,

Là kẻ thù chung toàn nhân loại.

Mau đứng lên mà giúp Trung Hoa,

Anh chị em Việt Nam ta hỡi!

Ra sức giúp cho người Trung Quốc,

Trung Việt khác nào môi với răng.

Nhớ rằng môi hở thì răng buốt,

Cứu Trung Quốc là tự cứu mình.



Bình Sơn

4- 12- 1940



Theo như bài thơ thì chúng ta có thể nhận thấy xuyên suốt một bài thơ ông Hồ toàn kể khổ hộ nhân dân “Trung hoa anh em” mà không hề nhắc đến những lầm than của dân tộc Việt Nam nơi quê nhà. Thậm chí ông ta còn kêu gọi nhân dân Việt Nam đang oằn mình trong đói khổ, chiến tranh phải "giúp đỡ" nhân dân Trung Hoa. Và ông Hồ còn ca ngợi tình thần “Môi hở răng buốt” của kẻ thù ngàn năm với dân tộc Việt Nam. Đến câu cuối cùng ông ta lại lặp lại nội dung của tiêu đề bài thơ "Cứu Trung Quốc là tự cứu mình".



Xét thời điểm năm 1940, đất nước Việt Nam còn trong ách thống trị của Pháp, trăm bề khổ sở. Một người Việt Nam thực sự yêu nước như cách đảng cộng sản tuyên truyền không thể bày tỏ ý kiến của mình bằng một bài thơ vô cảm với dân tộc mình trong khi đó thương cảm dân tộc vốn là kẻ thù của dân tộc ta.
 Điều này cho thấy 3 ý: Khẳng định thêm việc ông ta đi khỏi bến Nhà Rồng không vì lòng yêu nước, ông ta chỉ đi kiếm ăn cho bản thân, đến năm 1940 ông ta cũng chưa hẳn đã yêu nước như đảng cộng sản ca ngợi. Ông Hồ ủng hộ Trung cộng chính là ủng hộ ý thức hệ cộng sản. Và quan trọng hơn cả ông Hồ đã bày tỏ tình yêu của mình giành cho Trung cộng trong bài thơ với một tình cảm còn dạt dào hơn gấp vạn lần giành cho Việt Nam. Hay nói cách khác ông Hồ đã tự cho mình và Việt Nam là một phần không thể tách rời của nước mẹ Trung Hoa.Thật đúng như ông nhà thơ Tố Hữu đã nói: “Bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”.



Kết luận: Qua bài thơ đầu tiên bằng tiếng Hán của mình ông Hồ đã bày tỏ tình cảm nồng nàn của mình với nước mẹ Trung Hoa trong bối cảnh dân tộc đang lầm than khổ cực. Tình yêu của ông Hồ giành cho Trung cộng chính là bước thể hiện đầu tiên cho âm mưu Hán hóa của ông ta sau này.



Cổ vũ Hán hóa và làm chư hầu cho Trung cộng:



Đất nước Việt Nam, giang sơn Việt Nam là của toàn dân, của hơn 80 triệu người Việt Nam, con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu... đã đổ nhiều máu xương hàng 4 ngàn năm mới có được sự độc lập với giặc Tàu, nhưng ông Hồ và đảng của ông ta can tâm tiến hành cuộc Hán hóa cho dân tộc ta, phản bội lại những gì cha ông đã dày công xây dựng.



Việc ông Hồ, ông Đồng bán đảo HS-TS cho Trung cộng lấy vũ khí chỉ là một trong những hành động bán nước để âm mưu quyền lực, làm chư hầu cho Trung cộng. Nhưng sự việc càng nghiêm trọng hơn khi họ chủ trương Hán hóa toàn diện dân tộc ta bằng những quyết định kinh hãi.



1. Việt Minh kêu gọi dùng tiếng Hoa và bỏ chữ quốc ngữ:



Tờ nhật báo “Tiếng Dội” số 462, năm thứ 3, 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy năm Tân Mão, giá bán 1 đồng, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, Tòa soạn, Quản lý 216 đường Gia Long Sài Gòn, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc”, cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký như sau:



ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

NĂM THỨ VII

TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VN

SỐ: 284/LĐ ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC



Hỡi đồng bào thân mến!
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!

 Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế?
Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy - một cách viết rõ ràng có mau thật đấy - và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.

 Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế - có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!
Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta!

 Ta hãy bỏ nhà bảo sanh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu!!!!
Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v...

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!

 Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.

Trường Chinh
Tổng thư ký đảng Lao Động



Đây là một văn bản cho thấy đảng cộng sản chủ trương bán nước và Hán hóa dân tộc, kêu gọi làm chư hầu rõ rệt nhất cho Trung cộng. Việc này là một sự cho thấy rõ nét âm mưu Hán hóa của đảng cộng sản trong vô vàn hành động khác. Tuy nhiên sẽ có nhiều ý kiến cho rằng sự có mặt của sắc lệnh kêu gọi kia chỉ là một thứ bịa đặt nhằm bôi nhọ đảng cộng sản. Nhưng trong khuôn khổ bài viết này tôi đã có những bằng chứng khẳng định sự có mặt của văn bản do Trường Chinh ký là thật.



Đầu tiên, số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum - London). Bạn đọc hoàn toàn có thể kiểm chứng. Chúng ta cũng phải nhìn nhận về tờ báo Tiếng Dội như sau. Các văn bản, bài báo được lưu trữ trong văn khố của các nhà nước có tiến bộ như Anh, Mỹ, Pháp… đều là những tác phẩm có giá trị về mặt nội dung cũng như sự thật lịch sử được nghiên cứu và chọn lọc kỹ lưỡng. Sự việc được lưu trữ trong văn khố của viện bảo tàng nước Anh cho thấy tính xác thực của bài báo nói trên trong tờ báo Tiếng Dội. Đó là bằng chứng đầu tiên cho thấy sự tồn tại sắc lệnh của ông Trường Chinh là có thật.



Thứ 2, Hiện nay tại Trung tâm lưu giữ quốc gia I, Việt Nam có một văn bản lưu giữ như nội dung bài báo Tiếng Dội cho đăng. Văn bản này được lưu giữ trong kho văn thư trước năm 1945 của đảng cộng sản Việt Nam. Văn bản tuy mất một phần dưới góc do yếu tố thời gian không thể thấy được chữ ký của ai nhưng trên đầu của sắc lệnh ghi rõ do đảng Lao động Việt Nam (tên khác của đảng cộng sản) ban hành. Việc không thấy chữ ký của ai không quan trọng lắm vì nó có ghi rõ là của đảng Lao động và được trung tâm lưu trữ quốc gia lưu trữ nên nó không thể vô giá trị. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm tại trung tâm lưu trữ quốc gia về sắc lệnh kêu gọi nói trên.



Thứ 3, Sẽ là thiếu sót nếu chỉ có 2 bằng chứng trên đây để khẳng định việc tồn tại sắc lệnh kêu gọi của ông Trường Chinh là sự thật. Thêm bằng chứng sau đây sẽ khẳng định chắc chắn về điều đó với bạn đọc. Vì đảng cộng sản hay có thói quen thủ tiêu bằng chứng về tội ác và sai lầm của mình nên thêm một nguồn tài liệu có thể khẳng định điều này. Trong cuốn sách của tác giả Hà Cẩn (Viện văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi nhà Xuất bản Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang có đoạn trang 126 nói về quan hệ với Việt Nam. Đoạn đó có đoạn tạm dịch như sau:



“Mao chủ tịch đánh giá việc Việt Minh đã từng muốn dùng tiếng Trung Quốc thay cho chữ quốc ngữ Việt Nam là một hành động cho thấy trước sau gì Việt Nam sẽ thuộc về chúng ta, ít nhất là về văn hóa”.



Từ đoạn này chúng ta có thể thấy Mao đã biết chủ trương dùng tiếng Hoa của Việt Minh (lúc đó mang tên đảng Lao động Việt Nam). Thời điểm tác giả Hà Cẩn nêu trong cuốn sách của mình là lúc Mao vẫn chỉ gọi đảng cộng sản Việt Nam là Việt Minh trùng khớp với thời điểm và cách dùng trong quy phạm của sắc lệnh kêu gọi của Trường Chính đòi nhân dân Việt Nam học tiếng Hoa.



Thứ 4, Bản thân con người của Trường Chinh là một con người có tư tưởng thân Trung cộng và là người vâng lời ông Hồ Chí Minh gần như tuyệt đối. Ông ta là người tích cực nhất trong vụ cải cách ruộng đất mà ông Hồ học từ Trung cộng. Việc thực thi một cách chặt chẽ các chủ trương của Tàu và ông Hồ đã biến ông Chinh thành một tên tội đồ trong CCRĐ. Điều này khác hẳn với tư tưởng của ông Duẩn trong việc quan hệ với Trung cộng. Rõ ràng ngay cả bản chất con người ông Chinh cũng cho thấy ông ta yêu Trung cộng như lãnh tụ của ông ta.



Kết luận: Sắc lệnh kêu gọi của Trường Chinh thể hiện dã tâm biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung cộng của đảng cộng sản Việt Nam.



2. Ai là kẻ chỉ đạo Trường Chinh?

 



Như chúng ta đã biết, ông Hồ là người chỉ đạo ông Đồng trong việc bán HS-TS. Ông Hồ cũng nhận chủ trương của Tàu về việc CCRĐ mà người thực hiện là ông Chinh. Trong vụ việc ra sắc lệnh kêu gọi nhân dân ta phải học tiếng Hoa có bàn tay không nhỏ của ông Hồ.



Trong phần đầu tiên chúng ta thấy ông Hồ đã viết một bài thơ ca ngợi Trung cộng và tha thiết thương nhân dân Trung cộng như thương bản thân ông ta. Vậy thì không có lý do gì để một người luôn coi “Bác Mao luôn đúng” và “yêu Trung Quốc là yêu mình” như ông Hồ không chỉ đạo ông Chinh ra sắc lệnh đó. Đó là xét yếu tố con người và tư tưởng.



Xét về mặt chính trị thì ông Hồ là người đứng đầu của tổ chức đảng Lao động, ông ta vạch ra cương lĩnh làm việc từ CCRĐ… theo lệnh của Trung cộng. Rõ ràng việc đưa ra sắc lệnh kêu gọi phải do chủ trương của ông Hồ hoặc chí ít ông Hồ cũng phải đồng ý thông qua. Chúng ta thấy việc nhãn tiền đó là ông Trường Chinh vẫn ký tên là Tổng thư Ký.



Việc một tổng thư ký tự ra một sắc lệnh kêu gọi toàn dân từ bỏ tiếng quốc ngữ là một điều không tưởng. Một nước dân chủ tự do cũng không thể có chuyện đó. Huống hồ đây lại là ở một đảng độc tài kín kẽ, quyền lực nằm trong tay bộ chính trị cũng như ông Hồ lúc đó. Bằng chứng rõ nét nhất về sự lép vế của ông Chinh đó là việc ông này là vật thế thân cho ông Hồ trong thảm trạng CCRĐ như đã chứng minh trong phần 5. Trong các bài viết trước tôi cũng đã chứng minh vai trò đứng đầu của ông Hồ cho đến khi ông ta bị mất dần quyền lực từ năm 1963 vào tay phe cánh ông Lê Duẩn. Vậy thì trách nhiệm chính trị của ông ta trong sắc lệnh kêu gọi của ông Trường Chinh là hoàn toàn to lớn và rõ rệt.



Ngoài ra, còn một điểm đáng lưu ý ông Hồ có nhiều tuyên bố cho thấy bản thân ông ta không thương yêu dân tộc Việt Nam. Tự coi Việt Nam là một phần của Trung cộng.



Trong thư đề ngày 06-6-1938 gửi Lê Nin. “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó, hay là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi một việc làm gì mà theo đồng chí cho là có ích?” (Trích Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 trang 90- Sách của đảng cộng sản Việt Nam). Bạn đọc có thể thấy cung cách của một người xin việc của ông Hồ với thế giới cộng sản. Điều này cho thấy ông Hồ không yêu thương dân tộc như ông ta và đảng cộng sản thường tự rêu rao. Một người như vậy ắt hẳn sẽ có tư tưởng Hán hóa vì Trung quốc là cộng sản đàn anh trong mắt của Hồ Chí Minh.



Cũng cần phải nhắc lại ngày 31-10-1952, ông Hồ viết: “Đồng chí Stalin kính mến, tôi gởi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của đảng Lao Động Việt Nam (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian.

 Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này”. (Tôi đã trích nội dung thư ở phần 5 – CCRĐ có hình ảnh chụp bức thư và links đi kèm). Nội dung đoạn thư này, ông Hồ không hề coi tập thể người Việt Nam là đồng bào ông ta, mạng sống của người dân Việt sẽ tùy thuộc vào lời phê chuẩn của Stalin và của cố vấn Trung cộng trong cái gọi là CCRĐ sau này nhân dân ta phải đón nhận.



Kết luận chung:



Việc bán nước trong thân phận chư hầu của ông Hồ và đảng cộng sản đã là một tội lớn. Nhưng việc Hán hóa toàn diện Việt Nam thì lại đẩy thêm một bước nữa đến đỉnh điểm của tội lỗi với dân tộc Việt Nam. Bức sắc lệnh của ông Trường Chinh và vai trò của ông Hồ trong vụ việc này càng thêm minh chứng cho sự thật: Ông Hồ không yêu dân tộc Việt Nam mà chỉ muốn biến dân tộc Việt Nam thành một tỉnh của Trung cộng!



Chỉnh sửa và hoàn thiện: 05/07/2012








Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link