Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, September 2, 2012

VO TRANG :Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn








Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn



 
Võ Trang



 



Xin tiếp tay chuyển lửa
vào quốc nội.


Đừng sợ những gì cộng
sản làm, hãy làm những
gì cộng sản sợ.



 





 



 



Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn



Tác
giả : Võ Trang



***



Con đường freeway vắng lặng uốn mình về bên
phải trước khi đổ vào một vịnh nhỏ xinh xắn. Xa xa, một chiếc tàu sắc vô danh
chìm nữa mình trong bể nước cạn… Bremerton, cái thành phố nhỏ và mưa nhiều ở miền
cực Bắc của nước Mỹ này là nơi tôi một mình xa nhà đi nhận nhiêm sở lần đầu
tiên 23 năm về trước.”Đi bất cứ nơi đâu lúc đất nước đang cần… .” Tôi bật cười
với bài hát mang âm điệu lơ lớ này của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM.

Thuở ấy tất
cả chúng tôi đều phải luôn luôn biểu hiện tinh thần “xung kích” cho đến phút cuối
trước khi …  lên tàu!.

 

Nhưng sau khi ra trường ở Mỹ tôi thật sự chấp nhận
đi bất cứ nơi đâu vì gia đình đang cần. Một vợ 2 con, sau 2 lần thi thử và
không được nhận trở lại trường Y, tôi quyết định nhanh chóng học lại cho được một
mảnh bằng 4 năm như là điều kiện tối thiểu cho những loại người không có khiếu
thương mại và sống chủ đích vào chút vốn liếng văn hóa… 

Từ một sinh viên
Y-Khoa dang dở, ra trường là kỹ sư điện, rồi làm việc như một kỹ sư viết
software, cuộc đời dạy cho tôi biết mềm dẻo thật sự, biết quí những gì mình còn
có chứ không phải theo đuôi để được thăng tiến trong nghề! Cơ quan tôi làm việc
nằm dọc theo bờ biển, được thiết lập từ năm 1913 với cái tên rất dài: Naval
Undersea Warfare Engineering Station.

Những phòng làm việc nhìn thẳng ra đại
dương, những căn nhà gạch, xây theo kiến trúc Âu Châu, lẫn mình trong cây lá của
cái tiểu bang tự hào bao giờ cũng xanh tươi (Washington State, The Evergreen
State) không mang chút không khí chiến tranh nào cả. Bãi cỏ rộng trước cao ốc
chính của sở là nơi các loài chim, nhất là loài ngỗng trời nghỉ chân trên đường
di trú xuống miền nam vào mùa đông.

 Tôi để ý đến loài chim này vì tính chung thủy
của nó – như một người bạn chỉ cho tôi những con đi lẻ loi trong đàn. Đó là những
con mất vợ hay chồng, thường là vì những người đi săn ở đây bắn chết, nhưng
chúng sẽ sống như vậy, không tái lập gia đình(“). Vào năm đầu(1986), tôi không
thấy người Việt làm cho cơ quan này, và tôi là người Việt-Nam duy nhất trong
Department of Data Processing ở đây.

Công việc đầu tiên để lại cho tôi những ấn
tượng thật đẹp về cái đất nước này. Vị chủ nhiệm bộ môn (Department Head) là
người sắp xếp phiên họp hàng tháng. Mỗi lần như thế, ông thường đề cử một nhân
viên để thuyết trình về một đề tài nào đó bên cạnh những thành quả của công việc.

Có khi là cách thiết lập các trụ chuyển tiếp tín hiệu vô tuyến. Có lần thuyết
trình viên nói về những hình dáng qui chiếu của vật thể trong không gian 3 chiều
trên mặt phẳng.

Có lần vị Division Head của tôi nói về cách chọn ly để uống những
loại rượu Vang khác nhau…  Thật thú vị trong một cơ quan chế tạo thủy lôi
(Torpedo) cao cấp như thế này lại có những đề tài chẳng dính líu gì đến nghề
nghiệp cả.Lần thuyết trình của tôi là đề tài về chính chuyến vượt biên 2 lần của
mình. Câu chuyện khá bình thường vẫn làm cho nhiều phụ nữ Mỹ đỏ mắt… 

 Cái
đất nước giàu có và thanh bình này làm cho người Mỹ rất nhạy cảm và giàu lòng
nhân ái. Từ đó, tôi hình như được “ưu đãi” trong việc chọn lựa những projects
tôi thích, được lấy trước ngày nghỉ (advanced annual leave) để bay về thăm nhà,
ít nhất một tháng một lần, vì toàn bộ gia đình tôi vẫn ở lại San Diego sau hơn
cả một năm tôi nhận nhiệm sở.Không thuyết phục được mẹ tôi di chuyển lên đây, mọi
cố gắng là để trở về với đại gia đình.

Gợi ý thuyên chuyển tôi về lại một
Detachment ở San Diego của vị Department Head đã nhiều lần bị vị chủ nhiệm dân
sự (Technical Director) bác bỏ với lý do đơn giản: “nếu không thích thì tại sao
lại nhân việc”".

 Tôi có dàn xếp để đưa gia đình lên nhưng vợ tôi cuối
cùng, sau gần một năm thử thách, cũng phải biểu lộ những nỗi buồn vì cuộc sống
vắng lặng và mưa nhiều ở đây. Ngày xưa Huế mưa cũng nhiều nên cá nhân tôi không
có khó chịu gì về vấn đề này cả. Về mùa đông, tuyết nhiều khi xuống bất ngờ… 

Từ cửa sổ nhìn ra, có khi giống như những đóa hoa trắng xuống từ trời…  rất
đẹp! Vị Department Head có gợi ý muốn gặp mẹ tôi để hỏi một câu trực tiếp “tại
sao bà không chịu cho tôi làm việc ở đây (“)”Tôi biết là không thể được nhưng vẫn
sắp xếp cho họ gặp mặt… 

Ngay cả chính tôi cũng không hiểu hết những tâm
tình của mẹ mình. Là vợ của một quân nhân muốn theo chồng, mẹ tôi đã theo ba
tôi “phiêu bạt” nhiều nơi trên miền Nam Việt-Nam từ thời tôi còn rất nhỏ. Nhưng
sau khi ba tôi bị thảm sát thì bà không còn muốn dời đổi cuộc sống nhiều nữa.

Bà không bao giờ có ý rời bỏ quê hương – và bây giờ bà không bao giờ muốn trở lại,
dù chỉ để du lịch. Nhiều khi tôi đã nghĩ bà chỉ là một cánh hoa Chùm Gửi. Có lẽ
những thương tích trong cuộc đời, những mất mát đã khiến bà bảo thủ với cái còn
lại và tạo áp lực buộc tôi trở về… 

Cuối cùng, trong một buổi lễ phát thưởng
cho những cá nhân đã đóng góp tích cực cho ngày Độc-Lập của Hoa Kỳ năm 1988 tôi
nói với vị Department Head rằng “Thánh kinh có nói: có gõ thì của sẽ mở. Tại
sao tôi đã gõ nhiều lần mà cửa vẫn đóng”".

 

Sau 2 tháng chuẩn bị, dù biết
tôi chỉ mới có 2 năm kinh nghiêm, vị Department Head đã gởi tôi về coi việc thiết
lập một hệ thống liên lạc bằng Satellite từ San Diego ra quần đảo San Clemente
-bằng chính budget của Department để tránh những chống đối của các bộ phận liên
hệ khác trong sở- sau khi trang bị cho tôi tất cả những huấn luyện cần thiết và
cả một “contract” để giúp tôi khi cần. Ông cũng đã nói chuyện và thỏa thuận với
vị chủ nhiệm ở San Diego để thu nhận tôi sau một năm chứng tỏ khả năng.

Tất cả được chuẩn bị cho một chuyến đi không trở lại cũng
như chỉ để ông mất một nhân viên sau khi đã tốn nhiều công sức đào tạo!

Tôi có thể tìm ở đâu một tấm lòng vàng
như thế này” Một năm sau, tôi chính thức trở thành nhân viên cơ hữu ở San
Diego.

Toàn bộ số tiền trợ cấp ăn, ở cho công tác, dù tôi có trình với
Department là tôi ở với gia đình, đã giúp rất nhiều trong việc đặt cọc mua một
căn nhà nhỏ ở San Diego, đánh dấu bước đầu định cư vững chắc nhờ những mối tình
người vô vụ lợi khó quên…

Tuy may mắn được làm lại cuộc đời trên đất nước này,
tôi vẫn thường mang trong lòng một mối “hận” người Mỹ đã bỏ rơi đất nước mình,
đưa đến bao thảm cảnh cho cả triệu người vượt biển. Thỉnh thoảng lời phát biểu
của vị cựu Tổng Thống Mỹ Gerald Ford vẫn dội lại trong tôi một tiềm thức mà tôi
cố quên…  “chúng ta không thể thắng một cuộc chiến đã qua rồi (we cannot
win a war which is over)”, một ngày trước khi vị Tổng Thống VNCH chính thức đầu
hàng. Nói theo kiểu nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn thì đây là loại văn chương … 
“huề tiền”. Nhưng cái nhức nhối của câu nói đối với tôi là chữ “chúng ta”.
Chúng ta là ai” – ở đây hiển nhiên là nước Mỹ, và đây là cuộc chiến của người Mỹ
và miền Bắc Việt-Nam” Trong bài diễn văn đọc tại Đại-Hội đảng Cộng-Hòa, để yểm
trợ cho ứng cử viên Tổng Thống Bush (cha), cựu Tổng Thống Mỹ Reagan có nói:
“Tôi cứ nghe những người (trong đảng) Dân Chủ nói rằng chúng ta phải làm như thế
này, như thế nọ…  mà tự hỏi chúng ta là ai”"Sự tương tranh trong suy
nghĩ để lại mặc cảm “mình ăn cơm của người mà lại phụ người”.

Có lần nói chuyện
về cuộc chiến vùng vịnh và những sắp đặt để làm lý do cho cuộc tiến quân, tôi
đã cho rằng dù đó là sự thật thì những người Mỹ như ông Perot (một ứng cử viên
độc lập) cũng không nên công khai chỉ trích như thế trên đài truyền hình. Nhưng
vị chủ nhiệm của tôi đã nghe không rõ và nhạo báng câu nói của tôi với một đồng
nghiệp khác rằng… “hắn ta nói đó không phải là những sắp đặt, thật vậy
sao”" Câu nói của ông ta cũng như những tranh luận công khai đã giúp đánh
tan mặc cảm từ lâu tôi giữ trong lòng.

Ông ta là người
Mỹ 100% nhưng không nhất thiết lúc nào cũng phải “tung hô” những quyết định của
vị lãnh đạo mình. Thế thì một người Mỹ nhập tịch như tôi tại sao phải chấp nhận
những sự kiện một cách mù quáng”

- Đó là tự do, đó là cái đẹp của xứ
sở này mà lẽ ra tôi phải học từ lâu.

Trong chế độ độc tài, “nhất trí” là sức mạnh,
là sự an toàn cho tập đoàn lãnh đạo, và nếu cần thì sẽ dùng bạo lực để buộc người
ta tin về cái chính nghĩa của mình. Ngược lại, trong xứ sở tự do, người ta chấp
nhận đối lập như là một nhân tố của phát triển.

Có lần tôi nghe một bài thuyết
giảng về lòng tự tin mà thỉnh thoảng vẫn suy nghĩ hoài…  “một con chó nhe
răng, sủa bạo thật ra là vì sợ hãi”"Trong khi lý thuyết về cuộc đấu tranh
giai cấp trong xã hội loài người tất yếu dẫn đến Chủ Nghĩa Cộng Sản đã không
còn thuyết phục được ai thì bên kia bờ đại dương, quê hương khốn khổ của tôi vẫn
ì ạch tiến lên thiên đường ảo tưởng này.





Sau hơn 30 năm phát triển Chủ Nghĩa Xã Hội,
khoảng cách tiến bộ so với các nước trong vùng cũng như trên toàn thế giới ngày
càng xa. Cái độ dốc (tangent) của đường biểu diễn về tốc độ phát triển của Xã Hội
Chủ Nghĩa khi so với Tư Bản, cái phương trình toán học bậc nhất mà các Lý Thuyết
Gia Cộng Sản Việt-Nam tự đặt lấy hệ số đã được chứng minh bằng sự chênh lệch một
trời một vực giữa mức sống của tầng lớp lãnh đạo ăn trên ngồi trước đại diện
cho giai cấp Công Nhân của họ với lợi tức trung bình 3 đồng Mỹ Kim một ngày.
Người ta cứ tiếp tục vỗ về chính mình về những thành tựu khi so sánh với các nước
nghèo đói ở Phi Châu, độc tài ở Nepal…  có cần tiếp tục phát triển như thế
đến 4, 5 chục năm nữa như ở Liên Sô để tự phát giác rằng “it dosen’t
work!”"… 



 



 



 



 



 



 

Để thuyết phục dân chúng chấp nhận sự mặc
nhiên cai trị của họ, những người lãnh đạo cộng sản khuyên nhủ người dân nên
quên đi quá khứ mà hướng về tương lai của một quê hương giàu mạnh nhưng không
quên mở một dấu ngoặc quê hương phải gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội cũng như
phát triển một nền Kinh Tế Thị Trường nhưng phải định hướng Xã Hội Chủ
Nghĩa(“).

Nếu thật sự “để hướng về tương lai” thì người ta không nên mãi sống với
quá khứ “oai hùng” – vì sự thành tựu trong quá khứ không phải lúc nào cũng là nền
tảng cho tương lai, khi mà những yêu cầu phát triển đã đòi hỏi phải thay đổi.

Dù đã dành tất cả công lao về phần mình thì trận Đại Thắng Mùa Xuân cũng không
còn giúp gì được cho giới lãnh đạo CSVN trong việc phát triển quê hương ngày
nay nữa, nếu không nói là cái giá phải trả có khi còn tệ hại hơn cả cái cái thu
hoạch, như giờ đây lịch sử đã cho người ta có đủ dữ kiện để phê phán.

Ở đây,
trong hào quang chiến thắng vùng Vịnh – và dù người dân Mỹ vẫn coi Tổng Thống
Bush (cha) như một anh hùng, họ vẫn không chấp nhận cho ông tại chức thêm một
nhiệm kỳ nữa, vì ông đã từ chối thay đổi – như trong một lời tuyên bố “bất cẩn”
về cơn sốt của nền kinh tế Hoa Kỳ vào lúc bấy giờ: “There is nothing wrong with
that!”.

Ở Việt-Nam, những người lãnh đạo khó lãnh hội được tinh thần dân chủ
như thế này để cho phép người dân có quyền bầu cử trực tiếp cấp lãnh đạo của
mình. Trong một chế độ mà bạo lực là lý lẽ cuối cùng thì thật là khó để giải
thích được cái tính đại hùng đại lực của lòng từ bi…

Giờ đây, những người lãnh
đạo Việt-Nam có thể yên tâm hơn với niềm tin rằng sẽ không có một cuộc cách mạng
đẫm máu nào có thể xảy ra để lật đổ họ được nữa, ngoại trừ những cuộc chiến với
chính những người “anh em” XHCN của mình.

Nhưng có lẻ họ không hiểu rằng trong
lịch sử phát triển của loài người, những phù phiếm ngôn ngữ, những vai trò lãnh
đạo rồi cũng chỉ là thoáng chốc – và có thể là không mấy hãnh diện cũng như khi
con người nhìn lại cả ngàn năm của chế độ nô lệ, phong kiến – và cả mấy trăm
năm của chế độ thuộc địa, đế quốc! 


 



Thấm thoát gần 30 năm đã trôi qua, kể từ ngày
tôi mang danh hiệu thuyền nhân. Một số rất ít những người tôi có dịp gặp và biết
đã cố quên đi quá khứ này để chỉ nhận mình là một người Mỹ gốc Việt hay gốc Á
Châu…  Nhưng ngay cả những đứa con, cháu theo tôi vượt biên ngày xưa hầu
như đều có một khái niệm mơ hồ về cái quê huơng này. Có lẽ quê hương không phải
là những lý luận mà là một phần đời – cái mà chúng nó không có.

Có người trở về
du lịch Việt-Nam để thấy quê hương là những bãi biển dài thoải mái, là những
nhà hàng sang trọng có thiếu nữ sắp hàng đứng chào từ ngoài đường vào, là những
vũ trường với âm thanh và ánh sáng tiêu chuẩn quốc tế ăn chơi. Có người đến Việt-Nam
để bắt đầu xây dựng những công trình nhân đạo từ những đứa trẻ lạc loài bên cạnh
những đống rác thành phố…

Ở tại đây, trong một xã hội có tiếu chuẩn vật chất rất
cao, trong một quốc gia mà quyền tự do ngôn luận là quyền tối thượng trong những
quyền căn bản của con người cũng không phải là không có tệ nạn. Phải chăng lich
sử loài người không dành đặc biệt cho một dân tộc nào cả”Tôi nghe đức Đạt Lai Lạt
Ma có lần giảng rằng con người trước khi đến cái riêng thì phải có cái chung chẳng
hạn như “trước khi là người Tây Tạng thì tôi phải là một con người… “” Tôi thà
chọn là một con người không biên giới – và cám ơn cái xứ sở này đã dành cho những
người như chúng tôi tất cả sự tự do và tôn trọng nhân phẩm.



 



VÕ TRANG





 



Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn


Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn

  Võ Trang

 

Xin tiếp tay chuyển lửa vào quốc nội.
Đừng sợ những gì cộng
sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ.

 

 

 

Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn

Tác giả : Võ Trang

***

Con đường freeway vắng lặng uốn mình về bên phải trước khi đổ vào một vịnh nhỏ xinh xắn. Xa xa, một chiếc tàu sắc vô danh chìm nữa mình trong bể nước cạn… Bremerton, cái thành phố nhỏ và mưa nhiều ở miền cực Bắc của nước Mỹ này là nơi tôi một mình xa nhà đi nhận nhiêm sở lần đầu tiên 23 năm về trước.”Đi bất cứ nơi đâu lúc đất nước đang cần… .” Tôi bật cười với bài hát mang âm điệu lơ lớ này của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM.

Thuở ấy tất cả chúng tôi đều phải luôn luôn biểu hiện tinh thần “xung kích” cho đến phút cuối trước khi …  lên tàu!.

 

Nhưng sau khi ra trường ở Mỹ tôi thật sự chấp nhận đi bất cứ nơi đâu vì gia đình đang cần. Một vợ 2 con, sau 2 lần thi thử và không được nhận trở lại trường Y, tôi quyết định nhanh chóng học lại cho được một mảnh bằng 4 năm như là điều kiện tối thiểu cho những loại người không có khiếu thương mại và sống chủ đích vào chút vốn liếng văn hóa… 

Từ một sinh viên Y-Khoa dang dở, ra trường là kỹ sư điện, rồi làm việc như một kỹ sư viết software, cuộc đời dạy cho tôi biết mềm dẻo thật sự, biết quí những gì mình còn có chứ không phải theo đuôi để được thăng tiến trong nghề! Cơ quan tôi làm việc nằm dọc theo bờ biển, được thiết lập từ năm 1913 với cái tên rất dài: Naval Undersea Warfare Engineering Station.

Những phòng làm việc nhìn thẳng ra đại dương, những căn nhà gạch, xây theo kiến trúc Âu Châu, lẫn mình trong cây lá của cái tiểu bang tự hào bao giờ cũng xanh tươi (Washington State, The Evergreen State) không mang chút không khí chiến tranh nào cả. Bãi cỏ rộng trước cao ốc chính của sở là nơi các loài chim, nhất là loài ngỗng trời nghỉ chân trên đường di trú xuống miền nam vào mùa đông.

 Tôi để ý đến loài chim này vì tính chung thủy của nó – như một người bạn chỉ cho tôi những con đi lẻ loi trong đàn. Đó là những con mất vợ hay chồng, thường là vì những người đi săn ở đây bắn chết, nhưng chúng sẽ sống như vậy, không tái lập gia đình(“). Vào năm đầu(1986), tôi không thấy người Việt làm cho cơ quan này, và tôi là người Việt-Nam duy nhất trong Department of Data Processing ở đây.

Công việc đầu tiên để lại cho tôi những ấn tượng thật đẹp về cái đất nước này. Vị chủ nhiệm bộ môn (Department Head) là người sắp xếp phiên họp hàng tháng. Mỗi lần như thế, ông thường đề cử một nhân viên để thuyết trình về một đề tài nào đó bên cạnh những thành quả của công việc.

Có khi là cách thiết lập các trụ chuyển tiếp tín hiệu vô tuyến. Có lần thuyết trình viên nói về những hình dáng qui chiếu của vật thể trong không gian 3 chiều trên mặt phẳng.

Có lần vị Division Head của tôi nói về cách chọn ly để uống những loại rượu Vang khác nhau…  Thật thú vị trong một cơ quan chế tạo thủy lôi (Torpedo) cao cấp như thế này lại có những đề tài chẳng dính líu gì đến nghề nghiệp cả.Lần thuyết trình của tôi là đề tài về chính chuyến vượt biên 2 lần của mình. Câu chuyện khá bình thường vẫn làm cho nhiều phụ nữ Mỹ đỏ mắt… 

 Cái đất nước giàu có và thanh bình này làm cho người Mỹ rất nhạy cảm và giàu lòng nhân ái. Từ đó, tôi hình như được “ưu đãi” trong việc chọn lựa những projects tôi thích, được lấy trước ngày nghỉ (advanced annual leave) để bay về thăm nhà, ít nhất một tháng một lần, vì toàn bộ gia đình tôi vẫn ở lại San Diego sau hơn cả một năm tôi nhận nhiệm sở.Không thuyết phục được mẹ tôi di chuyển lên đây, mọi cố gắng là để trở về với đại gia đình.

Gợi ý thuyên chuyển tôi về lại một Detachment ở San Diego của vị Department Head đã nhiều lần bị vị chủ nhiệm dân sự (Technical Director) bác bỏ với lý do đơn giản: “nếu không thích thì tại sao lại nhân việc”".

 Tôi có dàn xếp để đưa gia đình lên nhưng vợ tôi cuối cùng, sau gần một năm thử thách, cũng phải biểu lộ những nỗi buồn vì cuộc sống vắng lặng và mưa nhiều ở đây. Ngày xưa Huế mưa cũng nhiều nên cá nhân tôi không có khó chịu gì về vấn đề này cả. Về mùa đông, tuyết nhiều khi xuống bất ngờ… 

Từ cửa sổ nhìn ra, có khi giống như những đóa hoa trắng xuống từ trời…  rất đẹp! Vị Department Head có gợi ý muốn gặp mẹ tôi để hỏi một câu trực tiếp “tại sao bà không chịu cho tôi làm việc ở đây (“)”Tôi biết là không thể được nhưng vẫn sắp xếp cho họ gặp mặt… 

Ngay cả chính tôi cũng không hiểu hết những tâm tình của mẹ mình. Là vợ của một quân nhân muốn theo chồng, mẹ tôi đã theo ba tôi “phiêu bạt” nhiều nơi trên miền Nam Việt-Nam từ thời tôi còn rất nhỏ. Nhưng sau khi ba tôi bị thảm sát thì bà không còn muốn dời đổi cuộc sống nhiều nữa.

Bà không bao giờ có ý rời bỏ quê hương – và bây giờ bà không bao giờ muốn trở lại, dù chỉ để du lịch. Nhiều khi tôi đã nghĩ bà chỉ là một cánh hoa Chùm Gửi. Có lẽ những thương tích trong cuộc đời, những mất mát đã khiến bà bảo thủ với cái còn lại và tạo áp lực buộc tôi trở về… 

Cuối cùng, trong một buổi lễ phát thưởng cho những cá nhân đã đóng góp tích cực cho ngày Độc-Lập của Hoa Kỳ năm 1988 tôi nói với vị Department Head rằng “Thánh kinh có nói: có gõ thì của sẽ mở. Tại sao tôi đã gõ nhiều lần mà cửa vẫn đóng”".

 

Sau 2 tháng chuẩn bị, dù biết tôi chỉ mới có 2 năm kinh nghiêm, vị Department Head đã gởi tôi về coi việc thiết lập một hệ thống liên lạc bằng Satellite từ San Diego ra quần đảo San Clemente -bằng chính budget của Department để tránh những chống đối của các bộ phận liên hệ khác trong sở- sau khi trang bị cho tôi tất cả những huấn luyện cần thiết và cả một “contract” để giúp tôi khi cần. Ông cũng đã nói chuyện và thỏa thuận với vị chủ nhiệm ở San Diego để thu nhận tôi sau một năm chứng tỏ khả năng.

Tất cả được chuẩn bị cho một chuyến đi không trở lại cũng như chỉ để ông mất một nhân viên sau khi đã tốn nhiều công sức đào tạo! Tôi có thể tìm ở đâu một tấm lòng vàng như thế này” Một năm sau, tôi chính thức trở thành nhân viên cơ hữu ở San Diego.

Toàn bộ số tiền trợ cấp ăn, ở cho công tác, dù tôi có trình với Department là tôi ở với gia đình, đã giúp rất nhiều trong việc đặt cọc mua một căn nhà nhỏ ở San Diego, đánh dấu bước đầu định cư vững chắc nhờ những mối tình người vô vụ lợi khó quên…

Tuy may mắn được làm lại cuộc đời trên đất nước này, tôi vẫn thường mang trong lòng một mối “hận” người Mỹ đã bỏ rơi đất nước mình, đưa đến bao thảm cảnh cho cả triệu người vượt biển. Thỉnh thoảng lời phát biểu của vị cựu Tổng Thống Mỹ Gerald Ford vẫn dội lại trong tôi một tiềm thức mà tôi cố quên…  “chúng ta không thể thắng một cuộc chiến đã qua rồi (we cannot win a war which is over)”, một ngày trước khi vị Tổng Thống VNCH chính thức đầu hàng. Nói theo kiểu nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn thì đây là loại văn chương …  “huề tiền”. Nhưng cái nhức nhối của câu nói đối với tôi là chữ “chúng ta”. Chúng ta là ai” – ở đây hiển nhiên là nước Mỹ, và đây là cuộc chiến của người Mỹ và miền Bắc Việt-Nam” Trong bài diễn văn đọc tại Đại-Hội đảng Cộng-Hòa, để yểm trợ cho ứng cử viên Tổng Thống Bush (cha), cựu Tổng Thống Mỹ Reagan có nói: “Tôi cứ nghe những người (trong đảng) Dân Chủ nói rằng chúng ta phải làm như thế này, như thế nọ…  mà tự hỏi chúng ta là ai”"Sự tương tranh trong suy nghĩ để lại mặc cảm “mình ăn cơm của người mà lại phụ người”.

Có lần nói chuyện về cuộc chiến vùng vịnh và những sắp đặt để làm lý do cho cuộc tiến quân, tôi đã cho rằng dù đó là sự thật thì những người Mỹ như ông Perot (một ứng cử viên độc lập) cũng không nên công khai chỉ trích như thế trên đài truyền hình. Nhưng vị chủ nhiệm của tôi đã nghe không rõ và nhạo báng câu nói của tôi với một đồng nghiệp khác rằng… “hắn ta nói đó không phải là những sắp đặt, thật vậy sao”" Câu nói của ông ta cũng như những tranh luận công khai đã giúp đánh tan mặc cảm từ lâu tôi giữ trong lòng.

Ông ta là người Mỹ 100% nhưng không nhất thiết lúc nào cũng phải “tung hô” những quyết định của vị lãnh đạo mình. Thế thì một người Mỹ nhập tịch như tôi tại sao phải chấp nhận những sự kiện một cách mù quáng”

- Đó là tự do, đó là cái đẹp của xứ sở này mà lẽ ra tôi phải học từ lâu.

Trong chế độ độc tài, “nhất trí” là sức mạnh, là sự an toàn cho tập đoàn lãnh đạo, và nếu cần thì sẽ dùng bạo lực để buộc người ta tin về cái chính nghĩa của mình. Ngược lại, trong xứ sở tự do, người ta chấp nhận đối lập như là một nhân tố của phát triển.

Có lần tôi nghe một bài thuyết giảng về lòng tự tin mà thỉnh thoảng vẫn suy nghĩ hoài…  “một con chó nhe răng, sủa bạo thật ra là vì sợ hãi”"Trong khi lý thuyết về cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội loài người tất yếu dẫn đến Chủ Nghĩa Cộng Sản đã không còn thuyết phục được ai thì bên kia bờ đại dương, quê hương khốn khổ của tôi vẫn ì ạch tiến lên thiên đường ảo tưởng này.

Sau hơn 30 năm phát triển Chủ Nghĩa Xã Hội, khoảng cách tiến bộ so với các nước trong vùng cũng như trên toàn thế giới ngày càng xa. Cái độ dốc (tangent) của đường biểu diễn về tốc độ phát triển của Xã Hội Chủ Nghĩa khi so với Tư Bản, cái phương trình toán học bậc nhất mà các Lý Thuyết Gia Cộng Sản Việt-Nam tự đặt lấy hệ số đã được chứng minh bằng sự chênh lệch một trời một vực giữa mức sống của tầng lớp lãnh đạo ăn trên ngồi trước đại diện cho giai cấp Công Nhân của họ với lợi tức trung bình 3 đồng Mỹ Kim một ngày. Người ta cứ tiếp tục vỗ về chính mình về những thành tựu khi so sánh với các nước nghèo đói ở Phi Châu, độc tài ở Nepal…  có cần tiếp tục phát triển như thế đến 4, 5 chục năm nữa như ở Liên Sô để tự phát giác rằng “it dosen’t work!”"… 

 

 

 

 

 

  Để thuyết phục dân chúng chấp nhận sự mặc nhiên cai trị của họ, những người lãnh đạo cộng sản khuyên nhủ người dân nên quên đi quá khứ mà hướng về tương lai của một quê hương giàu mạnh nhưng không quên mở một dấu ngoặc quê hương phải gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội cũng như phát triển một nền Kinh Tế Thị Trường nhưng phải định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa(“).

Nếu thật sự “để hướng về tương lai” thì người ta không nên mãi sống với quá khứ “oai hùng” – vì sự thành tựu trong quá khứ không phải lúc nào cũng là nền tảng cho tương lai, khi mà những yêu cầu phát triển đã đòi hỏi phải thay đổi.

Dù đã dành tất cả công lao về phần mình thì trận Đại Thắng Mùa Xuân cũng không còn giúp gì được cho giới lãnh đạo CSVN trong việc phát triển quê hương ngày nay nữa, nếu không nói là cái giá phải trả có khi còn tệ hại hơn cả cái cái thu hoạch, như giờ đây lịch sử đã cho người ta có đủ dữ kiện để phê phán.

Ở đây, trong hào quang chiến thắng vùng Vịnh – và dù người dân Mỹ vẫn coi Tổng Thống Bush (cha) như một anh hùng, họ vẫn không chấp nhận cho ông tại chức thêm một nhiệm kỳ nữa, vì ông đã từ chối thay đổi – như trong một lời tuyên bố “bất cẩn” về cơn sốt của nền kinh tế Hoa Kỳ vào lúc bấy giờ: “There is nothing wrong with that!”.

Ở Việt-Nam, những người lãnh đạo khó lãnh hội được tinh thần dân chủ như thế này để cho phép người dân có quyền bầu cử trực tiếp cấp lãnh đạo của mình. Trong một chế độ mà bạo lực là lý lẽ cuối cùng thì thật là khó để giải thích được cái tính đại hùng đại lực của lòng từ bi…

Giờ đây, những người lãnh đạo Việt-Nam có thể yên tâm hơn với niềm tin rằng sẽ không có một cuộc cách mạng đẫm máu nào có thể xảy ra để lật đổ họ được nữa, ngoại trừ những cuộc chiến với chính những người “anh em” XHCN của mình.

Nhưng có lẻ họ không hiểu rằng trong lịch sử phát triển của loài người, những phù phiếm ngôn ngữ, những vai trò lãnh đạo rồi cũng chỉ là thoáng chốc – và có thể là không mấy hãnh diện cũng như khi con người nhìn lại cả ngàn năm của chế độ nô lệ, phong kiến – và cả mấy trăm năm của chế độ thuộc địa, đế quốc! 

 

Thấm thoát gần 30 năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi mang danh hiệu thuyền nhân. Một số rất ít những người tôi có dịp gặp và biết đã cố quên đi quá khứ này để chỉ nhận mình là một người Mỹ gốc Việt hay gốc Á Châu…  Nhưng ngay cả những đứa con, cháu theo tôi vượt biên ngày xưa hầu như đều có một khái niệm mơ hồ về cái quê huơng này. Có lẽ quê hương không phải là những lý luận mà là một phần đời – cái mà chúng nó không có.

Có người trở về du lịch Việt-Nam để thấy quê hương là những bãi biển dài thoải mái, là những nhà hàng sang trọng có thiếu nữ sắp hàng đứng chào từ ngoài đường vào, là những vũ trường với âm thanh và ánh sáng tiêu chuẩn quốc tế ăn chơi. Có người đến Việt-Nam để bắt đầu xây dựng những công trình nhân đạo từ những đứa trẻ lạc loài bên cạnh những đống rác thành phố…

Ở tại đây, trong một xã hội có tiếu chuẩn vật chất rất cao, trong một quốc gia mà quyền tự do ngôn luận là quyền tối thượng trong những quyền căn bản của con người cũng không phải là không có tệ nạn. Phải chăng lich sử loài người không dành đặc biệt cho một dân tộc nào cả”Tôi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma có lần giảng rằng con người trước khi đến cái riêng thì phải có cái chung chẳng hạn như “trước khi là người Tây Tạng thì tôi phải là một con người… “” Tôi thà chọn là một con người không biên giới – và cám ơn cái xứ sở này đã dành cho những người như chúng tôi tất cả sự tự do và tôn trọng nhân phẩm.

 

VÕ TRANG


 

Văn Nghệ Ngày Xưa, Văn Nghệ Ngày Nay






Văn Nghệ Ngày Xưa, Văn Nghệ Ngày Nay



(09/01/2012)



Tác
giả :
Giao
Chỉ Vũ Văn Lộc



Vẫn
chuyện cuối tuần ở San Jose.



Chuyện tuần vừa qua đã kể rồi, nhưng tôi vẫn còn chuyện để thưa cùng quý thân
hữu xa gần.



Trước hết là chuyện đọc sách. Đọc vừa hết trang cuối cuốn biên khảo của tác giả
Thụy Khuê gần 1000 trang. Đọc cả tuần mới hết. Sách về chuyện Nhân Văn Giai
Phẩm 60 năm về trước. Rất thú vị khi đọc đến cuộc phỏng vấn nhà thơ Hoàng Cầm
và bài thơ Bên kia sông Đuống. Kế tiếp là chuyện bà dân biểu Zoe Lofgren viết
thư giới thiệu cơ quan IRCC để gọi là giúp cho việc quảng bá viện bảo tàng.
Chuyện đáng khoe khoang này chắc phải trình bầy riêng. Và chuyện thứ ba là tôi
có dịp đi xem văn nghệ với các danh ca của Hà Nội hiện đã định cư tại
California.



Chuyện sau này viết ra có thể cũng có chút phiền phức nhưng cuộc sống đã thực
sự như thế thì cũng phải phơi bày cho đủ.Xin bắt đầu như sau.



Con sông Đuống của Hoàng Cầm





Từ
trái: Hoàng Cầm thời kháng chiến, sách Bên Kia Sông Đuống, thời phục hồi.



Trên
Radio bên Pháp cũng như trong tác phẩm phát hành, bà Thụy Khuê có dịp hỏi
chuyện văn chương và nhà thơ Hoàng Cầm kể rõ về hoàn cảnh sáng tác bài Bên kia
sông Đuống. Dường như mỗi thi sĩ hay nhạc sĩ đều có duyên nợ với các dòng sông.
Con sông Lô của Văn Cao đã trở thành bài trường ca nổi tiếng. Quang Dũng khi
hành quân Tây Tiến thì gầm gừ với con sông Mã. Khi yêu đương thì vuốt ve con
sông Đáy lạnh đôi bờ. Phạm đình Chương thì kết hợp cả 3 con sông thành hội
Trùng Dương. Nhưng riêng cái con sông Đuống nhỏ bé của Hoàng Cầm quả thực là
đặc biệt. Chỉ có nhà thơ đất Bắc Giang mới có thể cho cả con sông nằm nghiêng.
“Sông Đuống một dòng lóng lánh, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”.



Tác giả cho biết là đến dự 1 đêm báo cáo hành quân của đơn vị đánh Pháp. Chia
xẻ những đau thương tổn thất, ngậm ngùi vì cả một vùng đất mẹ bên kia sông đã
bị giặc chiếm.



Sau đó 2 giờ sáng trở về đơn vị bắt đầu làm thơ. Những câu đầu tiên dành cho tình
yêu:



“Em ơi, buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống”.



Để rồi câu cuối cùng



“Bao giờ về bên kia sông Đuống. Anh lại tìm em, em mặc yếm thắm, em thắt lụa
hồng. Em đi trẩy hội non sông”.



Đó là đoạn mở đầu và phần kết luận của bài thơ nổi tiếng. Ở đoạn giữa là binh
đao chinh chiến.



Hồi ký Phạm Duy viết rằng bài nầy bộ đội chép tay cho vào ba lô ngâm nga lúc
dừng quân. Và ca sĩ Phạm Duy đem đi ngâm trên khắp các miền đất nước. Chuyện đó
quả có thực. Thời tản cư, tôi là cậu bé Nam Định chạy về quê ngoại ở làng Bình
Hải, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.



Đứa bé mới trưởng thành, đội trưởng thiếu niên xã được phụ trách kiếm củi đốt
lửa trại cho đêm Liên hoan của bộ đội. Đó chính là lần đầu tiên trong cuộc đời
tôi xem văn nghệ.



Hai bài thơ của Hoàng Cầm dược diễn ngâm là Đêm Liên Hoan và Bên kia sông
Đuống. Vợ Hoàng Cầm là kịch sĩ và có thể cô con gái Kiều Loan còn trong bụng
mẹ.





Hình
trái: Hoàng Cầm hội ngộ Kiều Loan. Hình phải, từ trái: Kiều Loan, Hoàng Cầm,
Phạm Duy, nhạc sĩ Trần Nhật Hiền.



Văn
công hát trường ca Sông Lô (Sông Lô, sông ngàn Việt Bắc, cháy bờ lau thưa, núi
rừng âm u...)và Phạm Duy hát Nhạc Tuổi Xanh. (Một mùa Thu năm qua, cách mạng
tiến ra…) Phải thành thực nói rằng mãi sau này bạn cũ nhắc lại tôi mới biết lúc
đó mình đã gặp các văn nghệ sĩ xuất sắc nhất của lịch sử kháng chiến chống
Pháp.



Đó là thời kỳ giao thời của thập niên 40-50. Đảng Cộng sản Đông Dương giải tán
để chính phủ tuyên truyền vận động toàn dân đánh giặc.Cuộc kháng chiến vẫn còn
đang khốc liệt nhưng đêm văn nghệ ở đình làng Bình Hải đã ghi dấu trong lòng
cậu thiếu niên mãi mãi không quên. Văn nghệ hết sức quyến rủ, hết sức xúc động.
Không hề có hệ thống âm thanh. Không có ban ánh sáng. Chỉ có lời thơ, tiếng ca
tha thiết và hùng tráng giữa canh thâu. Văn nghệ ngày đó đã mở chân trời mới
cho khán giả trẻ trung bước vào cuộc đời. Tuổi 15 ngày đó bây giờ đã ở tuổi 80.



Cỗ bài tam cúc



Tuy nhiên, đối với riêng tôi, thơ chiến đấu của Hoàng Cầm đã hay nhưng quả thực
chưa thấm. Bài thơ sông Đuống vẫn chưa dũng mãnh bằng bài thơ Em bé lên sáu khi
tác giả viết để chống lại vụ cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ. Các bạn còn
nhớ câu thơ bất hủ Hoàng Cầm. “Những cái lưỡi không xương, nói toàn điều lắt
léo. Những con mắt bé tẻo, chẳng nhìn thấy chân trời”.



Nhưng tôi lại thấm thía nhất với Cỗ bài tam cúc. Thời kỳ thơ ấu, tản cư về quê
mẹ. Trải ổ rơm, đánh bài tam cúc là những kỷ niệm êm đềm. Bài thơ bất hủ với
lời thơ ẩn dụ, tốt đen tốt đỏ, tượng điều, đi đêm, để sau cùng chị đi lấy
chồng, em gái nhìn theo, em nhớ chị, em nghĩ đến thân phận mình, em thẫn thờ,
em gọi Đôi (Cây). Các bạn đồng tuế Bắc kỳ của tôi. Hy vọng các ông bà hiểu được
ngôn ngữ thần tình của thi sĩ. Tôi muốn đăng lại cả bài thơ như sau:



Cỗ bài tam cúc mép cong cong.Rút trộm rơm nhà đi trải ổ. Chị gọi đôi cây. Trầu
cay má đỏ. Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em. Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm. Em đừng
lớn nữa Chị đừng đi. Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa. Ổ rơm thơm đọng tuổi đương
thì. Đứa được, chinh chuyền xủng xoẻng.Đứa thua, Đáo gỡ ngoài thềm. Em đi đêm
tướng điều sĩ đỏ. Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em. Năm sau giặc giã. Quan Đốc
đồng áo đen nẹp đỏ. Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi



Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi.



Cuộc đời của nhà thơ.





Hình
trái: Hoàng Cầm bên sông Đuống. Hình phải: gặp con gái, kịch sĩ Kiều Loan.



Hoàng
Cầm là một thi sĩ tài hoa, rất nhiều tác phẩm. Kịch thơ Hận Nam Quan trong Nam
học sinh thường trình diễn và thuộc lòng. Danh tiếng của kịch thơ Kiều Loan
cũng là tên con gái vang dậy một thời.



Nhưng phần lớn tác phẩm của ông phải ba bốn chục năm sau mới được ra mắt. Một
phần các tác phẩm của nhóm Nhân Văn lại được phổ biến tại Sài Gòn trong khi
ngoài Bắc các tác giả bị tù đầy. Riêng cuộc đời ông dù không trực tiếp tù tội
lâu dài nhưng phải chịu trận 30 năm không được cầm bút.



Tôi phải ngưng ở đây để ghi thêm một chút riêng tư của gia đình thi sĩ. Sau khi
sáng tác kịch thơ Kiều Loan, chuyện cô gái điên yêu nước, đại hội văn nghệ tại
miền Bắc, Tố Hữu lên án kịch thơ, Hoàng Cầm phải treo cổ tác phẩm. Nhưng sau
đó, bà Tuyết Khanh sinh con gái, ông đặt tên là Kiều Loan. Đầu thập niên 50, vợ
thi sĩ đem Kiều Loan về Hà Nội, cùng thời với gia đình Phạm Duy bỏ kháng chiến.
Hoàng Cầm ở lại. Năm 1954, bà Tuyết Khanh vào Sài Gòn, thi sĩ của con sông
Đuống về Hà Nội. Vụ Nhân Văn nổi loạn, tên tuổi Hoàng Cầm vang dậy cả 2 miền
Nam Bắc. Năm 1975, một lần nữa bà Tuyết Khanh di tản qua Mỹ.



Tại San Jose, khoảng 15 năm trước, cô Kiều Loan dựng lại vở kịch thơ bất hủ của
ông già. Trong vai cô gái điên, Kiều Loan làm sống lại tác phẩm của Hoàng Cầm
với mẹ Tuyết Khanh làm khán giả. Bà ra đi cách đây 3 năm tại thung lũng hoa
vàng Mỹ quôc. Tiếp theo ông qua đời năm ngoái, dưới bầu trời hoa sữa ở Hà Nội.



Nữ kịch sĩ Kiều Loan, là người cộng tác lâu năm với IRCC và Dân Sinh tại San
Jose đã về Hà Nội chịu tang thân phụ. Phạm Duy là bạn lâu năm lội ruộng đến bên
phần mộ. Các bạn bè và người ngưỡng mộ nhà thơ đi đưa rất đông. Người Việt từ
ngoại quốc về thăm quê hương, khi phi cơ nghiêng cánh, đã chỉ trỏ mà nói rằng
phía dưới có dòng sông nhỏ hẳn là con sông Đuống.



Người Bắc Giang nói rằng con sông Đuống đang nằm nghiêng đã ngồi dậy tiễn đưa
Hoàng Cầm.



Trong khi đó người bạn thân nhất của nhà thơ là ông Phạm Duy, mấy năm nay trở
về cố hương tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, nhưng dường như vẫn chưa thấy.



Văn nghệ ngày xưa, văn nghệ ngày nay



Giữa khoảng cách văn nghệ Liên Hoan của đầu thập niên 50 cho đến năm nay là 10
năm sau của thế kỷ 21 tôi vẫn là khán giả của những bài ca Việt Nam. Khán giả
ngày đó và khán giả ngày nay có 65 năm cách biệt.



Tại San Jose lâu nay vẫn có nhiều chương trình văn nghệ và tôi hết sức tò mò đã
đi dự một đêm vừa qua tại CPA. Văn nghệ này toàn là ca hát, không có ngâm thơ,
không có vũ, không có nhạc kịch. Tất cả là đơn ca, song ca và tam ca. Hai nam
ca sĩ Bằng Kiều và Tuấn Ngọc. 5 nữ ca sĩ Mỹ Linh, Hồng Nhung, Nguyễn Hồng
Nhung, Trần Thu Hà, và Thanh Lam. MC là Kỳ Duyên và Thanh Tùng. Sân khấu lớn
của thành phố có chừng 2000 chỗ dưới nhà. Họ bán ra 7 loại vé từ 25 đồng đến
125 đồng và còn hạng siêu VIP có thể là 150 hay 200 đồng. Ban tổ chức thì nói
là đầy rạp 2000 người nhưng thực sự vẫn còn vài trăm hàng ghế trống.



Với giá vé như thế và gần đầy rạp quả thực là một buổi tổ chức thành công. Tôi
phải kể ra như thế vì dường như bạn bè thân hữu độc giả và thính giả của tôi
thường không dự các chương trình như thế này. Nên báo cáo để quý vị rõ. Dù rằng
tôi thực sự chẳng hề biết và cũng không phải là thính giả của ca sĩ trình diễn.
Chỉ nghe nói cô Mỹ Linh, Diva của Việt Nam là người trình diễn chính. Cô hát mở
màn đầu và màn hai chừng 10 bài. Trừ anh Tuấn Ngọc tạm gọi là ca sĩ Saigon, còn
lại tất cả đều là ca sĩ nổi tiếng Hà Nội và ngày nay coi như đã định cư tại Hoa
Kỳ. Phần lớn hát nhạc vàng Saigon cũ chen lẫn 1 vài bài nhạc tình Hà Nội.



Khán giả có vẻ rất hiểu biết về ca sĩ và yêu mến thần tượng của họ. Suốt 5 giờ
đồng hồ, mọi người ngồi nghiêm chỉnh để nghe hát. Tôi nghĩ rằng các ca sĩ hát
rất chuyên nghiệp nhưng nói năng thì không chuyên nghiệp. MC không phải làm
việc nhiều. Chỉ xuất hiện vài lần rất tượng trưng và chuyên nói chuyện tiếu lâm
hơi dung tục. Nhưng khán giả rất vui vẻ để nghe những lời ẩn dụ bình dân về các
hoạt động phía dưới lưng quần.



Cơ quan IRCC chúng tôi đã từng tổ chức vài lần tại CPA San Jose. Thú thực là
rất vất vả để tìm được đủ khán giả cả trên lầu và dưới nhà 2700 chỗ. Sân khấu
càng về khuya, quả thực không cón đủ bằng hữu để mời đầy một rạp hát lớn như
vậy. Tôi tò mò đến xem để tìm hiểu ngay ở thế giới bên cạnh chúng ta, thiên hạ
họ tổ chức ra sao và khán giả là những ai. Không thấy các bạn bè cựu chiến sĩ.
Không thấy các thân hữu của cộng đồng. Không thấy các bạn cao niên thường gặp.
Ca sĩ cũng hát nhạc vàng, cũng vỗ tay cho tình yêu nhưng quả thực như là từ một
thế giới khác.



Các bạn bè và thân quyến cùng đi với tôi cũng chịu khó ngồi trong rạp để theo
dõi buổi trình diễn. Phần tôi nhiều lúc bước ra ngoài. Không phải để hút thuốc,
mà để nhìn thành phố về đêm. Phía bên tay trái của CPA San Jose là khu công
viên cờ trắng. Đây là vườn tưởng niệm chiến binh đệ nhị thế chiến.



Trên 70 cột cờ lụa trắng bay bay trong canh khuya tĩnh mịch. Trong rạp vẳng ra
tiếng hát véo von của cô Diva Việt Nam: Buồn trông con nhện giăng tơ.Em ơi hãy
ngủ, anh hầu quạt đây... Từ buổi văn nghệ Việt Nam của thế kỷ 21, tôi nhớ về
đêm văn nghệ của tuổi hoa niên gần 70 năm trước ở làng Bình Hải, huyện Yên Mô,
tỉnh Ninh Bình. Ngọn đèn măng xông lúc tỏ lúc mờ. Bài thơ Bên kia sông Đuống
được đọc một lần rồi ngâm lại một lần. Giữa canh khuya, không có hệ thống âm
thanh, không có chuyên viên chiếu đèn. Nhưng bài thơ và lời nhạc đã nằm sẵn
trong đầu mỗi khán giả. Cũng như con Đáy lạnh đôi bờ, con sông Đuống ngằm
nghiêng trong kháng chiến trường kỳ. Những chàng trai đã đứng lên đáp lời sông
núi đó ngày nay ở đâu. Trải qua bao nhiêu cuộc chiến. Đánh Pháp rồi quốc cộng
phân tranh từ 46 đến 54. Đất nước chia đôi, rồi quốc cộng và chiến tranh Nam
Bắc trở lại từ 62. Tiếp tục đánh Mỹ đến 73. Sau cùng là tổng tấn công chiến
thắng miền Nam. Giữa những ngày tháng đó, biết bao nhiêu là đêm văn nghệ từ Hà
Nội đến Sài Gòn dưới những mầu cờ khác biệt. Sau cùng, trên sân khấu của đại hý
viện San Jose như đêm nay, những cô ca sĩ thời danh của Hà Nội không hát Trường
Sơn. Họ trình diễn toàn nhạc Vàng tiểu tư sản. Những sản phẩm thể hiện tinh
thần mà ngảy xưa Nhân Văn Giai Phẩm đã điêu đứng cả cuộc đời.Những suy tư của
tôi, chìm đắm trong kỷ niệm bây giờ chẳng còn ai chia xẻ. Ngày xưa, người ta
ngâm thơ của Hoàng Cầm, lúc đó cô Kiều Loan của San Jose hôm nay vẫn còn nằm
trong bụng mẹ.



Những khán giả của đêm Liên Hoan đình làng Bình Hải, chắc bây giờ chẳng còn ai.
Là khán giả của đêm văn nghệ được coi là nổi tiếng của San Jose nhưng tôi chợt
cảm thấy mình lạc lõng. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, đất nước tiếp tục chém
giết nhau từ 45 đến 75 vừa đúng nửa thế kỷ. Bây giờ thêm gần 40 năm lưu vong.
Cuộc tương tàn trở thành vô nghĩa. Thắng bại cũng như không. Tiếng hát tiếp tục
với nhạc Vàng Sài Gòn thánh thót bay cao nhưng tôi nghe như ở nơi rất xa.



Có thể tôi đã thuộc về một thế giới khác.



 



 



 



 



 
dangnguoivietyeunguoiviet.org

Văn Nghệ Ngày Xưa, Văn Nghệ Ngày Nay

Văn Nghệ Ngày Xưa, Văn Nghệ Ngày Nay

(09/01/2012)

Tác giả : Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

Vẫn chuyện cuối tuần ở San Jose.

Chuyện tuần vừa qua đã kể rồi, nhưng tôi vẫn còn chuyện để thưa cùng quý thân hữu xa gần.

Trước hết là chuyện đọc sách. Đọc vừa hết trang cuối cuốn biên khảo của tác giả Thụy Khuê gần 1000 trang. Đọc cả tuần mới hết. Sách về chuyện Nhân Văn Giai Phẩm 60 năm về trước. Rất thú vị khi đọc đến cuộc phỏng vấn nhà thơ Hoàng Cầm và bài thơ Bên kia sông Đuống. Kế tiếp là chuyện bà dân biểu Zoe Lofgren viết thư giới thiệu cơ quan IRCC để gọi là giúp cho việc quảng bá viện bảo tàng. Chuyện đáng khoe khoang này chắc phải trình bầy riêng. Và chuyện thứ ba là tôi có dịp đi xem văn nghệ với các danh ca của Hà Nội hiện đã định cư tại California.

Chuyện sau này viết ra có thể cũng có chút phiền phức nhưng cuộc sống đã thực sự như thế thì cũng phải phơi bày cho đủ.Xin bắt đầu như sau.

Con sông Đuống của Hoàng Cầm

Từ trái: Hoàng Cầm thời kháng chiến, sách Bên Kia Sông Đuống, thời phục hồi.

Trên Radio bên Pháp cũng như trong tác phẩm phát hành, bà Thụy Khuê có dịp hỏi chuyện văn chương và nhà thơ Hoàng Cầm kể rõ về hoàn cảnh sáng tác bài Bên kia sông Đuống. Dường như mỗi thi sĩ hay nhạc sĩ đều có duyên nợ với các dòng sông. Con sông Lô của Văn Cao đã trở thành bài trường ca nổi tiếng. Quang Dũng khi hành quân Tây Tiến thì gầm gừ với con sông Mã. Khi yêu đương thì vuốt ve con sông Đáy lạnh đôi bờ. Phạm đình Chương thì kết hợp cả 3 con sông thành hội Trùng Dương. Nhưng riêng cái con sông Đuống nhỏ bé của Hoàng Cầm quả thực là đặc biệt. Chỉ có nhà thơ đất Bắc Giang mới có thể cho cả con sông nằm nghiêng. “Sông Đuống một dòng lóng lánh, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”.

Tác giả cho biết là đến dự 1 đêm báo cáo hành quân của đơn vị đánh Pháp. Chia xẻ những đau thương tổn thất, ngậm ngùi vì cả một vùng đất mẹ bên kia sông đã bị giặc chiếm.

Sau đó 2 giờ sáng trở về đơn vị bắt đầu làm thơ. Những câu đầu tiên dành cho tình yêu:

“Em ơi, buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống”.

Để rồi câu cuối cùng

“Bao giờ về bên kia sông Đuống. Anh lại tìm em, em mặc yếm thắm, em thắt lụa hồng. Em đi trẩy hội non sông”.

Đó là đoạn mở đầu và phần kết luận của bài thơ nổi tiếng. Ở đoạn giữa là binh đao chinh chiến.

Hồi ký Phạm Duy viết rằng bài nầy bộ đội chép tay cho vào ba lô ngâm nga lúc dừng quân. Và ca sĩ Phạm Duy đem đi ngâm trên khắp các miền đất nước. Chuyện đó quả có thực. Thời tản cư, tôi là cậu bé Nam Định chạy về quê ngoại ở làng Bình Hải, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đứa bé mới trưởng thành, đội trưởng thiếu niên xã được phụ trách kiếm củi đốt lửa trại cho đêm Liên hoan của bộ đội. Đó chính là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi xem văn nghệ.

Hai bài thơ của Hoàng Cầm dược diễn ngâm là Đêm Liên Hoan và Bên kia sông Đuống. Vợ Hoàng Cầm là kịch sĩ và có thể cô con gái Kiều Loan còn trong bụng mẹ.

Hình trái: Hoàng Cầm hội ngộ Kiều Loan. Hình phải, từ trái: Kiều Loan, Hoàng Cầm, Phạm Duy, nhạc sĩ Trần Nhật Hiền.

Văn công hát trường ca Sông Lô (Sông Lô, sông ngàn Việt Bắc, cháy bờ lau thưa, núi rừng âm u...)và Phạm Duy hát Nhạc Tuổi Xanh. (Một mùa Thu năm qua, cách mạng tiến ra…) Phải thành thực nói rằng mãi sau này bạn cũ nhắc lại tôi mới biết lúc đó mình đã gặp các văn nghệ sĩ xuất sắc nhất của lịch sử kháng chiến chống Pháp.

Đó là thời kỳ giao thời của thập niên 40-50. Đảng Cộng sản Đông Dương giải tán để chính phủ tuyên truyền vận động toàn dân đánh giặc.Cuộc kháng chiến vẫn còn đang khốc liệt nhưng đêm văn nghệ ở đình làng Bình Hải đã ghi dấu trong lòng cậu thiếu niên mãi mãi không quên. Văn nghệ hết sức quyến rủ, hết sức xúc động. Không hề có hệ thống âm thanh. Không có ban ánh sáng. Chỉ có lời thơ, tiếng ca tha thiết và hùng tráng giữa canh thâu. Văn nghệ ngày đó đã mở chân trời mới cho khán giả trẻ trung bước vào cuộc đời. Tuổi 15 ngày đó bây giờ đã ở tuổi 80.

Cỗ bài tam cúc

Tuy nhiên, đối với riêng tôi, thơ chiến đấu của Hoàng Cầm đã hay nhưng quả thực chưa thấm. Bài thơ sông Đuống vẫn chưa dũng mãnh bằng bài thơ Em bé lên sáu khi tác giả viết để chống lại vụ cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ. Các bạn còn nhớ câu thơ bất hủ Hoàng Cầm. “Những cái lưỡi không xương, nói toàn điều lắt léo. Những con mắt bé tẻo, chẳng nhìn thấy chân trời”.

Nhưng tôi lại thấm thía nhất với Cỗ bài tam cúc. Thời kỳ thơ ấu, tản cư về quê mẹ. Trải ổ rơm, đánh bài tam cúc là những kỷ niệm êm đềm. Bài thơ bất hủ với lời thơ ẩn dụ, tốt đen tốt đỏ, tượng điều, đi đêm, để sau cùng chị đi lấy chồng, em gái nhìn theo, em nhớ chị, em nghĩ đến thân phận mình, em thẫn thờ, em gọi Đôi (Cây). Các bạn đồng tuế Bắc kỳ của tôi. Hy vọng các ông bà hiểu được ngôn ngữ thần tình của thi sĩ. Tôi muốn đăng lại cả bài thơ như sau:

Cỗ bài tam cúc mép cong cong.Rút trộm rơm nhà đi trải ổ. Chị gọi đôi cây. Trầu cay má đỏ. Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em. Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm. Em đừng lớn nữa Chị đừng đi. Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa. Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì. Đứa được, chinh chuyền xủng xoẻng.Đứa thua, Đáo gỡ ngoài thềm. Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ. Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em. Năm sau giặc giã. Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ. Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi

Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi.

Cuộc đời của nhà thơ.

Hình trái: Hoàng Cầm bên sông Đuống. Hình phải: gặp con gái, kịch sĩ Kiều Loan.

Hoàng Cầm là một thi sĩ tài hoa, rất nhiều tác phẩm. Kịch thơ Hận Nam Quan trong Nam học sinh thường trình diễn và thuộc lòng. Danh tiếng của kịch thơ Kiều Loan cũng là tên con gái vang dậy một thời.

Nhưng phần lớn tác phẩm của ông phải ba bốn chục năm sau mới được ra mắt. Một phần các tác phẩm của nhóm Nhân Văn lại được phổ biến tại Sài Gòn trong khi ngoài Bắc các tác giả bị tù đầy. Riêng cuộc đời ông dù không trực tiếp tù tội lâu dài nhưng phải chịu trận 30 năm không được cầm bút.

Tôi phải ngưng ở đây để ghi thêm một chút riêng tư của gia đình thi sĩ. Sau khi sáng tác kịch thơ Kiều Loan, chuyện cô gái điên yêu nước, đại hội văn nghệ tại miền Bắc, Tố Hữu lên án kịch thơ, Hoàng Cầm phải treo cổ tác phẩm. Nhưng sau đó, bà Tuyết Khanh sinh con gái, ông đặt tên là Kiều Loan. Đầu thập niên 50, vợ thi sĩ đem Kiều Loan về Hà Nội, cùng thời với gia đình Phạm Duy bỏ kháng chiến. Hoàng Cầm ở lại. Năm 1954, bà Tuyết Khanh vào Sài Gòn, thi sĩ của con sông Đuống về Hà Nội. Vụ Nhân Văn nổi loạn, tên tuổi Hoàng Cầm vang dậy cả 2 miền Nam Bắc. Năm 1975, một lần nữa bà Tuyết Khanh di tản qua Mỹ.

Tại San Jose, khoảng 15 năm trước, cô Kiều Loan dựng lại vở kịch thơ bất hủ của ông già. Trong vai cô gái điên, Kiều Loan làm sống lại tác phẩm của Hoàng Cầm với mẹ Tuyết Khanh làm khán giả. Bà ra đi cách đây 3 năm tại thung lũng hoa vàng Mỹ quôc. Tiếp theo ông qua đời năm ngoái, dưới bầu trời hoa sữa ở Hà Nội.

Nữ kịch sĩ Kiều Loan, là người cộng tác lâu năm với IRCC và Dân Sinh tại San Jose đã về Hà Nội chịu tang thân phụ. Phạm Duy là bạn lâu năm lội ruộng đến bên phần mộ. Các bạn bè và người ngưỡng mộ nhà thơ đi đưa rất đông. Người Việt từ ngoại quốc về thăm quê hương, khi phi cơ nghiêng cánh, đã chỉ trỏ mà nói rằng phía dưới có dòng sông nhỏ hẳn là con sông Đuống.

Người Bắc Giang nói rằng con sông Đuống đang nằm nghiêng đã ngồi dậy tiễn đưa Hoàng Cầm.

Trong khi đó người bạn thân nhất của nhà thơ là ông Phạm Duy, mấy năm nay trở về cố hương tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, nhưng dường như vẫn chưa thấy.

Văn nghệ ngày xưa, văn nghệ ngày nay

Giữa khoảng cách văn nghệ Liên Hoan của đầu thập niên 50 cho đến năm nay là 10 năm sau của thế kỷ 21 tôi vẫn là khán giả của những bài ca Việt Nam. Khán giả ngày đó và khán giả ngày nay có 65 năm cách biệt.

Tại San Jose lâu nay vẫn có nhiều chương trình văn nghệ và tôi hết sức tò mò đã đi dự một đêm vừa qua tại CPA. Văn nghệ này toàn là ca hát, không có ngâm thơ, không có vũ, không có nhạc kịch. Tất cả là đơn ca, song ca và tam ca. Hai nam ca sĩ Bằng Kiều và Tuấn Ngọc. 5 nữ ca sĩ Mỹ Linh, Hồng Nhung, Nguyễn Hồng Nhung, Trần Thu Hà, và Thanh Lam. MC là Kỳ Duyên và Thanh Tùng. Sân khấu lớn của thành phố có chừng 2000 chỗ dưới nhà. Họ bán ra 7 loại vé từ 25 đồng đến 125 đồng và còn hạng siêu VIP có thể là 150 hay 200 đồng. Ban tổ chức thì nói là đầy rạp 2000 người nhưng thực sự vẫn còn vài trăm hàng ghế trống.

Với giá vé như thế và gần đầy rạp quả thực là một buổi tổ chức thành công. Tôi phải kể ra như thế vì dường như bạn bè thân hữu độc giả và thính giả của tôi thường không dự các chương trình như thế này. Nên báo cáo để quý vị rõ. Dù rằng tôi thực sự chẳng hề biết và cũng không phải là thính giả của ca sĩ trình diễn. Chỉ nghe nói cô Mỹ Linh, Diva của Việt Nam là người trình diễn chính. Cô hát mở màn đầu và màn hai chừng 10 bài. Trừ anh Tuấn Ngọc tạm gọi là ca sĩ Saigon, còn lại tất cả đều là ca sĩ nổi tiếng Hà Nội và ngày nay coi như đã định cư tại Hoa Kỳ. Phần lớn hát nhạc vàng Saigon cũ chen lẫn 1 vài bài nhạc tình Hà Nội.

Khán giả có vẻ rất hiểu biết về ca sĩ và yêu mến thần tượng của họ. Suốt 5 giờ đồng hồ, mọi người ngồi nghiêm chỉnh để nghe hát. Tôi nghĩ rằng các ca sĩ hát rất chuyên nghiệp nhưng nói năng thì không chuyên nghiệp. MC không phải làm việc nhiều. Chỉ xuất hiện vài lần rất tượng trưng và chuyên nói chuyện tiếu lâm hơi dung tục. Nhưng khán giả rất vui vẻ để nghe những lời ẩn dụ bình dân về các hoạt động phía dưới lưng quần.

Cơ quan IRCC chúng tôi đã từng tổ chức vài lần tại CPA San Jose. Thú thực là rất vất vả để tìm được đủ khán giả cả trên lầu và dưới nhà 2700 chỗ. Sân khấu càng về khuya, quả thực không cón đủ bằng hữu để mời đầy một rạp hát lớn như vậy. Tôi tò mò đến xem để tìm hiểu ngay ở thế giới bên cạnh chúng ta, thiên hạ họ tổ chức ra sao và khán giả là những ai. Không thấy các bạn bè cựu chiến sĩ. Không thấy các thân hữu của cộng đồng. Không thấy các bạn cao niên thường gặp. Ca sĩ cũng hát nhạc vàng, cũng vỗ tay cho tình yêu nhưng quả thực như là từ một thế giới khác.

Các bạn bè và thân quyến cùng đi với tôi cũng chịu khó ngồi trong rạp để theo dõi buổi trình diễn. Phần tôi nhiều lúc bước ra ngoài. Không phải để hút thuốc, mà để nhìn thành phố về đêm. Phía bên tay trái của CPA San Jose là khu công viên cờ trắng. Đây là vườn tưởng niệm chiến binh đệ nhị thế chiến.

Trên 70 cột cờ lụa trắng bay bay trong canh khuya tĩnh mịch. Trong rạp vẳng ra tiếng hát véo von của cô Diva Việt Nam: Buồn trông con nhện giăng tơ.Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây... Từ buổi văn nghệ Việt Nam của thế kỷ 21, tôi nhớ về đêm văn nghệ của tuổi hoa niên gần 70 năm trước ở làng Bình Hải, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ngọn đèn măng xông lúc tỏ lúc mờ. Bài thơ Bên kia sông Đuống được đọc một lần rồi ngâm lại một lần. Giữa canh khuya, không có hệ thống âm thanh, không có chuyên viên chiếu đèn. Nhưng bài thơ và lời nhạc đã nằm sẵn trong đầu mỗi khán giả. Cũng như con Đáy lạnh đôi bờ, con sông Đuống ngằm nghiêng trong kháng chiến trường kỳ. Những chàng trai đã đứng lên đáp lời sông núi đó ngày nay ở đâu. Trải qua bao nhiêu cuộc chiến. Đánh Pháp rồi quốc cộng phân tranh từ 46 đến 54. Đất nước chia đôi, rồi quốc cộng và chiến tranh Nam Bắc trở lại từ 62. Tiếp tục đánh Mỹ đến 73. Sau cùng là tổng tấn công chiến thắng miền Nam. Giữa những ngày tháng đó, biết bao nhiêu là đêm văn nghệ từ Hà Nội đến Sài Gòn dưới những mầu cờ khác biệt. Sau cùng, trên sân khấu của đại hý viện San Jose như đêm nay, những cô ca sĩ thời danh của Hà Nội không hát Trường Sơn. Họ trình diễn toàn nhạc Vàng tiểu tư sản. Những sản phẩm thể hiện tinh thần mà ngảy xưa Nhân Văn Giai Phẩm đã điêu đứng cả cuộc đời.Những suy tư của tôi, chìm đắm trong kỷ niệm bây giờ chẳng còn ai chia xẻ. Ngày xưa, người ta ngâm thơ của Hoàng Cầm, lúc đó cô Kiều Loan của San Jose hôm nay vẫn còn nằm trong bụng mẹ.

Những khán giả của đêm Liên Hoan đình làng Bình Hải, chắc bây giờ chẳng còn ai. Là khán giả của đêm văn nghệ được coi là nổi tiếng của San Jose nhưng tôi chợt cảm thấy mình lạc lõng. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, đất nước tiếp tục chém giết nhau từ 45 đến 75 vừa đúng nửa thế kỷ. Bây giờ thêm gần 40 năm lưu vong. Cuộc tương tàn trở thành vô nghĩa. Thắng bại cũng như không. Tiếng hát tiếp tục với nhạc Vàng Sài Gòn thánh thót bay cao nhưng tôi nghe như ở nơi rất xa.

Có thể tôi đã thuộc về một thế giới khác.

 

 

 

 

 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link