Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, September 14, 2012

Trại tù binh Phú Quốc thời VNCH.

Cámơn An Do,
Thân tặng các bạn "đồng tù" Phú Quốc.
VLC
... Lúc mới chui vào cái rọ Trảng Lớn đó, dĩ nhiên là ai cũng chỉ mong mau được cho về.
Khi bắt đầu lên lớp học tập, thấy có đâu 8 hay 9 bài, ai cũng hồ hởi phấn khởi rằng học xong chắc là về.
Tôi thì lại bi quan hơn, thường nói với bạn bè thế này:
Tao biết bọn nó cóp pi của Công giáo rất nhiều. Như bên đạo, để được sạch tội, mọi người phải qua 4 bước là Xét mình, Ăn năn dốc lòng chừa tội, Xưng tội và... Làm việc đền tội. Bây giờ mới đang học các bài như là “Đế quốc Mỹ xâm lăng nước ta, là kẻ thù của nhân dân ta”, thì mới chỉ là ở giai đoạn Xét mình, moi óc tìm ra xem mình có những tội gì, tức là mình đã làm tay sai cho Đếquốc Mỹ ra sao mà thôi.
Sau này quả đúng nhưvậy. Nhiều người, không biết vì quá thương vợ nhớ con hay vì quá ngây thơ, tin lời chúng dụ dỗ rằng “cứ thành thật khai báo, Cách mạng sẽ khoan hồng, càng thành thật khai báo (tức là xưng hết mọi tội), càng mau được về”, nên nhiều ngườiđã tường thuật lại hết các chiến công oanh liệt của mình, chúng tôi ngồi nghe mà phát run, liếc nhìn lên bọn cán bộ, thấy nhiều đứa nghiến răng đến bạnh cảcằm ra.
Tôi nhớ có một anh làm trưởng ban 3 phi trường Phù Cát, xưng tội giống như là mấy trăm xác VC bỏ lại chung quanh phi trường và trên ngọn đồi đầu phiđạo, là do một mình anh bắn chết.
Dĩ nhiên những anh bạnđáng thương này sẽ bị đưa ra Bắc đền tội mút mùa.
Riêng tôi thì cũng được chúng đày ra đền tội tại đảo Phú Quốc.
Mấy ngàn con người được nhét vào chiếc tầu 501, bốn năm ngày đêm, ăn, ngủ, phóng uế ngay tại chỗ, phân và nước tiểu ngập gần tới đầu gối.
Rồi chúng nhét vào các trại tù binh cũ, chật như cá hộp, hàng ngày mỗi người chỉ dùng một cây que sắt, vừa chọc vừa lết tới mà đã dọn sạch hết các bãi mìn chung quanh tất cả các trại tù binh cũ. Lúc nào cũng khiêng theo sẵn vài cái băng ca, đứa nào bị mìn nổ chết hay bị thương là khiêngđi ngay.
Tôi cũng đạp trúng một trái mìn cóc, may sao thuốc nổ đã hư, chỉ có ngòi nổ vang lên một tiếng chát chúa.
Phúc bảy mươi đời, nếu không thì bây giờ đã đang ...chống nạng cày bừa rồi.
May là chúng sợ Pon Pot cướp tù, nên cho di chuyển vào đất liền sớm, chứ nếu không thì mười phần đã chết bảy còn ba rồi.
Ba tôi chỉ vào thăm con một lần duy nhất tại Trảng Lớn, khi mà chúng cho thăm nuôi lần đầu tiên, lúc vềlại chỗ ngủ, mở gói quà, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ, Ông Cụ đã viết một câu trong Thánh kinh: “Con hãy hiền lành thật thà như chim bồ câu, nhưng hãy khôn ngoan lanh lợi như con rắn”.
Thực ra từ bé, tôi đã thường xuyên nghe Cụ nhắc nhở câu này và tôi cũng đã theo gương Cụ để áp dụng lời khuyên đó trong cuộc sống và ... trong các bản tự khai.
Nhưng mà Ông Cụ là con rắn... già, nên Ông Cụ đã không trình diện học tập, chứ nếu không thì cũng gỡ ít lắm là mười mấy cuốn lịch....
Vũ Linh Châu
From: an Do <
To:
Sent: Thursday, September 13, 2012 7:25 PM
Subject: Trại tù binh Phú Quốc thời VNCH.

Trại tù binh Phú Quốc thời VNCH.

Posted on 13/09/2012by Nhóm Thân Hữu Quốc Nội
(nguồn ảnh: Flickr- manhhai)
Xem xong sẽ hiểu tại sao lại có câu “Nói láo như vẹm”“bịa đặt trắng trợn” của Cộng sản Bắc Việt .
1- Trại tù binh Phú Quốc 1973: tòan cảnh khu trại giam.
Hàng rào kẽm gai bảo vệ xung quanh trại kỷ luật.
Trại tù binh Phú Quốc lúc chiều tối với đèn chiếu sáng an ninh.
2- Quân cảnh và hàng rào an ninh bảo vệ khu Tân Sinh hoạt
và khu tù binh cốt cán.
3- Tháp canh :
4- Khu lưu trữ , quản lý hồ sơ cho tất cả tù binh lúc nhập trại .
5- Tù binh vc đang ngồi xếp hàng chờ được phân loại trước khi nhập trại.
6- Quân cảnh đang kiểm tra vật dụng cá nhân của tù binh
trước khi nhập trại.
7- Tù binh vc mang các đồ tiếp tế mới nhận được vào trại.
8- Mền và chiếu đang được chuyển vô trại cho những tù nhân mới
9-Tù binh vc đang học và làm việc tại khu dạy nghề
và may đồ bên trong trại.
10-Tự cung , tự cấp từ nguồn nguyên liệu có sẵn ,
tù binh vc đang trổ tài làm dép râu.
11- Xưởng gò , rèn , hàn :
làm chân giả cho các trại viên khác bị thương tật .
12- Xách nước giếng , phục vụ sinh hoạt cá nhân .
13- Phân loại cá các loại cho nhà bếp :
14-Tù binh vc trong giờ giải trí :
Với trận túc cầu hào hứng và các cầu thủ rắn chắc, khỏe mạnh
15- Cưa cây ngoài rào cho xưởng gỗ trong trại :
16- Sửa chữa đường sá khu vực vòng quanh trại giam
17-Một tù binh đến trình diện để khám bịnh.
18- Tiêm ngừa dịch bệnh :
19- Các Bác sĩ quân y
đang khám bệnh cho 1 tù binh vc bị cụt chân
20- Ở một giường bệnh khác:
Các BS đang chuẩn bị châm cứu cho một tù binh.
21- Các tù binh đang chữa bệnh trại Biên Hòa
trong trại tù binh Phú Quốc ăn cơm cùng nhau ngay tại giường của họ.
22- Nghĩa trang tù binh bên ngoài trại tù :
23- Trại “Tân Sinh Hoạt XI” nơi giam giữ các tù binh cốt cán của vc .
24- Một nhóm tù vc đang chăm sóc vườn hoa bên trong trại
25- Một tù binh trẻ đang khoe chiếc khăn tự thêu của mình.
26- Tù binh trong trại Tân Sinh Hoạt
múa lân giúp vui các bạn tù dịp Tết :
27- Ông Địa và Lân tự chế tạo
28- Diễn kịch , hát tuồng giúp vui cho các bạn tù
29- Một buổi kiểm đếm các trại viên ở trại số 10 :
30- Kiểm tra vật dụng của cá nhân trước khi nhập trại
31- Tù binh csbv đang chuyển qua 1 trại mới.
32- Nhóm QC tiến vào trại tù binh để kiểm tra an ninh.
33- Thùng đồ của mỗi tù nhân
34- Những lá thư thăm tù của người nhà
mà một tù binh đã nhận được.
35- Nhật ký trong tù và một số “đồ nghề”
tịch thâu được của trại viên
36- Một đường hầm vừa bị lực lượng QC
phát giác trổ ra ngay bên ngoài khu nhà
Cùi-bắp than :
Giá gì mấy người tù“cải-tạo” được 1 phần trăm như bọn tù-binh cộng-sản … thì ơn đoỏng, ơn boóc biết bao.
Bọn cộng-sản ngày nay vẫn cứ ngoác miệng chửi chế-độ ngục tù thời VNCH là ghê-rợn, là địa-ngục trần-gian.
Sự thật vẫn mãi mãi là sự thật. Những tấm hình trên đã thay cho ngàn lời nói. VNCH quá ngây-thơ trong chiến-tranh tuyên-truyền lắm vậy !

Tấm Thẻ Bài

Truyện Ngắn

Tấm Thẻ Bài

DẪN NHẬP
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Hồchí Minh, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà đã tuyên chiến với nước Pháp vì Hồ chủ trương phải có chiến tranh như Lênin từng nói:
“Chiến tranh đẻ ra cách mạng”và cách mạng đẻ ra đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp để tiêu diệt cho bằng hết “trí, phú, địa, hào” (đào tận gôc, trốc tận rễ) để chỉ còn một giai cấp vô sản chuyên chính lên nắm quyền cai trị.
Giai cấp vô sản chuyên chính đó không thực sự là giai cấp vô sản nghèo rớt mồng tơi nhưng là chính Hồ và đảng viên Cộng Sản (mạo nhận), cha truyền con nối, giầu bạc tỉ đô-la, thành Tư bản Đỏ!
Hãy coi Bắc Triều tiên, Cuba, Việt Nam...vả Trung Cộng (mới đây vợ Bạc hy Lai gửi ra ngoại quốc qua một người Anh, Neil Heywood, 6 tỉ đô-la)!
Nhưng Hồ, con quan huyện Nguyễn sinh Sắc, Hồ nằm trong diện “quan lại cường hào ác bá” khi xưa (chứ không phải vô sản chuyên chính), danh từ chỉ chung những kẻ có chức quyền thời Pháp thuộcđã đè đầu cỡi cổ dân chúng như Nguyễn sinh Sắc khi ông ta say rượu đánh chết người, bị triều đình phạt đánh trăm hèo nhưng vì nhờ người thần thế nói với vua quan nhà Nguyễn cho, ông ta chỉ bị lột chức quan huyện về làm dân dã, túng đói nên con Nguyễn sinh Sắc tức là Nguyễn sinh Cung (hay Công, tức Nguyễn tất Thành, Hồ Chí Minh, Nguyễn ái Quốc, Trần dân Tiên T. Lan, Lin (tên Nga) phải viết thư cho nhiều cấp chức quyền xin rủ lòng thương cha y (Nguyễn sinh Sắc) mà ban cho Nguyễn sinh Sắc một chức nhỏ để có tiền sống qua ngày.
Cũng bởi cảnh túng quẫn, Hồxuống tầu của Tây (Admiral LaTouche Treville, năm 1911) xin làm bồi, đểqua Paris, rồi Hồ làm đơn xin vào học trường thuộc địa để ra làm quan cho Tây thuộc địa nhưng bị Chính phủ Pháp từ chối, có lẽ vì tiếng Pháp của Hồ còn quá yếu, không “qualify” cho một sinh viên trường thuộc địa của Pháp (Sau đó, Hồ đi dự Hội nghị Quốc Tế Cộng Sản, Hội nghị nói tiếng Pháp, nhưng Hồ chỉ nghe lõm bõm câu được câu chăng, chính vì thế mà Hồ làm xằng).
Bị từ chối không được thâu nhận vào trường đào tạo quan lại của Pháp, Hồ cay cú nhục nhã, bi phẫn lao đầu vào làm tôi tớ cho Liên Xô để kiếm miếng sống, hết ở Pháp lại sang Nga (Moscow), lĩnh lương tháng của CS quốc tế, rốt cuộc, Hồ chẳng hiểu đệ tam với đệ nhị CS quốc tế là cái gì, xung phong làm tên lính tiền phong cho CS quốc tế đệ tam, lôi kéo nhiều triệu thanh niên nước Việt vào làm lính Lê Dương đánh thuê cho CS mà nước Việt Nam thân yêu của chúng ta bị Mác-Lê-Mao-Hồ dày đạp, nghiền nát thê thảm như ngày hôm nay, cộng thêm cái họa diệt vong là cái giải hình chữ S ấy đã và sẽ thuộc hoàn toàn về bá quyền Tân thực dân Trung quốc (neo-colonialism) vốn xưa nay, từ thời con chó sói đói Mã Viện (40 A.D), thèm nhỏ rãi, coi nước Việt Nam như một miếng thịt bò còn tươi rịn máu.
Dân tộc Việt phải nhớ nằm lòng một điều hết sức quan trọng là, nếu Hồ không khai chiến với nước Pháp thì chỉ3 năm sau, tức 1949, Tổng Thống Vincent Auriol Pháp quốc cũng trao trả Độc Lập cho Việt-Miên-Lào (Đông Dương) mà không tốn một nhân mạng, một đồng bạc của Quốc gia, như tất cả các nước Á-Phi bị đô hộ được hưởng.
Pháp trao trả qua tay Hoàng Đế Bảo Đại, lúc đó là Quốc Trưởng nước Việt Nam (chứ không qua tay Hồ).
Điều ấy đã được minh thị bằng Sắc Lệnh của TT Pháp, không ai có thể chối bỏ được cũng như nhiều nước nhược tiểu khác, sau khi thế chiến II chấm dứt, các nước đô hộ đã trả Độc lập cho các nước bị trị vì đó là xu thế chính trị thời đại, các đếquốc trước kia xâm lăng chiếm đất bắt buộc phải trả lại như quốc tế minh định (Hội Nghị Yalta). TT Hoa Kỳ Franklin Delano Roosevelt (1882-1945) là nhân vật hết sức chú tâm đến vấn đề trọng đại đó.
Vậy có nghĩa, nếu Hồ không tuyên chiến với Pháp thì dân tộc VN không có cuộc chiến tranh 1946-1954, không phải tiêu thổ kháng chiến, đồng không nhà trống, chết hàng triệu sinh linh và bị tàn phế hàng triệu khác. Sự hi sinh ấy ngày nay quá vô nghĩa vì người dân Việt không phải chết cho đất nước Việt mà chết cho Liên Xô-Trung Cộng và khối CS quốc tế. Kẻ tôi tớ cho chúng sai bảo để đày đọa dân Việt chính là Hồ Chí Mén (GS Hồtuấn Hùng viết sách Hồ chí Minh sanh bình khảo, nói rằng y là người Hẹ, do TC cài vào chứ Nguyễn sinh Cong đã chết vì bệnh năm 1932. Khi cô Huỳnh thị Thanh Xuân, 15 tuổi, bị Hồ cưỡng dâm tại Bắc bộ phủ năm 1964, nay cô cũng kể lại rằng“bác nói giọng lơ lớ rất khó nghe” có phải là người Hẹ học nói tiếng Việt nó ra thế?)
Cũng từ cuộc chiến tranh 9 nămđó mà xẩy ra cuộc chiến tranh 1954-1975 làm chết nhiều triệu đồng bào, hàng triệu tàn phế, tổng cộng từ năm 1945 đến 1975, gần 10 triệu dân Việt đã nằm xuống, bao tài sản một đời mồ hôi nước mắt của dân chúng bỗng chốc thành tro bụi. Riêng Cải Cách Ruộng Đất rập theo khuôn và chỉ thị của Liên Sô và Trung cộng đã giết hơn nửa triệu nông dân Bắc Việt. Số ruộng tịch thu của nông dân để làm Hợp tác xã không kể sao cho xiết. Chưa dân tộc nào trên thế giới đau khổ như dân tộc Việt chỉ bởi cái quái thai Hồ chí Minh. Sự đau khổ đoạ đày đó còn kéo dài hàng trăm năm sau khi Việt Cộng sụp đổ bởi y đã đầu độc cả mấy thế hệ thanh niên, bỏhết luân thường đạo lý, tôn giáo, văn hoá cha ông ngàn năm để lại. Nước Việt Nam ngày nay, sau 80 năm dưới ách độc tài toàn trị của đảng Việt cộng (từ3-2-1930, khi Hồ theo lệnh Liên Sô thành lập đảng Cộng sản Đông Dương), nước tađã mất hết, từ đất, biển cho đến tâm thức con người. Và chính vì Hồ tặc và bộ hạmà hàng triệu người Việt như vợ chồng anh Buôn và các con đã chết oan mạng vì cái tâm độc ác rắn rết và chủ yếu bán nước cầu vinh, làm tay sai cho Nga-Tàu của Hồ chí Minh và đồng bọn.

Tấm Thẻ Bài

I
*Bút Xuân Trần Đình Ngọc
(Thân hữu kể lại cho biết đây là chuyện có thực nhưng người trong chuyện muốn ẩn danh nên phải đổi tên.)
Chị Buôn đứng ngồi không yên. Lòng chị bồn chồn như lửa đốt đến nỗi chị không thiết ăn uống gì mà cũng chẳng muốn nấu cơm cho các con chị ăn. Sự sống còn của gia đình chị bấp bênh quá vì mới thoáng nghĩ đến ngày mai, chị đã rùng mình, người như muốn lên cơn sốt. Xung quanh chị, ngưòi ta cũng lo lắng như chị và có mấy người như chị Thảo, chị Đàm, cô Bé, mấy tuần nay chẳng hiểu đi đâu mà chị không gặp. Ghé nhà coi thì cửađóng kín, hỏi người kế cận, họ cũng mù tịt, chẳng biết các gia chủ và con cáiđi đâu?
Trong khi tin đồn mỗi ngày một nhiều và toàn là những tin hãi hùng thì tình trạng cấm trại 100% vẫn duy trì cho những quân nhân có nhiệm vụ bảo vệ hậu cứ Sư đoàn 2 Bộ binh ở Chu Lai. Các Trung đoàn tác chiến đã bung ra khắp vùng lãnh thổ trách nhiệm để ngày đêm quần thảo với địch mà quân số và vũ khí hơn ta 10 lần. Cuộc chiến quả là cam go, khốc liệt. Kể từ ngày mất Ban mê Thuột, rồi di tản Pleiku, Kontum, di tản Huế, Đà Nẵng...miền Trung lên cơn sốt chưa từng có trong lịch sử miền Trung. Cơn sốt dữ dằn cái Tết năm Mậu Thân (1968) cũng là một cơn sốt nhớ đời, nó lấy đi mạng sống hàng chục ngàn người, thiêu rụi tàn phá hàng ngàn nóc gia và công thự, nó để lại một tấm khăn sô vĩ đại cho Huế và miền Trung mà mỗi lần nhớ lại chị Buôn còn rùng mình vì cha và hai người anh chị đã chết trong biến cố đó, chết chôn tập thể cùng với cả trăm người ở một cái hố lớn được đào sẵn, nông cời, ở một vùng hẻo lánh ngoại vi Huế. Hai người anh của chị, một là quân nhân, một là viên chức xã ấp VNCH nhưng còn cha chị chỉ là một ông thợ hồ mà cũng tử thương vì một cán cuốc trước khi đẩy xuống hố ở Khe Đá mài.
Nhưng so ra, cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân quả chưa thấm tháp gì với kỳ này. Dù trình độ học vấn chưa hết bậc tiểu học nhưng nghe mãi radio và thỉnh thoảng qua lối xóm bàn tán, kháo chuyện thời sự, chị Buôn cũng biết Quân đội Mỹ đã rút đi hết, chỉ còn để lại ít Cố vấn để làm việc với các cấp chỉ huy của Quân lực Việt Nam Cộng hòa mà thôi. Súng đạn tiêu thụ, mất mát không thay thế, các cơ phận rời không tiếp liệu; đại pháo, phi cơ không yểm trợ; trực thăng, xe tăng giới hạn xăng, dù đầu óc kém cỏi, quê mùa như chị Buôn cũng thấy Cộng hòa miền Nam Việt Nam khó sống nổi, đâu cứphải thức giả mới biết!
Địch chiếm Sa Huỳnh, điểm địađầu tỉnh Quảng Ngãi với ý đồ chận đường quân dân ta đào thoát vào miền Nam và cô lập hẳn từ Quảng Ngãi trở ra. Hồi đầu năm 1973, địch đã chiếm thị trấn Sa Huỳnh. Theo tin tức thì từ 28-1-1973 cho đến 16-2-1973, Sư đoàn 2 Bộ binh đã tái chiếm Sa Huỳnh với sự yểm trợ mạnh mẽ của hai tiểu đoàn Pháo binh với sáu Pháo đội tác xạ đồng thời gây cho địch những tổn thất lớn về quân dụng và nhân mạng.
Ngày 15-2-1973, Quốc lộ 1 được khai thông. Một đoàn xe dân sự nối đuôi nhau cả mấy cây số hân hoan lăn bánh trởvào Nam.
Nhưng đó là năm xưa, chuyện cũ. Giờ đây, giữa tháng 3-1975, địch lại chiếm Sa Huỳnh và cơ hội tái chiếm Sa Huỳnh mỏng manh như sợi tơ nhện giăng trước cửa nhà chị Buôn. Người Mỹ đã định bỏ Miền Nam Việt Nam cho kẻ thù của họ, đã ngại phải đổ thêm quân dụng, quân nhu vào một cuộc chiến dằng dai với số tử vong của binh sĩ Mỹ đã lên tới con số58,000 người, đã ngại khi phải đối đầu với xe tăng Nga, đại pháo Trung cộng và tiểu liên Tiệp khắc!
Trưa ngày 22-3-1975, đang lúc chị Buôn đứng ngồi không yên thì anh Buôn về, dáng điệu hớt hải, mặt mày buồn so. Chị Buôn thấy chồng mừng quá muốn la lên, bốn đứa con anh cũng bu lấy bố.
“Anh ơi!” chị Buôn rên rỉ, “anh cứ đi biền biệt mà tình hình này nguy hiểm quá lắm rồi. Xóm láng giềng họ đi đâu hết trơn. Anh tính sao đây?”
Ba đứa nhỏ nhất, thằng Tung, thằng Chưởng và con Bi mới 6, 4 và 3 tuổi đeo cứng lấy anh Buôn làm anh phải gỡtay chúng ra. Đứa con gái lớn nhất của anh chị mới 10 tuổi, con Lệ, phải can thiệp. Nó là đứa con khôn và ngoan nhất của anh chị Buôn. Nó kéo tay hai đứa em:
“Bi và Chưởng ra đây với chị. Để ba má bàn chuyện.”
“Anh đã ăn cơm chưa?” Chị Buôn hỏi chồng.
“Cơm nước gì đâu. Đến bữa không ăn thì đói mà giá có dọn cơm ra đó cũng không nuốt vô. Tình hình bết bát quá. Miền Trung không khéo mất thôi!”
“Thôi để em nấu mì gói cho cả nhà ăn. Em và các con cũng chưa ăn uống gì.”
Nói rồi, chị Buôn đi lấy soong đun nước sôi và mở từng gói mì khô bỏ vào soong, múc ra sáu, bảy tô cho mỗi người một tô. Chị vừa ngồi nhìn chồng và các con ăn vừa đút cho con Bi.
“Má ăn đi! Má để con đút cho nó, má!”
Lệ buông đũa mặc dù nó vừa bỏ vào miệng được một gắp mì.
“Con cứ ăn cho no đi. Để má ăn sau cũng được.”
Anh Buôn ngồi nhìn vợ con muốn ứa nước mắt. Gia đình anh đang yên vui mặc dù với lương Trung sĩ, anh chị vẫn phải hết sức tiện tặn mới tạm đủ. Đồng bạc Việt Nam Cộng hoà kể từ sau vụ Tết Mậu Thân cứ sụt giá đều đều. Trước kia hai đồng bạc mua được bó rau muống, bây giờ bó rau muống cũng phải bốn, năm đồng. Trước kia hai chục một lít gạo vừa, bây giờ giá gấp đôi. Vật giá tăng như thế nhưng lương lính không tăng hoặc chỉ tăng chút đỉnh. May mà có hàng Quân tiếp vụ để lần hồi qua ngày chứ cứ trông vào đồng lương còm cõi của anh thì tặn tiện lắm cũng chỉ đủ cho hai bữa cơm bình dân mỗi ngày. Dù vậy, anh Buôn vẫn thấy cuộc sống có thoải mái. Khi Sư đoàn có lệnh đi hành quân thì đi, sống chết phó thác mặc trời, còn không thì ở hậu cứ canh gác doanh trại, mỗi ngày về ăn cơm cũng được gặp vợcon một lần.
Bữa ăn quá buồn tẻ mặc dù mấyđứa nhò đều thích mì gói. Chỉ thiếu mấy lá rau cải xanh tươi cho vào ăn đỡ ngán nhưng cả hai tuần nay, chị Buôn đâu có thiết đi chợ đi búa gì. Ngôi chợ xép ởngay cạnh trại gia binh, mấy hôm nay chẳng biết có ai mang rau cải đến bán không?
Anh Buôn ăn xong tô mì. Anh giở gói thuốc lá Quân tiếp vụ ra châm một điếu và đi kiếm ly uống nước trà. ChịBuôn hỏi lại câu hỏi vừa nãy mặc dù chị có linh cảm anh không tìm ra câu trả lời.
“Bây giờ anh tính sao đây anh?”
Những vết nhăn trên trán anh có vẻ nhiều hơn:
“Tui rối ruột quá, má con Bi à! Việt cộng đánh khắp nơi loạn xà ngầu mà thiết giáp, pháo binh và nhất là không quân không còn yểm trợ cho bộ binh như trước. Năm mươi phần trăm cũng chả được. Nghe đồn là xăng máy bay, xe tăng và đạn pháo binh đã cạn, người Mỹ chưa tiếp tế sang. Anh em trong tiểu đoàn xôn xao lắm mặc dù cấp trên vẫn trấn an hằng giờ, hằng ngày. Có mấy thằng bạn tui đã đào ngũ. Cấp chỉ huy cũng có nữa. Tui nghe người ta ùn ùn lên tầu ở Đà nẵng để kéo vào Sàigòn, người chết cả mấy trăm vì rớt sông, rớt biển. Hãi hùng lắm, má con Bi à!”
“Thôi, em bàn với anh,” chịBuôn giọng xác quyết,”Chết một đống hơn sống một người. Nếu ông Trời đến lúc đổn miền Trung này thì cứ cho vợ chồng con cái mình chết chung một huyệt, chứ đừngđể người còn kẻ mất đau lòng lắm. Mà em cũng không ưng ở lại sống với họ. Mình là lính Cộng hoà từ bao nhiêu năm nay, kẻ thù không đội trời chung với họ, làm sao họ để yên mình?”
Hai vợ chồng anh Buôn vừa bàn tới đó thì nghe tiếng gõ cửa rồi một khuôn mặt nhô vào:
“Buôn đã về đấy hả, tình hình ra sao?”
Vợ chồng anh Buôn nhìn ra.Đó là Thượng sĩ Sáu, hạ sĩ quan trông coi trại gia binh, hai vợ chồng thường lui tới chuyện trò thân thiết với vợ chồng anh Buôn. Buôn nhìn thấy Sáu liền chạy ra cửa đón vào trong. Tình thế tuyệt vọng này, bất cứ người bạn thân nào cũng quí dù chỉ để nghe một lời an ủi bởi mọi sự nâng đỡ, trông cậy, hi vọng dường như đã cạn kiệt.
“Vào đây đã anh Sáu. Ủa có cảchị Sáu nữa. Mời anh chị vào đây một chút đã!”
Con Lệ và hai ba đứa nhỏvòng tay chào vợ chồng anh Sáu. Chị Sáu xoa đầu con Bi bảo anh chị Buôn:
“Vợ chồng anh coi bộ bình tĩnh quá trong khi mọi người quýnh quáng hết lên rồi. Không định chạy vào Nam sao?”
“Chị Sáu ơi,” chị Buôn ôm lấy vai người bạn gái la lên nho nhỏ,”tụi em có biết phải chạy đi đâu đâu. Anh chịcó đường, có nẻo nào làm phước chỉ cho tụi em với!”
Anh Sáu trấn an:
“Nghe các cấp nói tầu Hải quân đậu ở ngoài biển nhiều lắm. Ngày mai người ta bắt đầu rước binh sĩ và giađình lên tầu chạy vào Sàigòn.”
Buôn nhìn Sáu:
“Sao tôi không nghe gì hết. Mai vào giờ nào vậy anh Sáu?”
“Chắc từ sáng sớm. Tin phổbiến hạn chế nên nhiều người không biết. Thôi, tụi tui phải đi vài công chuyện nữa. Chào anh chị. Gặp sau nghe!”
Vợ chồng anh Sáu ra khỏi, chịBuôn hỏi chồng:
“Tin tức sốt dẻo vậy mà anh không nghe gì sao?”
“Không ai nói tui hết. Có lẽhọ sợ người ra bãi biển đông quá rồi không đủ tầu mà lên nên phải thân thiết họmới nói. Tui bàn với má con Bi ở nhà cụ bị quần áo cho lũ nhỏ, chỉ bỏ vào mấy cái túi vải vừa đeo. Chớ chồng chất nhiều, không đeo nổi. Sáng mai tui ở Đại đội về là ra bãi biển Chu Lai. Người ta sống, mình sống. Người ta chết, mình chết.Đã đến nước này thì sợ cũng không được nữa.”
Nói xong, anh Buôn ôm hôn bốnđứa con rồi tất tả ra đi. Tiếng súng giao chiến giữa hai bên ở xung quanh căn cứChu Lai vẫn nổ đều đều, lúc xa, lúc gần. Trại gia binh mọi khi đông vui, mỗi buổi chiều các bà vợ quân nhân ra giếng múc nước, gặp gỡ chuyện trò trước khi về nhà nấu bữa cơm tối cho chồng con. Tiếng hát tân nhạc, cải lương, hò Huế, tiếng đọc tin đều đều từ các máy thu thanh khắp một khu trại hoà lẫn với tiếng trẻ nhỏ nôđùa sau giờ học ban chiều làm trại gia binh mang một bộ mặt tươi vui, đầm ấm. Nay trái lại, người lớn trẻ con đi đâu cả, chỉ thỉnh thoảng mới thấy một người lướt đi như cái bóng. Không khí có vẻ rờn rợn, ma quái, chết chóc thế nào ấy vì nó thiếu hẳn những ánh đèn ấm áp từ trong các căn nhà lấp ló ra đường, ra sân; thiếu hẳn những làn khói trắng ấm áp nhà nhà đun bếp lùa qua cửa sổ và nhất là nó thiếu hẳn một sự an bình trong tâm hồn những trại viên còn đang ở tại trại nghe ngóng tin tức từng giờ từng phút.
Chị Buôn kiếm được ba cái túi vải và một cái ba-lô nhà binh. Chị nhét vội mấy cái quần áo của lũ nhỏ vào, không quên mấy tờ giấy khai sanh, căn cước. Vài cái chăn mền to và lồng phồng, vài cái nồi niêu để nấu nướng và đồ lặt vặt, chị bỏ lại hết. Duy có thùng mì gói chị cố mang đi để phòng khi đói có cái lót dạ. Chị chia cho anh Buôn cái ba-lô đeo vai và bồng thằng Chưởng; chị đeo một túi xách và bồng con Bi; con Lệ đeo một túi xách, còn thằng Tung không phải đeo gì. Mở ngăn kéo bàn, chị quơthêm được chai dầu gió xanh, chị nhét vào túi con Lệ để đề phòng cảm mạo.
Tiếng súng nổ rải rác suốtđêm, cả tiếng trọng pháo và tiểu liên. Mấy đứa nhỏ và chị Buôn chúi vào một cái giường vì quá sợ không dám nằm riêng như mọi khi. Trẻ con dễ ngủ. Nằm êm êm chúng đi vào giấc ngủ. Con Lệ lớn nhất nằm phía ngoài còn con Bi rúc vào lòng mẹngủ say.
Chị Buôn không ngủ nổi vì trăm mối vương vấn bên lòng. Ba má chị ở miền Nam, cả mấy tháng nay không có thư từ. Ba má anh Buôn ở Nha Trang. Chị cầu mong vào được Sàigòn để chị đi Trà Vinh gặp lại cha mẹ. Hoặc có tệ cũng ra tới Nha Trang, nơi gia đình anh Buôn.
Chị suy nghĩ vẩn vơ cho đến lúc thiếp đi được một lát rồi giật mình tỉnh dậy vì tiếng nổ rất gần của mấy trái hoả tiễn của địch. Sở dĩ chị phân biệt được trái đại bác của ta câu đi và trái hoả tiễn của địch phóng đến vì anh Buôn đã dạy chị. Buôn bảo vợ tiếng nổ ởtrong trại gia binh thì chỉ có địch phóng hoả tiễn, B40 hoặc bích kích pháo vào. Tiếng nổ của đại bác ta câu đi nghe nhỏ, chỉ ục một cái. Nghe riết quen, phân biệt được liền.
Mấy đứa nhỏ cũng bị đánh thức.Đạn nổ gần quá rung chuyển cả cái nhà mỏng manh trại gia binh. Mấy đứa trẻ ôm chặt lấy mẹ. Chúng quá sợ hãi. Chúng mất tinh thần. Mà chẳng riêng chúng, chịBuôn cũng quá sợ. Chính từ những cánh tay và bàn tay gầy guộc, nhỏ xíu đó mà chịcòn cảm thấy vững dạ khi nằm đây. Chị cảm thấy cuộc đời sao quá nhiều đau thương và gai góc. Chị thương những đứa con hơn chính thân chị. Chính bởi thương chúng quá nên nghe hoả tiễn của Cộng sản từ xa phóng vào, chị đã có ý nghĩ kỳ cục. Chị mong có một trái rớt trúng cái giường chị và lũ nhỏ đang nằm. Vậy là xong hết. Khỏi buồn phiền, sợ hãi. Khỏi chạy đi đâu cả. Quả đạn rớt lúc có anh Buôn thì càng tốt vì cả gia đình cùng đi một lượt. “Chết một đống hơn sống một người”, ông bà mình đã nói như thế từ ngàn xưa!
Nhưng trái hoả tiễn không rớt trúng ngay giường chị Buôn như chị ước muốn mà nó rớt ở khu B, phía ngoài. Sau ba tiếng nổ trời long đất lở, có tiếng hét, tiếng khóc, tiếng trẻ con la và tiếng chân chạy thình thịch từ khu A của chị Buôn sang khu B. Chị đoán có người chết và người bị thương vì đạn phóng vào khu gia binh đông đảo vợ con lính và Hạ sĩquan như thế này, không thể không có chết, một nhiều một ít thôi!
Trời đã sáng rõ. Những tráiđạn không còn rơi ở khu gia binh của chị Buôn nhưng chúng đã xê dịch xa hơn vềphía Bắc. Chị Buôn không dám bỏ con để sang khu B xem nhà ai bị trúng đạn nhưng chị nghe tiếng vợ Hạ sĩ Chuyết nói với mấy người ở ngoài đường:
“Chết trọn hai gia đình vợcon ông Thượng sĩ Chí và Thượng sĩ Lạch, cả thảy mười hai, mười ba người. Bị thương hai nhà hai bên cũng cả chục. Máu me, thịt xương, tay chân vung vãi trông ghê lắm mà nhà cửa đồ đạc tan tành, nát nghếu hết.”
Tiếng một người khác:
“Tình hình này rồi ai chôn ai đây? Hai ông Thượng sĩ đi hành quân, lấy ai đi báo cho các ông ấy về chôn vợcon?”
Chị Buôn cảm thấy đau lòng cho những người xấu số. Như trước đây đã có xe nhà binh chở hòm tới tẩn liệm rồiđưa đi chôn, dù có chết cũng có chỗ để an giấc ngàn thu. Giờ này đám xương thịt bèo nhèo tan nát lẫn với máu me sẽ còn phải nằm ở đó cho đến bao giờ? Ai là người có can đảm và hi sinh đứng ra chôn cất cho những người xấu số đang lúc dầu sôi lửa bỏng này? Ai cũng phải lo vấn đề di tản cho gia đình người ta trước nhất, sau đó mới đến những việc khác. Giả sử những cái xác đó là bố mẹ, ông bà, anh em, con cháu họ chưa chắc họ đã dám hi sinh thời giờ lo chôn cất. Tất cả chỉ vì họ không muốn bị kẹt lại sống với Cộng sản, không muốn con cái họ sống với Cộng sản. Trong 30 năm với ít nhiều hiểu biết về con người Cộng sản, họ đã quá ghê tởm cái chế độ phi nhân coi con người như những dụng cụ không hơn không kém, trói buộc và đối xử với con người như đàn nông súc chỉ biết có mỗi một điều: sản xuấtđể mang lại lợi nhuận cho bộ máy cầm quyền và đảng viên Cộng sản. Chị Buôn không biết gì về lý thuyết Cộng sản nhưng kinh nghiệm xương máu với Cộng sản thì chị có thừa: cha, hai người anh ruột của chị đã bị Cộng sản giết Tết Mậu Thân 1968.
Về hai gia đình mới chết, chịBuôn nghĩ dù có dã man đến mấy thì quân Cộng sản cũng phải chừa trại gia binh ra vì toàn là đàn bà, con nít vô tội. Sao họ nỡ bắn hoả tiễn vào trại gia binh như thế? Họ có còn là con người không hay đã mất hết nhân tính xuống hàng thú vật?
Khoảng 9 giờ sáng, anh Buônđẩy cửa bước vào nhà, chị Buôn và mấy đứa nhỏ chưa kịp mừng thì anh đã hối, vừa nói vừa thở:
“Mấy má con đeo đồ lên vai và theo tôi đi!”
Chị Buôn nhìn chồng:
“Giờ đi đâu, hả anh?”
Anh Buôn gắt:
“Thì nói đi là cứ đi. Đi theo tôi! Không còn giờ để cà rề cà rà!”
Chị Buôn và mấy đứa con riu ríu đeo túi lên vai. Một cái ba-lô quan trọng thì chị tròng vào vai cho anh mặc dầu ở vai kia, anh đang đeo khẩu M16 và mấy gắp đạn. Cửa khép hờ, vả lại giờnày cũng chẳng biết sao hơn; vợ chồng anh Buôn và mấy đứa con bương bả ra khỏi nhà.
Hôm đó là sáng ngày 23-3-1975.
Anh Buôn dẫn vợ con ra mé lộ,vợ chồng con cái xăm xăm đi ra phía bờ biển. Chợt anh thấy một chiếc xe Lam ba bánh đang chạy ngược chiều về phía anh. Chiếc xe Lam của người quen, anh Năm Quảng Ngãi đang bon bon trên đường. Anh Buôn giơ tay chận xe lại, lúc đó Năm Quảng Ngãi cũng đã nhận ra bạn. Anh ta ép sát lề.
“Anh chị và các cháu đi đâuđây?”
“Tụi tui ra bãi biển Chu Lai. Anh Năm cho vợ chồng tui và các cháu ra đó được không?”
“Anh Buôn tính đón tầu Hải quân vào Sàigòn sao?”
Vốn bạn thân thường nhậu nhẹt với nhau, Buôn phải nói thật, vả lại nhìn bầu đàn thê tử của Buôn, người ta cũng đoán anh định đi đâu.
“Tui không giấu gì anh, vợchồng tui và các cháu tính ra bãi biển xem có tầu Hải quân thì vào Nam với ông bà ngoại các cháu mà không được như vậy thì ra tới Nha Trang có gia đình ông bà nội các cháu cũng được.”
Năm sốt sắng:
“Lên xe đi, tôi chở dùm anh chị và các cháu ra bãi biển. Nhưng ở ngoài đó giờ này đông lắm rồi. Sáng đến giờtôi đã chở cả chục chuyến, lại còn mấy xe khác nữa. Có người ngủ đêm rồi ở bãi biển.”
Vợ chồng anh Buôn và con cái leo lên, chẳng biết sẽ ra sao, thôi đành phó thác cho định mệnh.
Khi xe tới nơi, Buôn thấy một rừng người mà ngán ngẩm. Tầu nào chở cho hết đám người này? Ở ngoài xa có mấy chiếc tầu Hải quân mầu xám đang đậu và mấy chiêc ca-nô chạy qua chạy lại nhưng với số người đứng kín một bãi biển mà nếu đếm ra có ít cũng hơn vài chục ngàn, tầu bè đâu mà chở cho hết? Dầu sao anh cũng vẫn hi vọng. Nhất là chị Buôn, sống chết gì chồng, các con chị và chị cũng phải rời nơi này.
Cuộc sống êm đềm của miền Trung từ năm 1954, sau khi chia đôi đất nước đã làm cho tâm tư chị chỉ nghĩ đến những người lính như chồng chị hằng ngày hằng đêm xả thân để bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho Dân chủ,Tự Do, tượng trưng cho An bình, No ấm.
Anh Buôn bồng con Bi, đeo súng đạn và ba-lô. Chị Buôn dắt thằng Chưởng vì bồng nó một lúc đã quá mỏi. Vai chị đeo cái túi xách trong có bi-đông nước và ít gói mì để có cái mà ăn cầm hơi trên tầu. Con Lệ dắt tay thằng Tung, thằng Tung nắm lấy tay ba má nó vì anh Buôn đã dặn cả nhà cẩn thận kẻo lạc, lúc được lên tầu mà còn thiếu một đứa thì coi như phải ở lại hết.
Một rừng người xơ xác, mặt mày thất thần như gà phải cáo đứng khít vào nhau nhìn ra biển, chỗ mấy chiếc tầu Hải Quân Quân lực VNCH đang đậu. Không có một tiếng cười dù là của trẻ nít mà chỉ nghe những tiếng bàn tán nhỏ nhỏ của người lớn và thỉnh thoảng tiếng khóc của con nít. Trong cuộc đời của chúng, chúng chưa từng thấy một lần như thế này. Xớn xác, lo âu, hỗn độn, đau khổ và mệt mỏi. Một rừng người đông như thế nhưng không có người đứng ra chỉ huy.
Người ta lội dần dần ra phía biển để hi vọng lên tầu trước. Ai cũng chỉ nghĩ đến gia đình mình và tìm mọi cách bảo bọc cho chu toàn. Có mấy người đàn bà đứng khóc rưng rức vì lạc chồng, lạc con. Không phải chỉ có gia đình quân nhân Sư đoàn 2 Bộ Binh mà còn đủ mọi thành phần xã hội ở nhiều nơi tụ tập về đây vì nghe đồn tầu Hải Quân Việt Nam Cộng hoà sẽ đón hết đưa vào Nam. Người ta bí mật truyền tai nhau ở Sàigòn sắp có Chánh phủ Hoà hợp Hoà giải Dân tộc gồm ba thành phần: Việt Nam Cộng Hoà, Mặt trận giải phóng miền Nam của Việt cộng và thành phần trung lập, không thuộc phe nào. Có một số chính khách và nhà tu hi vọng mình sẽ đứng trong các thành phầnđó để tham gia Chánh phủ, để lại ăn trên ngồi trốc, danh tiếng vang lừng.
Người ta cũng đồn từ Nha Trang đến Quảng Trị sẽ nhường cho Bắc Việt, sẽ theo chế độ Cộng sản. Còn từ Nha Trang trở vào miền Nam sẽ thuộc Chánh phủ ba thành phần. Vì vậy, cách gì cũng phải rời miền Trung cho sớm để bảo đảm một cuộc sống dễ thở dù là bỏ lại hết mọi thứ. Cuộc di cư năm 1954 đã cho nhiều người cái kinh nghiệm ấy. Mất hết cũng được nhưng còn Tự Do, Dân chủ là còn tất cả. Mất Tự Do, Dân chủ là mất hết.
Người dân Việt đã mất rất nhiều lần rồi lại bắt đầu làm lại nhưng họ nghĩ chẳng thà như thế hơn là ở lại sống với bọn người phi nhân, tàn độc, mất gốc, tay sai Cộng sản Quốc tế.
Hoà Hợp hoà giải, họ nghĩ vậy- dù có Cộng sản trong đó - vẫn còn khả quan hơn toàn Cộng sản. Kể từ tháng 7-1954, người dân từ vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương trở vào đến mũi Cà Mau và ra tới tận các đảo Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa đã quá sợ chủ nghĩa Mác Xít, chủ nghĩa sắt máu chỉ đem lại đau khổ, chết chóc, đói rét, nô lệ, lầm than cho người dân.
Bỗng đám đông ồn ào và náo loạn hẳn lên. Người ta đã nhìn thấy mấy chục người đàn ông bơi ra xa và được ca-nô đón, đưa lên tầu lớn vì tầu lớn sợ mắc cạn không dám vào sát bên trong. Người ta ùn ùn lội ra đồng thời giơ tay vẫy, miệng la oai oái:”Vào thêm tí nữa, tí nữa. Sâu quá chúng tôi không lội ra được.” Hàng trăm, hàng ngàn cái miệng cùng gào, hàng ngàn bàn tay cùng vẫy, hàng chục ngàn đôi mắt cùng hướng ra những chiếc ca-nô đang đón khách. Bây giờ có phép gì phi thân ra tầu lớn để được chởvào Nam thì có lẽ không điều gì trên cõi đời này hạnh phúc hơn!
(còn tiếp)
Bút Xuân Trần Đình Ngọc
(Truyện này trích từ Tuyển tập Truyện Ngắn “Những con Dốc Đứng” Đông A xuất bản tại California, Hoa Kỳ 1999)

ÐÔI DÒNG TIỂU SỬ

NHÀ GIÁO - NHÀ VĂN - NHÀ BÁO

BÚT XUÂN TRẦN ÐÌNH NGỌC

(Trích và bổ túc từ Chicago Việt Báo số Xuân Quí Mùi 2003)
*
Ông Trần Ðình Ngọc sinh tại Trà Ðoài, Nam Ðịnh, Bắc Việt.
- Từng là Sinh Viên 3 Trường Ðại học Khoa học, Luật Khoa và Văn Khoa Sàigòn.
- Cử nhân Văn chương Ðại học Văn Khoa Sàigòn (1965)
- Giáo Sư Toán - Lý - Hóa từ lớp 6-10 từ năm 1959.
- Giáo Sư Anh - Triết và Sử Ðịa
- Giáo Sư Quốc Văn các lớp thi Tú tài I và Triết học các lớp thi Tú tài II tại nhiều tư thục Sàigòn từ 1965.
- Giám học/Tổng Giám thị Trung Tiểu học Ðồng Tiến từ1965.
- Cựu Sinh viên khóa 13 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ đức.
- Tốt nghiệp Đại học Orange Coast College (1980)
Sinh viên năm cuối Kỹ Sư Điện tử Đại Học Long Beach, CA Hoa Kỳ.
- Cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH, Chủ tịch Ủy Ban Phát Triển Nông Thôn.
- Tổng Thư Ký/Chủ Bút Bán Nguyệt San Tinh Thần Sàigòn (1963-1971)
- Cộng tác viết bài cho các nhật báo Chính Luận, Xây Dựng, Hòa bình, Bút Thép, Nguyệt san Phổ Thông, Thời nay v.v...từ 1959.
- Ðã dùng các bút hiệu: Xuân Vũ (từ 1958) Trần Ðình Ngọc, Trần Công Tử, Trần An Nhiên, Ðan Tâm và Bút Xuân.
- Từ năm 1975, tại Hoa kỳ, đã cộng tác với nhiều Tạp chí ở Hải ngoại: Tiếng Việt và Thế Giới Phụ Nữ, Y học thường thức, Ngày Mai, Y tế, Sức Sống, Nắng Mai, (Cali) Rạng Ðông (AZ) Ðoàn Kết (Austin TX), Hương Quê, Ðẹp (TX) Con Ong Việt (San Diego), Trái Tim Ðức Mẹ, Ðức Mẹ Hằng Cứu giúp, Ngọc Lân New Orleans v.v...
- Hiện cộng tác với nhiều websites và nhiều tạp chí xuất bản định kỳ tại Hoa Kỳ.
- Làm việc cho Sở Xã hội quận Orange, CA với chức vụ Chuyên viên Tìm việc (Employment Specialist) từ 1980-2000 (nghỉ hưu).
Ðã xuất bản tại Sàigòn:
- Ðề thi Quốc văn Tú tài I (1963)
- Luận lý học, Ðạo đức học, Tâm lý học cho các lớp luyện thi Tú tài II.
- Luận đề về Nguyễn Du, Nguyễn công Trứ, Bà huyện Thanh Quan (1967).
- Hoàng hôn miền núi - Tuyển tập truyện ngắn (1974)
- Như áng Mây trôi I, Thơ Quê hương, Chiến tranh và Tình Yêu (1975)
ÐÃ XUẤT BẢN TẠI HOA KỲ:
- BỌT SÓNG Truyện dài Tị nạn, Tình cảm, Tâm lý, Xã hội (2 tập, 665 trang), Nhà Xuất bản Ðông A, CA 1997.
- NHƯ ÁNG MÂY TRÔI II Thi tập hơn 200 bài Thơ về Quê hương, Tình Yêu, Thân phận con người, Thơ vui vv...
- NHỮNG CON DỐC ÐỨNG Tập truyện ngắn, Nhà Xuất bản Ðông A, CA USA 1999.
- Tập Thơ Phụng Vụ Đạo (CG) Sau Giờ Kinh Chiều I
- Hàng ngàn bài thơ về Quê hương, Tình yêu và Chính Trịrải rác.
- Tuyển tập Truyện ngắn III Tình Mẹ Con
SẼ XUẤT BẢN:
- Truyện dài MẦU MẠ NON - NỢ NẦN - ÐẦU ÐƯỜNG XÓ CHỢ - NỬA MẢNH TRĂNG THỀ.(Một phần các truyện này đã gửi đăng trên nhiều tạp chí)
- TẬP THƠ “Nắng Quê Hương” (Thi tập III) nhiều bài Việt-Anh.
- Tập Thơ Sau giờ Kinh Chiều II
- Tuyển tập Truyện ngắn IV.

Mùa Hè - Uống Chanh Dây ...

Mùa Hè - Uống Chanh Dây ...
Nguyễn Viết Tân


Không biết cái ông bà nào đã đặt cho loại trái này là chanh dây. Sự thực nó chẳng dây mơ rễ má gì với họ hàng nhà chanh như cam bưởi tắc quít, lại leo sàn và có vòi quấn như dây mướp; hương vị cũng chẳng giống chanh một chút nào, ngoại trừ nó có vị chua, thế mà người ta gọi nó là chanh dây. Tên La tinh nó là Passion fruit, lá tẽ ra như hình chân vịt, hoa xòe tròn như cái tán, màu tím xen lẫn trắng trông thật đẹp.

Có ai nhớ hồi xưa ở VN có loại dưa tây không? Đó đó, hoa chanh dây y hệt như vậy và nhỏ hơn, nhưng không có hương thơm bằng hoa dưa tây. Trái này lớn bằng trái trứng gà, nếu chăm sóc tốt thì cũng bằng trứng ngỗng là cùng, thế mà có người "nổ" rằng cô ta trồng được trái lớn bằng quả cam! Trời ơi là nổ banh ta lông luôn.

Thời gian gần đây trên Net có quá nhiều người cứ nói cây nọ cây kia trị bá bịnh, hôm sau lại thấy có người nói ăn, hoặc uống cây đó sẽ bị bịnh. Đúng là những người rỗi hơi.

Tôi là người không tin giai nào gái nào, cứ bụng tin rốn cho chắc ăn, ngoại trừ 3 thứ:

-Thứ nhứt là rau má: Tôi bị tăng xông máu quá cao, tới trên 180 mà không cảm thấy nhức đầu chóng mặt chi cả, nhưng BS nói đó là silent killer nghen, vì áp lực trên mạch máu quá lớn dễ bị vỡ mạch và lúc đó là stroke, là liệt nửa người, là méo miệng, là đi khặc khừ khặc khò... và nếu nặng thì sẽ được ngồi xe lăn hoặc chết đứ đự không kịp trối trăng.

Tuy BS có cho thuốc nhưng tôi cứ quên uống hoài, cho đến một bữa kia, sau khi uống một ly nước rau má bự tổ bà nái, tôi đo thử thì máu tụt xuống dưới 100.

Cũng chưa tin hẳn, tôi ra vườn bứt một rổ, xay ra, lọc nước, bỏ vô từng chai nước lọc, đông đá để uống dần, ngày một ly nhỏ và hiện nay vẫn giữ ở 120. Đi khám thì BS nói tốt lắm rồi, vì trên 60 tuổi thì như vậy là vừa. Nên nhớ là phải thái nhỏ ra, đừng để nguyên cộng lá rau má mà bỏ vô máy xay sinh tố, kẻo nó cháy máy thì nói sao xui.

-Thứ hai là trái chà là. Người vùng Trung Đông ăn trái này rất nhiều và tỷ lệ dân số bị ung thư xuống gần zero.

-Thứ ba là trái chanh dây. Theo truyền thuyết thì bà Eva đã dụ ông Adam ăn trái táo, nhưng thực ra đó là trái passion fruit này đây. Uống nước này vừa thơm ngon, vừa chống được bịnh ung thư lại thông minh hơn người và bồi bổ cho trí óc nữa.

Có lẽ không đâu hợp với loại chanh dây này hơn vùng Nam Cali, nó xanh tốt quanh năm và trái thì lúc lỉu, nếu có giàn cho nó leo thoải mái thì mỗi mắt lá là một trái.

Theo sách vở mà tôi học được, thì đất miền nào ít mưa sẽ tốt hơn nơi mưa nhiều, bởi vì độ phì của đất không bị ngấm sâu vô lòng đất, những loại rễ chùm, rau quả sẽ không đủ sâu để hút lấy chất bổ nuôi dưỡng cây.

Nếu vậy thì ta phải bón phân. Ngoại trừ phân chuồng cần phải để hoai, chứ khi nó còn tươi, bón nhiều vào gốc cây nó sẽ bị xót mà chết, thì phần đông chúng ta bón phân hoá học.

Đơn giản và để dễ nhớ nhất là loại gì bón phân gì (?)
Trên bao phân có ghi hàng chữ số: 12-16-08.
-Số 12 đầu là làm cho tốt lá.
-Số 16 giữa là cho hoa và trái.
-Số 08 cuối là cho rễ và củ.

Như vậy khi muốn cho vườn cỏ trước nhà xanh lá, ta phải mua phân có số đầu lớn nhất thí dụ: 30-10-10.

Nếu cần hoa và trái cho nhiều, cho lớn thì 16-30-10.

Nếu trồng khoai lang, đậu phọng thì 10-10-30.

Tóm lại cây cối cũng có 3 vòng đo như phụ nữ, muốn vòng nào tốt thì mua phân có số lớn cho vòng đó: Lá- quả- rễ.

Chanh dây trồng bằng gì?
Có hai cách: Giâm cành và gieo hột.
Lấy một ít hột phơi khô, gieo trong cái ly xốp có để top soil, tưới nước luôn ẩm thì chừng một tuần sẽ có cây con.

Giâm cành thì tiện lợi và nhanh nhất. Cắt một đoạn giây khá già, vùi trong đất, nó sẽ lên nhanh và chừng một năm sau sẽ có trái, còn nếu gieo hột thì sẽ lâu có trái hơn.

Đây là loại lưu niên, không phải trồng lại mỗi năm.

Đừng tưởng có một loại thôi nghen, nhiều thứ lắm đó, nếu bạn mua đại thì không biết trái nó sẽ ra sao, chỉ có một cách chắc chắn là lấy giống từ dây nào mà trái to và thơm, chứ có rất nhiều loại khi pha ra nước chỉ có vị chua chứ chẳng thơm tho gì.

Vài năm trước đây, bạn tôi cho một dây cao chừng gang tay, nó leo ra nhanh quá, trèo lên cả bụi tre là ngà và đóng trái đầy trên đó, nên cây tre chịu không nổi, oằn xuống sân trước nhà trông bê bối quá. Trái nhiều lại mất công đi cho, nhứt là phải gửi cho bà con nơi xa, mỗi thùng tốn hết hơn mười đô cũng xót dạ lắm.

Năm nay tôi quyết định trảm bớt, chỉ để một nhánh cho vui, ai dè còn một nhánh khuất nữa, nó len lén bò lên bức tường freeway, bò dài ra chừng 20m, trái buông xuống quá trời là nhiều. Thứ này càng tráng nắng nó lại càng xanh tốt.

Từ lúc ra hoa cho đến khi chín chừng hơn một tháng, thường thì khi già nó sẽ tự rụng, đem vô nhà ít ngày nó sẽ chín, vỏ nhăn nheo như vú bà già, lúc đó nó mới thơm kịch liệt.

Hột chanh dây giống như hột trái hồng tiên (chùm bao, nhãn lồng) nhưng to hơn nhiều, cũng có lớp cơm bao quanh hột, vị chua chua.

Phải biết cách pha, nếu không thì không đạt được vị thơm ngon của chanh dây.

Cắt một đầu quả chanh, dùng muỗng cà phê mà moi hết hột ra bỏ trong máy xay sinh tố, nhấn rẹt rẹt vài cái rồi ngưng, vì nếu xay nữa, hột nó nát bét ra như hạt cát, đen thùi lùi thì coi mất phê. Nhớ đổ vô kha khá nước để một trái cỡ lớn pha ra được một ly.

Có nhiều người múc hột ra, cho vô ly nước dầm dầm, pha đường rồi uống. Làm vậy trông ly nước chán lắm, mà không thơm chút nào.

Dùng cái vợt nhúng bánh phở mà lược hột ra. Lúc này nước có màu vàng tươi của nước cam, thơm mùi giống như trái đào, cộng với mùi trái khóm. Pha đường nhiều hay ít là tuỳ mỗi người.

Khi pha xong, chế vô chai nước suối, nên bỏ ngay vô tủ đá, mỗi lần dùng thì lấy ra một chai, tan đá đến đâu, uống đến đó. Nếu bỏ chai vô tủ lạnh, một lát nước cốt đọng xuống dưới, thì khi uống phải xóc lên cho đều. Nước rau má cũng nên làm như thế.

Để kết thúc bài này, tôi đề nghị nhà nào có chút vườn, hãy trồng một giàn chanh dây, vừa lấy bóng mát vừa có loại nước giải khát ngon lành uống trong mùa hè, chứ ba cái thứ nước ngọt, nước tăng lực bán ngoài chợ toàn là hoá chất chứ không tốt chút nào đâu.

Nguyễn Viết Tân

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link