Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, November 8, 2012

TÂY TẠNG “VẾT DAO TRÍ MẠNG" GÓP PHẦN LÀM SỤP ĐỔ ĐẾ QUỐC TRUNG CỘNG!


 

 

 

TÂY TẠNG “VẾT DAO TRÍ MẠNG" GÓP PHẦN LÀM SỤP ĐỔ ĐẾ QUỐC TRUNG CỘNG!
Mường Giang



 

Trước khi bị Tàu đỏ cưỡng đoạt bằng vũ lực, Tây Tạng (Tibet) là một quốc gia độc lập lâu đời tại Trung Á. Ðây là một vùng đất quanh năm suốt tháng tuyết phủ vạn niên, được coi như nóc nhà của thế giới vì có độ cao hơn mặt biển 5000m. Sát biên giới phía nam lại có đỉnh núi Everest cao ngát từng xanh (29028 ft hay 8848m) . Ðây là miền đất bao đời được coi như vô ưu vì người Tạng luôn khép kín không tranh giành với thế giới, một vùng đất mang nhiều huyền bí tới nay vẫn không mấy người biết được.

Tây Tạng có diện tích 1.892. 393 sq.ml, dân số trên 6 triệu người theo Phật Giáo Mật Tông (Kim Cương Thừa), bắc giáp Tân Cương, Phía đông tiếp cận với các tỉnh Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam. Phiá tây nam có chung biên giới với Ấn Ðộ, Nepal, Bhutan, Miến Ðiện. Thủ phủ đóng tại Lhasa cũng là thành phố lớn nhất nước. Ðược bao bọc bốn bề là núi non hùng vỹ, phía nam có dãy Hymalaya, dãy Karakoram ở phía tây, ngọn núi Côn Luân (Kunlun) ở phía bắc. Bởi vậy Tây Tạng được coi như là vùng đất hẻo lánh nhất hoàn cầu.

Theo khảo cứu của các nhà địa chất học, thì vùng này trước đây vốn nằm sâu trong lòng biển cả, qua các dấu vết trầm tích còn lưu lại nên người ta có thể phỏng đoán đã xảy ra chừng 40 triệu năm về trước. Sau đó nhờ có trận động đất do các lục địa va chạm vào nhau, tạo thành dãy Hy Mã Lạp Sơn và cao nguyên Tây Tạng. Hiện tại nhiều hồ nước ở đây còn để lại vô số xác động vật biển đã hóa thạch. Ðây là vùng có mật độ dân số thưa thớt nhất trong đế quốc Tàu đỏ, nơi phát xuất của nhiều con sông lớn của Châu Á như Hằng Hà, Ấn Hà (Ấn Ðộ), Mekong, Hoàng Hà, Dương Tử..

1- LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC TÂY TẠNG:

Khu vực A Lý nằm trong lãnh thổ Tây Tạng ngày nay được coi là một vùng đất hẻo lánh nhưng hơn ngàn năm về trước lại là cương vực của một vương quốc hùng mạnh, có một nền Phật Giáo cực thịnh, tồn tại tới đầu thế kỷ XVII thì bị diệt vong.

Hiện tất cả các di chỉ của vương quốc Cổ Cách vẫn còn được lưu giữ tại Huyện Thành Thát Ðạt, nằm trên độ cao 3700m, có diện tích 22.500 km2. Thành quách cổ được tìm thấy ở bờ nam sông Tương Tuyền, trên núi Hoàng thổ cao chừng 300m, cách huyện lỵ khoảng 18 cây số, nay đã hoang tàn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt. Vùng này từ thế kỷ thứ VII (Sau Tây Lịch) trở về trước là một phần lãnh thổ ở phía đông nước Tượng Hùng rộng lớn đã trải qua 18 đời vua. Vào thế kỷ thứ VII (sau TL), Tượng Hùng bị Thổ Phồn thôn tính nhưng đến thế kỷ thứ IX thì trở nên suy yếu vì sự xung đột tranh giành quyền lực giữa Tập Ðoàn Tăng Lữ Phật Giáo và Quý Tộc. Cuối cùng Lang Ðạt Ma gây cuộc chính biến, đoạt quyền vua, thẳng tay “Hủy Phật, diệt Pháp” đốt kinh sách, phá hũy chùa chiền, giết hại tăng lữ.. khiến cho ai cũng căm thù oán hận, vì vậy các tín đồ Phật giáo đã nhất tề đứng dậy chống lại nên Lang Dạt Ma bị tiêu diệt.

Nhưng tình hình trong nước vừa yên thì vương thất Thổ Phồn lại bắt đầu xâu xé giành giựt quyền lực, cộng thêm tệ nạn nô lệ, đã khiến cho vương triều này tan rã. Thời gian này, con cháu của Lang Ðạt Ma lại đứng lên lãnh đạo dân chúng, men theo dòng sông Nhã Lỗ Tạng Bố về hướng Thát Dạt. Ở đây người con của Lang Ðạt Ma là Ðức Tổ thành lập vương quốc Cổ Cách, từ đó cho tới khi bị diệt vong, đã chiếm một địa vị rất quan trọng trong lịch sử của Tây Tạng, suốt thời kỳ nội chiến phân liệt kéo dài gần 400 năm, sau khi Thổ Phồn bị tiêu diệt.

Ðây là vương quốc lấy Phật Giáo làm Quốc Giáo. Hoàng tử thứ hai của nhà vua đã xuất gia tu hành, hoằng dương Phật Pháp, sau này trở thành một vị cao tăng nổi tiếng của Tây Tạng. Nhà vua còn mời các vị cao tăng Phật giáo từ Ấn Ðộ sang thuyết pháp, giúp Phật Giáo Cổ Cách và Tây Tạng càng lúc càng cực thịnh. Năm 1624 một tu sĩ Bồ Ðào Nha tên Anderla vào tận vương quốc, được quốc vương lẫn hoàng hậu trọng dụng, cho phép truyền đạo Thiên Chúa và thiết lập giáo đường đầu tiên ở Tây Tạng. Hành động này đã làm dân chúng phẫn nộ cùng với các vị Lạt Ma đứng dậy vào năm 1635, lật đổ quốc vương, triệt hạ giáo đường và trục xuất các nhà truyền đạo Thiên Chúa ra khỏi Tây Tạng. Vương quốc Cổ Cánh cũng bị tiêu diệt sau 700 tồn tại.


Nói chung Tây Tạng từ thế kỷ thứ VII ( sau TL), mới bắt đầu giao tiếp với người Hán ở phía đông và các nước láng giềng khác để giao thương và trao đổi văn hóa. Từ năm 710 về sau, thời vua Tride Zhotsan, Phật giáo chính thức trở thành quốc giáo của Tây Tạng. Thời vua Trison Detsen (755-779) Tây Tạng xua quân chiếm nhiều đất đai phía tây của Trung Hoa. Năm 763 thời mạt Ðường, kinh đô Tràng An trong tỉnh Thiểm Tây bị Tây Tạng chiếm, khiến người Tàu phải triều cống Tây Tạng, đồng thời hai bên ký hiệp ước phân định biên giới từ đó. Thế kỷ XIII Mông Cổ xâm chiếm và đô hộ Tây Tạng, chia nước này thành nhiều khu vực để cai trị. Thời nhà Minh (1368-1644) vẫn duy trì chính sách chia để trị tại Tây Tạng, làm cho quốc gia này càng lúc càng suy yếu. Nhà Thanh (1644-1911) thay đổi chính sách cai trị Tây Tạng, ban phát nhiều quyền hành cho các vị Ðại Lạt Lạt Ma coi như là vị lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng.

Ngoài cái nạn bị Hán tộc và Mông Cổ xâm lăng đô hộ,Tây Tạng còn bị Ấn Ðộ và Nepal xâm lăng nhiều lần. Tới thế kỷ XIX thực dân Anh sau khi chiếm được Ấn Ðộ, Miến Ðiện và A Phú Hãn, bắt đầu xâm nhập Xứ Tuyết vào năm 1903 nhưng vì không chịu nổi thời tiết khắc nghiệt và sự đối kháng của nghĩa quân, nên đã bỏ Tây Tạng, sau khi đã ký một hiệp ước với nhà Thanh không can thiệp vào nội bộ của nước này nữa.

Năm 1914 bắt đầu đệ nhất thế chiến, thực dân Anh lại dòm ngó Tây Tạng, mở hội nghị tại Ấn Ðộ, đòi chia nước này thành hai phần, một nửa giao cho Tàu, phần kia thuộc Anh nhưng bị thất bại. Năm 1949 Trung Cộng chiếm được lục dịa Trung Hoa. Tháng 10 cùng năm, Mao Trạch Ðông xua 80.000 Hồng quân tấn công và cưỡng chiếm nước này, sáp nhập vào đế quốc đỏ tới ngày nay.

Phật Giáo Tây Tạng:

Kể từ năm 747, Phật giáo được coi là quốc giáo của Tây Tạng, thời gian này có Ðại sư Padmasambhava là người đầu tiên từ Ấn Ðộ tới thuyết giảng kinh sách. Tuy nhiên Phật giáo Tây Tạng vẫn có nhiều khác biệt với Phật giáo Ấn Ðộ, nên được gọi là Mật Tông Giáo. Cả nước có hơn 16.000 thiền viện. Danh xưng Ðạt Lai Lạt Ma (Vị sư với biển kiến thức) được chính Thành Cát Tư Hãn vì ngưỡng mộ vị đại sư Tây Tạng lúc đó nên đã ban cho danh xưng trên và được sử dụng cho tới ngày nay.

Ðối với nguời Tây Tạng, Ðạt Lai Lạt Ma chính là những vị lãnh tụ tinh thần của họ với niềm tin. Các vị đó chính là những hậu kiếp của Phật sau khi đã đầu thai qua một vòng luân hồi (Samsara). Những cao tăng dựa vào những lời trăn trối cuối cùng mà vị Lạt Ma tiền nhiệm để lại hay các dấu hiệu đặc biệt, để tìm ra đứa trẻ mới sinh lập lên vị Ðạt Lai Lạt Ma kế tiếp.

Theo Phật sử Tây Tạng, Ðại Sư Sonam Gyatso, viện trưởng tu viện Drepung là người đầu tiên được ban danh xưng Ðạt Lai Lạt Ma, đồng thời ngài cũng là chưởng môn của giáo phái Gelugpa (Mũ vàng). Trong khi đó Ðạt Lai Lạt Ma thứ 6 lại là một Ðại sư người Mông Cổ tên Gushri được thụ phong năm 1642. Chính ông đã lập ra thể chế thần quyền để lãnh đạo Tây Tạng, bấy giờ coi như một chư hầu của Trung Hoa kể từ năm 1720.

Hiện tại Tây Tạng được lãnh đạo bởi Ðại Sư Tenzin Gyatso, là vị Ðại Lai Lạt Ma thứ 14 của nước này, mặc dù ngài đã lưu vong từ năm 1959 tại Ấn Ðộ. Là người đạo đức, thông minh, tài hoa với tấm lòng vị tha nhân ái của một Phật Tử, cộng với một tầm tư tưởng gần như quán tuyệt, nên ngài đã được nhận lãnh giải Nobel Hoà Bình vào năm 1989. Ngoài ra ngài còn viết tác phẩm nổi tiếng “Violence and Compassion (Bạo lực và tình thương)”.

Tuy nhiên chính Nữ ký giả người Pháp Alexandra David Neel mới là người đã vực Tây Tạng huyền bí đến với ánh sáng nhân loại. Năm 1924, cô một mình trèo non lội suối tìm tới thủ phủ Lhasa, nhờ vậy đã ghi lại cuộc sống thần bí của các vị sư kể cả dân thường, giúp thế giới phần nào, biết về một đất nước coi như cô lập hằng ngàn năm giữa băng tuyết. Ngoài ra còn có Ðại Sư Tây Tạng Lobsang Rampa, ông đã ghi lại sự huyền bí của đất nước mình, qua hồi ký “The Rampa Story” đã gây được sự cuốn hút của thế giới bên ngoài. Tác phẩm trên đã được nhà văn nổi tiếng hải ngoại là Nguyên Phong, phóng tác thành “Tây Tạng Huyền Bí” .

Nhưng vị Ðạt Lai Lạt Ma VI Tsangyang Gyatso dù bị kết tội là “nổi loạn” nhưng ngài lại là một huyền thoại của xứ tuyết. Mất tích vào năm 33 tuổi trên đường lưu đày nhưng tới nay những tình ca của ông để lại đã trở thành những bản dân ca nổi tiếng, được lưu truyền khắp hang cùng ngõ hẹp của Tây Tạng. Là người yêu nước, nên ngài đã từ khước quyền lực tối cao của một vị lãnh tụ tinh thần, để chống lại sự kềm kẹp của Mông Cỗ lẫn nhà Thanh đang đàn áp cai trị đất nước Tây Tạng. Ðây là một bài thơ tiêu biểu của vị Lạt Ma thứ VI, bày tỏ nổi tuyệt vọng của đất nước mình, đưọc viết vào năm 1706 khi bị quân Mông Cổ bắt ra khỏi điện Potala:

“Hạt trắng ơi hạt trắng
Cho ta mượn cánh nào
Ta chẳng bay xa đâu
Ðến Lithang ta sẽ quay về.. “

Các Tu Viện Nổi Tiếng Tại Tây Tạng:

-- Cung Ðiện Potala: Nói đến Tây Tạng là phải nói tới Cung Ðiện bằng vàng Potala, theo tiếng Phạn có nghĩa là “Thánh địa của Quan Thế Âm Bồ Tát” . Riêng người Tây Tạng thì quan niệm: Đây là nơi tụ tập của các vị thần thánh trên trời. Cung điện có hơn 10.000 phòng, được khởi đầu xây cất vào thế kỷ thứ VII đời quốc vương Tùng Chất Can Bố. Ban đầu cung điện chỉ có 999 phòng. Đến thế kỷ XVII Ðạt Lai Lạt Ma thứ V trùng tu và mở rộng lên tới 10.000 phòng như hiện nay. Ðây là một công trình kỳ vĩ nhất thế giới, có chiều cao 120m, trải rộng trên một diện tích 360 km2, gồm 13 tầng lầu, mái được mạ vàng. Riêng lễ đăng quang của các vị Lạt Ma, thường được tổ chức tại ngôi đền thiêng liêng Jokhang nằm trong trung tâm thủ phù Lhasa.

Ðiện Potala cũng là nơi phát sinh ra nhiều huyền thoại kỳ bí của người Tây Tạng, từ con số phòng 999 được trang hoàng bằng 1 triệu lượng vàng ròng, cho tới những bí mật bên trong của mỗi căn phòng, được thiết lập sâu trong lòng đất núi. Ngôi đền cũng đánh dấu mối tình lịch sử giữa quốc vương Tùng Chất của Tây Tạng và công chúa Văn Thánh, con vua Ðường Thái Tôn vì nước ngàn dặm ra đi, làm ta chạnh nhớ tới Huyền Trân Công Chúa của Ðại Việt, cũng vì nước mà hy sinh, ngàn năm sử xanh bia miệng còn lưu dấu.

-- Tu Viện Tashilunpo Huyền Bí: Ðây là nơi trú ngụ của vi Ban Thềm Lạt Ma (Panchen Latma), vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng đứng vào hàng thứ hai sau Ðạt Lai Lạt Ma. Ðó cũng là một bảo tàng viện nghệ thuật của Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng với tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới. Tu viện tọa lạc tại thành phố Xigaze nguyên là cố đô nay đứng thứ nhì sau thủ phủ Lhasa. Ðược xây dựng từ năm 1447, trải qua nhiều thế kỷ phát triển, hiện tu viện chiếm một diện tích 18,5 ha với 3600 phòng và 50 giảng đường được chạm khắc tinh vi tuyệt đẹp. Trước khi Trung Cộng chiếm Tây Tạng, đây là nơi hoằng dương Phật Pháp của hơn 3600 vị Lạt Ma nhưng nay chỉ còn không hơn 700 người, phần lớn được đảng chọn và đưa từ lục địa Trung Hoa lên đây tu học để thay dần các vị Lạt Ma Tây Tạng. Phật sống Chiazha Quamba Chili được Tàu đỏ dựng lên trú ngụ tại đây từ lúc 7 tuổi.

Tu viện là một mê cung đầy bóng tối từ phòng ốc, hành lang cho tới các sân lộ thiên. Ánh sáng mặt trời chỉ rọi chiếu tu viện vào lúc bình minh và buổi xế chiều sau khi vượt thoát khỏi ngọn núi đồ sộ Thượng Tích nằm phía sau lưng. Có nhiều tượng Phật được trang trí khắp các nguyện đường. Hằng năm vào tháng 6, trên một bức tường gạch hình chữ nhật 32 x 42 m, nằm về phía đông bắc tu viện. Ðể đón chào khách hành hương từ muôn phương về, các vị Lạt Ma đã căng trên bức tường đó, mỗi ngày một bức tranh lụa khổng lồ, vẽ hình Ðức Phật qua ba trạng thái: quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong lúc đó căn phòng sơn màu đỏ thẳm ở phía tây bắc lại là nơi trưng bày Tượng Ðồng Ðức Phật Quan Thế Âm Bồ Tát lớn nhất thế giới. Tượng được trang hoàng bằng vàng ngọc, mã não, san hô quý báu, do công sức của 110 người thợ làm việc ròng rã suốt 4 năm liên tục mới hoàn thành. Khắp phòng còn treo la liệt những bức tranh vẽ hình Ðức Thế Tôn và Ðạt Lai Lạt Ma I là Zongkaba (1358-1419), người đã sáng lập ra Hoàng Phái Tây Tạng.

-- Nữ Thiền Viện Phật Giáo Tây Tạng Trên Ðỉnh Hy Mã Lạp Sơn: Ðó là tu viện Chubchizhal nằm chót vót trên một đỉnh núi cao, hiện có hơn 500 nữ tu sống một cuộc đời kham khổ về vật chât nhưng tâm hồn thì vô ưu thanh thản. Có điều kỳ lạ là xưa nay chẳng ai nhắc tới họ, kể cả sách vở hướng dẫn du lịch, luôn cả khách vãng lai tới thăm viếng tu viện.

Có thể vì mọi người nhầm lẫn họ với các nam tu sĩ vì cả hai giới đều ăn mặc giống nhau với sắc phục áo cà sa màu đỏ tía, đầu cạo trọc đội mũ ni bằng len màu da cam, lưng đeo chiếc túi vải màu hoàng yến. Tu viện ở kế cận ngôi làng nhỏ tên Karaha, được xây dựng bằng đất khô trên núi Hy Mã, nằm trên cao độ 3800m trong khu rừng về phía tây Ấn Ðộ, được mệnh danh là Tiểu Tây Tạng (Ladakh Zanskar). Ðường từ thủ phủ Lhasa tới đây gian nan khốn khó, vì lên đèo xuống dốc và bị tắc nghẽn trong 8 tháng mùa đông và những khối băng tuyết ở đâu đó lăn ra giữa đường. Cuối cùng là chiếc cầu ván bắc ngang con sông Zankars đầy ghềnh thác và dòng nước xám sịt sâu thẳm rợn người. Phía bên kia là ngôi làng Karsha cách tu viện nửa giờ đi bộ.

Vào tu viện khách có cảm tưởng như đang lạc vào chốn mê cung được khoét sâu trong lòng núi với những cái cửa thấp và hẹp của hơn 20 cái lều bằng đất, mỗi cái có hai tầng: phía trên là phòng ngủ, còn tầng duới là nhà bếp, nhà vệ sinh tối om. Chính giữa tu viện là một cái sân lộ thiên dùng phơi củi, cỏ khô và các loại phân bò, dê… dùng làm chất đốt duy nhất trong mùa đông. Ðại Lạt Ma Lobzang Khedun, trụ trì tại một tu viện nổi tiếng của Tây Tạng ở phía tây Ấn Ðộ, có tới dây thuyết giảng kinh kệ. Tu viện độc lập về tài chánh cũng như không trực thuộc một hệ thống nào của giáo hội. Nghèo khổ, thất học nhưng tâm hồn của các vị nữ tu Tây Tạng thì hĩ xả vô bờ bến. Chính họ đã đem lại sự sống còn cho rừng núi Hy Mã Lạp Sơn, ngày ngày tận tình giúp đỡ cho nhân thế … thực thi đúng lòng nhân ái vô bờ của Ðức Phật.

Tây Tạng Huyền Bí Và Vô Ưu:

Hằng ngàn năm nay, Tây Tạng vẫn là một địa danh mênh mông đầy huyền bí với không biết bao nhiêu chuyện lạ lùng, nhìn vào cứ tưởng là thần thoại, từ những bức tranh vẽ cảnh Tượng Phật Hoan Lạc tới các Tạng Kinh kỳ lạ. Từ Lễ Hội Sữa Chua truyền thống tới Thiên Táng là một trong những câu chuyện thần bí rùng rợn nhất trần gian nhưng đối với người Tây Tạng, thì đó lại là một phương cách thần kỳ nhờ chim ưng đưa linh hồn người chết về nơi cực lạc.

Phật giáo là quốc giáo của Tây Tạng, trong đó Tạng kinh được coi như là một tổng hợp nghệ thuật chứa đựng văn học, vũ đạo, biểu diễn âm nhạc, nghệ thuật. Riêng Tạng Kịch, còn được gọi là “A Giả Lạp Mẫu”, một nghệ thuật độc đáo của người Tây Tạng mà diễn viên toàn là phụ nữ và đeo mặt nạ khi biểu diễn, vừa ca vừa ra điệu bộ với nhiều động tác biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày.

Ở đây còn được trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc rất kỳ lạ, diễn tả cảnh giao hoan của đôi nam nữ, được gọi chung là “Song Thần Hoan Hĩ Phật”. Ai cũng biết tôn chỉ của nhà Phật cấm sát sinh, trộm cắp, vọng ngữ, dâm dật.. thế tại sao lại thờ bức tượng trên? Thật sự, đây chỉ là một trong những phương thức tu trì của Mật Tông, một thừa của Phật giáo Ấn Ðộ được truyền vào đất Tạng vào thế kỷ thứ VIII. Hình thức “Song thần hoan hĩ Phật” là nấc cao nhất của Mật Tông, được các vị cao tăng sử dụng, khi dùng tình dục để khắc chế tình dục, lấy luân hồi sinh tử để thuần hóa sự sống chết. Bởi vậy khi luyện tập, chúng tăng dùng khí công Yoga và nhờ “Song Tu Thần Pháp” (ôm người bạn nữ) trong vòng tay, tạo sự hoan lạc trong chớp mắt, để đạt tới cảnh giới “bất sinh bất tử, trường sinh bất lảo”. Ðó là giai đoạn chứng giác thành Phật.

Là một dân tộc sùng kính Phật giáo tuyệt đối, nên tất cả những lễ hội truyền thống của người Tạng đều có liên quan tới cửa Phật. Lễ hội “Sữa Chua” (Sorton) hằng năm diễn ra vào mùa hè tại Tu viện Drepung gần thủ đô Lhasa, nhắc nhớ lại “những bát sữa chua” năm nào của những người thợ săn mang tới kính biếu cho các vị sư sãi trong chùa, một ngôi cổ tự được xây dựng từ thế kỷ XV, hiện có hơn 300 vi sư đang tu học và trụ trì.

Nhưng kinh khiếp nhất tại Tây Tạng cũng vẫn là Thiên Táng, một nghi thức tôn giáo, nhờ Chim Ưng đưa hồn người về miền cực lạc. Theo nghi lễ này, thì người chết sau khi được tắm rửa bằng nước thơm pha bằng các hương liệu thiên nhiên, thi thể được bó gặp lại, đầu kẹp giữa hai gối rồi nhét vào một bao bố trắng, đưa tới đài thiên táng vào lúc tờ mờ sáng. Ðó là Ðạt Mộc Tự, một ngôi chùa duy nhất tại Tây Tạng cũng như trên thế giới, được xây bằng những viên gạch Sọ Người.

Khi Mật Tông du nhập vào đất Tạng và trở thành quốc giáo từ thế kỷ IX, dựa vào quan niệm “luân hồi sinh tử”, theo đó thì chết chẳng qua là bước chuyển hóa của một giai đoạn tiếp theo mà thôi. Cũng từ đó phương thức mai táng người chết cũng thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh xã hội của người chết như: Ðịa Táng (Chôn), Tháp Táng dành cho quan quyền và các Ðại Lạt Ma, Hỏa Táng cho Lạt Ma và Thiên Táng cho tất cả mọi người.

Theo phương thức này, thì thi thể của người chết được phanh thây từng mảnh nhỏ, đem trộn với bột mì đã rang chín rồi đem ném cho chim ưng ăn. Chùa cổ Ðạt Mộc nơi thực hiện Thiên Táng nằm khoảng giữa Na Khúc và Tì Như, trên đường từ miền bắc cao nguyên Khương Dương đi xuống phía nam, dọc theo con sông Nộ Giang, nay thuộc làng Trà Khúc. Vị sư trụ trì hiện tại là Lạt Ma Ngõa Ðảng Ứng cho biết chùa đã có hơn 1000 năm qua, do chính Ðại Lạt Ma Bạch Mã Bạch Thác xây dựng, theo yêu cầu của người Tạng vùng Nhiệt tây.

Nhưng người “thầy chon” đầu tiên lại là một người Hán. Thiên Táng Ðài nằm cách Ðạt Một Tự về phía đông hơn 300m, tại đây còn để lại nhiều xương cốt người do chim ưng ăn không hết, bốn bề cỏ mọc tới gối. Bên trong chính điện bỏ đầy bố trắng. Gian giữa có hai tầng, phía trên có một tảng đá màu xám nhưng mặt bằng phẳng, là nơi phanh thi thể. Ðầu tiên là mổ ruột lấy hết nội tạng ra trước, sau đó mới tùng xẻo, chặt nhỏ xương cốt ra từng mảnh vụn, rồi đem trộn với bột mì rang, vứt cho đàn chim ứng đói hàng ngàn con đang chờ sẵn. Tại Tây Tạng hiện có tới 108 thiên táng đài nhưng chỉ có đài ở Ðạt Mộc Tự là dùng đầu lâu người để xây vách, tạo thêm sự huyền bí muôn trùng cho xứ tuyết.

2- TRUNG CỘNG XÂM LĂNG VÀ HỦY DIỆT TÂY TẠNG:

Hiểu rõ về sự dã man bạo tàn của giặc Tàu, chắc chắn trên thế giới không ai có thể hơn được dân tộc Việt đã ba lần bị Bắc thuộc kéo dài hằng ngàn năm. Ðầu xuân năm Quý Mão (43 sau TL), Hai Bà Trưng bị Mã Viện đánh bại, phải trầm mình tại Hát Giang. Từ đó, Giao Châu lại trở thành một quận huyện của nhà Hán, người Lạc Việt bị đày đoạ dầy xéo bạo tàn. Ðể diệt chủng nước ta, thái thú Mã Viện thi hành chính sách “Hán Hóa Người Việt”, ra lệnh tịch thu tất cả những đồ kim khí và đúc thành “Cột Ðồng Mã Viện” với lời răn đe khả ố “Ðồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt”.

Ðầu thế kỷ thứ XV, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần khiến lòng người bất phục nổi lên chống đối khắp nơi. Giặc Minh lợi dụng Trần Thiểm Bình sang cầu cứu nên đem quân chiếm nước ta. Ðể răn đe người Việt đang nổi lên theo Bình Ðịnh Vương Lê Lợi kháng chiến chống Tàu, vua nhà Minh đã hăm doạ “Ðồng Trụ Chi kim Ðài Dĩ Lục” (Cột Ðồng Ðến Nay Rêu Còn Xanh). Nhưng đã bị người Việt chơi xõ “Ðằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” (Sông Ðằng Từ Xưa Máu vẫn Ðỏ).

Từ xưa tới nay cột đồng hay bia đá đều bị mòn, bị mất . Chỉ có Bia Miệng thì vĩnh viễn không ai có thể bịt được, nên dân gian mới có câu “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” là vậy đó.

Với bản chất thực dân từ ngàn đời, người Hán dù đã bị rất nhiều luân hồi nghiệp chướng gần như suốt dòng lịch sử. Thế nhưng khi đắc ý vẫn không chừa thói cũ. Bởi vậy năm 1949 ngay khi chiếm xong lục địa, Trung Cộng đã lộ ngay nanh vuốt thực dân qua hành động xâm lăng thôn tính các dân tộc nhược tiểu, để bành trướng lãnh thổ và thế lực. Tân Cương, Nội Mông và Tây Tạng bị cưỡng bức thành các vùng “tự trị” của Tàu. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14, vị lãnh đạo tinh thần và thế tục của Dân Tộc Tây Tạng vào năm 1959 được CIA giải thoát. Từ đó Ngài sống lưu vong tại Ấn Ðộ nhưng mòn gót khắp các nẻo đường thế giới, để tìm phương tiện và hậu thuẫn giải thoát cho dân tộc, đất nước mình khỏi gông cùm nô lệ Tàu đỏ.

CIA và Cuộc Lưu Vong Của Đức Đạt Lai Lạt Ma:

Trong bài viết “The Very Best Men” của Evan Thomas, phụ tá chủ bút tờ Newsweek đã từng kể rõ việc CIA giải thoát Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 thoát khỏi Tây Tạng, đang bị Trung Cộng xâm chiếm từ tháng 10-1949. Bài viết đã nêu đích danh người phụ trách kế hoạch là Tony Poshepny qua bí danh Tony Poe. Câu chuyện trên, lần nữa lại được nhắc tới trên tạp chí George của con trai cố tổng thống J. Kennedy nhân kỷ niệm 50 ngày thành lập tổ chức CIA. Nhờ tài liệu trên, ta mới biết được hơn 50 năm qua Hoa Kỳ đã cho thực hiện nhiều điệp vụ tại Tây Tạng, từ sự kiện giải thoát Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, tới việc cung cấp vũ khí cho quân du kích Tạng chống tại Tàu đỏ. Sau này dù tình trạng bang giao giữa Mỹ-Hoa đã cải thiện, khi chiến tranh lạnh tạm kết thúc nhưng Hoa Kỳ vẫn duy trì hoạt động tình báo của mình.

Ngày 17-3-1959 lợi dụng đêm tối trời không trăng, Ðạt Lai Lạt Ma đã cùng với đoàn tuỳ tùng 20 người trốn khỏi cung điện tại Lhasa. Ðoàn người lại tăng dần lên tới cả trăm, được chỉ huy bởi một diệp viên CIA, với nhiệm vụ liên lạc bằng vô tuyến để báo cáo với cấp trên. Ðiều này cũng dễ hiểu vì ngay khi Trung Cộng chiếm cứ Tây Tạng, vào đầu năm 1950 thì CIA đã bí mật can thiệp. Họ cung cấp vũ khí cho bộ tộc Khang Ba tại Tây Tạng đang tiếp tục chiến đấu chống Tàu đỏ. Trong thời gian này Hoa Kỳ thuê mướn nhiều phi cơ dân sự của Miến Ðiện, Thái Lan và Ðài Loan.. bay tới vùng Hy Mã Lạp Sơn để cung cấp thêm hay thay đổi vũ khí đạn dược, thực phẩm, thuốc men cho Nghĩa Quân Tạng.

Qua Gia Lạc là thủ lãnh của kháng chiến quân, Ông vốn là anh ruột của vị Ðạt Lai Lạt Ma đương thời đang bị Tàu giam lỏng tại Lhasa, nên mới móc nối được với Ngài để tổ chức cuộc giải thoát đầy nguy hiểm như huyền thoại. Lúc 3 giờ sáng ngày 28-3-1959, đoàn người vượt thoát mới tới được Thiết Lạp Khâu ở biên giới. Tại đây Poe liên lạc về trụ sở của CIA ở Miến Ðiện và cơ quan này lập tức trình về Tổng Thống Eisenhower. Cũng từ đó Hoa Kỳ giúp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, can thiệp với Ấn Ðộ và Nepal, nhường một mảnh đất dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn để lập Chính Phủ Tây Tạng Lưu Vong, thủ đô đặt tại thành phố Dharamsala

Trung Cộng Diệt Chủng Tây Tạng:

Giống như tại Nội Mông và Tân Cương, ngay khi chiếm được lãnh thổ Tây Tạng vào năm 1950, Tàu đỏ lập tức cho thi hành chính sách thực dân, đem người Tàu từ bốn phương tới khai hoang lập nghiệp. Thái thú Chen Kuiyuan (Giang Trạch Dân) nhân vật sau này trở thành tổng bí thư đảng cộng sản Tàu, được đưa tới Lhasa chỉ huy chiến dịch “Diệt chủng Tây Tạng” vì Y đã thành công tại Nội Mông, qua nhiệm vụ hủy diệt gần hết thổ dân Mông Cổ tại vùng đất nhà, biến họ thành dân thiểu số (3 triệu người) trước Hoa Kiều (20 triệu người) tới lập nghiệp.

Trong kế hoạch diệt chủng người Tạng ngay trên quê hương họ, ngoài chính sách di dân ồ ạt, còn dùng vũ lực bắt buộc mọi người phải hạn chế sinh đẽ, trong khi chính vùng đất này có mật độ dân số thưa thớt nhất trên thế giới từ trước tới nay. Nhưng thâm độc hơn hết là chính sách của Tàu đỏ, biến người Tạng mất gốc để đồng hóa họ, sau màn “bắt phá thai” để càng ngày càng ít người. Ai cũng biết cả nước Tây Tạng sùng kính Phật giáo, nên Bắc Kinh đã tiến hành chủ trương hủy diệt nên văn hóa của họ, bằng cách đàn áp dã man Giáo Hội và Tăng Lữ Tây Tạng. Ðể có lý do biện minh với thế giới, Trung Cộng chụp mũ Phật Giáo và Văn Hóa người Tạng nhằm mục đích chia rẽ và tách rời Tây Tạng ra khỏi Trung Hoa, nên cần phải dẹp bỏ.

Qua cuộc đàn áp man rợ này, chỉ trong thập niên 60 của thế kỷ XX, Tàu đỏ đã hủy diệt hơn 60.000 ngôi chùa trên đất Tạng, có hơn 1 triệu người bị tàn hại với đủ mọi lý do (chiếm 1/6 dân số). Ðể dọn cỏ sạch gốc, Bắc Kinh tổ chức cán toán công an tôn giáo gồm 5 người Tàu, tới tận các tu viện khắp Tây Tạng để dạy về ý thức hệ Maosit và tinh thần ái quốc Hán tộc. Chúng bắt mọi người phải học tập mỗi ngày 4-5 giờ, để gột rửa hết giáo lý nhà Phật có từ trước, đồng thời nhét vào đó tư tưởng vô thần và chũ nghĩa xã hội. Khóa học kéo dài 2 tháng và chứng chỉ tốt nghiệp, chính là tờ tự xác nhận rằng “Tây Tạng trước sau bao giờ cũng thuộc lãnh thổ Trung Hoa”. Ngoài ra còn phải ký tên phủ nhận Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đang lưu vong , để thừa nhận Vị Bang Thiền Lạt Ma của Bắc Kinh mới là lãnh đạo tinh thần của họ. Ai không ký tên sẽ bị trục xuất ra khỏi tu viện và nhận chịu nhiều hình phạt thảm khốc sau đó.


Tóm lại tại Tây Tạng ngày nay, người nào nói: Tây Tạng không phải là đất của Tàu, sẽ lãnh án khổ sai trên 10 năm. Với các tu sĩ còn tin Phật giáo nên bị đuổi khỏi tư viện, sẽ vĩnh viễn trở thành kẻ vô cư, không được du hành thuyết pháp và vãng lai tới chốn thị thành. Họ trở thành cô hồn phiêu bạt, sống một đời bất hạnh và thương đau mà không có bút mực nào ghi cho hết. Với những người không ký tên mà có vai vế thì bị bắt vào các nhà tù, các trại tập trung. Riêng số đồng ý ký nhận, cũng chẳng yên lành, ngoài việc lo sợ bị nằm vùng chỉ điểm, họ còn bị bắt buộc phải tập quân sự, bắn súng ... nhằm mục đích làm cho người tu sĩ tự mình hủy diệt giới cấm nhà Phật: bất bạo động, không sát sinh, chẳng vọng ngữ..

Với những vị đại sư tu trì khổ hạnh từ trước tới nay không màng dính líu tới sự đời, cũng không được để yên. Tàu đỏ bắt họ phải trả tiền thuê các hang động bằng không sẽ trục xuất, vì các hang động nơi thâm sơn cùng cốc vẫn được kê số nhà như ở thành thị. Ngoài ra những vị này bị coi như là thanh phần ký sinh trùng, chỉ biết ăn bám vào xã hội.. Tiêu diệt người Tạng không những ở lãnh vực tôn giáo mà còn nhắm vào giáo dục học đường. Tiếng Tàu dần thay thế ngôn ngữ Tây Tạng trong việc giảng dạy các cấp kể cả viện đại học tại Lhasa. Áp bức, bốc lột, đầy đọa man rợ, đã khiến cho người Tạng mấy chục năm qua không ngớt nổi dậy chống lại giặc cướp Tàu đỏ, qua mọi hình thức kể cả đặt bom, ám sát, biểu tình và du kích chiến. Một số khác nhất là giới tăng lữ, không quản gì tới sự sống chết, bảo tuyết, đường xa thăm thẳm, rủ nhau bỏ nước tìm về Tiểu Tây Tạng tại biên giới Ấn Ðộ. Cuộc chiến giành độc lập của người Tạng không lúc nào ngớt và nay đã bộc phát dữ dội từ tháng 3-2008 như là một điểm nóng nhất trong tình hình sôi đọng của thế giới hiện nay.

3-TÂY TẠNG: VẾT DAO TRÍ MẠNG GÓP PHẦN LÀM SỤP ĐỔ ĐẾ QUỐC TRUNG CỘNG

Ngày 15-9-2005 tại trụ sở LHQ nhân kỷ niệm 60 năm thành lập, chủ tịch Trung Cộng là Hồ Cẩm Ðào, đã đưa ra chính sách sống chung hòa bình với thế giới qua ba chủ trương bao dung, hòa hợp và liên kết để xoa dịu sự căng thẳng và hồ nghi của các nước đang nhắm vào người Tàu. Nhưng đó chỉ là lý thuyết, thực tế Trung Cộng càng ngày càng bành trướng thế lực, gia tăng bộ máy chiến tranh nhất là lực lượng hải quân, công khai xây dựng nhiều căn cứ quân sự trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cưỡng đoạt của VN. Tất cả hành động ngông cuồng trên đã làm cho tình hình an ninh của thế giới thêm căng thẳng, tạo cơ hội cho Ấn Ðộ, Nhật Bản, khối Asean.. bắt buộc phải liên minh với Mỹ để tự vệ. Ngay cả Nga là quốc gia duy nhất có chung biên giới và ý thức hệ một thời với Trung Cộng, cũng luôn tỏ thái độ hồ nghi và phải tiến hành một số biện pháp phòng ngự.

Ngày 8-8-2008 vừa qua, Trung Công khai mạc Thế Vận Hội tại Bắc Kinh. Ðây cũng là thời gian mà Tàu đã phải đối mặt với các tổ chức nhân quyền ủng hộ phong trào đòi độc lập tự do của Tây Tạng và người Hồi Giáo ở Thanh Hải, Tân Cương. Trước đó vào tháng 5-1996 người Ðột Quyết (Uighur) tại Tân Cương, sát nách với Tây Tạng đã nổi loạn chống Trung Cộng đòi tự trị và quyền sống nhưng phong trào trên đã bị Tàu đỏ đàn áp một cách dã man.

Riêng Tây Tạng ngay từ năm 1949 tới nay, cũng đã nhiều lần nổi lên chống lại chính sách diệt chủng của thực dân đỏ, để giành lại độc lập cho xứ sở nhưng vì cô thế nên đành chịu tù đày chết chóc trước bạo lực và sự toa rập của cái gọi là “Hội đồng Bảo An LHQ” nhưng thực chất chỉ là bọn bù nhìn làm tay sai cho Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Tàu đỏ. Ðây cũng không phải là vấn đề mới mẽ gì nhưng nhờ Trung Cộng cố tình bưng bít thông tin, nên thế giới tự do đã mù tịt, cứ tưởng đất nước Trung Hoa vĩ đại, dưới trên đoàn kết thống nhất. Trong khi đó, tình trạng phân hóa giữa các dân tộc bị trị ở lục địa và ngay cả Ðài Loan, chừng nào mới chịu hợp nhất để chỉ có một nước Tàu như Hán tộc suốt mấy ngàn năm qua hằng mong đợi?

Tức nước thì vỡ bờ, nhân sự kiện Trung Cộng khai mạc Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh, lợi dụng thời cơ cả thế giới đang hướng về lục địa đỏ, ngày 10-3-2008 người dân Tây Tạng trong và ngoài nước đã đồng loạt đứng dậy đòi dộc lập và quyền sống. Trong nước, Trung Cộng khẩn cấp đưa quân đội, công an ào ạt lên thủ đô Lhasa và các vùng có biểu tình, để đàn áp dập tắt ngọn lửa đấu tranh của phong trào phản kháng. Ðồng lúc bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh lên tiếng giải độc dư luận khắp nơi về sự đàn áp dã man của Tàu đỏ đối với người Tạng.

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng lưu vong, dù luôn chủ trương “sống chung hòa bình” nhưng trước thảm cảnh đồng bào mình bị giết hại trước họng súng và lưỡi lê của giặc cướp, đã lên tiếng nhờ quốc tế mở cuộc điều tra. Nhiều vị sư sãi Tây Tạng đã tới biểu tình trước trụ sở LHQ tại Nữu Ước, một số khác len lõi vào được vận động trường Nhã Ðiển tại Hy Lạp, đã làm náo loạn buổi lễ khai mạc đốt đuốc Thế Vận Hội Mùa Hè 2008 và diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng 8. Tất cả các sự kiện lịch sử trên đã gần như lột trần bộ mặt thật của một đế quốc thực dân mới, đó là Tàu Cộng đang lăm le thống trị hoàn cầu.

Sự quật khởi của người Tây Tạng đã làm cho nhân loại tỉnh cơn mê. Từ đây Trung Công chắc chắn sẽ không còn cơ hội mê hoặc thế giới cho dù có Mỹ đồng lõa hay ủng hộ vì giấy làm sao gói được ngọn lửa căm hờn của những người bị trị, trong đó có hơn 80 triệu người VN đang quằn quại sống trong ngục tù Cộng Sản do Trung Cộng đứng đằng sau VC chỉ đạo từ 70 năm qua. Cái gương Nhật Bản là một cường quốc kinh tế quân sự hàng đầu tại Á Châu, vậy mà Tàu đỏ còn dám ngông cuồng xua tàu chiến vào hải phận để gây hấn, đòi đảo. Nên các dân tộc nhược tiểu như Tây Tạng, Tân Cương và nhất là quốc gia không còn chủ quyền, VN làm sao ngăn cản và đương đầu nổi với Trung Cộng, hiện còn tàn bạo gấp trăm lần Ðức Quôc Xã và Quân Phiệt Nhật trong hai kỳ Ðại Chiến Thế Giới.

Tại Tây Tạng, từ khi cuộc khởi nghĩa giành độc lập bị thất bại vào năm 1959, đã có hàng triệu người Tạng bị chết thảm bởi sự khủng bố của Tàu đỏ. Cũng trong năm này, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 may mắn thoát khỏi Tây Tạng và tới được Ấn Ðộ lập Chính phủ lưu vong tiếp tục đấu tranh đòi độc lập.

Nhưng dù bị cô thế, người Tây Tạng trong và ngoài nước vẫn son sắt một lòng, quyết tâm chống đối với kẻ thù để giành lại cho được đất nước mình. Cùng lúc người Tạng lưu vong khắp nơi trên thế giới cũng đồng loạt đứng dậy tranh đấu đòi Tàu đỏ phải trả lại độc lập cho đất nước mình. Tất cả những diễn biến trên cộng với lòng thù hận của giới tăng lữ Tây Tạng, đã làm cho Trung Cộng vừa mất mặt lẫn lo sợ nên càng gia tăng sự đàn áp và khủng bố người Tạng trong nước.

Chỉ riêng trong năm 2012, số tăng lữ và người Tạng dùng thân mình làm đuốc sống để chống lại súng đạn, công an và bạo quyền của Hán tộc. Và Bắc Kinh đã không ngờ là tin tức các cuộc bạo động lại nhanh chóng lan rộng khắp thế giới cũng như tại Tây Tạng và các tỉnh lân cận kể cả Tân Cương, biến cả phần đất phía tây nước Tàu thành trận địa không cách gì dập tắt nổi, khi hận thù dân tộc đã bay vút lện tận trời cao và thấm sâu trong máu thịt của con người.

Tháng 11-2012 Tập Cận Bình sẽ lên ngôi hoàng đế đỏ của đế quốc Trung Cộng. Rồi hắn cũng sẽ như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào “nói láo” khi tiếp quản quyền lực rằng sẽ “hòa hợp hòa giải dân tộc” và “thay đổi cách đối xử với người Tạng” ..!

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Đầu tháng 11-2012
MƯỜNG GIANG

 

Wednesday, November 7, 2012

Dân chủ hóa Á châu và Việt Nam


 

06/11/12 |

Dân chủ hóa Á châu và Việt Nam


Dân chủ hóa Á châu và Việt Nam. Quyền Dân tộc tự quyết cho Việt Nam – An ninh Đông Nam Á

LGTTại Budapest, Thủ đô của xứ Hung-gia-lợi (Hungary, thuộc khối đông Âu cũ), Diễn Đàn cho một nước Tàu Dân chủ và ở Á châu ( FDCA) để kêu gọi sự yểm trợ cho một nền Dân chủ ở Tàu và ở Á châu đã diễn ra từ ngày 7 tới ngày 9 tháng 10 năm 2012. Diễn đàn qui tụ gần 200 người tham dự tới từ những tổ chức tranh đấu chống chế độ độc tài cộng sản tại Trung quốc hiện nay và từ nhiều nước như Mỹ, Canada, Trung quốc, Đài loan, Hồng kông, Âu châu, …Có nhiều nhà báo, nhà văn, từng là nạn nhân của Mao trạch đông trong vụ Cách mạng Văn hóa và vụ Thiên an môn.

Dưới đây là bài phát biểu của ông Nguyễn văn Trần, người Việt Nam duy nhất tham dự. Bài này đươc dịch ra tiếng Tàu phổ biến tại hội trường.

—————————————————–



Dân chủ thật sự phải được định nghĩa trên căn bản phổ quát “của dân do dân và vì dân”. Nói cách khác, Dân chủ là một chế độ pháp trị trong đó người dân có thực quyền kiểm soát Nhà nước theo một định kỳ và định kỳ này phải được tái lập đều đặn. Chế độ cai trị Việt Nam hay Trung quốc ngày nay được nhà cầm quyền ở hai nước này gọi là Dân chủ, đó là thứ Dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực chất là chế độ độc tài đảng trị bởi ở đó người dân hoàn toàn không có quyền tự do chọn lựa người đại diện mình và cũng không có quyền kiểm soát Nhà nước.

Diễn đàn Dân chủ Á châu kỳ thứ 5 khai diển hôm nay tại Thủ đô Budapest là để chúng ta cùng nhau góp tiếng nói và nỗ lực tranh đấu cho một nền Dân chủ tự do cho đât nước của chúng ta để mỗi người dân đều được quyền tự quyết định đời sống của chính mính và vận mệnh đất nước của mình.

Tình hình thuận lợi

Khi Hội nghị Dân chủ hóa Á châu kỳ 5 khai diễn ở Budapest thì tại Strasbourg, Thủ đô Âu châu, đồng thời cũng có một Diễn đàn thế giới về Dân chủ (Le Forum Mondial de la Démocratie) do Hội đồng Âu châu ( Conseil de l’Europe) tổ chức từ ngày 5 tới ngày 11 tháng 10 qui tụ nhiều vị Quốc trưởng, Thủ tướng Chánh phủ, Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc, những nhà Nobel Hòa bình, giới chức Đại học, giới nghiên cứu kinh tế-xã hội, Đại diện các Tổ chức Xã hội Dân sự, truyền thông, .. . Đây là Diễn đàn Dân chủ được tổ chức lần đầu tiên ở Âu châu.

Ông Roland Ries, Thị trưởng Thành phố Strasbourg, Đại diện Ban tổ chức cho biết “Chúng tôi có tham vọng lớn là muốn tổ chức một Diễn đàn ở tầm vóc thế giới”. Ông Thobrjorn Jagland, Tổng Thư ký Hội đồng Âu châu, giải thích “Hội nghị sẽ nghiên cứu xem làm thế nào những nền dân chủ có thể đáp ứng những mong đợi của công dân các nước và thích ứng với những giá trị khác biệt và những truyền thống của các nước đó”.

Trước đây, vào hai ngày 25 và 26 tháng 11 năm 2011, tại Tokyo, Thủ đô Nhựt bổn, lần đầu tiên Nhựt đứng ra tổ chức một cuộc Hội thảo về Dân chủ hóa Á châu, theo báo chí, thành công tốt đẹp. Hội nghị thảo luận “Sự bùng nổ cuộc Cách mạng Hoa lài ỏ các nước Á-rặp, Sự trở lại Á châu của Huê kỳ và Sự chuyển biến của chế độ chánh trị Miến điện”. Trước khi đề cập tới ba chủ đề trên, Hội nghị đã trình bày và thảo luận sâu rộng hiện tình xã hội chánh trị và những hiện tượng phản kháng, tranh đấu đòi Dân chủ ở Trung quốc và Việt Nam.

Tiến sĩ Araki, Chủ tịch Trung tâm Quan hệ Quốc tế thuộc Viện Đại học Takusoku, thay mặt Ban Tổ chức, cho biết mục đích Hội thảo là làm cho chánh giới Nhựt hiểu rõ dân chúng hai nước Trung quốc và Việt Nam đang bị chế độ độc tài cộng sản trù dập, đàn áp vô cùng thô bạo.

Ở vùng Đông Á ngày nay, chỉ còn sót lại Trung quốc, Việt Nam và Bắc hàn cố bám theo chế độ cộng sản độc tài để mưu sinh và tự thỏa mãn tham vọng quyền lực.

Tại Trung quốc và Việt Nam vì chế độ độc tài đảng trị đàn áp thô bạo mọi phê phán, chống đối của dân chúng nên chưa có được phong trào quần chúng tranh đấu dân chủ, mà chỉ có những nhóm dân chúng bất mãn nổi lên chống đối chánh quyền địa phương lạm quyền, cướp đoạt tài sản của họ. Nhìn chung dân chúng không hợp tác với chánh quyền và không còn sợ chánh quyền nên những người phản kháng, chống đối nhà cầm quyền độc tài cộng ngày càng đông đảo sự chống đối trở thành và thường xuyên.

Nhìn lại Á châu

Trong lúc thế giới theo thể chế Dân chủ thì các nưóc còn theo cộng sản độc tài là mối đe dọa lớn nhứt cho hòa bình nhân loại kể từ khi Đức quốc xã sụp đổ. Trung quốc tuyên bố “Hòa bình quật khởi” nhưng trong lúc đó họ lại dùng bạo lực thôn tính và đồng hóa Tây tạng, Mông cổ, Tân cương, ngang ngược lấn chiếm biển đảo của các nước láng giềng ở phía Nam.

Hai học giả người Mỹ, Tiến sĩ Peter Navarro của Đại học California ở Irvine và chuyên gia về Trung quốc Greg Autry, trong quyển sách mới “Chết vì Trung quốc” (Death by Chian) cho rằng những nhà cai trị tàn bạo ở Trung Nam Hải đang đe dọa đời sống bình thường của các nước phát triển, gây nguy hại cho sức khỏe và tánh mạng cho vô số dân chúng trên khắp thế giới, kể cả những người dân hiền lành ở Trung quốc (VOA, 02-06-2011).

Trung quốc có thể trở thành một nước Dân chủ tự do được không?

Trung quốc và cả Việt Nam, vì ảnh hưởng lâu đời Trung quốc và cùng theo cộng sản, cho tới ngày nay vẫn chưa có Dân chủ theo nghĩa văn hóa chánh trị Tây phương. Riêng Việt Nam trước 30/04/1975 có được một chế độ dân chủ tương đối tốt vì còn quá non nước do một lớp trí thức Tây học thực hiện ngay trong chiến tranh.

Trung quốc chưa có Dân chủ do văn hóa trung quốc từ ngàn xưa nặng tinh thần tập trung quyền hành. Ở đất nước, quyền hành tập trung ở nhà vua. Trong gia đình, quyền hành tập trung ở người cha. Được minh quân, nhơn dân an cư lạc nghiệp. Có cha hiền, gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên ở Trung quốc cổ thời không phải không có ý niệm về Dân chủ manh nha: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi” nhưng chỉ ở ý niệm chớ vẫn chưa được khai triển và định chế hóa.

Việt Nam có được một thời gian ngắn có Dân chủ thật sự. Từ sau 30-04-1975, Việt Nam rập khuôn theo Trung quốc nên chỉ là một phiên bản thu nhỏ của Trung quốc mà thôi.

Trong văn hóa truyền thống của hai nước không có từ ngữ “Tự do” theo quan niệm phương Tây. Tới thời cộng sản, dân chúng được đoàn ngũ hóa theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, địa phương dưới sự kiểm soát của đảng cộng sản nên Tự do càng thêm xa vời.

Tóm lại Trung quốc và Viêt Nam không có Dân chủ và Tự do vì nhà cầm quyền độc tài không tin tưởng ở dân chúng, luôn luôn xem dân chúng là kẻ thù sanh tử. Họ hiểu rõ chế độ của họ không do dân mà có, vì dân mà phục vụ nên họ phải tập trung quyền lực để giữ chế độ bền vững (?) cho họ.

Quyền Dân tộc Tự quyết

Từ sau Đại Hội Nhân quyền thế giới ở Vienne tháng 6/1993, việc tranh đấu cho Dân chủ và nhơn quyền chống lại những chế độ độc tài cộng sản có chìu thuận lợi. Chiến tranh lạnh chấm dứt sau khi Liên-xô và Đông Âu sụp đổ, chánh sách đối ngoại của Huê kỳ nhằm giúp các nước thực hiện dân chủ và phát triển kinh tế thị trường. Một mặt, Huê Kỳ quan tâm làm giảm thiểu các mối hăm dọa do những chế độ độc tài gây ra, mặt khác, yểm trợ giải phóng những nước chưa có dân chủ.
Cũng năm 1993, Hội nghị về Nhân quyền ở Bangkok có Việt Nam tham dự chính thức, đưa ra một bản Tuyên bố trong đó Điểm 12 và 13 ghi rõ “Quyền Tự quyết của mỗi Dân tộc trên thế giới là tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do mưu cầu phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và phủ nhận quyền tự quyết là một sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”. Và Điểm 12 và 13 còn nhấn mạnh chi tiết hơn “Thi hành Quyền Tự quyết Dân tộc khi quốc gia bị ngoại bang xâm lấn, cai trị và không được dùng quyền này để phá hoại sự vẹn toàn lãnh thổ, chủ quyến quốc gia và độc lập chánh trị của các nước”.


Hơn nữa, hai Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và vảng hồi hòa bình cho Việt Nam (Genève 54 và Paris 73) có ghi rõ Quyền Dân tộc Tự quyết như một Điều khoản để các bên liên hệ thi hành.

Người Việt Nam ngày nay có nên đòi hỏi Quyền Dân tộc tự quyết phải được thi hành hay không? Phải đòi hỏi mạnh vì từ sau chiến tranh chấm dứt, người Việt Nam chưa hề được quyền hành xử quyền Dân tộc Tự quyết được luật pháp thừa nhận.

Những biến cố Đông Âu nhắc nhở cho chúng ta thấy các dân tộc ở đó đã thực thi Quyền Dân tộc Tự quyết rất ngoạn mục. Họ đứng lên tự chọn lựa cho mình một thể chế chánh trị thích hợp với văn hóa dân tộc để bảo đảm cho mỗi người được tự do trong đời sống tư cũng như trong đời sống công.

Cộng sản đã sụp đổ vì tự thân bất lực vậy mà ngày nay, ở Á châu, vẫn còn Trung quốc và Việt nam kiên định bám theo chủ nghĩa lỗi thời Mác-Lê. Dân chúng, có ai góp ý xây dựng, phê phán đường lối cai trị hay phản đối chế độ tham nhũng làm thiệt hại tài sản đất nước, đẩy đa số dân chúng vào cảnh sống lầm than, mặc dầu hoàn toàn ôn hòa, đều bị chế độ xem là kẻ thù và tìm cách triệt hạ ngay.

Phải chăng chế độ cộng sản quả thật là chế độ phản động hơn hết? Để chấm dứt vỉnh viễn tình trạng này, Việt Nam cũng như Trung quốc phải sớm chuyển biến theo chế độ Dân chủ pháp trị và Liên bang để thống nhứt trong những khác biệt do lịch sử và địa lý tạo nên. Nên nhìn lại quá khứ để từ bỏ bài học mà Trung quốc và Việt Nam chủ trương thống nhứt đất nước bằng máu và nước mắt của dân chúng. Hồ Chí Minh không khác gì Tần Thủy hoàng của Trung quốc “đốt cả dãy Trường sơn để giải phóng và thống nhất Việt Nam”. Nhưng thống nhất cho cộng sản cầm quyền như ngày nay ta thấy chớ không phải thống nhất cho dân tộc Việt Nam thành một nhà trong tình nghĩa đồng bào ruột thịt.

An ninh Đông Nam Á

Hiệp Hội các nước Đông Nam Á – ASEAN – ra đời năm 1967 tại Bangkok cho mục đích kinh tế thương mại giữa các nước Hội viên. Ngày nay, tình hình trong vùng không còn được ổn định như trước nữa. Trung quốc đang tràn xuống lấn chiếm lãnh hải của càc nước Hội viên cho quyền lợi riêng của Trung quốc. Hành động gây hấn này xảy ra, phải hiểu, là do bản chất chế độ độc tài vốn không biết và không cần tuân thủ luật pháp. Vi Chế độ độc tài cộng sản, về bàn chất, là chế độ không có niềm tin và không biết luật pháp. Nó khác với chế độ Quân chủ. Ông vua ngày xưa lãnh mệnh Trời cai trị nhân dân, không dám làm điều sai quấy, làm mất lòng dân vì còn biết sợ Trời đánh.

Các nước Hội viên ASEAN có chung nền văn hóa sông nước vì cùng đắm mình trong vùng biển Nam hải. ASEAN về điểm này không khác gì các nước bên bờ Địa Trung hải ở Âu châu.

Vì khối ASEAN ngày nay trước sự bành trướng xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh tỏ ra không đủ khả năng ngăn chận nên một vài nước đã xé lẻ nhằm thỏa hiệp song phương để được yên, chúng tôi tha thiết đề nghị khối ASEAN hãy trở lại với Tổ chức Liên Phòng Đông Nam Á (OTASE) ký kết ngày 8 tháng 9 năm 1954 tại Manille, Thủ đô Phi-luật-tân, với Đại diện các nước Úc, Tân-tây-lan, Pakistan, Thái-lan, Phi -luật-tân, Anh và Huê kỳ. Ngày nay, các nước Hội viên cũ hãy còn. Với sự trở lại của Huê kỳ ở Đông Nam Á, việc tổ chức lại một OTASE Mới không phải là điều không thực hiện được và cũng không phải là vô bổ. Vì chỉ có một thứ tổ chức như OTASE mới có đủ khả năng và nhiệm vụ can thiệp giải tán những tham vọng bá quyền của Bắc kinh ở địa phương.

OTASE không có lực lượng quân sự thường trực tại chỗ nhưng dựa theo sự can thiệp linh động của các nước Hội viên nhờ ở chương trình tập dượt quân sự chung.

Ngày nay, khi trở lại với OTASE, dĩ nhiên chúng ta chỉ nhằm mục đích tối hậu là bảo vệ an ninh chung cho vùng Đông Nam Á. Hoàn toàn không nhằm gây hấn hay xâm lược một nuớc nào cả.

Trong dự tính đó khi thực hiện được, Trung quốc sẽ yên lòng lo mở mang trao đổi kinh tế, thương mãi với các nước trong vùng để cùng phát triền với nhau, cùng nâng cao đời sống nhân dân các nước.

Chắc chắn Đông Nam Á từ đó sẽ trở thành một vùng to lớn, dân chúng các nước Hội viên đều được an cư lạc nghiệp.

Trân trọng và đa tạ,

© Nguyễn Văn Trần

© Đàn Chim Việt

  

 

 

Trò dàn dựng “nhận tội, xin khoan hồng” cũ rích hoàn toàn bị phá sản


 

 04/11/12 |

Trò dàn dựng “nhận tội, xin khoan hồng” cũ rích hoàn toàn bị phá sản



Nguyễn Phương Uyên với biểu ngữ có dòng chữ viết bằng máu: "Tàu Khựa cút khỏi biển Đông".

Ngày 3/11/2012, công an thành phố Sài Gòn kết hợp với công an tỉnh Long An họp báo về việc bắt giữ Nguyễn Phương Uyên, 20 tuổi, nữ sinh viên năm thứ ba thuộc trường đại học Công nghệ Thực Phẩm Sài Gòn.

Nguyễn Phương Uyên bị công an tạm giam điều tra với cáo buộc “vi phạm Điều 88, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) về tội tuyên truyền chống Nhà nước”, cùng Đinh Nguyên Kha, vì đã “rải truyền đơn có nội dung chống phá Nhà nước VN tại cầu vượt Quang Trung (quận 12, Sài Gòn)” – theo thông tin từ cuộc họp báo.

Như vậy, các tuyên bố từ buổi họp báo này phải được xem là quan điểm chính thức của nhà đương cục CSVN.

Dối trá chính danh!

Trong cuộc họp báo, Nguyễn Sáu, đại tá, Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra tỉnh Long An, khẳng định:

“Chúng tôi thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Một ngày sau khi khởi tố và bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Uyên, cơ quan điều tra gửi thông báo cho gia đình Uyên ở Bình Thuận. Từ lúc cơ quan điều tra gửi thông báo gia đình bị can Uyên nhận phải mất vài ngày chứ không phải không thông báo như một số thông tin trên mạng đã nêu”.

Một người có cấp bậc đại tá, tuyên bố truớc công luận lẽ ra phải hội đủ sự thuyết phục dưới góc độ pháp luật, nhưng đại tá Sáu đã bộc lộ, hoặc là một người khoác mã đại diện pháp luật nhưng trong não bộ trống rỗng kiến thức về pháp luật, hoặc là một kẻ trơ tráo, vô liêm sỉ và coi thường dư luận. Một sự dối trá chính danh, được ký tên đóng dấu!

Từ điều 80 đến điều 86, Chương VI, Bộ luật Tố tụng Hình sự (LTTHS) năm 1992 (bổ sung năm 2003) quy định cụ thể về các trường hợp bắt và tạm giữ người, kể cả trong trường hợp bắt khẩn cấp.

Điều 80 – Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

1. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

b) Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người. (…)

Điều 84 – Biên bản về việc bắt người

1. Người thi hành lệnh bắt trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản.

Biên bản phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và những khiếu nại của người bị bắt.

Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.

Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu của người bị bắt phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.

2. Khi giao và nhận người bị bắt, hai bên giao và nhận phải lập biên bản.

Ngoài những điểm đã quy định tại khoản 1 Điều này, biên bản giao nhận còn phải ghi rõ việc bàn giao các biên bản lấy lời khai, đồ vật, tài liệu đã thu thập được, tình trạng sức khoẻ của người bị bắt và mọi tình tiết xảy ra lúc giao nhận.

Tất cả những quy định trên đây đều đã bị công an chà đạp thô bạo trong trường hợp Nguyễn Phương Uyên.

Nguyễn Phương Uyên bị bắt cùng ba bạn khác sống chung tại phòng trọ vào lúc hơn 11 giờ sáng ngày 14/10.

Lực lượng công an gồm khoảng chục người vừa mặc sắc phục, vừa thường phục, áp giải Phương Uyên và ba bạn cùng phòng tới đồn công an phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Sài Gòn, chỉ nói là để xác minh một số vấn đề.

Ba bạn cùng phòng trọ được trả về là những nhân chứng sống trong việc công an bắt giữ Phương Uyên và “mất tích” luôn sau đó.

Dư luận sôi động về sự “mất tích”, “bắt cóc”, bởi vì khi gia đình của Phương Uyên và bạn học tới công an phường Tây Thạnh hỏi thăm thì được công an trả lời không biết gì về vụ việc và không bắt giam ai cả!? – Chị Nguyễn Thị Nhung, mẹ của Phương Uyên, hoang mang kể lại với BBC Việt ngữ.

Vào ngày 19/10, trong khi vẫn bặt âm vô tín từ phía nhà chức trách, thì cộng đồng mạng đã loan báo Phương Uyên đang bị giam ở buồng số 12 (trong một phòng cùng với hơn 10 phạm nhân khác) tại nhà giam của Công an quận Tân Phú, địa chỉ 516/4 – 615/4 đường Bình Long, phường Tân Quý, quận Tân Phú, Sài Gòn.

Mãi đến ngày 20/10, tức 6 ngày sau khi Phương Uyên bị bắt, Cơ quan An ninh Điều tra thuộc Công an tỉnh Long An, mới ra Thông báo Số 3 do Thượng tá Nguyễn Thanh Sơn ký, gửi gia đình Phương Uyên về việc bắt giữ Phương Uyên vì “có hành vi tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN” và cho biết nơi Uyên bị giam là “trại tạm giam công an tỉnh Long An, số 159 đường Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Tân An, tỉnh Long An”.

Rõ ràng thực tế đã diễn ra khác hoàn toàn với tuyên bố “thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Một ngày sau khi khởi tố và bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Uyên, cơ quan điều tra gửi thông báo cho gia đình” của đại tá Nguyễn Sáu trong cuộc họp báo. Tuyên bố/khẳng định này không gì khác hơn là sự ma giáo, đổi trắng thay đen trắng trợn, bằng hành động cũng như ngôn từ.

Gắp lửa bỏ tay người

Một sự bất tín, vạn sự bất tin. Sự ma giáo, đổi trắng thay đen trắng trợn của người đứng đầu Cơ quan an ninh điều tra trong cuộc họp báo, cho thấy toàn bộ kịch bản nhuốm màu sắc bất lương ngay từ đầu.

Từ đó, người ta không thể không nghi ngờ về những cái gọi là “tang vật thu được của vụ án gồm hơn 700 truyền đơn và cờ của chế độ Ngụy quyền, hơn 2kg hoá chất tạo thuốc nổ cùng một số tang vật khác” và “trong vụ án còn một số dấu hiệu của tội khủng bố”

Trước hết, một điều quá dễ hiểu rằng, công an sẽ không có gì khó khăn khi muốn tạo dựng tang vật. Bởi vì công đoạn khám xét nơi ở của Nguyễn Phương Uyên cũng đã diễn ra mờ ám, trái pháp luật.

Điều 141 Bộ LTTHS sự quy định:

”Khi khám chỗ ở phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến”.

Không tuân thủ các quy định trên, công an đã tuỳ tiện về phòng trọ của Phương Uyên lục soát, mặc sức làm mưa làm gió, cho nên không thể loại trừ khả năng công an đã chơi trò “gắp lửa bỏ tay người”. Để biến một cô gái sinh viên thơ trẻ, học giỏi, hiền lành, được bạn bè quý mến, thành một tên khủng bố, chỉ cần quẳng vào hiện trường vài ký thuốc nổ hay vũ khí, lập biên bản xác nhận với nhau, rồi có thể công bố có trong tay “tang vật”!

Những tang vật mang tính lưu manh, giả trá này không giá trị pháp lý, khi việc khám xét bất chấp các quy định của pháp luật, không có sự hiện diện của người trong cuộc và nhân chứng khách quan.

Trong một cuộc họp báo, theo thông lệ, nguời ta thường chứng minh cho công luận thấy “tang vật” thu được bằng cách thức nào, ở đâu, trong bối cảnh nào. Đã không hề thấy động tác này trong cuộc họp báo hôm 3/11. Chỉ thấy kiểu lấy thịt đè người, đăng lấy được trên các báo lề đảng.

Sự thất bại của màn dàn dựng

Kịch bản dàn dựng của nhà cầm quyền CSVN buộc những người yêu nước, những người bất đồng chính kiến, tranh đấu dân chủ trong hoàn cảnh lao tù phải đọc bản nhận “tội”, “xin khoan hồng”, đã quá nhàm trong con mắt dư luận. Còn trong trường hợp của nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên nhà cầm quyền CSVN đã hoàn toàn thất bại.

Hình ảnh nhận”tội” của Phương Uyên trên TV và các phương tiện truyền thông lề đảng đã không giúp đuợc gì nhà cầm quyền ý đồ bôi xấu, hạ nhục những người yêu nước, mà chỉ làm dư luận căm phẫn, khinh miệt thêm thái độ hèn nhát, ác độc của kẻ mạnh trước người yếu thế, bị huỷ diệt mọi khả năng lựa chọn trước các đòn khủng bố và đe doạ.

Chúng ta đã chứng kiến phản ứng của dư luận trong trường hợp “nhận tội”, “xin khoan hồng” vào tháng 6 năm 2009 của Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Kim Anh. Vì họ là những người ở tuổi từng trải, có lý tưởng, dấn thân cho các hoạt động dân chủ, giữ vai trò nhất định trong tổ chức chính trị (đảng Dân Chủ), nên dư luận đã có những luồng đánh giá khác nhau, hoặc cảm thông, hoặc bất bình, gây tranh cãi. Thậm chí bà Trần Thị Huệ, em gái ông Trần Anh Kim, nói về hành động “nhận tội” của anh trai rằng “Chết vinh còn hơn sống nhục. Đã thấy việc mình làm là đúng, thì dù có chết, cũng không nên làm như thế”, và nhìn hình ảnh anh trai xin khoan hồng, bà cảm thấy “mất mát trong lòng“. Bài viết của tôi lúc bấy giờ “Những nhà dân chủ thich sống nhục” trên diễn đàn Talawas của nhà văn Phạm Thị Hoài đã gây nên tranh luận sôi động và gay gắt.

Nhưng, với Nguyễn Phương Uyên, tình cảm dành cho cô sinh viên mới ở tuổi 20, dường như nhất quán. Đó là sự chia sẻ, thông cảm sâu sắc. Những người hiểu biết, trong đó có cả những người vốn né tránh các chuyện chính trị nhạy cảm, đều thương mến Phương Uyên nhiều hơn cả trước khi cô gái “nhận tội”. Người ta thấy ở Phương Uyên hình ảnh của một con gà con ngơ ngác giữa một bầy diều hâu hung dữ.

Những “tội” mà Phương Uyên “nhận” được nhà cầm quyền trưng ra, show off, đã chẳng gây nên chút ấn tượng nào. Những người có lương tri, sáng suốt, nhìn thấy một trò hạ cấp, lố bịch. Trò này chỉ có thể lừa mị được những kẻ ngốc nghếch, hoặc kích dâm chính trị đám sai nha bệnh hoạn “đang tâm làm tay sai cho Tàu”.

Phản ứng của người thân trong gia đình Phương Uyên cũng rõ ràng, dứt khoát. Trả lời BBC Việt ngữ trong ngày 4/11, ông Nguyễn Duy Linh, cha của Phương Uyên, không tin vào những gì mà con gái ông bị cáo buộc hay “nhận tội”. Ông bày tỏ lòng “cảm phục” và “hãnh diện” về con gái, hiểu được con gái bị tù tội chỉ vì lòng yêu nước, chống xâm lược Trung Quốc, và cho rằng, kịch bản dàn dựng “nhận tội” không gì khác hơn là hành động của nhà cầm quyền nhằm mục đich răn đe, dập tắt tinh thần yêu nước trong giới sinh viên, học sinh.

Nhà văn Phạm Đình Trọng ngày 05/11/2012 trong bài “Cần lên tiếng tiếp về vụ Phương Uyên” gửi giáo sư Nguyễn Huệ Chi và giáo sư Tương Lai, những người nằm trong danh sách 144 vị nhân sĩ, trí thức ký tên trong thư khẩn cấp gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đề nghị trả tự do cho Nguyễn Phương Uyên, viết:

- “Nhiều công dân lớn tuổi đã mang cả cuộc đời làm việc ra cống hiến cho Đảng và Nhà nước này khi ký Kiến nghị về những vấn đề của xã hội còn bị công an đến tận nhà truy hỏi, bắt rút tên khỏi Kiến nghị thì các cháu sinh viên non nớt sau khi bị cả một hệ thống quyền lực đang nắm vận mệnh, tương lai các cháu đến truy hỏi, đe dọa, các cháu phải chối bỏ việc ký tên trong Thư gửi Chủ tịch nước kêu xin cho Phương Uyên là điều dễ hiểu.

Làm việc đó, cả hệ thống quyền lực, từ bộ Giáo dục Đào tạo, nhà trường đến công an, chính quyền địa phương đã vi phạm trắng trợn Quyền Công dân.

- Trong ngột ngạt nhà giam, trong phũ phàng đe dọa và trong ngọt ngào hứa hẹn, Phương Uyên phải viết lời nhận tội cũng là điều dễ hiểu.

- Điều này cũng tố cáo về cách điều tra làm án không lương thiện, phản sự thật, phản con người của công an”.

Lời kết

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà bất đồng chính kiến từng chịu bản án 5 năm tù, 3 năm quản chế, chỉ vì dịch bài “Thế nào là dân chủ” lấy từ trang web của đại sứ quán Hoa kỳ tại Việt Nam, viết trên trang Facebook của mình:

“Một lần nữa cho thấy chính quyền độc tài luôn kiên trì để dựng bằng được chân dung của những người đang dấn thân vì tiến bộ hiện nay rút cục chỉ là những người bồng bột, kém chịu đựng, và/hoặc chỉ là những kẻ cực đoan bạo động muốn gây đổ máu mà thôi. Đây chính là hai mục tiêu nòng cốt nhằm làm tan rã một phong trào đấu tranh bất bạo động trong thời đại ngày nay, chứ không hẳn là những án tù dài dằng dặc hay những bạo lực tàn ác”.

”Một phong trào bị trấn áp thẳng tay bằng những án tù dài hay bạo lực tàn ác vẫn có thể phát triển và thành công, vì sự trấn áp luôn làm gia tăng thiện cảm, sự chia sẻ của công chúng cho phong trào và càng làm cho bộ mặt của chính quyền thêm phần khó chấp nhận”.

Hoàn toàn chính xác! Dư luận đã hiểu sâu rộng “mục tiêu nòng cốt” của nhà cầm quyền CSVN mà bác sĩ Phạm Hồng Sơn nói tới và mặt thật đểu cáng của trò hề dàn dựng, ép buộc “nhận tội, xin khoan hồng”.

Màn dàn dựng cũ rích, sặc mùi khủng bố con tin của tổ chức Al Qaeda, đã bị nhận diện và hoàn toàn phá sản. Rất rõ qua trường hợp cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên!

Ngày 5/11/2012

© 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

TALAWAS - Thực chất những thứ gọi là “bị can đã nhận tội và xin khoan hồng”

THỨ BA, NGÀY 06 THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 2012

TALAWAS - Thực chất những thứ gọi là “bị can đã nhận tội và xin khoan hồng”

Vụ án nữ sinh Nguyễn Phương Uyên đang sôi động sau lá thư khẩn của nhiều trí thức, nhân sĩ và người dân các tầng lớp gửi Chủ tịch nước nêu rõ những khuất tất trong việc bắt cô và kiến nghị trả tự do cho cô vì những hành động xuất phát từ lòng yêu nước.
Một số cơ quan chức năng vừa công bố quyết định khởi tố vụ án chống Nhà nước với bản nhận tội và xin khoan hồng của Nguyễn Phương Uyên, song không ít ý kiến trên mạng tỏ ra nghi ngờ việc này. Tại sao?
Rất đơn giản: Đây không phải lầnđầu tiên Công an VN dùng những "biện pháp nghiệp vụ" để có được những lời "nhận tội và xin khoan hồng" như thế. Trường hợp nhà thơ Hoàng Cầm trong vụ án "Về Kinh Bắc" là một điển hình – Xin hãy đọc lại bài viết của Hoàng Cầm đăng trên Talawas năm 2007.
Mọi âm mưu kích động bạo loạn, vũ lực để chống chính quyền thì ở nước nào cũng là có tội. "Tuyên truyền chống Nhà nước" mà Luật của ta định ra thì quá mơ hồ, mập mờ. Đãđến lúc phải sửa hoặc bỏ "Điều luật hai cái còng" này. Nhưng trước khi đó, tối thiểu cũng phải biết bắt, giam giữ, lấy cung, xét xử thật đúng luật, thật công khai minh bạch, đàng hoàng từ đầu đến cuối (nếu chính quyền tựtin là mình đúng). Một sự bất tín, vạn sự bất tin. Chỉ cần "hai cái bao cao su đã qua sử dụng" là đủ để bắt Cù Huy Hà Vũ, nhưng cũng đú để những người lương thiện không tin ông có tội.
Chỉ cần xử án không cho người dân tự do vào coi, không cho tranh tụng ra ngô ra khoai, không xét xử trên cơ sở tranh tụng, là đủ để kết án bất kỳ ai bất kỳ bao nhiêu năm tù,nhưng cũng đủ để cho những người lương thiện không tin vào bản án. Thật đơn giản, các "cơ quan chức năng" đều biết cả đấy, nhưng tại sao vẫn làm như họ vẫn làm?
Hoàng Hưng

Về Kinh Bắc
bài nào cũng buồn
(Tâm tình với bạn đọc talawas)
Hoàng Cầm
Tập thơ Về Kinh Bắc (NXB Văn học 1994) khôngđược nêu tên trong danh mục những tác phẩm được Giải thưởng của Nhà nước Việt Nam lần thứ V, nhưng trong các tập thơ Bên kia sông Đuống (NXB Văn hoá 1993), Lá Diêu bông (NXB Hội Nhà văn 1993), 99 tình khúc (NXB Văn học 1999) được nêu trong giải thưởng, có rất nhiều bài nằm trong bản thảo Về Kinh Bắc, trong đó có đủ những bài thơ chủ yếu bị quy kết là phản động hồi những năm đầu thập kỷ 1980 ("Cây tam cúc", "Lá Diêu bông", "Quả vườn ổi"…).
Để bạn đọc có dịp đọc toàn bộ tập thơ đã trở thành một di sản văn hoá nước nhà trong bản chính thức của nó, chúng tôi đã đề nghị chính tác giả Hoàng Cầm cung cấp tài liệu. Nhà thơ đã vui vẻ nhận lời và nhân dịp này, có đôi lời tâm sự với bạn đọc.
Talawas
*
Về Kinh Bắc ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Vào cuối những năm 1950, bốn anh em chúng tôi (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, ĐặngĐình Hưng) sau khi đi lao động cải tạo về, vẫn nằm trong thời kỳ bị kiểm soát chặt chẽ. Nói cho đúng thì riêng tôi không phải đi lao động, (không biết vì lý do gì mà những nơi Hội Nhà văn liên hệ để đưa tôi đến lao động đều không nơi nào chịu nhận, thế là tôi thoát!) trong khi Lê Đạt thì đi Phú Thọ, Trần Dần đi Thái Nguyên. Và nói về sự kiểm soát thì tôi cũng được thoải mái hơn hai anh ấy.
Tôi cứ việc ở nhà trong khi Lê Đạt và Trần Dần thì tất cả các buổi sáng phảiđến ngồi ở Hội Nhà văn. Chỉ uống nước chè, tán chuyện, cười ha hả thôi, nhưng vẫn phải đến. Nhưng việc in ấn thì dứt khoát là không được phép. Trong tình cảnh ấy, tôi đề xướng với các bạn: lúc này chính là lúc bọn mình phải để tâm vào việc phá ra về thi pháp, phải phá ra khỏi kiểu thơ Tố Hữu, hay nói rộng ra là kiểu thơ cũ mà mình đã chán ngấy. Thế là bốn anh em thống nhất về đường lối sáng tác.
Từ đấy hai anh Trần Dần, Lê Đạt ở Hội Nhà văn sáng sáng chỉ tán chuyện một lúc rồi mỗi người yên lặng cắm cúi viết lách. Trần Dần viết Cổng tỉnh dựa vào những kỷ niệm thời thanh niên ở Nam Định. Lê Đạt thì những kỷ niệm ở Yên Bái (thân phụ của anh làm xếp ga ở đó) cho anh loạt thơ sau in trong Bóng chữ. Đặng Đình Hưng, với sự "đỡ đầu" (dùngđúng từ anh nói) của Trần Dần, cũng viết được những bài thơ mới hẳn, lâu lâu anh lại đến khoe, rất hào hứng. Tôi rất thích những bài thơ ấy của Hưng, và học tập được khá nhiều ở tinh thần mới mẻ của anh.
Riêng tôi, như đã nhiều lần tự bạch, tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi luôn nghĩ rằng: với bất cứ anh thi sĩ nào, cái thời kỳ từ 5 đến 15 tuổi là thời kỳ quyết định hơi thơ, cốt cách thơ của cả đời anh ta. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ certificat [1] ), tôi sống ở một phố nhỏ trênđường quốc lộ 1, cách thị xã Bắc Giang 6 km. Mười năm ấy ăn vào mình nhiều nhất. Chỗ tôi ở là một con phố đìu hiu, lèo tèo vài hàng quán, ông thân sinh tôi mở hàng thuốc bắc ở đó, còn mẹ tôi thì có gánh hàng xén.
Cái phố ấy vẫn có phong vị nông thôn với rặng tre, cây đa, con đường đất nhỏ, lại có tí văn minh với cảnh ô tô, tàu hoả, tôi hay ra ga xem khách lên khách xuống, tàu đến tàuđi. Những đêm trăng cô hàng xóm thích hát xướng tập họp bọn trẻ trong phố ra giữa đường hoặc cái bãi rộng sau ga hát trống quân, cò lả…
Có lẽ vì thế mà toàn bộtập Về Kinh Bắc chìm trong cái buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào cũng buồn, câu nào cũng buồn. Hồi trong Hoả Lò [2] bị buộc phải viết kiểm điểm vềtập thơ này, tôi cũng dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải khấn khởi tươi vui. Nhưng ngoài cái đó ra, tôi còn phải nhắm mắt tựnhận tội với những từ nặng nề nhất như phản động, chống Đảng.
Có điều tôi cũng viết rất khéo sao cho nếu bản kiểm điểm sau này được công bố thì bạn bè và công chúng cũng thấy đó là sự nhận tội không tự nguyện, nhận mà là không nhận. Thí dụ như tôi dẫn chứng câu thơ "Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa" là rủa Đảng, bài thơ "Lá Diêu bông" và một số bài khác là mang tính chất tư sản, than thở số phận con người, qua đó thấy cuộc sống thất vọng quá, buồn quá, những ước nguyện đẹp nhất đều không thực hiện được.
Sau khi tôi ra tù, không ít bạn trách tôi vì sao lại nhận tội như thế? Có phải là hèn quá chăng? Nhưng thực tế hoàn cảnh tôi trong tù rất khốn đốn, sau ba tháng là sức khoẻ suy sụp, nếu kéo dài thêm hai tháng nữa thì có thể chết trong tù. Vì vậy, trước sức ép ngày đêm của những người công an thụ lý và những hứa hẹn của họ, tôi suy nghĩ:phải giữ cái mạng của mình cái đã, phải tồn tại, phải sống, còn tác phẩm của mình chẳng đi đâu mà mất, nó còn hay không là do nó, nó có giá trị thì nó sẽtồn tại.
Cho nên tôi quyết định nhận tội. Khi tôi viết xong bản kiểm điểm (dài 6 trang giấy thếp thì phải), anh công an thụ lý tên N. đọc ngay, và bảo "Tốt quá rồi!". Hôm sau, anh đem đến một cái cassette mới toanh, bảo tôi tự đọc bản kiểm điểm vào máy. Anh cẩn thận dặn tôi phải đọc hết sức tựnhiên, không phải như người bị ép buộc hoặc như đọc dictee [3] .
Là một diễn viên kịch, tôi thừa sức để "diễn" theo đúng ý anh. Tôi muốn tỏ ra hết sức ngoan ngoãn, cốt để được về. Tôi vừa đọc xong, anh ta chồm dậy, bắt tay tôi rối rít và cảm ơn cảm ơn hai lần liền, sau đó cho người đi mua phở cho tôi ăn. Anh còn tuyên bố: "Chúng tôi sẽ đề nghị để Tết này anh được về". Tôi mừng quá, viết thư về cho bà Yến [4] báo tin vui.
Thế là suốt những ngày gần Tết năm ấy tôi cứ khấp khởi đợi chờ. Sau này tôi biết bà Yến nhà tôi cũng trong tâm trạng ấy. Sáng 30 Tết bà bắt anh con rể mang xe đến chờ ởcổng Hoả Lò suốt từ sáng tới tối. Nhưng thực tế là tôi không được thả như lời hứa của công an mà ngay mồng 4 Tết thì bị chuyển tới "xà lim bộ" [5] và tiếp tục bị giam, tổng cộng là 18 tháng.
Vì sao lại có chuyện thay đổi như thế? Có phải anh công an tên N. đã nói lừa tôi cốt để tôi nhận tội cho được việc của anh ta? Tôi cũng không rõ sự thực thế nào, cho đến một hôm sau khi đã ra tù, tôi tình cờ gặp một anh công an thụ lý khác (xin phép không nêu tên) ở quán bia Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật (đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Trông thấy tôi anh mừng lắm, anh mời tôi vào uống bia để tâm sự. Anh nói là anh đã ra khỏi ngành, và anh kể cho tôi một chuyện khá bất ngờ.
Chuyện đại ý như sau: Sau khi tôi nhận tội, công an đã định cho tôi về thật. Nhưng trong thời gian chờ đợi giải quyết, thì một hôm ông Lê Đức Thọ [6] gọi công an lên hỏi về vụ Hoàng Cầm ra sao rồi, và thông báo rằng có một số trí thức Pháp, những người quen biết nhiều với ông, đã giúp đỡ ông và đoàn đại biểu Việt Nam ở Hội nghị Paris, vừa gửi thư cho ông yêu cầu nếu xét Hoàng Cầm không có tội trạng gì cụ thể thì hãy thả ngay nhà thơ ra.
Ông còn nhắc nhở: "Các cậu xem thế nào thì giải quyết đi, không có thì mang tiếng lắm". Sự việc trên được công an báo cáo với Tố Hữu [7] . Ông lập tức hạ lệnh: "Ngoại quốc can thiệp hả? Đã thế thì cho thêm một năm nữa!".
Thái độ cứng rắn đến nghiệt ngã của Tố Hữu với riêng tôi cũng như với các anh em Nhân văn-Giai phẩm rất nhất quán. Ngay cả đối với những sáng tác mà anh em chúng tôi tìm lối mới vào cuối những năm 1950 nói trên, ông cũng rất ghét, mặc dù không biết ông có đọc hay không. Lại nói là sau khi bốn người chúng tôi bật ra được thứ thơ ấy, ai cũng mãn nguyện vì đã lộ rõ cốt cách từng người. Riêng tôi thì ngay từ lúc viết xong Về Kinh Bắc, tôi đã tin là nó có giá trị, có đóng góp cho văn học nước nhà.
Tuy tôi không dám truyền đi rộng rãi, chỉ cho vài người bạnđọc, nhưng rồi nó được tự động lan truyền, đặc biệt có những bạn sinh viên trẻsay mê nó lạ lùng. Phải nói tình yêu đối với Về Kinh Bắc có cái gì đó rất đặc biệt. Tôi không tin là tập thơ dễ hiểu chút nào, đặc biệt là phần Nhịp một với "những đêm ngũ hành" kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Ngay nhà thơ Lữ Huy Nguyên, cố Giám đốc NXB Văn học, cũng thú thực với tôi rằng: "Em in cho anh thì cứ in chứ nói thật là em chỉ hiểuđược 1/4 tập thơ". Đến anh công an thụ lý N. sau khi tôi nhận tội cũng thú nhận: "Thực tình tôi chẳng hiểu anh nói gì, bây giờ anh khai ra tôi mới biết ý đồ chống Đảng của anh, thì ra anh thâm thuý thật!".
Việc chúng tôi sáng tác những tác phẩm mới nhanh chóng được báo cáo với Tố Hữu. Một người bạn được tham dự buổi họp tuyên giáo mở rộng kể với tôi rằng trong cuộc họp Tố Hữu đã cảnh báo: "Tụi Trần Dần Hoàng Cầm… bây giờ đang thực hiện đúng khẩu hiệu phục xuống sáng tác mà Văn Cao đã khởi xướng. Phải canh chừng và dập tắt ngay".
Đây là lần đầu tiên tôi nói rõ một số chuyện liên quan đến Về Kinh Bắc, nói ra để khép lại những cái đau buồn ấu trĩ của một thời. Bây giờ, tôi xin các bạn thưởng thức nó vượt qua mọi bối cảnh chính trị xã hội, thưởng thức nó như một tác phẩm nghệ thuật mà đến hôm nay tôi vẫn thấy hài lòng.
H.C.
–––––––––––––––––
[1] Bằng tiểu học (Certificat d'études primaires) – Chú thích trong bài của talawas
[2] Trại giam của Pháp ở phố Hoả Lò, mang tên Maison Centrale, sau này là trại tạm giam của công an Hà Nội cho đến cuối thập kỷ 1990. Tác giả bị bắt vào đây ngày 20/8/1982 sau khi công an phát hiện có "âm mưu" tuồn bản thảo Về Kinh Bắc ra nước ngoài.
[3] Chính tả (các chú thích đều của talawas)
[4] Bà Lê Hoàng Yến, vợ tác giả
[5] Trung tâm thẩm vấn của Bộ Công an ởngoại thành Hà Nội.
[6] Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổchức Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lúc ấy.
[7] Lúc đó là Phó Thủ tướng thường trực,đồng thời vẫn là người lãnh đạo về văn hoá tư tưởng.
Nguồn: talawas.org

Được đăng bởi bauxitevn

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link