Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, November 10, 2012

NHỮNG BÀI HỌC ĐỂ ĐỜI Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG


 

NHỮNG BÀI HỌC ĐỂ ĐỜI

 

Kính gởi:  Quí  Đại Trí .... Nhóm Giao Điểm

Đặc biệt:  Nhị Vị Dáo nhọn Trần Chung Ngọc & Nguyễn Mạnh Quang

 

1.  Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

 

Nói tới tên ông, nhiều người Việt nghĩ ngay tới việc ông đỗ hai bằng tiến sĩ, Văn và Luật tại Montpellier, Pháp trong một năm, lúc mới 23 tuổi. Ngoài ra, người ta không nhớ ông đã làm được công nghiệp gì tương xứng với tài năng và công lao học tập! Điều đó không có chi lạ. Ông đã theo “Hồ tặc” đi kháng chiến, và kể từ lúc ấy, đời ông kể như đã đi vào ngõ cụt. Đã có quá nhiều sách báo nói về ông Nguyễn Mạnh Tường và những tháng ngày thê thảm của ông và gia đình ông, dù bản thân ông chưa phải là trái chanh đã hết nước trong tay Cộng. Nếu không đọc cuốn sách Un Excommunié do chính ông viết, chúng ta khó tưởng tượng ông “lưỡng khoa tiến sĩ” này lại bị đau nhục dưới tay “vượn người” như thế! Nhưng vì đâu nên nỗi?

Hoàn cảnh lịch sử? Lòng yêu nước, hay sự bịp bợm của cộng sản đã đưa ông vào thảm trạng?

Năm 1936, cậu thanh niên 27 tuổi, với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi hương, tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời. Cậu trở thành giáo sư trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi, rồi cậu mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội. Khi cộng sản cướp chính quyền, cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước. Kháng chiến bùng nổ, cậu không ngại gian lao, xách khăn gói vào Khu Tư, tức Thanh Hóa theo “Bác.”

Chiến tranh tạm ngừng năm 1954, nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì những điều tai nghe, mắt thấy về Đảng và “bác”, nhưng cổ đã vướng tròng, khó bề thoát ra. Trở về Hà Nội, ông được cộng sản ấn vào tay một lô chức tước “phó”, vô danh và… vô thực luôn: Phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm, thành viên Hội Hữu Nghị Việt-Xô, v…v..

Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi, không hiệu năng mà cũng chằng có thực quyền, đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư thừa .”

Năm 1956, có phong trào Đòi tự do, dân chủ của các báo Nhân Văn, Giai Phẩm. Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông vạch trần tính chất phản dân hại nước của cộng sản:
“Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần dân chủ, xa lìa quần chúng, tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình… ”

Dĩ nhiên, ông cũng còn tin cộng sản có thể sửa đổi được, và ông đề nghị những biện pháp sửa đổi! Ngày nay, dù đã có một tay cộng sản gộc, chính tông, là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố

Cộng Sản không thể sửa đổi ”,

nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị, thư ngỏ… để thay đổi chính sách của Cộng sản. Cộng sản dĩ nhiên không thèm đếm xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường; nhưng lãnh đạo Cộng sản lại dương những con mắt cú vọ quan sát, nhằm “chiếu tướng” ông trí thức. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, ông luật sư, giáo sư, kiêm luôn bao nhiêu chức Phó và Thành viên các hội, đọc một bài diễn văn tại cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc, phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách Ruộng Đất, và đề ra phương hướng để tránh mắc lại! Ông Trí thức lúc ấy chắc vẫn tin là cộng sản mắc “sai lầm”, chứ không phải là chúng chủ tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng. Sau bài diễn văn với những đề nghị này, nọ của ông, dây thừng quanh cổ ông được cộng sản xiết chặt lại. Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông được gỡ sạch. Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông xỉ vả, mắng mỏ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các “đồng chí” của ông đấu đá. Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội, một đảng bù nhìn do cộng sản nặn ra để trang trí cho chế độ, đấu tố ông lần chót. Ông chống trả rất can trường, với lập luận sắc bén của một luật sư có tài. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng:

“Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói”.

Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở

Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!” Trong ba mươi năm dài ấy, nhà trí thức sống ra sao?

Ông kể lại:

“Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen sa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tố́i. Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi, và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói.”

Trong cơn khốn cùng như thế, gia đình ông Tiến sĩ “may mắn” có được một con gà mái “mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên ”. Mỗi ngày con gà cho một trái trứng, và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng. Muốn cho gà đẻ trứng, thì phải cho nó ăn. Khốn nỗi người còn sắp chết đói, lấy đâu gạo, bắp cho gà! Nhà trí thức ‘phát huy sáng kiến’:

“mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, khi chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để người qua đường nhìn thấy, mang về nuôi nó”

Thê thảm không còn gì để nói! Nhưng con gà, dù mắn đẻ, tất cũng không nuôi sống nổi cả gia đình của ông tiến sĩ. Ông phải đau khổ, năn nỉ những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà: sách vở, quần áo của ông, son phấn , tóc giả của bà, muỗng nĩa trong bếp… Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được cộng “giải phóng.” Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn, chỉ để khỏi chết đói!

Cộng sản đã trả công cho sự nhiệt thành và công lao hạn mã của ông bằng cái đói và nhục. Nhiệt thành, say sưa, vì khi Cộng mới nổi lên, ông đã đem tất cả nhà cửa hiến dâng cho đảng. Công lao hãn mã, vì ông đã lặn lội sang tận thủ đô Bruxelles của Bỉ, năm 1956, đem tài hùng biện, chứng minh với Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ thế giới, là Bắc cộng có “chính nghĩa” khi dùng súng đạn để “giải phóng miền Nam ” Nhưng xem tư cách và sự phản ứng can trường của ông trong suốt 30 năm bị cộng mưu dìm cho chết, chúng ta ngậm ngùi thương ông hơn là oán giận. Ông đã lạc đường vào lịch sử và bị vây bọc trong hoàn cảnh khó khăn. Không khuất phục được ông, bọn cộng vô học ghen, tức, đầy đọa và hạ nhục ông.

So sánh với những anh “trí thức” hải ngọai ngày nay, từng kinh hoàng bỏ chạy khi cộng sản tới, lại được chứng kiến sự tan rã tận gốc của cái chủ thuyết giết người tàn độc, mà vẫn xun xoe đưa đầu cho cộng sai khiến, chúng ta phải kinh ngạc về sự “khả úy” của các “trí thức” hậu sinh. Ông Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã trả được mối thù với bọn việt cộng bằng cách mô tả sự tàn độc của chúng trong hai cuốn Hồi Ký mà ông để lại cho đời.

Ông đã thảnh thơi từ giã cuộc đời ngày 13 tháng 6 năm 1997.

 

 

 

 

 

2.  Trí thức DƯƠNG QUỲNH HOA

 

Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam. Bà theo học y khoa tại Saigon rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. Ăn phải bả Cộng sản, bà liên lạc với Cộng sản Pháp, gia nhập cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954. Sau 1954, bà về Saigon nằm vùng và do thám cho cộng. Năm 1960, được bọn Bắc cộng giựt dây, bọn theo cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng. Bà Hoa là một sáng lập viên của cái Mặt Trận này. Năm 1968, sau vụ đại bại của cộng quân, mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt cộng, và được cho làm Bộ Trưởng Y Tế. Trong thời gian ở trong bưng, đứa con trai nhỏ của mụ đã chết vì bệnh sưng màng não. Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được cộng dụ dỗ cho nhập Đảng; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng, nên tìm cách khước từ “vinh dự” đó. Năm 1975, sau khi chiếm được Miền Nam, bọn Bắc Cộng ra tay xóa sổ cái Mặt Trận Giải Phóng.

Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận, như các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng… và bọn lủng lẳng đứng giữa như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… đều vỡ mặt, tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo! Chính bà Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị trong đời bà. Ngày 17 tháng 10 năm 1996, khi được tờ báo Far Eastern Economic Review phỏng vấn:

“ Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées?”

Bà trả lời:

“L’effondement du mur de Berlin qui a mis un term à la “grande illusion”

dịch tạm: Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua?

Bà DQH: Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng lớn ”

Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt nam, bà nói:

“Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đa hết ”.[I have been a communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communist, and it is a failure - mismanagement, corruption, repression. My ideals are gone”]

Cuối thập niên 1970, bà nói với Nguyễn Hữu Thọ:

“Tôi và anh chỉ là những kẻ bù nhìn, là những món đồ trang sức rẻ tiền. Chúng ta không thể nào phục vụ một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ.”

Khi được phỏng vấn về bọn lãnh đạo Việt cộng, bà lạnh lùng trả lời:

“Đó là những kẻ ngu si đần độn, bởi vì họ là cộng sản”.

Trong những câu bà Hoa nói trên, chúng ta nên chú ý đến câu

“Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản…”

Đó chính là một lời thú nhận là:

dù học hành nhiều như bà, được sống trong một nước tự do như nước Pháp, có thừa phương tiện tìm hiểu, nghiên cứu, bà đã không biết gì về chủ nghĩa cộng sản!

Ngày 25/2/2006, người nữ cán bộ cộng sản đã góp công không nhỏ cho cộng sản đặt cái ách khốn cùng trên đầu đồng bào của bà, lặng lẽ bị các oan hồn chết vì giặc cộng, đưa về trước Diêm Vương để nghe phán xét tội lỗi. Cái bạo quyền bà đã hy sinh hết tuổi thanh xuân và tài năng để dựng nên nó, không có được một lời nói về bà. Mang “ảo tưởng ”, tự hiến mình làm “bù nhìn, đồ trang sức rẻ tiền ”, “ không biết sự thật về cộng sản mà vẫn theo chúng” thì kết quả đương nhiên chỉ có như thế.

Các vị trí thức tiền bối như Nguyễn Mạnh Tường, Dương Quỳnh Hoa, do hoàn cảnh lịch sử hoặc do sai lầm nhất thời, đã có lúc theo cộng hay thân cộng. Nhưng khi nhận rõ bộ mặt phản dân hại nước của cộng sản, họ đã có phản ứng quyết liệt. Trí thức Nguyễn Manh Tường đã dõng dạc tuyên bố:

Tôi không hề tham gia mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía nhân dân, chứ không đứng về phía nhà cầm quyền.”

Ông cũng đã can đảm nhận chịu 30 năm đọa đầy thê thảm chứ không đầu hàng cộng. Khi thoát khỏi sự kiềm chế của Cộng sản, ông đã viết hai cuốn sách:

(1) Un Excommunié – http:// http://www.ethongluan.org/

(2) Une Voix Dans La Nuit http://www.viet.rfi.fr/vi%C3%AAtnam/20110918-plan-vii-nguyenmanh-tuong-tieu-thuyet-une-voix-dans-la-nuit-ii-van-de-tri-thuc-v , bày tỏ lập trường của trí thức, và mô tả sự xấu xa tàn độc của Cộng sản. Cuốn Une Voix Dans La Nuit, [chưa xuất bản, được bà Thụy Khuê trích dẫn và bình luận trong Website của RFI] viết về về sự thiết lập chế độ ác ôn cộng sản ở Việt Nam. Ông viết xong vào năm 1993, lúc đã 85 tuổi, chứng tỏ ông trí thức vẫn nặng lòng vì đất nước. Bà Dương Quỳnh Hoa cũng dứt khoát vứt bỏ mọi ưu tiên mà chế độ dành cho bà, để quay về vị trí của người trí thức.

Những trí thức nói trên, nhất là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, vẫn còn lưu lại trong lòng chúng ta sự ngậm ngùi thương tiếc.

 

BXCanh

Làm ăn thua lỗ, đại gia ào ào đi điều trị tâm thần


 

Làm ăn thua lỗ, đại gia ào ào đi điều trị tâm thần


Vietnamnet –  Thứ sáu, ngày 09 tháng mười một năm 2012



“Chưa bao giờ thấy bệnh nhân bị rối loạn tâm lý, tâm thần do công việc làm ăn lại nhiều như năm nay”.

 

Bác sĩ Lê Hiếu, Phó khoa Khám, Bệnh viện Tâm thần cơ sở Chợ Quán TP.HCM đã nhận định như vậy.

Theo bác sĩ Hiếu, mỗi ngày mình khám khoảng 40 bệnh nhân, có tới 8 người trong số đó nguyên nhân phát bệnh liên quan tới tiền bạc, kinh doanh.

Thạc sĩ – bác sĩ Chu Thị Dung, làm việc tại khoa Khám của bệnh viện này cũng công nhận như vậy.

Nhiều người rối loạn tâm thần, có xu hướng tự tử

Bác sĩ Dung vừa thăm khám cho bà Trần Thị H., 52 tuổi, ở tận Thành phố Đà Lạt. Bà H. kể nhà mình có cơ sở sản xuất bột giặt. Năm nay làm ăn khó khăn, công nợ nhiều.

Tiền mua nguyên liệu bà H. trả theo kiểu gối đầu, chờ khi bỏ mối được hàng mới lấy tiền đó thanh toán.

Ai ngờ mọi chuyện không suôn sẻ, bột giặt sản xuất ra không bán được, một số nơi trước đây là đại lý của gia đình bà thu nhỏ mô hình kinh doanh, không lấy mặt hàng của cơ sở bà nữa.

Bác sĩ Dung đang thăm khám cho bà H., chủ cơ sở sản xuất bột giặt - Ảnh: Thanh Huyền


Bà H. đang nợ tiền lương công nhân tới 3 tháng, phía cung cấp nguyên liệu cũng hối thúc đòi tiền liên tục.

“Cả tháng nay rồi tôi gần như thức trắng. Để giải quyết mọi chuyện êm xuôi tôi phải “quay” ra được 20 tỷ đồng. Tài sản, nhà cửa thế chấp hết rồi, tiền nong thất thoát. 6 tháng nay, mỗi tháng tôi lỗ 3 trăm triệu.

Nhiều khi mệt quá, thiếp đi, tôi nằm mơ người ta kéo tới đòi nợ nên hoảng hốt ngồi bật dậy. Chỉ trong 1 tháng tôi sụt 5 kg. Ông xã và các con khuyên tôi nên về TP.HCM khám bác sĩ tâm lý, tâm thần để được tư vấn”, bà H. tâm sự.

Bác sĩ Lê Hiếu cũng vừa gặp một trường hợp tự tử bất thành do… thiếu nợ.

Đó là anh Nguyễn Đức T., 45 tuổi, ngụ tại quận 6, TP.HCM.

Anh T. làm nghề chạy xe ba gác, bị công an giữ xe nên thất nghiệp, nợ nần. Lãi mẹ đẻ lãi con lên tới con số hơn 200 triệu là quá lớn với người dân lao động chân tay.

Biết chẳng cách nào trả được nợ, xin việc không ai nhận, một phần vì anh không bằng cấp, phần thứ hai những chỗ vừa với sức anh lại đang thừa người, muốn tinh giảm bớt nhân công.

Lo lắng vì không xin được việc làm, ngày nào cũng có người đến chửi bới, uy hiếp đòi nợ khiến anh T. có ý định kết liễu cuộc đời để…giải thoát.

Rất may ý định tự tử của T. không thành công, được vợ con phát hiện, đưa đi khám tâm thần.

Tại bệnh viện, anh T. chia sẻ người lúc nào cũng mệt mỏi, mất ngủ. Anh từng mua thuốc thảo dược về uống nhưng tình trạng vẫn không cải thiện.

Đại gia ngại bệnh viện, chọn khám tư

Đa số những người làm ăn kinh doanh cá thể nhỏ mới tới bệnh viện để khám tâm thần, còn các đối tượng đại gia, giàu có, bị rối loạn tâm thần vì công chuyện làm ăn ngại không tới bệnh viện mà tới phòng mạch tư (vì sợ điều tiếng).

Đó là trường hợp của bà Trần Thị M., 50 tuổi, ngụ tại Đồng Nai. Vợ chồng bà M. mỗi người có một công ty về kinh doanh đồ nội thất. Công ty của chồng chuyên về đồ nhập khẩu, còn vợ phụ trách mảng hàng nội địa.

Thuyền to sóng lớn. Nhìn cơ ngơi vợ chồng bà M. xây dựng ai cũng phải trầm trồ thán phục, hệ thống cửa hàng ở TP.HCM, Đồng Nai, lên tận Đà Lạt, ra cả Nha Trang, Đà Nẵng.

Tính sơ sơ bà M. đang tạo công ăn việc làm cho mấy trăm nhân viên. Ấy vậy mà cách đây không lâu bà M. đi xe hơi tới phòng mạch của một bác sĩ tại TP.HCM để xin tư vấn về rối loạn tâm thần. Nghe bà M. tâm sự, vị bác sĩ cũng phải toát mồ hôi: “Tôi lo lắm bác sĩ ơi, chỉ trong vài tháng mà tóc tôi bạc trắng. Khoảng 2 năm nay, mỗi tháng tôi lỗ 1 tỷ đồng.

Tài sản, nhà cửa, xe hơi thế chấp ngân hàng để lấy vốn làm ăn. Trước kia, sau khi định giá tài sản, ngân hàng cho công ty tôi vay 60 tỷ. Nay bất động sản xuống dốc, tài sản bị định giá lại, chỉ còn vay được phân nửa số cũ.

Tôi đi vay bạn bè 30 tỷ để bù vào số tiền 60 tỷ bị hụt để tiếp tục vận hành công ty. Nội tiền trả lãi cho ngân hàng và bạn bè mỗi tháng cũng đủ làm tôi…chóng mặt.

Nếu bây giờ chỉ sơ sảy một chút là sự nghiệp vợ chồng tôi gây dựng 30 năm nay sẽ mất trắng. Đó là chưa kể con cái đang du học bên Mỹ sẽ dang dở giữa đường…”.

Trước mặt bác sĩ là một người phụ nữ ăn mặc sang trọng, đeo trang sức kim cương loá mắt nhưng đôi mắt dù đã trang điểm vẫn không giấu được nét thâm quầng vì thiếu ngủ.

Chồng bà M. cho biết vợ mình đang bị hoảng loạn thực sự. Bà M. căng thẳng tới mức không ăn được cơm, đêm tới cứ ngồi nhìn tường tròng trọc. Sức khoẻ suy sụp khiến bà không thể tiếp tục điều hành công việc do mất tập trung.

Tất cả các triệu chứng của những bệnh nhân nói trên được gọi chung là rối loạn lo âu.

Theo bác sĩ Chu Thị Dung, sau khi được bác sĩ chia sẻ, tư vấn, bệnh nhân sẽ được kê toa cho dùng thuốc chống lo âu.

Còn bác sĩ Lê Hiếu lại cảnh báo nếu không được điều trị và người thân quan tâm, chia sẻ, các bệnh nhân bị mắc hội chứng nói trên có nguy cơ tự tử rất cao.

Trên thực tế, bác sĩ Hiếu đã gặp không ít trường hợp các doanh nhân do công việc làm ăn không suôn sẻ, trong cơn bấn loạn đã tìm cái chết để giải thoát.

“Những đối tượng tâm thần liên quan tới chuyện làm ăn năm nay nhiều lắm, từ người kinh doanh chân chính cho tới phi pháp, buôn lậu. Có bệnh nhân vay nặng lãi, nợ nần tới vài tỷ bạc, bị xã hội đen đuổi giết, chấn động tâm lý cũng tới bệnh viện để được điều trị”, bác sĩ Hiếu cho biết. 

 

Ấp Chiến Lược Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa


Subject: Ấp Chiến Lược Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa

 
 
Những ai đã sống vào thời tổng thống Ngô Đình Diệm đều nhớ rằng ông Diệm xây dựng ấp chiến lược theo cách thức của một tướng người Anh Stewart (?) sau khi ông tướng này thành công trong việc tách rời du kích cộng sản với dân lành ở Mã Lai và đã tiêu diệt hết du kích cộng sản.
Sau khi giết anh em ông Diệm, tên Việt gian Dương Văn Minh tức thì phá bỏ ấp chiến lược để cộng sản dẽ hoạt động, đưa đến việc mất miền Nam.

Ấp ChiếnLược
Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Khi nói đến Ấp Chiến Lược, thì chỉ những người đã từng sống ở trong các vòng đai của Ấp Chiến Lược vào thời kỳ đầu của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa; NHƯNG, phải có một lương tâm trong sáng, một tấm lòng chân thành, thì họ mới viết lại những gì mà họ đã chứng kiến một cách trung thực.
Vậy, để lớp trẻ sau này, còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng; bởi vậy, nên người viết xin phép tác giả Nguyễn Đức Cung để được trích đoạn trong bài:
Xây dựng ấp chiến lược
Bộ sưu tập tem Ấp Chiến Lược phát hành ngày 26/10/1962
"Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ lụy trong chiến tranh Việt Nam" như sau:
 
1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.
Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ Nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong Chính Sách An Dân của mình.
 
Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478 người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.
 
Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa và một khi đã bị giải thể, hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân, mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh. Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tỉnh Man Tiểu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863, Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã ghi lại như sau:
 
"Mới đặt chức Tiểu phủ sứ ở cơ Tỉnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thứ án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho.
 
Đến đây, chuẩn cho thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thiếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo, ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ, ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thử sức dân." [9]
 
 
Thành phố đổ nát
Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược, nhằm giải quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào Nam, và sau đó, để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái hoạt động ở các vùng nông thôn miền Nam.
 
Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống vì ở trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố:
 
* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).
 
* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một Bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).
Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).
 
* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ liên hệ với ngành nông nghiệp địa phương.
 
* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)
 
Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.
 
Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh."
Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản".
 
Và kế đến, người viết cũng xin phép tác giả Trần An Phương Nam: Gia đình CB/XDNT Bắc Cali, để cũng được trích đoạn trong bài:
 
"Từ quốc sách Ấp Chiến Lược đến chương trình Xây dựng Nông Thôn" như sau:
 
"Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là “lấy nông thôn bao vây thành thị” nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như trận địa chiến hay vận động chiến v.v...
 
Nắm vững được sách lược của địch. Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.
 
 Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc quản lý Ấp do một Ban trị sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng vệ dân sự phối hợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.
 
Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả, công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!"
 
Trên đây, là những trích đoạn đã viết về Ấp Chiến Lược, của hai vị tác giả Nguyễn Đức Cung và Trần An Phương Nam; riêng người viết bài này, trước đây, cũng đã có viết qua bài: Những Mùa Xuân Qua có một đoạn về Ấp Chiến Lược như sau:
 
Mô hình của một Ấp Chiến Lược:
Tại quê tôi, ấp chiến luợc là những vòng đai có hai vòng rào gai rừng, ở giữa hai vòng rào là những giao thông hào sâu quá đầu nguời, rộng hơn hai mét, do dân làng cùng nhau đào, dưới lòng giao thông hào có cắm chông làm bằng những gốc tre già đã được vót nhọn, sắc, có ba cạnh. Còn vòng rào là những tấm gai cứng nhọn, có bề rộng hai mét, bề cao hơn hai mét được ghép lại. Chúng tôi xin nhắc rằng: Vì để bảo vệ tánh mạng và tài sản của chính gia đình của mình nên mọi người dân quê đều hưởng ứng, họ rất vui vẻ với công việc này. Đặc biệt là lớp thanh niên, với những nụ cười, tiếng hát với nhau trong lúc cùng nhau thực hiện Ấp Chiến Luợc.
 
 Ngoài ra, dân lành còn dùng những chiếc thùng thiếc, loại thùng đựng dầu hỏa, hoặc thùng gánh nước đã bị hỏng, đem đục lỗ, cột dây thừng nhỏ đuợc tết bằng những sợi mây rừng; ban đêm sau 20 giờ Chiến Sĩ Dân Vệ đóng cổng ấp lại, rồi họ đem giăng dọc theo bờ rào Ấp Chiến Luợc và các lối đi ở bìa vuờn, để ngăn bước chân của Việt cộng nằm vùng ban đêm thường lẻn xuống giết hại dân lành và cuớp gạo, muối của dân mang lên rừng để sống. Bọn trẻ như chúng tôi thì khoái đi giăng thùng lắm, chúng tôi đòi Chiến Sĩ Dân Vệ phải cho chúng tôi đi theo, giăng thùng xong chúng tôi còn trông cho có ai đó, hoặc con vật gì nó vướng dây để được đánh mõ còn nếu được "la làng" thì càng thích hơn nữa.
 
Tôi vẫn nhớ mãi về những năm tháng ấy thật vui, tôi nhớ dân quê tôi còn "phát minh" ra phong trào đánh mõ và la làng. Ngoài các trạm gác đêm của cá Chiến Sĩ Dân Vệ, thì nhà nào cũng sắm ra nhiều chiếc mõ tre; mỗi khi có tiếng thùng đổ thì mọi nguời đánh mõ ba hồi một dùi; nghĩa là đánh ba hồi dài, sau đó đánh một tiếng, còn nếu thấy có bóng dáng nguời xuầt hiện thì đánh mõ hồi một; nghĩa là đánh một hồi rất gấp, rồi kèm theo chỉ một tiếng.
 
Lúc đó mọi nguời không ai đuợc đi lại phải chờ cho các Chiến Sĩ Dân Vệ kiểm tra xem tại sao thùng đổ, nếu là Việt cộng nằm vùng xuất hiện, thì các Chiến Sĩ Dân Vệ sẽ tri hô và mọi nguời đồng thanh la làng: “Cộng sản bớ làng, cộng sản bớ làng”; sau đó, dân làng tay cầm chiếc gậy có sợi dây thừng cuộn ở phía trên, tay cầm đuốc sáng trưng để vây bắt Việt cộng.
 
Chính vì thế, mà tôi nhớ người dân đã bắt đuợc bốn cán bộ VC nằm vùng, nhưng tôi chỉ nhớ tên hai nguời là Duơng Đình Tú và Đỗ Luyện, cả hai đuợc đưa ra tòa sau đó họ ra Côn Đảo, đến khi trao trả tù binh họ chọn con đuờng ra Bắc. Còn nếu do một con chó thì họ sẽ la to: "Bà con ơi! chó vuớng thùng, đừng đánh nữa", thì dân làng họ mới thôi đánh mõ.
 
Một kỷ niệm mà không phải riêng tôi, mà có lẽ còn hai "nạn nhân" trong cuộc chắc chắn khó quên: Ấy là vào một đêm có đôi tình nhân đã hẹn hò nhau ở bìa vuờn, chắc họ đã ra đó lúc chưa giăng thùng, nên đến khuya khi họ quay về nhà, chẳng may họ đã vuớng phải dây và thùng thi nhau đổ, khi các anh Dân Vệ kiểm tra thì có bóng hai nguời họ hô: “Đứng im”; lúc ấy có tiếng cả hai xưng tên và nói: "Tụi em đây, xin các anh đừng bắn".
 
Nhưng lúc ấy, dân làng đã đèn đuốc sẵn sàng, hai nguời mắc cỡ quá nên đứng im không dám nhúc nhích trông rất tội nghiệp. Sau đó, đôi tình nhân ấy không hiểu tại sao họ lại chia tay. Bây giờ hai nguời đều có gia đình riêng, ở cùng làng đã có cháu nội, ngoại. Cô gái vuớng thùng năm xưa hiện nay lại là chị chồng của em gái tôi.
 
Tôi vẫn nhớ hoài những đêm vui kỷ niệm; ngày ấy, đêm nào bọn trẻ con trong làng cũng trông mong cho có ai đó, hay con chó, con mèo vuớng thùng để đuợc đánh mõ, vì cả làng đều đánh mõ hòa với tiếng trống ở các trụ sở thôn làng, nghe thật vui tai, chúng tôi đứa nào cũng thích, cũng đòi cha mẹ sắm cho những chiếc mõ thật tốt, kêu thật to. Chúng tôi thích đánh mõ, đánh dai lắm, cho đến khi các Chiến Sĩ Dân Vệ đã la to lên: "Chó vuớng thùng, bà con ơi đừng đánh mõ nữa" các anh cứ la, còn chúng tôi thì vẫn cố đánh thêm mấy hồi nữa, vì mấy khi thùng đổ để đuợc đánh mõ đâu.
 
Hậu quả của việc phá bỏ Ấp Chiến Lược:
Mùa xuân năm 1964, Quê hương tôi không còn thanh bình nữa; bởi lúc ấy, Nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã sụp đổ. Ấp chiến lược bị phá bỏ, vì như mọi người đều biết, từ thưở xa xưa tổ tiên chúng ta ở thôn quê quanh vườn người ta thường trồng tre, gai làm bờ rào, còn nhà thì có bờ dậu có cửa ngõ, làng thì có cổng làng, mục đích để phòng gian, như bài thơ "Cổng Làng" của Thi sĩ Bàng Bá Lân đã viết:
"Chiều hôm đón mát cổng làng
Gió hiu hiu thổi mây vàng êm trôi
Đồng quê vờn lượn chân Trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn
Ráng hồng lơ lững mây son
Mặt trời thức giấc véo von chim chào
Cổng Làng rộng mở ồn ào
Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"
Như vậy, từ thưở xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã từng xây dựng Làng, có Cổng Làng mà mỗi đêm thường được đóng, để bảo vệ dân làng, và mỗi ngày khi: "Mặt Trời thức giấc véo von chim chào" thì "Cổng làng rộng mở ồn ào" để cho những "Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"; huống thay là trong thời chiến tranh, lúc cái "Mặt trận giải phóng miền Nam" do cộng sản Hà Nội cho ra đời, thì những kẻ vì ngu xuẩn hay cố tình kia lại ra lệnh phá bỏ Ấp Chiến Lược, là phá bỏ mọi trở ngại, khó khăn để cho Việt cộng đánh chiếm các làng thôn một cách dễ dàng.
 
Tôi đã chứng kiến những ngày Xuân 1964, đầy khói lửa, hoang tàn, từng đoàn người bồng bế, hoặc gánh con thơ chạy trốn, dân quê tôi họ đã biết rất rõ về cái gọi là “Giải phóng miền Nam “ vì cũng những người trong làng trước kia họ biết rõ là đảng viên cộng sản, sau đó họ biệt tích, rồi một ngày họ bỗng dưng từ trên núi trở về lại tự xưng là "Giải phóng miền Nam", nên dân quê tôi đã phân biệt Quốc, Cộng là hể ở trên núi xuống là cộng sản, chúng nói gì họ cũng không nghe, thấy bóng dáng cộng sản đâu là họ đều cõng - gánh con thơ tìm đường chạy trốn.
 
Kể từ đó, khi Ấp Chiến Lược bị phá bỏ, thì quê tôi, quận Tiên Phước gồm 15 xã, mà việt cộng đã chiếm hết 11 xã, chỉ còn có 4 xã nằm chung quanh quận lỵ, mà chẳng có xã nào còn nguyên vẹn, vì xã nào cũng mất một vài thôn; riêng xã Phước Thạnh, tức làng Thạnh Bình-Tiên Giang Thượng, gốm có 7 thôn, nhưng Việt cộng đã đánh chiếm mất 6 thôn, chỉ còn 1 thôn Đại Trung, nằm bên bờ Tiên Giang Hạ.
 
Và với những gì tôi đã viết trước đây, là hồi ức của một thời thơ ấu không hề biết thêu dệt; nghĩa là viết một cách vô cùng trung thực, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó, chứ không phải là văn chương.
 
Vì vậy, một lần nữa, người viết muốn lập lại là chỉ mong ước để cho lớp trẻ sau này còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng.
 
Pháp quốc, 20/10/2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
 

Friday, November 9, 2012

Tướng Nhật: Nếu động binh, tàu sân bay TQ sẽ làm mồi cho tàu ngầm Nhật


 

Tướng Nhật: Nếu động binh, tàu sân bay TQ sẽ làm mồi cho tàu ngầm Nhật


Bản in

 

 

Kawamura cho rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc với Nhật Bản, nếu tàu Liêu Ninh được điều đến biển Hoa Đông thì nó sẽ chỉ “làm mồi” cho tàu ngầm của Nhật Bản.

Nhiều nhà quan sát Nhật Bản cho rằng mục tiêu mà Trung Quốc nhắm tới trong cuộc tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Senkaku với Nhật Bản chính là nguồn tài nguyên phong phú xung quanh nhóm đảo trên biển Hoa Đông này.

Tuy nhiên, tờ Japan Times của Nhật Bản dẫn lời ông Sumihiko Kawamura, cựu Tư lệnh Liên đội Không quân săn tàu ngầm của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản cho hay, trong vấn đề này Bắc Kinh có một mục tiêu quan trọng và khó nhìn thấy hơn mà nếu đạt được, họ sẽ có thể có được đoạt được ưu thế vượt trội về chiến lược quân sự từ tay Mỹ tại Thái Bình Dương.

 
Cựu Chỉ huy trưởng Liên đội Không quân săn tàu ngầm của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản Sumihiko Kawamura.


Ông Kawamura tin rằng Bắc Kinh đang tìm cách biến Biển Đông thành “ao nhà” cho lực lượng tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo có thể bắn tới nước Mỹ. Để đạt được mục đích này thì việc chiếm được Senkaku, nhóm đảo nằm cách Đài Loan 190 km về phía đông và sát với cửa ngõ phía bắc của Biển Đông là vô cùng cần thiết.

Tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) được coi là lựa chọn khả thi duy nhất của Trung Quốc để duy trì khả năng răn đe hạt nhân mạnh mẽ đối với Mỹ, vì Mỹ đã xác định được tất cả các căn cứ tên lửa đạn đạo của Trung Quốc và có thể phá hủy chúng dễ dàng bằng một cuộc tấn công hạt nhân phòng ngừa.

Theo ông Kawamura, nếu Bắc Kinh duy trì được khả năng phản công Mỹ bằng tên lửa SLBM, điều đó sẽ có thể ngăn chặn Mỹ can thiệp vào một cuộc xung đột lớn có sự tham gia của Trung Quốc.

Vị cựu Hiệu phó Trường Sĩ quan Tham mưu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản này cho hay: “Điều này liên quan trực tiếp tới chiến lược hạt nhân của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ Senkaku.”

Ông khẳng định “Đây mới chỉ là khởi đầu. Thậm chí dù có mất đến 100 năm, Bắc Kinh cũng sẽ tìm cách chiếm được những hòn đảo này” để biến Biển Đông thành nơi trú ẩn an toàn cho lực lượng tàu ngầm trang bị tên lửa chiến lược của mình.

Kawamura nhận định rằng cùng với hải quân Mỹ, Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản có khả năng kiềm chế lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trong Biển Đông, một khu vực gần như khép kín với sự bao quanh của Đài Loan, Philippines, Malaysia và Việt Nam.

Khi phối hợp với hải quân Mỹ, những chiếc tàu ngầm phi hạt nhân “siêu tĩnh” của Nhật Bản có thể phát hiện, theo dõi và thậm chí là đánh chìm bất cứ tàu ngầm Trung Quốc nào tìm cách đi qua tuyến đường biển chạy dọc từ các hòn đảo lớn Nhật Bản qua Okinawa và Đài Loan xuống tận Philippines để tiến vào Thái Bình Dương. Hải quân Trung Quốc gọi tuyến biển này là "Chuỗi đảo Thứ nhất", thể hiện tầm quan trọng chiến lược của nó.

Bản đồ Chuỗi đảo Thứ nhất (First Island Chain).


Trong cuốn sách xuất bản hồi tháng Tám về khả năng nổ ra xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản trên nhóm đảo Senkaku, ông Kawamura cho hay: “Nhật Bản có thể đánh chìm tàu ngầm Trung Quốc vào bất cứ lúc nào chúng tôi muốn nếu xung đột nổ ra. Trung Quốc không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tìm cách biến Biển Đông thành nơi trú ẩn an toàn và bảo vệ lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân của mình ở đó.”

Theo tờ The New York Times, cựu Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Hùng Quang Khải năm 1995 đã đe dọa Mỹ rằng Trung Quốc sẽ xem xét việc phát động cuộc tấn công hạt nhân nhắm vào Los Angeles nếu Mỹ tìm cách can thiệp vào cuộc xung đột Đài Loan.

Năm 2005, Thiếu tướng Chu Thành Hổ tuyên bố với các phóng viên rằng Bắc Kinh không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiến hành một chuộc tấn công hạt nhân phòng ngừa vào các thành phố của nước Mỹ nếu Trung Quốc đối mặt với khả năng thất bại trong cuộc xung đột trên đảo Đài Loan.

Gần đây, Trung Quốc bắt đầu gọi Biển Đông là một trong những “lợi ích cốt lõi” của mình, một dấu hiệu cho thấy nước này sẽ không chấp nhận thỏa hiện và họ sẽ không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực để “bảo vệ lợi ích” của mình trong khu vực này.

Trung Quốc cũng đã cho mở cửa một căn cứ hải quân lớn trên đảo Hải Nam được cho là có thể chứa tới 20 chiếc tàu ngầm. Ông Kawamura cho rằng đây là một phần trong chiến lược tạo nơi trú ẩn an toàn cho lực lượng tàu ngầm trang bị tên lửa hạt nhân của Trung Quốc.

Một chiếc tàu ngầm của hải quân Trung Quốc.


Các chuyên gia tin rằng tên lửa SLBM của Trung Quốc có tầm bắn tối đa khoảng 8000 km. Điều này đồng nghĩa với việc 48 bang của nước Mỹ có thể nằm ngoài tầm với của tên lửa Trung Quốc phóng đi từ tàu ngầm trên Biển Đông.

Tuy nhiên Trung Quốc đang tìm cách nới rộng tầm bắn của tên lửa SLBM để có thể đánh trúng nước Mỹ mà không phải điều tàu ngầm ra quá xa ngoài Thái Bình Dương. Ông Kawamura tin rằng Trung Quốc đang buộc phải áp dụng theo chiến thuật mà hải quân Liên Xô đã từng sử dụng trong Chiến tranh lạnh. Khi đó hải quân Liên Xô đã biến Biển Okhotsk thành một “pháo đài” cho hạm đội tàu ngầm hạt nhân của mình với một lực lượng tàu chiến và tàu ngầm đông đảo ở đó.

Trung Quốc hiện vẫn chưa đạt được công nghệ “tàng hình” cho tàu ngầm. Ngoài ra tàu ngầm của họ còn ồn hơn và dễ phát hiện hơn tàu ngầm của Liên Xô. Ông Kawamura nói: “Khi hoạt động, tàu ngầm của Trung Quốc phát ra tiếng động như khua chiêng gõ mõ.” Ông cho rằng tại thời điểm hiện nay, Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản có ưu thế vượt trội hơn hải quân Trung Quốc, đặc biệt là khả năng tác chiến chống tàu ngầm ưu việt của lực lượng này.

Tác chiến tàu ngầm có thể trở thành yếu tố mang tính quyết định trong chiến tranh trên biển hiện đại. Hiện nay, Trung Quốc mới chỉ có 4 máy bay chống tàu ngầm, trong khi 77 chiếc máy bay săn ngầm P-3C của Nhật Bản vẫn thường xuyên tuần tra trên các vùng biển xung quanh Nhật Bản.

“Trong tác chiến tàu ngầm hiện nay, Trung Quốc vẫn chưa có khả năng làm được những gì chúng tôi đã làm cách đây 30 năm (để chống lại tàu ngầm Liên Xô). Họ lạc hậu hơn chúng tôi 30 năm,” ông Kawamura tuyên bố.

Trung Quốc vừa đưa vào hoạt động chiếc tàu sân bay Liêu Ninh đầu tiên, tuy nhiên ông Kawamura cho rằng phạm vi hoạt động của con tàu này sẽ bị hạn chế trong Biển Đông khi một cuộc chiến thực sự nổ ra vì các hạn chế về mặt kỹ thuật của nó.

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc.


Đồng quan điểm với các nhà phân tích quân sự khác, ông Kawamura nhấn mạnh rằng Trung Quốc hiện chưa có công nghệ phóng để có thể trợ giúp những chiếc phản lực nặng cất cánh được từ tàu sân bay.

Tàu ngầm Trung Quốc hiện cũng quá ồn nên khó có thể bảo vệ được tàu sân bay. Ông Kawamura cho rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc với Nhật Bản, nếu tàu Liêu Ninh được điều đến biển Hoa Đông thì nó sẽ chỉ “làm mồi” cho tàu ngầm của Nhật Bản.

Hiện nay nếu Trung Quốc tấn công và chiếm giữ Senkaku, họ có thể chiếm đóng tạm thời được nhóm đảo này. Tuy nhiên việc chiếm đóng sẽ không kéo dài được lâu và cuối cùng Trung Quốc sẽ thất bại vì Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản có thể dễ dàng cắt đứt đường tiếp tế trên biển của lực lượng chiếm đóng.

Ông Kawamura nhận định: “Nếu Trung Quốc bình tĩnh phân tích khả năng của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản, tôi không cho rằng họ sẽ dùng đến vũ lực. Nhưng vẫn có thể có tình huống leo thang bất ngờ” dẫn tới xung đột quân sự trên vùng biển này. Đồng thời, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng có thể tìm cách sử dụng vũ lực tấn công Senkaku để làm chuyển hướng chú ý của người dân trong nước.

Kawamura kêu gọi chính phủ Nhật Bản xem xét sửa đổi luật để cho phép Lực lượng Phòng vệ Biển và Cảnh sát biển Nhật Bản có quyền nổ súng cảnh cáo đối với tàu nước ngoài đến gần những hòn đảo này. Nếu không, tàu công vụ Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục quay lại Senkaku trong nhiều năm tới để thể hiện quyền kiểm soát hiệu quả của họ đối với vùng lãnh thổ này.

__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link