Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, November 21, 2012

Khi công an đội lốt tu hành

Khi công an đội lốt tu hành

Thứ sáu - 07/09/2012 17:07
Khi công an đội lốt tu hànhKhi công an đội lốt tu hành
Nhân ngày lễ Vu Lan chúng tôi xin đề cập tới một vấn đề ít được bàn đến trong xã hội đó là những cán bộ công an mặc áo nhà sư. Vốn người Hà Nội lại sinh sống và học tập ngay trên địa bàn thủ đô nên cuộc gặp mặt với người cán bộ an ninh tận tụy thượng tọa Thích Bảo Nghiêm quả thật không khó khăn gì. Đồng chí Nghiêm (tên dùng khi hoạt động, tên riêng xin được giữ bí mật) tiếp chúng tôi tại nhà riêng đó là một căn hộ trung cư cao cấp ở khu đô thị mới Trung Hòa Nhân Chính, không phải trong bộ quần áo bảo hộ lao động nâu sồng mà với Jean nhãn hiệu Lee và áo phông in hình anh da đen mồm ngậm thuốc lá Marlboro cùng dòng chữ Bad Boy thật ấn tượng và gần gũi. Đầu giờ chiều giọng anh vẫn còn hơi ngái ngủ, chúng tôi đã làm phiền anh nhưng với thái độ rất thân thiện anh mời chúng tôi ngồi chơi nói chuyện, anh gọi với vào bếp "đun nước rồi mang trà ra nhé“, một cô gái trẻ xinh đẹp ít phút sau bước ra miệng nhoẻn nụ cười liên hoa. Con nhà phật có khác nét đẹp thật thanh tao, dịu hiền làm cho chúng tôi có cảm giác gần mà xa.
Vinh danh nhà sư công an Thích Bảo Nghiêm, khi công an đội lốt tu hành.
1
ảnh: Thích Bảo Nghiêm trong bộ quần áo ngụy trang đang liếc mắt, sóng tình dào dạt
Nhâm nhi chén trà ướp sen anh nói, Vu Lan có bận gì đâu, tổ chức đã sắp đặt đâu vào đó cả rồi, hôm nay ngủ muộn vì tối qua còn phải giảng kinh cho nữ thí chủ đây, anh kể, vì có 15 năm tuổi đảng và công tác tốt trong ngành an ninh nên được cử giữ chức Ủy viên thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo VN, Phó trưởng ban thường trực Giáo hội Phật giáo HN, bởi vậy những câu nữ thí chủ hỏi về liên quan giữa đảng và đổi mới anh đều trả lời một cách hoàn hảo.
 
Anh nói đảng là đầu tầu kéo cả nước đi lên ấm no hạnh phúc.
 
Thí chủ thắc mắc: đầu tầu này xuất xưởng năm 1930, chạy từ đó đến nay đã quá cũ, tiếng động ồn (nổ to như nghị quyết) than cháy khói đen xì làm sao đuổi kịp thế giới.


Có lẽ nên bán phế liệu. Anh nói bán cũng phải tìm người mua chứ, hay bán cho viện bảo tàng xe lửa thế giới ở London.
 
Nữ thí chủ lại chất vấn khẩu hiệu "Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội“ ý là thế nào. Phải chăng đạo pháp, dân tộc là hai thứ tốt, là con nhà lành đi với CNXH là thứ dữ là thằng mất dạy, đạo pháp, dân tộc muốn cảm hóa CNXH thành thứ tốt? Anh Nghiêm giảng, học cái tốt thì khó chứ theo cái xấu rất dễ. Thí chủ thắc mắc vậy thì thằng CNXH mất nết nó làm hỏng cả đạo pháp và dân tộc rồi cũng nên. Khổ thế đấy, cứ vặn vẹo mãi. Thôi đành kể chuyện làm ví dụ để thí chủ mau ngộ.
 
Ngày kia, anh Nghiêm đi thăm hỏi nhân dân, gặp đồng chí công an nọ. Anh Nghiêm hỏi: đảng đã làm gì cho các anh? Anh công an đáp, đảng đã cho tôi nhà để ở, cho tôi xe để đi. Thế thì đảng lo cho dân tốt quá rồi còn gì anh Nghiêm kết luận.
 
Đi một đoạn thấy em thanh niên xung kích, anh Nghiêm lại hỏi: đảng đã làm gì cho các em? Em thanh niên xung kích trả lời, đảng đã cho em điện thoại di động, tiền sinh hoạt hàng tháng. Thế thì đảng lo cho dân tốt quá rồi còn gì anh Nghiêm kết luận.
Đến cuối con đường thấy một em cave cao cấp đang ngồi chơi, anh Nghiêm hỏi: đảng đã làm gì cho chị? chị cave nói, đảng đã cho tôi nhà để ở, cho tôi xe để đi, cho điện thoại di động, tiền sinh hoạt hàng tháng.


Anh Nghiêm giật mình thốt lên, thế thì đảng của Nghiêm, đảng của Bác là đảng tốt nhất trên thế giới, từ xưa tới nay chưa có đảng nào bao gái triệt để và toàn diện như đảng cộng sản Việt Nam. Hoan hô đảng! Hoan hô bao gái! Hoan hô đảng bao gái!
 
Dưới đây là một số hình ảnh các chiến sỹ công an sinh hoạt tại "chiến trường“.
1
ảnh: Chàng sư công an để râu rất sành điệu

ảnh: Fan hâm mộ tặng hoa, chiến sỹ vỗ tay rầm rập.

1
1
Sư an ninh hội nhập thế giới với Fanta, Cola (chú ý tranh treo tường).
đọc thêm: Lật mặt an ninh mật v trong gii tu hành.
1
Sự thật về ông Thanh Tứ, khi những con quỷ mặc áo cà sa.
Thích Thanh Tứ tên cúng cơm là Trần Văn Long, bản sao giấy khai sinh mẫu TP/HT 1999-A 2 a Số 69 trong hồ sơ ứng cử đại biểu quốc hội khóa 12 ghi năm sinh là 1927, người xã Song Mai, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Vốn không phải con nhà phật, gia đình không tôn giáo như nhiều gia đình khác ở miền bắc xã hội chủ nghĩa.

Long nhập ngũ, đi bộ đội nhiều năm, không có thành tích và cống hiến gì đặc biệt. Nhiều người cùng thời gian nhập ngũ với Long kể lại chuyện vì có tình cảm trên mức bình thường với mấy cô thôn nữ ở Hải Hậu Nam Định khi đóng quân tại địa phương mà Long bị kỷ luật.
Sau năm 1975 Long chuyển từ quân đội sang an ninh và bắt đầu thâm nhập vào hàng ngũ phật giáo miền bắc.

Từ năm 1980 nhận nhiệm vụ vào miền nam lôi kéo, đánh phá Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Kể từ đó Long được thăng thưởng nhanh đến nay đã là Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giáo phẩm Hòa Thượng. Vì cùng ngành dọc với nhau, lại thường xuyên gặp gỡ trao đổi với bên công an nên nhiều khi cái đuôi mật vụ lòi ra nhất là lúc trả lời phỏng vấn. Long từng khen việc đàn áp phật giáo, bắt sư, giam phật tử bằng câu “ Tôi nghĩ anh em Công an đã làm việc rất đúng“, cái tình đồng đội anh em thể hiện quá rõ, quá lố bịch.
Hiện Long "trụ trì“ chùa Quán Sứ, số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngôi chùa cổ kính này dưới sự chỉ đạo của Long đã biến thành hang ổ ăn chơi khét tiếng, nhiều ni cô, tín nữ, vãi trẻ đã tức tưởi ra đi, người hoàn tục, kẻ về quê lấy chồng hoặc tự vẫn mà ni cô Thích Bảo Hòa là một ví dụ. Mặc dù giữ giáo phẩm cao, tuổi cũng đã lớn nhưng Long vẫn hay khoe khoang những chiến tích lúc còn trong quân ngũ để lòe bịp phụ nữ nhẹ dạ cả tin.

Với chân đại biểu quốc hội Long hay lấy le với đồng đạo bằng cách trả lời, xuất hiện thường xuyên trên báo chí, truyền hình, đặc biệt Long rất thích chụp ảnh cùng lãnh đạo đảng, nhà nước. Vì không được đào tạo chính quy như những tu sĩ phật giáo trong nam ví dụ Thích Hiển Pháp (đại học phật giáo), Thích Chơn Thiện (tiến sĩ phật học, cử nhân triết học) nên Thanh Tứ không được coi là người có trình độ, bù vào Tứ rất năng động trong việc hiến đất nhà chùa cho ủy ban nhân dân các cấp cũng như chỉ đạo tay chân đưa nhiều đối tượng hình sự cộm cán vào giáo hội để lũng đoạn và nguy hại hơi là phá hỏng đạo pháp. Chỉ có Long mới nghĩ ra cái trò hề, tù nhân mãn hạn với 5 năm quản chế tại địa phương nếu chịu "đi tu“ vào chùa một năm (làm việc cho an ninh) thì tha án quản chế.
 
Thanh Tứ rất lèm nhèm trong việc đưa tiền cứu trợ lũ lụt cũng như nạn nhân chất độc da cam. Tứ từng ký hợp đồng mua mỳ ăn liền, chăn màn với công ty tư nhân để ăn tiền hoa hồng, đoàn cứu trợ giáo hội gồm một bầy nhăng nhố nam nữ lẫn lộn, khi nghỉ tại khách sạn Du Lich Công Đoàn Hồ Goong - Nghệ An năm 2005 đoàn của Tứ toàn thuê phòng đôi và sau khi rời khỏi khách sạn còn bị cán bộ khách sạn kêu ca vì sinh hoạt bừa bãi.
 
Tóm lại việc phá hoại phật pháp tại Việt Nam đã được đảng và chính phủ theo đuổi nhiều năm nay, những ngón đòn hiểm
độc liên tiếp được tung ra, hiện tượng những con quỷ mặc áo cà sa rất phổ biến.
THICH QUANG BAO LA AI ?
1
1
Cùng với quyết định của UBND Tỉnh Nghệ An, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cử Đại đức Thích Quảng Bảo trụ trì chùa.
Ngày 17 tháng 4 năm 2011, tức là ngày 15 tháng 3 Tân Mão, lễ động thổ Chùa Chung Linh được tiến hành.

Tham gia lễ động thổ khởi công khôi phục chùa có Thượng tọa Thích Nhuận Châu - chủ trì, cùng sự tham gia của các các sư thầy Thích Nhuận Phước, Thích Đồng Khâm, Thích Nhuận Đỗ, Thích Đồng Đại, Thích Nhuận Vĩ, Thích Chí Tích, các quý thầy, quý cô ở Thái Bình.
 
Sau đây là những hình ảnh tại buổi lễ:
1
Đại Đức Thích Quảng Bảo là ai?
Quý vị nào có thêm tin tức về Đại Đức Thích Quảng Bảo, xin vui lòng liên lạc với Sở Di Trú/Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ.
Tại Cali có ông Đại Đức Thích Quảng Bảo mới nhập cảnh từ Việt Nam được vài năm. Ông Đại Đức này thuộc tăng đoàn chùa Kim Sơn miền Bắc Cali (Tel: 408-848-1541).

Tuy nhiên, ngài không muốn ở trên núi Kim Sơn quanh năm vắng lạnh, mà lại thích ngao du xuống vùng Little Saigon tận miền Nam Cali. Tại vùng này có rất nhiều chùa chiền, nhưng Đại Đức Thích Quảng Bảo cũng không muốn nương cửa Phật, mà cứ quyết tâm đi xin tá túc loanh quanh trong nhà của các nữ Phật tử, dù đã có lần ngài bị phật tử đuổi ra khỏi nhà như đuổi tà ma.

Là người gốc Bình Định thuộc miền Trung Việt Nam, nhưng Đại Đức Thích Quảng Bảo vẫn luôn khuyên răn Phật tử không nên tin dân miền Trung. Cũng theo lời Đại Đức Thích Quảng Bảo, rất nhiều chùa chiền ở miền Đông Hoa Kỳ đang muốn thỉnh ngài về trụ trì nhưng ngài chưa nhận lời.

Đại Đức Thích Quảng Bảo tên thật là Nguyễn Văn Canh, sinh năm 1976.

Ngài vốn theo học tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam, một trường đào tạo sư quốc doanh để củng cố cho giáo hội Phật Giáo của nhà nước cộng sản Việt Nam. Điều không ai dám ngờ là bài Luận văn Cử nhân Phật học vào năm 2001 của Đại Đức Thích Quảng Bảo được phổ biến trên trang web Buddhism Today http://www.buddhismtoday.com/viet/diemsach/tamlyhocPG.htm)
thật ra chính là bản cóp bi 100% bài viết của Thượng Tọa Thích Chơn Thiện, cùng được phổ biến trên trang web Buddhism Today (
http://www.daophatngaynay.com/viet/ddtamly/tamlyhocPG.htm).

Hiện nay ngài đang nương náu trong nhà một nữ phật tử ở vùng Fountain Valley, gần Little Saigon. Đại Đức Thích Quảng Bảo cũng đang chuẩn bị lập riêng một hội non-profit để bá tánh tiện dịp cúng dường riêng cho ngài.

Quý vị nào có thêm tin tức về Đại Đức Thích Quảng Bảo, xin vui lòng liên lạc với Sở Di Trú/Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ.

U.S. Immigration and Custom Enforcement: 1-866-347-2423
From: Philip Ho <
Subject: Xin quý vị đề cao cảnh giác với các lọai Sư, Tăng này
To:
Date: Tuesday, August 21, 2012, 7:29 AM
----- Forwarded Message -----
From: Huong Vo <

To:
Sent: Tuesday, August 21, 2012 7:09 AM
Subject: Xin quý vị đề cao cảnh giác với các lọai Sư, Tăng này
1
Đại Đức Thích Quảng Bảo
Xin quý vị đề cao cảnh giác với các lọai Sư, Tăng này
* TU VIỆN KIM SƠN BẢO LÃNH SƯ QUỐC DOANH ĐẾN MỸ ĐỂ LÀM GÌ? Đại Đức THÍCH QUẢNG BẢO, tăng sư quốc doanh do CSVN gửi vào Hoa Kỳ ẩn trú trong vùng Little Saigon, California từ mấy năm nay.
 
THÍCH QUẢNG BẢO, tên thật là NGUYỄN VĂN CANH, sinh năm 1976 tại miền Trung Việt Nam, tốt nghiệp “Học viện Phật Giáo VN tại Thành phố Hồ Chí Minh” (là một lò đào tạo tăng sư quốc doanh do CSVN thành lập từ 1983).
 
Thích Quảng Bảo đã công khai viết bài trên trang web “Đạo Phật Ngày Nay” để giới thiệu và xin hỗ trợ cho “Học viện Phật Giáo VN tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
 
 
Thích Quảng Bảo được tu viện KIM SƠN (miền Bắc Cali) bảo lãnh từ VN sang Hoa Kỳ mấy năm nay cùng với một số sư tăng quốc doanh khác.

Mặc dầu do tu viện KIM SƠN bảo lãnh nhưng Thích Quảng Bảo không sống trong tu viện KIM SƠN, mà lâu nay sống bí ẩn trong nhà một Phật tử tại Fountain Valley , gần Little Saigon, miền Nam Cali. Thích Quảng Bảo cũng ghi danh theo học tại CSU Long Beach từ nhiều năm nay.
 
Đối với trường hợp nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện tôn giáo (R-1 Religious Worker Visa), luật di trú Hoa Kỳ đòi hỏi cơ sở tôn giáo bảo lãnh phải cung cấp nơi cư trú và trả lương (phải có W2s) cho người được bảo lãnh, và người được bảo lãnh theo diện này sau khi đến Mỹ chỉ được phép làm việc cho cơ sở tôn giáo bảo lãnh mình..
 
Trường hợp Thích Quảng Bảo được tu viện KIM SƠN bảo lãnh nhưng không cư trú tại tu viện KIM SƠN ở miền Bắc Cali, không làm việc cho tu viện KIM SƠN, mà lại dọn về sống với Phật tử ở miền Nam Cali và theo học ở CSU Long Beach, là một bằng chứng cụ thể cho thấy tu viện KIM SƠN và Thích Quảng Bảo đã vi phạm các điều kiện quy định bởi luật di trú Hoa Kỳ đối với trường hợp nhập cảnh theo diện tôn giáo.

Ngoài ra, sự kiện này cũng cho thấy tu viện KIM SƠN bảo lãnh sư tăng từ VN rõ ràng không phải vì nhu cầu cần thêm tăng sĩ cho tu viện.
 
Sau khi tin tức này được loan tải trên internet vài tuần qua và sự kiện cũng đã được báo cáo với cơ quan di trú Hoa Kỳ để điều tra, Thích Quảng Bảo đã rời khỏi nhà của Phật tử ở Fountain Valley, trở về tu viện KIM SƠN ở miền Bắc Cali.
 
CSVN đang ồ ạt gửi cán bộ đội lốt tăng sĩ Phật giáo vào Hoa Kỳ trong kế hoạch khống chế Phật giáo tại đây. Thành phần này đang núp sau lưng và giật dây các sư hổ mang gây chia rẽ và lũng đoạn Phật giáo ở hải ngoại.

Xin cảnh giác để nhận diện những sư tăng quốc doanh này, hầu hết đều vào Hoa Kỳ theo diện tôn giáo dưới sự bảo lãnh của các chùa và tu viện Phật giáo.
 
Nếu thấy có sự khả nghi về hành tung của những cán bộ CS đội lốt sư tăng nói trên, xin báo cáo ngay với U.S. Immigration and Custom Enforcement: 1-866-347-2423
 

Xin Đừng Coi Thường Luật Pháp
 
Tác giả bài viết: Billy Hùng... sưu tầm
Nguồn tin: Vietstaronline.com

Đặt HôChíMinh ngang hàng với Phật là cảnh "Chó nhảy bàn độc !"

Đặt HôChíMinh ngang hàng với Phật là cảnh "Chó nhảy bàn độc !"
http://community.vietfun.com/showthread.php?t=855687
Dương Thu Hương: “30 tháng Tư 75, nền văn minh đã thua chế độ man rợ”




(Đinh Quang Anh Thái)

Dương Thu Hương nổi tiếng không những về những tác phẩm như Thiên Ðường Mù, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Khải Hồn Mơn, Chốn Vắng… mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm và bị công an đe dọa “nghiền nát như tương.” Hiện nay, Dương Thu Hương tỵ nạn tại thủ đô Paris của nước Pháp. Dù xa quê nhà, bà vẫn luôn thao thức về tình hình tại Việt Nam. Tháng Tư năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương đã trả lời cuộc phỏng vấn sau đây do Đinh Quang Anh Thái (ĐQAT) thực hiện và phát thanh trên làn sóng của đài Little Saigon Radio ở California.

ĐQAT: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?

Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.

ĐQAT: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?

Dương Thu Hương: (cười khẩy)Ðó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như tại Việt Nam (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình.

ĐQAT: Bà có thể nói rõ hơn?

Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Ðối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Ðội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý Luận Nghiệp Vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường. Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.

ĐQAT: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ?

Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.

ĐQAT: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của các con của bà tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?

Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục. Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Ðứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt.

ĐQAT: Khi lớn lên, các con của bà có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?

Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: Mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.

-ĐQAT: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?

Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép. Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.

ĐQAT: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?

Dương Thu Hương: Không! Ðối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.

ĐQAT: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người “làm giặc” ngay tại Hà Nội; tại sao vậy, thưa bà?

Dương Thu Hương: Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.

ĐQAT: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?

Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Ðơn giản như vậy thôi.

ĐQAT: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự trù phú vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

Dương Thu Hương: (thở dài)Ðiên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm giếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.

ĐQAT: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?

Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Ðúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét. Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động),tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.

ĐQAT:Cám ơn bà đã dành thì giờ trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

Nguồn:Nhật Báo Người Việt


http://www.hennhausaigon2015.com/2012/19254/

Đặt HCM ngang hàng với Phật là cảnh "Chó nhảy bàn độc !"

CHÚNG TA BIẾT QUA VỀ DẢI GAZA.


Subject: BIẾT QUA VỀ DẢI GAZA

 

 

KÍNH THƯA CÁC NT VÀ CÁC BẠN

NHỮNG NGÀY QUA THẾ GIỚI XÔN XAO VỀ ISRAEL KHÔNG KÍCH DẢI GAZA

- CHÚNG TA BIẾT QUA VỀ DẢI GAZA.

 

Dải Gaza


tka23 post


Bản đồ Dải Gaza từ cuốn The World Factbook.

قطاع غزة
Qita' Ghazzah
Các Ngôn ngữ chính thức
(Domari cũng được sử dụng)
Diện tích
 - Tổng  - % nước
(không xếp hạng)
360 km² 0%
Dân số
 - Tổng  - Mật độ
(không xếp hạng)
1.376.289 (tháng 7, 2005 ước tính) 3.823/km² (tháng 7, 2005 ước tính)
Tiền tệ
1 New Israeli sheqel
(NIS) = 100 Agorot
Vùng thời gian
UTC +2/+3

   Dải Gaza là một dải đất hẹp ven biển dọc theo Địa Trung Hải, ở Trung Đông, về mặt pháp lý không được quốc tế công nhận là một phần của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào.

 Tên của nó được đặt theo tên thành phố chính Gaza. Đây là vùng lãnh thổ có mật độ dân số cao nhất trên thế giới, với khoảng 1.4 triệu người sống trên khu vực diện tích 360 km². Dải Gaza thuộc quyền tài phán của Chính quyền Palestine, và họ cũng kiểm soát biên giới của Dải Gaza với Ai Cập. Israel kiểm soát không phận và đường bờ biển. Theo lập trường chính thức của Palestine vùng đất này vẫn nằm dưới sự chiếm đóng quân sự, và rằng Israel giữ quyền chiếm giữ quyền lực. Chính phủ Israel không chấp nhận điều đó, đặc biệt sau sự rút quân của Israel năm 2005.

 



 Bối cảnh


Về mặt địa lý, Dải Gaza là phần cực tây của các lãnh thổ Palestine ở Tây Nam Á, có biên giới  với Ai Cập ở phía tây nam và Israel ở phía bắc và phía đông. Ở phía tây,  giáp với Biển Địa Trung Hải.

Các biên giới của Dải Gaza ban đầu được xác định bởi các ranh giới đình chiến giữa Ai Cập và Israel sau Chiến tranh Ả rập-Israel năm 1948, diễn ra sau sự tan rã của nước Palestine ủy trị của Anh.  Bị Ai Cập chiếm (trừ giai đoạn bốn tháng xâm chiếm của Israel trong cuộc Khủng hoảng Suez) cho tới khi bị người Israel chiếm năm 1967 trong cuộc Chiến tranh sáu ngày.

  Năm 1993, sau những thỏa thuận hòa bình giữa Palestine-Israel, được gọi là Thỏa thuận Oslo, đa phần Dải Gaza được chuyển nằm dưới quyền kiểm soát giới hạn của Chính quyền Palestine. Tháng 2, 2005 chính phủ Israel biểu quyết áp dụng kế hoạch đơn phương rút quân của Thủ tướng Ariel Sharon khỏi Dải Gaza bắt đầu từ ngày 15 tháng 8, 2005.

   Kế hoạch này yêu cầu dỡ bỏ toàn bộ các khu định cư của người Israel tại đó, và dời toàn bộ người định cư cùng các căn cứ quân sự khỏi Dải Gaza, một tiến trình được hoàn thành vào ngày 12 tháng 12, 2005 khi chính quyền Israel chính thức tuyên bố kết thúc giai đoạn cai trị quân sự ở Dải Gaza sau 38 năm kiểm soát. Việc rút quân bị tranh cãi gay gắt bên trong những người theo đường lối chủ nghĩa quốc gia cấp tiến ở Israel, đặc biệt là những người theo xu hướng chủ nghĩa quốc gia tôn giáo, và một số người ủng hộ những xu hướng đó hiện coi Dải Gaza là một phần lãnh thổ Israel bị chiếm đóng. Sau khi rút quân, Israel vẫn giữ quyền kiểm soát lãnh hải và không phận Dải Gaza. Israel đã rút khỏi "Đường Philadelphi" liền sát với biên giới của Dải Gaza với Ai Cập sau một thỏa thuận với nước này nhằm bảo đảm biên giới phía họ. Tương lai tình trạng chính trị của Dải Gaza vẫn còn chưa được quyết định, và được coi là một phần của bất kỳ một nhà nước Palestine nào trong tương lai.

 Dân số



  • tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 21.3 chết/1.000 trẻ [1]
  • khả năng sinh sản: 4.7 trẻ/phụ nữ [2]
  • Tỷ lệ tăng trưởng dân số: 2.8% [3]:

 Địa lý



Dải Gaza nằm ở Trung Đông (tại 31°25′B, 34°20′Đ). Nó có biên giới dài 51km với Israel, và biên giới dài 11km với Ai Cập, gần thành phố Rafah. Khan Yunis nằm cách 7km về phía đông bắc Rafah, và nhiều thị trấn nằm dọc theo bờ biển giữa nó và Thành phố Gaza. Beit Lahia và Beit Hanoun nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố Gaza.

Khối Gush Katif của những khu định cư Israel được dùng làm nơi đi ra gần nhất của Rafah và Khan Yunis, dọc theo bờ phía tây nam dài 40km của Biển Địa Trung Hải.

Dải Gaza có khí hậu ôn hòa, với mùa đông ấm áp, mùa hè nóng và thường bị hạn hán. Đất đai phẳng hay nhấp nhô, có nhiều cồn cát gần bờ biển. Điểm cao nhất là Abu 'Awdah (Joz Abu 'Auda), ở mức 105 mét trên mực nước biển. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên gồm đất đai có thể trồng cấy (khoảng một phần ba diện tích được tưới tiêu), và gần đây đã khám phá ra khí gas tự nhiên. Các vấn đề môi trường gồm sa mạc hóa; mặn hóa nguồn nước ngọt; xử lý nước thải; các bệnh từ nguồn nước; suy thoái đất; và giảm sút cùng ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đây được coi là một trong mười lăm vùng đất được gọi là "Cái nôi của Nhân loại."

Hiện nó còn giữ những di tích cổ nhất còn lại của một đám lửa đốt rác do con người tạo ra và một số trong những bộ xương người cổ nhất thế giới.

 Kinh tế


   Kinh tế của Dải Gaza đã giảm một phần ba từ 1992 đến 1996. Sự sụt giảm này phần lớn vì tham nhũng và quản lý kém của Yasser Arafat và các chính sách phong tỏa của Israel—sự ép buộc đóng cửa biên giới để trả đũa các vụ tấn công khủng bố vào Israel—đã phá vỡ các mối quan hệ thị trường lao động và hàng hóa được lập nên trước đó giữa Israel và Dải Gaza. Hậu quả tồi tệ nhất của sự suy giảm này là tình trạng thất nghiệp gia tăng.

Việc áp dụng biện pháp phong tỏa toàn diện của Israel đã giảm bớt trong những năm gần đây và vào năm 1988, Israel đã đưa ra các biện pháp mới nhằm giảm bớt các hậu quả của việc phong tỏa và các biện pháp an ninh khác đối với việc di chuyển hàng hòa và lao động của Palestine vào Israel. Những thay đổi đó đã khiến cho nền kinh tế Dải Gaza phục hồi đáng kể trong ba năm liền. Sự phục hồi kinh tế này chỉ chấm dứt khi phong trào al-Aqsa Intifada nổ ra vào ba tháng cuối năm 2000. al-Aqsa Intifada khiến cho các lực lượng an ninh Israel (IDF) kiểm soát và phong tỏa chặt chẽ biên giới cũng như thường xuyên hạn chế việc đi lại bên trong những vùng tự trị của người Palestine, gây ảnh hưởng lớn đến di chuyển thương mại và lao động.

  Năm 2001, và thậm chí còn nghiêm trọng hơn vào đầu năm 2002, sự xáo động quốc tế và những biện pháp quân sự của Israel trong những vùng tự trị của Palestine đã phá hủy các cơ sở kinh tế và hành chính của vùng này, mở rộng việc phong tỏa khiến GDP của Dải Gaza giảm mạnh. Một yếu tố chính khác khiến giảm sút thu nhập của vùng là việc hạn chế số người Palestine được phép vào làm việc tại Israel. Sau khi Israel rút quân khỏi Dải Gaza, một lần nữa họ lại cho phép công nhân Palestine vào Israel làm việc nhưng từ sau khi Hamas lên nắm quyền sau cuộc bầu cử nghị viện năm 2006., Israel đang có ý định giảm bớt và chấm dứt cho phép người Palestine được vào Israel làm việc.

Trong thời gian những người định cư Israel còn ở tại Dải Gaza, họ đã xây dựng những nhà kính và thực nghiệm những biện pháp canh tác mới. Những nhà kính đó cũng là nơi cung cấp hàng trăm việc làm cho người Palestine ở Gaza. Khi Israel rút quân khỏi Dải Gaza vào mùa hè năm 2005, các nhà kính đó được Ngân hàng thế giới mua lại và trao cho người dân Palestine để khôi phục nền kinh tế của họ. Đa số những nhà kính đó hiện được các nông dân Palestine sử dụng, dù đã có những vụ cướp phá xảy ra ở vài nơi.

Theo CIA World Factbook, GDP năm 2001 giảm 35% xuống mức thu nhập trên đầu người còn $625 một năm, và 60% dân số hiện sống dưới mức nghèo khổ. Các ngành công nghiệp tại Dải Gaza nói chung là nhỏ và đều là kiểu sản xuất gia đình với các sản phẩm dệt may, xà phòng, điêu khắc trên gỗ cây ô liu và các đồ thủ công mỹ nghệ làm từ vỏ trai; người Israel đã thành lập một số ngành công nghiệp ở mức độ nhỏ tại một trung tâm công nghiệp. Điện do Israel cung cấp. Các sản phẩm nông nghiệp chính là ô liu, chanh, các loại rau, thịt bò, và các sản phẩm sữa. Xuất cảng chính là chanh và hoa, trong khi nhập cảng gồm thực phẩm, các loại hàng tiêu thụ, và các vật liệu xây dựng. Đối tác thương mại chính của Dải Gaza là Israel, Ai Cập, và Bờ Tây.

 Sức khỏe


Một cuộc nghiên cứu do Đại học Johns Hopkins (USA) và Đại học Al-Quds (tại Jerusalem)  CARE International vào cuối năm 2002 cho thấy tỷ lệ thiếu ăn rất cao trong số dân Palestine. Việc nghiên cứu cho biết 17.5% trẻ em 6 tuổi–59 tháng bị suy dinh dưỡng kinh niên. 53% phụ nữ ở tuổi sinh đẻ và 44% trẻ em bị thiếu máu. Hậu quả của việc rút quân Israel từ tháng 8 và tháng 10 2005, hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Gaza tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức. [4].

 Giao thông và thông tin liên lạc




Phần đã bị hư hại của phi trường quốc tế Yaser Arafat

Dải Gaza có một hệ thống đường xá nhỏ và kém phát triển. Nó cũng có một đường sắt đơn theo khoảng cách tiêu chuẩn chạy dọc toàn bộ chiều dài từ phía bắc đến phía nam; tuy nhiên, nó đã bị bỏ hoang và không được sửa chữa, và chỉ ít phần tuyến đường còn sót lại. Tuyến đường này từng được nối với hệ thống đường sắt Ai Cập ở phía nam và hệ thống đường sắt Israel ở phía bắc.

Vì sự bùng nổ của phong trào Al-Aqsa Intifada, cảng duy nhất của Dải Gaza đã không bao giờ được hoàn thành. Sân bay của Dải Gaza, Sân bay quốc tế Gaza, đã mở cửa vào ngày 24 tháng 11 1998 như một phần trong những điều kiện của thỏa thuận Oslo II và Bản ghi nhớ sông Wye ngày 23 tháng 10 1998. Sân bay đã bị đóng cửa vào tháng 10 năm 2000 theo lệnh của Israel, và đường băng của nó đã bị Các lực lượng phòng vệ Israel phá hủy vào tháng 12, 2001. Từ đó nó được đổi tên thành Sân bay quốc tế Yaser Arafat.

  Dải Gaza có một hệ thống dịch vụ viễn thông yếu kém dùng dây dẫn trần cũng như các dịch vụ điện thoại di động do PalTel (Jawwal) hay các nhà cung cấp dịch vụ của Israel như Cellcom điều hành. Tại Dải Gaza có bốn nhà cung cấp dịch vụ internet hiện đang cạnh tranh nhau về các dịch vụ dial-up và ADSL. Đa số các gia đình tại Dải Gaza đều có một TV (70%+), và khoảng 20% có một máy tính cá nhân. Người dân sống tại Dải Gaza có thể sử dụng dịch vụ vô tuyến vệ tinh (Al-Jazeera, và các chương trình giải trí của Li Băng và Ai Cập vân vân), các kênh tư nhân địa phương và các chương trình TV của Công ty truyền hình Palestine, Cơ quan truyền hình Israel và Cơ quan truyền hình số hai Israel.

TỔNG HỢP

 

Châu Á -Thái Bình Dương đàm phán về 2 khu vực mậu dịch tự do khổng lồ


 
Châu Á -Thái Bình Dương đàm phán v 2 khu vc mu dch t do khng l




Từ trái sang phải: Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Cam Bốt Hun Sen, Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda tại thượng đỉnh ASEAN + 3.

REUTERS/Damir Sagolj

Trọng Thành


Theo AFP hôm nay 20/11/2012, lãnh đạo các nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có cuộc gặp bên lề hội nghị thượng đỉnh Đông Á tại Cam Bốt, để chính thức khởi động đàm phán thành lập khu vực mậu dịch tự do, trong bối cảnh ba quốc gia Đông Bắc Á có nhiều căng thẳng về chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, dự án « Đối tác kinh tế toàn khu vực » (RCEP), một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới, bên ngoài WTO, bao gồm 16 nước Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có ba quốc gia kể trên, cũng ra mắt.


Thỏa thuận giữa ba quốc gia chủ chốt của nền kinh tế Châu Á có mục đích tạo thành một trong các khu vực thương mại tự do quan trọng nhất thế giới. Hiện tại Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đứng thứ nhì và thứ ba trên thế giới về kinh tế. Theo số liệu điều tra của chính phủ Nhật, tổng lượng trao đổi thương mại giữa ba quốc gia kể trên vào năm 2011 là 514,9 tỉ đô la.

Các lãnh đạo và các nhà ngoại giao ba nước Đông Bắc Á hy vọng rằng những tranh chấp về chủ quyền biển đảo sẽ không cản trở các đàm phán thương mại, thậm chí việc thúc đẩy đám phán có thể cho phép làm dịu các căng thẳng.

Theo người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, thỏa thuận trao đổi tự do Đông Bắc Á cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của sự hợp tác Đông Á nói chung, và thỏa thuận này là « một phương tiện quan trọng cho việc hình thành một thỏa thuận thương mại rộng hơn của khu vực ».

Theo các nhà phân tích, thỏa thuận giữa ba nước Đông Bắc Á có thể là một trụ cột của thỏa thuận « Đối tác kinh tế toàn khu vực » (RCEP – Regional Comprehensive Economic Partnership), một dự án kinh tế lớn cũng ra mắt hôm nay tại Phnom Penh.

Theo dự án kinh tế này, thì ngoài ba nền kinh tế lớn của Châu Á kể trên, còn có 10 thành viên của ASEAN, Ấn Độ, Úc và New Zealand. Dự án trên cho phép biến 16 nước với khoảng 3,5 tỉ dân và 23.000 tỉ đô la GDP, thành một thị trường thống nhất. Khu vực kinh tế này, nếu được thành lập, sẽ chiếm 1/3 sản lượng kinh tế toàn cầu và là vùng trao đổi thương mại tự do lớn nhất hành tinh, bên ngoài Tổ chức Thương mại Thế giới.

Hiện tại, Trung Quốc đang có tranh chấp chủ quyền với bốn quốc gia trong Đối tác kinh tế toàn khu vực (RCEP). Đó là các nước Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei.

Trả lời AFP, Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan nhấn mạnh : « Cần nỗ lực tách biệt hai lĩnh vực này (trao đổi thương mại và tranh chấp chủ quyền). Sự hội nhập về kinh tế cần phải đi trước… bởi vì tất cả mọi người sẽ được hưởng lợi từ kiến trúc (kinh tế) mới này ».

Tổng giám đốc thương mại quốc tế của Indonesia Iman Pambagyo bày tỏ hy vọng rằng, những quan hệ thương mại mật thiết hơn giữa các quốc gia có tranh chấp có thể giúp cho việc giải quyết tốt hơn các đối đầu về lãnh thổ, vốn kéo dài từ hàng chục năm nay.

 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link