Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, November 27, 2012

Vấn đề với Thế chiến lược Ngõng Trục, Đóng Chốt (Pivot) của Hoa Kỳ


Vn đ vi Thế chiến lược Ngõng Trc, Đóng Cht (Pivot) ca Hoa K

GS Tôn Thất Trình



 

             Vì vậy tuy không biết gì nhiều về quân sự, chúng tôi vẫn cố gắng lạm bàn ý kiến phần lớn về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay và tương lai của giáo sư khoa học chánh trị Robert S. Ross, viện đại học Boston, đồng thời là Phó Trung tâm John King FairBank Center về Nghiên cứu Tàu- Chinese Studies, viện đại học Harvard, nguyệt san Ngọai Giao – Foreign Affairs đăng tải số các tháng 11- 12 năm 2012. Trong chuyến viếng thăm Đông Nam Á sắp tới, tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ hai Obama có thay đổi gì chánh sách “mới” thế chiến lược Ngõng trục, Đóng Chốt- Pivot nhiệm kỳ một không đây ?

Chánh sách mới ( so với thời tổng thống Bush) theo Ross là không cần thiết và chống lại phong phú

Kể từ khi Đặng Tiểu Bình mở toang nền kinh tế Trung Quốc vào cuối thập niên 1970, Trung Quốc đã thành công tăng thêm quyền lực, tài sản và sức mạnh quân sự, trong lúc đó vẫn duy trì cộng tác và liên hệ thân thiện với các quốc gia khác, ngoại trừ Đặng Tiểu Bình bênh Khmer Đỏ xâm lăng miền Bắc Việt Nam, tàn phá 20 thị trấn nhỏ lớn Việt Nam.
 
Nhưng cách đây vài năm, Trung Quốc tuồng như thay đổi đường lối, cư xử theo một phương cách tha hóa, làm các lân bang lánh xa và tạo dựng một nghi ngờ ở ngọai quốc. Tháng 12 năm 2009, Trung Quốc chống lại hòa giải ở Hội Nghị Thay Đổi Khí Hậu Liên hiệp Quốc, làm phật lòng các quốc gia Âu Châu và Hoa Kỳ. Rồi thì, sau khi Hoa Kỳ bán võ khí cho Đài Loan tháng giêng 2010, Chánh phủ Trung Quốc ngưng đàm phán an ninh cao cấp Hoa Kỳ – Trung Quốc lần đầu tiên và tuyên bố nhũng trừng phạt chưa bao giờ thấy, đánh vào các công ty Hoa Kỳ có ràng buộc với Đài Loan ( dù nay vẫn chưa rỏ rệt là các trừng phạt có gây ra tai hại đáng kể không ).
 
Cũng vào tháng bảy năm 2010, Bắc Bình nổi giận phản đối các dự tính thao diễn hải quân của Hoa Kỳ và Nam Hàn ở Hòang Hải ( Biển Vàng ) – Yellow Sea. Tháng 11, Trung Quốc phê bình gay gắt Nhật Bổn bắt giữ thuyền trưởng một tàu đánh cá Trung Quốc đã va chạm dữ dội tàu Bảo An Bờ biển – coast guard ship Nhật ở vùng bờ biển còn tranh chấp.
 
 Để đối đầu những lọat hồi đoạn bất ổn này, Bắc Bình đã thốt ra những lời thù địch quá đáng đối với các quốc gia dân chủ và đặt ra những trừng phạt kinh tế đối với Na Uy – Norway, sau khi Ủy Ban Nobel tưởng thưởng Liu Xiao Bo – Lưu tiểu Ba ( ? ) nhà họat động tích cực cho Tàu Dân Chủ giải thưởng Nobel Hòa Bình, tháng 10 năm 2012.
 
Chỉ trong vòng vài tháng ngắn ngủi, Trung Quốc đã mất đi phần lớn những gì Trung Quốc tích tụ được sau nhiều năm bàn luận về “ Nâng cao Hòa Bình- Peaceful Rise” .

Lúc đó, rất nhiều nhà phân tích giải thích tình huống gây hấn của Trung Quốc là một dấu hiệu quốc gia càng ngày càng tự tin. John Pomfret viết ở báo The Washington Post, lưu ý rằng Bắc Bình đang biểu lộ “ một thái độ mới hân hoan chiến thắng”.
 
Trung Quốc đang vào thời kỳ thăng tiến nên ý kiến này tiếp tục, và quyền hạn mới có của Trung Quốc đã thuyết phục các nhà lảnh đạo Tàu là họ có thể tạo dạng mọi sự cố ở Á Châu hơn từ bao giờ hết. Cho nên năm 2010, chánh quyền Obama khởi xướng cái gọi là “Ngõng trục, Chốt Đóng-Pivot” ở Á Châu, một đổi thay chiến lược nhắm vào cũng cố các thắt chặc phòng vệ của Hoa Kỳ với các quốc gia trong vùng và nới rộng sự hiện diện của hải quân Hoa Kỳ ở đó.
 
 Yếu tố ngọai giao chiến lược được trình bày năm 2011, khi bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta tái bảo đảm các đồng minh Hoa Kỳ, nhiều đồng minh ngấm ngầm nuôi lo ngại về thăng tiến Trung Quốc, rằng “ Hoa Kỳ vẫn duy trì hiện diện ở Thái Bình Dương một thời gian lâu dài”.
 
 Lo âu về một Trung Quốc mới, võ đóan và có cơ trở thành một lực lượng tạo bất ổn, Tòa Bạch Ốc chuyễn động hầu chống trả lại mọi cảm giác là Hoa Kỳ yếu kém đi, bằng cách tăng cường sự hiện diện Hoa Kỳ trong vùng.

Tuy nhiên, tiếc thay, đổi thay này căn cứ trên một cách đọc căn bản sai lầm về lảnh đạo Trung Quốc. Ngọai giao cứng rắn của Bắc Bình nguồn gốc không phải là niềm tự tin về sức mạnh của mình – các nhà lảnh đạo Trung Quốc từ lâu đã hiểu rỏ là quân sự Trung Quốc vẫn còn thua kém đáng kể quân sự Hoa Kỳ- mà là một cảm giác sâu đậm không an ninh, phát sinh từ nhiều năm căng thẳng thần kinh của khủng hỏang tài chánh và rối lọan xã hội. Đối diện với những thách thức này, và không còn đủ khả năng trông cậy vào hổ trợ dễ dàng

tăng trưởng kinh tế quốc gia nữa, các nhà lảnh đạo Trung Quốc di động để giữ vững tính chất hợp pháp phổ thông của họ, bằng cách thoa dịu một dân gian mỗi ngày mỗi ý thức dân tộc chủ nghĩa mạnh hơn với những điệu bộ vũ lực tượng trưng.

Xem xét hành vi Trung Quốc theo ánh sáng này, những hiểm nguy của chiến lược Ngõng trục trở thành rỏ ràng. Chánh sách mới của Hoa Kỳ đã không cần thiết, pha trộn sự thiếu an ninh của Trung Quốc và chỉ châm thêm lữa cho thái độ Trung Quốc gây gổ, phá hại ngầm mức ổn định trong vùng và giảm bớt khả dĩ hòa hợp cộng tác giữa Bắc Bình và Hoa Thịnh Đốn.
 
 
Thay vì ước lượng lạm phát sức mạnh của Trung Quốc và rời bỏ chánh sách lâu đời hứa gặp mặt ngọai giao, đáng lý ra Hoa Kỳ đã phải công nhận nổi yếu kém nằm phía dưới và những sức mạnh dai dẳng của Trung Quốc. Chánh sách đứng đắn về Trung Quốc phải là làm khuây khỏa , không phải là khai thác, những lo ngại của Bắc Bình, trong khi phải bảo vệ quyền lợi Hoa Kỳ trong vùng .

Cọp giấy gầm thét

Quyết định tiếp tục chánh sách đóng chốt- ngõng trục, căn cứ trên tiền đề là Trung Quốc mới mẽ bạo dạn thêm lên thách thức các quyền lợi Hoa Kỳ và phá hại ngầm ổn định vùng, rất đơn giản là vì nó có thể nhờ sức mạnh quân sự tăng gia, giúp thực hiện ngoại giao năng nổ dễ dàng hơn, hấp dẫn hơn so với quá khứ. Trong phiên điều trần tháng 3 năm 2010 ở Quốc hội Hoa Kỳ, đô đốc Robert Willard, lúc đó là Chỉ huy Lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, khẳng định là những tiến triễn quân sự gần đây của Trung Quốc đã “thật là đáng kinh ngạc”.
 
Tuy nhiên, sự thật là Hoa Kỳ đã ước lượng thái quá khả năng quân sự Trung Quốc. Dù cho Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân – the People’s Liberation Army ( PLA ) đã tiến mạnh kể từ năm 1979, khi nó bối rối vì yếu kém hiệu năng trong chiến tranh ngắn ngủi với Viêt Nam( khiến Đặng Tiểu Bình chủ tịch Ủy Ban Quân sự Trung Ương phải rút lui quân, sau khi huyên hoang tuyên bố là đã dạy Việt Nam một bài học ), sức mạnh quân đội Trung Quốc vẫn còn rất giới hạn. Trong mười năm qua, PLA vẫn chưa dàn trải thêm được một tàu thủy hay tàu bay mới mẽ nào cả hầu có sức tăng cường khả năng thách thức ưu thế Hoa Kỳ trên biển. Khí cụ chánh của Trung Quốc để chống trả Hải Quân Hoa Kỳ và ngăn cản một can thiệp Hoa Kỳ ở các xung đột Á Châu ,vẫn là một hạm đội tàu ngầm diesel sử dụng từ giữa thập niên 1990.

Mọi chuyện đàm thọai về cận đại hóa hải quân Trung Quốc, PLA chỉ mới khởi sự làm ra một khu trục hạm – destroyer có hỏa tiễn hướng dẫn, số lượng và phẩm giá kém cõi so với hạm đội khu trục hạm lọai Aegis của Hoa Kỳ. Chỉ vào tháng 8 năm 2011, Bắc Bình mới tung ra một hàng không mẩu hạm – aircraft carrier đầu tiên – Hoa Kỳ hiện có 11 hàng không mẩu hạm – và hàng không mẩu hạm trung Quốc là một tàu chiến cũ kỷ và tương đối nhỏ mua của Nga.
 
Trung Quốc đang phát triễn các hỏa tiễn liên lục địa chống tàu thủy có cơ nhắm vào các hàng không mẩu hạm chở máy bay của Hoa Kỳ , nhưng Trung Quốc chưa chủ trì được kỷ thuật dàn trải các võ khí này. Chiếu theo báo cáo 2011 của Ngũ Giác Đài về quân sự Trung Quốc, ít hơn 30% của lực lượng trên mặt biển hải quân, lực lượng không quân và lực lượng phòng không và chừng 55 % hạm đội tàu ngầm PLA có thể được xem là cận đại. Tóm tắt , PLA vẫn còn chưa đủ khả năng thách thức ngự trị Hoa Kỳ ở biển hay lật ngược lại cán cân lực lượng trong vùng.

Trong vài năm vừa qua, Bắc Bình có nhiều điều đáng lo lắng hơn là các nhược điểm quân sự. Cuối năm 2008, khi các nhà lảnh đạo Tàu nhìn nhận là quốc gia mình không miễn nhiễm được các chấn động tài chánh rung chuyễn thế giới, Bắc Bình hỏang sợ trước viễn cảnh một đinh nhọn thất nghiệp nội địa và vội vã tài trợ một gói hàng kích thích đồ sộ trị giá 4 ngành tỉ đồng yuan ( khỏang chừng 570 tỉ đô la Mỹ ).
 
Nhưng điều này lại làm tình thế tệ hại hơn, nuôi nấng bất ổn định và mất cân bằng cơ cấu dài hạn ở nền kinh tế. Thành quả là các năm 2009- 2010, Trung Quốc đã trải qua một rối lọan kinh tế tệ hại nhất kể từ thập niên 1960, tiếp theo sau Bước Nhảy Vọt Mao Trạch Đông.

Giữa các năm 2008 và 2010, lạm phát tăng gia hơn 10 lần và tháng hai năm 2010, thủ tướng Ôn Gia Bảo – Wen jiaBao nhìn nhận là lạm phát tệ hại thêm, thành quả của gói hàng kích thích có thể “ phá hại ngầm ổn định xã hội”. Vào năm 2009 , giá cả nhà cửa ở các thành phố lớn đã vuợt quá lợi tức trung bình hàng tháng giới trung lưu chừng 20- 30%, cao hơn hẳn sác xuất Ngân Hàng Thế giới gợi ý.
 
Trong lúc đó, suốt đầu năm 2010, trong một cố gắng siết chặc cho vay, Ngân hàng trung ương Tàu liên tiếp tăng gia số lượng tư bản đòi hỏi các ngân hàng phải có ở dự trữ. Tuy nhiên, lạm phát tiếp tục gia tăng. Theo một nghiên cứu tháng 6 năm 2010, gần 60% dân Tàu báo cáo là giá cả đời sống “qúa cao để có thể chấp nhận được”. Từ năm trước, giá cả rau đậu – vegetable đã tăng thêm gần 25%, giá cả tỏi tăng thêm 10 lần, và giá trà – chè 20 % cao hơn .

Khi lạm phát cao giáng một đòn nặng nề, thất nghiệp và bất bình đẳng dâng lên: tỉ xuất dân thành thị thất nghiệp năm 2009 là cao nhất kể từ năm 1980. Chánh quyền đặc biệt lo sợ thất nghiệp ở các sinh viên tốt nghiệp đại học sẽ làm bất ổn các thị trấn Trung Quốc. Năm 2009, khoảng trên 7 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học không có việc làm, cho nên chánh phủ đã đầu tư 41 tỉ yuan ( chừng 6 tỉ $US ) để sử dụng họ ở nông thôn. Và khi nền kinh tế sa đọa đi, ngay cả Nhật báo Nhân dân –People’s Daily quốc doanh cũng đăng một bài bản nhìn nhận tình trạng.
 
Một hàng chữ đầu trang tháng 10 năm 2010 đăng “ Hố chia lợi tức đã đến một Điểm Nguy hiểm”. Phản ảnh lo ngại ở giới lảnh đạo là bất mãn to lớn có thể sùng sục sôi lên thành thù địch chống chánh phủ . Bài báo này cảnh báo là bất bình đẳng “ nuôi dưỡng những cảm giác tiêu cực chống lại kẻ giàu có- sung túc” và “ chuông báo động đang kêu rền” . Báo tiếp tục : “ Bắc Bình không nên và cũng không thể làm ngơ vụ này”.

Thất nghiệp và bất bình đẳng này sản xuất ra lọai bất ổn, chính Bắc Bình lo sợ như vậy. Theo các con số của chánh phủ “ sự việc xảy ra to lớn”- định nghĩa là các phản đối bất hợp pháp 5 người hay hơn nữa đã làm gián đọan trật tự công cọng – đã tăng từ 120 000 vụ năm 2008 lên đến trên 180 000 vụ năm 2010 . Ở nổi lọan năm 2009 tại Thập Châu ( ? ) - Shishou tỉnh Hồ Bắc – Hubei, 70 000 dân chúng đối đầu với cảnh sát trong một sự vụ mà Hàn lâm viện Khoa học Xã Hội Tàu, một cơ quan nghiên cứu chánh sách chiến lược thuộc chánh phủ, xem đó là “một nổi lọan đường phố nghiêm trọng nhất” kể từ năm 1949. Các nhà khoa học xã hội viện nay đã biện cứ là tăng gia hình tội dữ dội và rối lọan dân sự năm 2009 phản ảnh thất nghiệp nông thôn lớn hơn nữa và là thành quả tăng trưởng của một dân gian ăn không ngồi rồi va bị đẩy ra ngọai vi.
 
Năm 2010, Quách Bình Thanh ( ? ) – Guo Binsheng chánh biên tập viên chánh của Cơ quan báo chí chánh thức Thanh Hoa – Xin Hua cũng cảnh báo là Trung Quốc đã lạc vào một thời kỳ “ xung đột xã hội chưa giải quyết” và nhiệm vụ làm ổn định …. sẽ rất khó khăn” . Đối diện bất ổn gia tăng, và nhu cầu tránh khỏi một khủng hoảng tính chất hợp pháp, khiến Bắc Bình không còn lựa chọn nào khác hơn là thoa dịu một giới cán bộ tinh thần dân tộc ( quốc gia) chủ nghĩa cứng rắn, muốn phóng lên một hình ảnh Trung Quốc kiên cường trên thế giới.

Rạng Đông Hồng

Đảng Cọng Sản Tàu từ lâu đã đề xướng chủ nghĩa dân tộc, quốc gia- nationalism đễ giữ vững tính chất hợp pháp của mình, nhưng suốt nhiều thập niên mới đây phát triễn kinh tế mau lẹ, dân gian Tàu tụ điểm nhiều vào tiến triễn kinh tế hơn là chánh trị. Tuy nhiên khi khủng hoảng tài chánh tòan cầu đánh mạnh năm 2008, Bắc Bình không còn có thể chỉ trông cậy đơn giản vào thành công kinh tế. Trong lúc đó, chủ nghĩa quốc gia đã dâng cao. Ngay cả khi những nhà làm chánh sách chóp bu của đảng cũng đã thông suốt những yếu kém nước nhà, tuy vậy nhiều dân Tàu vẫn tin tưởng là khủng hỏang tài chánh tòan cầu đã ra dấu hiệu là Trung Quốc đã lên cao đến cực điểm vị thế một cường quốc.
 
Các năm 2008 và 2009, khi Hoa Kỳ rơi vào tình trạng khủng hỏang, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 10% . Và lảnh đạo Tàu đề cao các thành công của PLA, gồm các sứ mệnh chống đạo tặc – antipiracy missions, chương trình không gian và tiên tiến về máy bay quân sự , gợi ý cho dân gian Tàu là Trung Quốc đang đuổi kịp Hoa Kỳ và như vậy cần phải chấp nhận một chánh sách ngọai giao kiên cường hơn. Tháng giêng 2010, sau khi Hoa Kỳ tuyên bố bán võ khí cho Đài Loan, các nhà lảnh đạo dư luận Tàu và các kẻ sử dụng tiếng nói Internet mỗi ngày mỗi nhiều hơn, biện cứ cho những trừng phạt chống lại các công ty quốc phòng Hoa Kỳ, đã tham dự các thương thảo bán võ khí này.

Rồi đến tháng chín 2010, tranh chấp giữa Bắc Bình và Tokyo về vụ bắt giữ thuyền trưởng tàu đánh cá, trở thành một đề tài được truy cập nhiều nhất ở Internet Trung Quốc, một dấu hiệu cho thấy công chúng Tàu đã nổi giận đến dường nào về vấn đề này. Ở báo chí chánh thức, Phong Triệu Quí( ? ) – Feng Zhaokui, một chánh chuyên viên về Nhật Bổn của viện Hàn lâm Khoa học Xã Hội biện cứ là “ nay đã hết thời đại Trung Quốc có thể bị đối xử tàn tệ theo ý kiến ngọai quốc rồi !” Dù cho chánh quyền cố gắng dẹp yên, kêu gọi phản đối vẫn luân chuyễn trên Internet, gây ra nhiều biểu tình, không những trước cửa tòa đại sứ Nhật mà còn ở dinh thự bộ Ngọai Giao Tàu nữa.

Khi tình cảm quốc gia vươn lên và các vấn đề kinh tế, chánh trị khuấy đục đất nước, các nhà lảnh đạo Trung Quốc lo âu cho vị thế công cộng của đảng và lo sợ bất ổn nhân dân đã thích nghi cùng các nhà quốc gia Tàu với chánh sách ngọai giao và hùng biện cứng rắn. Thành quả là một tư thế không nhân nhượng các năm 2009- 2010, không những đã tha hóa các lân bang Trung Quốc mà còn nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ngọai giao mới mẽ này đánh chuông báo nguy khắp Đông Á về Trung Quốc vươn dậy, khiến Hoa Kỳ đã phải nhảy vào hầu giải quyết giữ gìn các cân quyền lực trong vùng.

Tham dự chấm dứt

Vài khía cạnh chiến lược của tổng thống Obama ở Á Châu xây đắp trên các chánh sách các chánh quyền Mỹ trước đó. Hoa Thịnh Đốn đã cung cấp thêm tài nguyên cho vùng kể từ năm 1997, khi Hoa kỳ trước hết chuyễn một tàu ngầm từ Âu Châu về Guam. Rồi thì các chánh quyền Clinton và George W. Bush dàn trải mọi lọai võ khí hải quân và không quân đến Guam và Nhật Bổn , cộng tác với Singapore thiết lập cơ sở cho hàng không mẩu haạm ở Căn cứ Hải Quân Changi, củng cố cọng tác quốc phòng với Nhật và Phi Luật Tân. Chánh quyền Bush chuyễn thêm một hàng không mẩu hạm khác cho chiến trường Thái Bình Dương. Năm 2005, Ngũ Giác Đài tuyên bố là đưa 60% tàu ngầm Hoa Kỳ vào Á Châu. Suốt các chiến tranh I Rắc và A Phú Hãn, tài trợ quân sự cho chiến trường Thái Bình Dương vẫn ở mức cao.

Những chánh sách này làm thành một trả lời hửu hiệu cho việc Trung Quốc vươn dậy. Nhưng sau các lập trường không nhân nhượng của Trung Quốc năm 2009 và năm 2010, Hoa Thịnh Đốn phải đối diện với một vấn đề tín nhiệm : các đồng minh Đông Á nêu câu hỏi là liệu Hoa Kỳ, sa lầy trong một khủng hỏang kinh tế tệ hại nhất kể từ thời Suy Thóai Lớn – Great Depression, có thể nào đấu tranh với một Trung Quốc tuồng như tự tín và đủ khả năng hơn không ? Phần lớn nhằm thoa dịu bớt những lo sợ này, Hoa Kỳ chuẩn bị chứng minh rắng Hoa Kỳ có thể duy trì các cân sức mạnh trong vùng.

Chánh sách đóng chốt của chánh quyền Obama gồm tăng gấp đôi những cố gắng chánh quyền tiền nhiệm. Hoa Thịnh Đốn nới rộng các thao diễn hải quân chung với Nhật để sửa sọan cho việc bảo vệ các đảo tranh chấp, đạt những thỏa hiệp mới bán võ khí cho Phi Luật Tân và gần đây nhất , vào tháng tư năm 2012, thỏa thuận đưa Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đến Úc Châu. Chánh quyền Obama cũng tái lập hợp tác phòng vệ với Inđônêxia và Tân Tây Lan. Những chánh sách thận trọng này đã tái đảm bảo, làm an tâm các đồng minh Mỹ cam kết của Hoa Thịnh Đốn cho ổn định trong vùng.

Thế nhưng chánh quyền cũng đã đảo ngược chánh sách Hoa Thịnh Đốn lâu dài tham dự- engagement với Trung Quốc, quay đầu trở lại về những sáng kiến đắt tiền, nghĩa là lực lượng quá chênh lệch cho mối đe dọa từ Trung Quốc. Còn về những tranh chấp về Trường Sa – Spratley Islands ( Tàu gọi là Nam Sa ) ở Biển Đông ( Mỹ khác với Úc ? còn gọi là Nam Hải Tàu- South China Sea ), các chánh quyền quá khứ đã đủ khả năng ngăn ngừa các nước mạnh trong vùng phải tiến lên xâm lăng, bằng cách làm minh bạch nói rằng quyền lợi Hoa Kỳ muốn duy trì tự do giao thông. Tuy nhiên, ngọai trưởng Hillary Clinton đã nhét trực tiếp Hoa Kỳ vào những tranh chấp phức tạp trên phương diện pháp lý. Tháng bảy năm 2010 ở Hà Nội, sau những thảo luận sâu rộng với mọi bên đòi chủ quyền các đảo Trường Sa ngọai trừ Trung Quốc, Clinton tuyên bố là Hoa Kỳ hổ trợ quan điểm đàm phán của Phi Luật Tân và Việt Nam. Quyết định làm bối rối ( theo quan điểm của Ross ) là vì những đảo này không có mấy giá trị kinh tế, không giàu tài nguyên khoáng sản và chúng có tầm quan trọng chiến lược bé nhỏ, vì chúng quá bé để họat động quân sự .

Hoa Kỳ cùng đã, không cần thiết, thách thức Bắc Bình bằng cách cũng cố hiện diện quân sự ở lục địa Đông Á. Nhìn nhận là lực lượng Hàn Quốc- Nam Hàn ít đòi hỏi Hoa Kỳ hổ trợ hơn hầu xử lý mối đe dọa từ Bắc Hàn, chánh quyền Bush rút về 40 % quân lính Hoa Kỳ ở Hàn Quốc, chấm dứt dàn trải quân đội từ Hán Thành- Seoul đến vùng phi quân sự chia đôi Nam và Bắc Hàn, và giảm kích thước cũng như mức thường xuyên thao diễn quân sự Hoa Kỳ – Nam Hàn. Chánh quyền Obama đã đảo ngược khuynh hướng này.
 
Trong ba năm qua, Hoa Kỳ đã thực hiện những thao diễn quân sự chung lớn nhất với Hàn Quốc kể từ Chiến Tranh Triều Tiên- Korean War và tăng gia hiện diện quân đội ở Nam Hàn. Hoa Kỳ và Hàn Quốc cũng đã đạt nhiều thỏa thuận quốc phòng mới, và đầu năm 2012, Ngũ Giác Đài tuyên bố dự tính nâng cấp khả năng quân sự Hoa Kỳ ở bán đảo Triều Tiên, mặc dù sự kiện là khả năng quân sự Nam Hàn đã cải thiện rộng rãi tương đối với khả năng của chế độ Bắc Hàn, mỗi ngày mỗi lọan chức năng.

Cùng lúc Hoa Kỳ cũng đã cũng cố sự hiện diện ở Đông Dương. Kể từ đầu thập niên 1990, các chánh quyền Hoa Kỳ kế tiếp nhau đã cự tuyệt mong muốn của Việt Nam thắt chặt phòng vệ-quốc phòng đáng kể hơn. Hoa Thịnh Đốn đã hiểu rỏ rằng nếu muốn có liên hệ hợp tác với Bắc Bình, Hoa Kỳ phải cần nhìn nhận là Trung Quốc có một cá cược quyền lợi chiến lược trong vùng lớn hơn Hoa Kỳ nhiều.
 
 
Nhưng năm 2010, bà Clinton và bộ trưởng quốc phòng lúc đó la Robert Gates cả hai đều viếng thăm Hà Nội ( Clinton hai lần) Bộ trưởng ngọai giao Hoa Kỳ kêu gọi cộng tác chiến lược Hoa Kỳ – Việt Nam, và cuối năm 2010 lần đầu tiên sau chấm dứt Chiến Tranh Việt Nam ( lần thứ hai , lần thứ nhất 1945- 54 là với Pháp ) Hoa Kỳ đã thực hiện huấn luyện chung hải quân cùng Việt Nam. Từ đó, hải quân Hoa Kỳ đã thao diễn hàng năm cùng hải quân Việt Nam và năm 2011, hai quốc gia kỳ một một bản ghi nhớ hiểu biết -memorandum of understanding về cộng tác phòng vệ – defense cooperation. Trong lúc đó, Hoa Kỳ cũng củng cố hợp tác với Cam Bốt và năm 2010 , Cam Bốt đã gia nhập “ Cộng tác để Sẳn sàng ở Mặt biển và Huấn luyện” do Hoa Kỳ dẫn đạo, một lọat thao diễn hải quân song phương hàng năm trong vùng. Năm 2010, bà Clinton dứt khóat cảnh báo Nam Vang – Pnom Penh đừng trở thành quá phụ thuộc Trung Quốc .

Cuối cùng , chánh quyền Ohama ( nhiệm kỳ I ) đã đề xướng một liên minh biển ở Nam Hải ( Biển Đông Viêt Nam ). Hầu bổ sung các mối thắt chặc giữa Phi Luật Tân và Việt Nam, Nhật Bổn ký kết những minh ước với hai quốc gia này, mở rộng cộng tác quốc phòng cùng nhau và trao đổi quân sự. Năm 2012, quân sự Úc Châu, Nhật Bổn và Hàn Quốc lần đầu tiên tham gia các thao diễn quân sự hàng năm của Hoa Kỳ và Phi Luật Tân tên gọi là Balikatan, có nghĩa là vai kề vai.

An ủi chống lại máy móc

Các nhà lảnh đạo Trung Quốc, lẽ dĩ nhiên, không bằng lòng về những thỏa hiệp, minh ước vừa kể. Nhưng những bước này thật sự rất cần thiết cho nền an ninh Hoa Kỳ, đã xảy ra xa biên cương Trung Quốc và do những chánh sách các chánh quyền tiền nhiệm Hoa Kỳ xây đắp lên. Khi Hoa Thịnh Đốn xen trực tiếp vào các tranh chấp chủ quyền Trung Quốc và tăng gia hiện diện ở biên giới Trung Quốc, Bắc Bình nhìn thấy chánh sách Hoa Kỳ xa hẳn đường lối quá khứ này , rất là vô cớ, bành trướng và đe dọa. Như chờ đợi từ một uy quyền quốc gia đang phải đối đầu với môi trường suy thóai chiến lược, Trung Quốc đẩy lui mạnh chống lại thế đóng chốt, tung ra những chánh sách cụ thể thay vì là những từ chương năng nổ gây hấn Trung Quốc sử dụng trong quá khứ.

Một thành quả là Trung Quốc đã bỏ mọi cố gắng sử dụng đòn bẩy của mình trên Bắc Hàn hầu nước này bỏ chương trình hạt nhân. Từ năm 2011, Bắc Bình đã đại thể tăng viện trợ thực phẩm cho Bình Nhưỡng – Pyongyang , nhập khẩu nhiều hơn tài nguyên khóang sản Bắc Hàn và đầu tư đáng kể vào hầm mỏ, hạ tầng cơ sở và công nghệ chế tạo Bắc Hàn. Trung Quốc cũng đã rút lui hổ trợ đàm phán sáu phe về chương trình hạt nhân Bắc Hàn, khiến Hoa Kỳ đã phải thảo luận song phương với Bắc Hàn. Trong khi Bắc Hàn tiếp tục phát triễn khả năng võ khí hạt nhân.

PLA cũng đặt áp lực trên các lân bang Trung Quốc đã tăng cường hợp tác phòng vệ- quốc phòng với Hoa Kỳ. Mùa xuân năm 2011, căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Bình leo thang, khi tàu tuần dương Trung Quốc quấy rối tàu nghiên cứu động chấn ở vùng biển tranh chấp và nhiều sĩ quan Tàu đề nghị dùng vỏ lực chống lại hải quân Việt Nam.
 
Tương tự như vậy, Trung Quốc chạm trán ở biển đầu năm 2012 cùng Phi Luật Tân về bải cát Scarborough Shoal tranh chấp, gợi ý là Trung Quốc sẽ đẩy mạnh chống lại các nước trông cậy vào Hoa Kỳ giúp đở họ trong các tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc phái đến những tàu tuần tra sẳn sàng chiến đấu để bảo vể chủ quyền mình về các bải cát này và sau khi Phi Luật Tân rút lui các tàu chiến,Trung Quốc thiết lập một sự hiện diện thường trực ở đây. Và cũng trong năm 2012, các hảng dầu lữa Trung Quốc tuyên bố những dự tính chưa bao giờ thấy, đào các giếng dầu trong các biển tranh chấp – các quốc gia khác đã hoạt động tích cực nơi đây từ lâu – và PLA hình thành một đơn vị quân sự đồn trú, có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lảnh thổ Trung Quốc ở Nam Hải. Từ đó, Trung Quốc luôn luôn cũng cố tích cực sự hiện diện của mình khắp các đảo và vùng biển tranh chấp.

Như các sự cố này gợi ý theo Ross là ngõng trục chánh quyền Obama đã không góp phần nào vào ổn định Á Châu. Trái lại : đã làm cho vùng này thêm căng thẳng và dễ xung đột nhau hơn . Các máy bay và tàu quân sự này tràn đầy không phận và biển cả trong vùng. Hoa Kỳ bị lôi cuốn vào nguy hiểm liên quan đến tình trạng thù địch trên các đảo không có gì là chiến lược và biên tế kinh tế ( cho Hoa Kỳ ).

Ngõng trục –Đóng chốt lại càng phức tạp thêm vì một môi trường chủ nghĩa dân tộc – quốc gia , không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở Nhật Bổn , Phi Luật Tân và Việt Nam. Hãy xem cái gì đã xảy ra tháng chín 2012, khi cảm xúc chống Trung Quốc ở Nhật đã làm áp lực Tokyo mua đảo dây chuyền, cả hai nước đều cho là của mình ( Trung Quốc gọi là các đảo Điếu Ngư- Điao yu và Nhật gọi là các đảo Lưu Kiều ? – Senkaku ).
 
Sau khi thống đốc Tokyo là Shintaro Ishihara , một nhà họat động ra mặt chống Trung Quốc, tỏ vẽ muốn mua các đảo này , một việc chắc chắn sẽ gây hấn với Bắc Bình, Chánh phủ Nhật mua ngay chúng, thay vì chận đứng cuộc mua bán. Tương tự Trường Sa, những đảo này không có gì mấy về chiến lược và trị giá kinh tể cả. Tuy vậy , chuyễn động Nhật này thách thức Trung Quốc về chủ quyền các đảo và gây ra biểu tình chống Nhật khắp Trung Quốc, làm ra những phá họai ngu xuẩn doanh nghiệp Nhật và tài sản chánh phủ. Phản đối kịch liệt tinh thần dân tộc – quốc gia này đưa Bắc Bình tới leo thang căng thẳng với Nhật. Ít nhất là 14 tàu tuần dương Trung Quốc kéo theo hàng trăm tàu đánh cá tới các đảo, sau khi chúng tiến vào các biển lảnh hải tranh chấp.

Trong lúc đó, Trung Quốc thách thức quyền lợi Hoa Kỳ ngòai Á Châu, vứt bỏ hợp tác hai nước đã cố gìn giữ nhiều năm qua, dẫn tới chánh sách đóng chốt, ngõng trục. Từ 2006 đến 2010, Trung Quốc bỏ phiếu năm lần các nghị quyết hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trừng phạt Ba Tư – Iran và năm 2012, Bắc Bình đe dọa phủ quyết trừng phạt Iran xuất khẩu dầu lữa. Sau khi Hoa Kỳ , các nước Âu Châu và Nhật Bổn độc lập thỏa thuận trừng phạt Iran xuất khẩu dầu lữa tháng giêng 2012, Bắc Bình đạt thỏa hiệp với Tehran mua dầu lữa Iran. Hơn nữa, Bắc Bình đã chận đứng các cố gắng Hoa Thịnh Đốn làm ngưng đổ máu ở Syria- Xi Ri, cản trở sáng kiến Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc và ủng hộ Mạc Tư Khoa –Moscow hổ trợ lảnh đạo Syria.

Họat động Hoa Kỳ tăng gia ở ngọai vi Trung Quốc khiến cho Trung Quốc kết luận rằng Hoa kỳ đã rời bỏ chiến lược tham dự- strategic engagement , nền tảng chánh sách Hoa Kỳ đối với Trung Quốc kể từ chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Ngược lại các chánh quyền tiền nhiệm, chánh quyền Obama đã gạt bỏ các quyền lợi an ninh hợp pháp của Trung Quốc ở các vùng biên cương, gồm luôn cả những vùng không khẩn thiết cho an ninh Hoa Kỳ. Bằng cách đe dọa và thách thức các tuyên bố chủ quyền Trung Quốc trên các lảnh thổ tượng trưng, Hoa Thịnh Đốn đã khuyến khích các nhà lảnh đạo Trung Quốc tin tưởng là chỉ có cách chấp nhận những chánh sách thù địch là nâng cao được khả năng Trung Quốc bảo đảm an ninh cho mình. Chính vậy nên mới thành một khôi hài lớn của chánh sách đóng chốt: một chiến lược làm ra để chận đứng một Trung Quốc đang vươn dậy, đã làm phát lữa tính hiếu chiến Trung Quốc và làm tai hại đến lòng tin vậy Tàu vào hợp tác.

Đóng chốt đã làm thiệt hại quyền lợi an ninh Hoa Kỳ rồi đó và phí tổn chỉ có thể tăng gia. Nếu Hoa Thịnh Đốn tiếp tục đường lối hiện hửu này, kháng cự Tàu đến các chánh sách Hoa Kỳ tất nhiên phải gia tăng, ngăn cản hợp tác song phương những vấn đề cực trọng, từ thương mãi đến ổn định kinh tế tòan cầu. Nổ bùng chiến cuộc trong vùng có thể xảy ra thật sự, khi Trung Quốc cố đẩy lui hiện diện Hoa Kỳ gia tăng ở biên giới mình và các mối căng thẳng chủ nghĩa dân tộc giữa Trung Quốc và các nước chung sức cho an ninh Hoa Kỳ trên những đảo tranh chấp không có nghĩa gì cho Hoa Kỳ cả thảy.( nhưng lại quan trọng cho các quốc gia nhỏ liên can như Phi Luật Tân và Việt Nam…) .

Ross kết luận : Hoa Kỳ có thể trả lời ngọai giao cứng rắn của Trung Quốc với những chánh sách vừa giữ vững trật tự cho vùng, vừa tối thiểu cơ hội xung đột Hoa Kỳ – Trung Quốc. Trong những năm tới, Hoa Thịnh Đốn phải tạo dựng lại hình dáng chánh sách Á Châu hầu phục hồi nhất trí các chánh quyền trước: là tăng gia hiện diện Hoa Kỳ ở lục địa Đông Á không khẩn thiết gì cả cho an ninh Hoa Kỳ và Hoa Kỳ phải tránh vướng rối vào các tuyên bố chủ quyền phức tạp trong vùng. Vì lý do Hải Quân Hoa Kỳ vẫn sẽ ngự trị trên các biển Á Châu, Hoa kỳ có thể làm an tâm các đồng minh về ý chí cương quyết chống lại Trung Quốc làm mất cân bằng , trong khi bình thản rút khỏi các tranh chấp biển và giảm bớt sự hiện diện của mình ở các biên cương Trung Quốc. Khi Trung Quốc vươn dậy, một chánh sách kiềm chế, hơn là gây hoang mang, sẽ phụng sự an ninh quốc gia Hoa Kỳ tốt đẹp hơn .

( Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ, ngày 17 tháng 11 năm 2012 )

 

Những vũ khí mạnh nhất của Israel



Phần 1: Chiến đấu cơ phản lực

Vũ khí đắc lực nhất mà quân đội Israel đang sử dụng nhằm không kích Dải Gaza chính là đội ngũ chiến đấu cơ hiện đại hàng đầu thế giới đang biên chế trong quân đội Tel Aviv. Không chỉ nhiều về số lượng, những loại chiến đấu cơ của Israel còn được liệt vào danh sách những loại máy bay chiến đấu hiện đại nhất thế giới.

Chiến đấu cơ Boeing F-15 Eagle


Chiến đấu cơ đa nhiệm F-15E Strike Eagle

Việc sở hữu đồng thời 2 phiên bản F-15 hiện đại nhất bao gồm F-15E (Strike Eagle) và F-15 SE (Silent Eagle) giúp tăng cường đáng kể sức mạnh của không quân Israel. Trước khi bị Boeing mua lại, F-15 Eagle là sản phẩm của tập đoàn chế tạo vũ khí McDonnell Douglas. Tuy nhiên, sau khi trở thành một phần của hãng hàng không lớn nhất nước Mỹ, McDonnell Douglas F-15 được đổi tên thành Boeing F-15 Eagle.

Được đưa vào phục vụ trong quân đội Mỹ vào năm 1976, F-15 Eagle cũng trở thành một phần của quân đội Israel vào những năm cuối thập niên 70. Vào thời điểm này, Nhật Bản và Ả Rập Xê Út cũng cùng với Israel trở thành những quốc gia đầu tiên sở hữu loại chiến đấu cơ F-15 Eagle hiện đại này.


Chiến đấu cơ tàng hình F-15 SE Silent Eagle

Tuy những chiếc F-15 Eagle sở hữu những thiết kế khá vượt trội, có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ tấn công trong mọi điều kiện thời tiết nhưng nó vẫn chưa đáp ứng được tham vọng của các nhà sản xuất. Chính vì lẽ đó, những chiếc F-15E Strike Eagle được ra đời vào năm 1989 để bù đắp những thiếu sót của người tiền bối.

Chưa dừng lại ở đó, Boeing tiếp tục sản xuất chiếc F-15SE Silent Eagle, với vật liệu thân có khả năng hấp thụ sóng radar trong khi giảm thiểu tối đa khí thải và tiếng ồn động cơ, giúp mẫu chiến đấu cơ F-15SE Eagle đuổi kịp những mẫu máy bay tàng hình đang ngày càng phổ dụng khắp thế giới. Chiếc F-15SE Silent Eagle đầu tiên cất cánh ngày 8/7/2010 với giá thành khoảng 100 triệu USD.


F-15SE được phát triển dựa trên mẫu thiết kế F-15E Strike Eagle nên chúng có những đặc tính cơ bản gần như giống nhau hoàn toàn. Với chiều dài 19,43m, sải cánh 13,05m, những chiếc F-15E có tải trọng tối đa lên tới 36.700 kg. Với 2 động cơ phản lực Pratt & Whitney F100, những chiếc F-15E có thể bay với vận tốc gấp 2,5 lần tốc độ âm thanh, tương đương 2.650 km/h.

Trần bay tối đa của F-15E lên tới 18.200m trong khi phạm vi hoạt động đạt 3.900km với 3 bình nhiên liệu phụ. F-15E sở hữu một súng máy 6 nòng với cỡ nòng 20mm/chiếc cùng 510 vòng đạn. Ngoài ra, nó còn có thể mang nhiều loại vũ khí, tên lửa dựa vào những giá treo gắn dưới thân và cánh. Tùy loại vũ khí, F-15E có thể đáp ứng nhiệm vụ đối không, đối hạm và đối đất hay đánh bom mục tiêu.

Chiến đấu cơ F-16 Fighting Falcon


General Dynamics F-16 Fighting Falcon là loại chiến đấu cơ đa nhiệm được phát triển cho không quân Mỹ. Tuy nhiên, khả năng chiếm ưu thế trên không vượt trội, dễ dàng đảm trách nhiều nhiệm vụ tấn công khiến F-16 Fighting Falcon trở thành loại máy bay khá được các đồng minh của Mỹ ưa chuộng. Tính tới hiện tại, 4.500 chiếc F-16 Fighting Falcon đã được sản xuất kể từ khi chiếc đầu tiên ra đời năm 1976.

Israel là một trong 25 quốc gia đang sở hữu và sử dụng chiến đấu cơ F-16 Fighting Falcon do Mỹ sản xuất. Dù không còn được Lầu Năm Góc đặt mua nhưng F-16 vẫn được sản xuất hàng loạt bởi sự đắt khách từ các thị trường khác nhau. Trong khi đó, F-16 Fighting Falcon vẫn đóng vai trò chưa thể thay thế trong không quân Mỹ.


Sở hữu thiết kế đặc biệt với phần buồng lái cao hơn hẳn so với thân máy bay, F-16 Fighting Falcon giúp phi công có điều kiện quan sát tốt nhất. Trong khi đó, hệ thống ghế ngồi nghiêng 30% giúp giảm tối đa trọng lực tác động lên phi công trong lúc bay liệng. F-16 Fighting Falcon còn sở hữu cần điểu khiển ở bên, giúp phi công dễ dàng hơn trong các thao tác. Đây cũng là chiến đấu cơ đầu tiên của Mỹ sử dụng hệ thống lái fly-by-wire, hỗ trợ tối đa cho phi công.

Tuy chỉ sở hữu một động cơ F110-GE-100 nhưng kích cỡ nhỏ và kiểu dáng khí động học cho phép “bé hạt tiêu” có khả năng bay với vận tốc 2.410km/h, nhanh gấp hơn 2 lần vận tốc âm thanh. Tuy chỉ dài 15,06m với sải cánh 9,96m nhưng trần bay tối đa của F-16 Fighting Falcon vẫn đạt trên 15.240m trong khi có thể bay lên cao với vận tốc 254m/s.


Trọng lượng cất cánh rỗng của F-16 Fighting Falcon đạt 8.570 kg trong khi tải trọng tối đa lên tới 19.200 kg, cho phép nó mang lượng vũ khí nặng gấp 2,5 lần trọng lượng máy bay. F-16 Fighting Falcon sở hữu một súng máy 6 nòng vỡ nòng 20mm với 511 vòng đạn. 11 giá treo dưới thân và cánh cho phép F-16 mang số vũ khí tương ứng, bao gồm bom và tên lửa các loại. Đặc biệt, F-16 Fighting Falcon có thể mang tối đa 3 bom hạt nhân B-61 do quân đội Mỹ sản xuất.

Máy bay cường kích F-4 Phantom


McDonnell Douglas F-4 Phantom là chiến đấu cơ cường kích đầu tiên trên thế giới, ra đời với mục đích hỗ trợ các lực lượng mặt đất trong tác chiến trên bộ. Là loạimáy bay chiến đấu phản lực 2 động cơ 1 chỗ ngồi, F-4 Phantom đảm trách vai trò đánh chặn phản lực di chuyển với vận tốc siêu âm, ném bom hỗ trợ bộ binh dưới mặt đất.

Có khả năng di chuyển với tốc độ trên Mach 2,2 (tương đương 2.400 km/h), F-4 Phantom còn có thể mang 8.400 kg vũ khí trên 9 giá treo dưới cánh và thân. Do đa nhiệm trong tác chiến, tên lửa của F-4 Phantom bao gồm cả đối không và đối đất cộng với bom các loại. Với khẩu pháo nòng xoay M61 Vulcan, F-4 Phantom còn có thể tiêu diệt đối phương ở khoảng cách gần.


Được ra đời năm 1959, F-4 Phantom liên tiếp phá 15 kỷ lục thế giới, trong đó có các kỷ lục bay cao, bay xa và bay nhanh nhất. Trước sự ra đời của F-15 Eagle và F-16, F-4 Phantom là máy bay đảm trách hầu hết các vai trò tác chiến trong không quân Mỹ. Tính tới thời điểm hiện tại, F-4 Phantom đang oạt động trong không quân 13 quốc gia bao gồm: Mỹ, Australia, Ai Cập, Đức, Anh, Hy Lạp, Iran, Israel, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.

Dù có nhiều biến thể khác nhau nhưng F-4 Phantom đều được phát triển từ phiên bản gốc với chiều dài 19,2m, sải cánh 11,7m. Những chiếc F-4 Phantom có trọng lượng cất cánh rỗng đạt 13.757kg trong khi tải trọng tối đa lên tới 28.030 kg. Với 2 động cơ General Electric J79-GE-17A, chiếc máy bay có thể di chuyển với vận tốc Mach 2,23 và bay cao 18.300m.


Ngoài tên lửa đối không, đối đất và bom thông thường, F-4 Phantom còn được thiết kế để mang nhiều bom hạt nhân bao gồm B28EX, B61, B43 hay B57 do Mỹ sản xuất. Đặc biệt, những chiếc F-4 Phantom mà quân đội Iran, đối thủ lớn nhất của Israel ở Trung Đông đang sở hữu còn được trang bị hàng loạt tên lửa của Nga và Trung Quốc nhưng khả năng hoạt động của máy bay vẫn không bị ảnh hưởng.

Chiến đấu cơ tàng hình Lockheed F-35 Lightning II


Là đồng minh thân cận nhất nhì của Mỹ giúp Israel dự kiến trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới có quyền sở hữu loại chiến đấu cơ tàng hình thế hệ thứ năm Lockheed F-35 Lightning II.

Với những công nghệ tàng hình hàng đầu thế giới cùng với sự hoàn hảo trong thiết kế, F-35 hứa hẹn mở ra một kỷ nguyên mới cho công nghệ máy bay tàng hìnhvới giá thành có thể chấp nhận được.

Sở dĩ, Israel trở thành một trong những quốc gia đầu tiên góp mặt trong hàng ngũ những quốc gia đầu tiên có thể sở hữu F-35 bởi những đóng góp của Tel Aviv trong việc nghiên cứu và chế tạo loại chiến đấu cơ đáng sợ này. Ngoài Israel, Anh, Itlay, Hà Lan, Australia, Canada, Na Uy, Đan Mạch, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản cũng là một phần chương trình F-35 đầy tham vọng của Mỹ.


Lockheed Martin F-35 Lightning II là loại chiến đấu cơ đa nhiệm 1 chỗ ngồi thuộc thế hệ thứ năm. F-35 ra đời nhằm mục tiêu tấn công mặt đất, trinh sát, thực hiện các nhiệm vụ phòng không nhờ khả năng tàng hình ưu việt. Các biến thể F-35 có thể cất cánh từ các loại đường băng dài hoặc ngắn khác nhau. Thậm chí, biến thể F-35C có khả năng cất cánh đứng, đáp ứng việc biên chế cho các tàu sân bay.

Với chiều dài 15,67m, sải cánh 10,7m và cao 4,33m, F-35 có trọng lượng cất cánh rỗng 13.300 kg trong khi tải trọng tối đa đạt 31.800 kg. Tuy chỉ sở hữu 1 động cơ đẩy Pratt & Whitney F135 nhưng chiếc phi cơ vẫn có khả năng bay với vận tốc trên 2.000km/h với tầm hoạt động 2.200 km, trần bay tối đa đạt 18,200m.


F-35 có thể mang nhiều loại tên lửa đối không, đối đất hoặc đối hạm. Ngoài ra, nó còn được trang bị bom các loại, trong đó có bom hạt nhân B-61 của quân đội Mỹ. F-35 còn sở hữu một súng máy 4 nòng xoay với cỡ nòng 25mm/chiếc, cho phép nó bắn hạ đối thủ khi giao chiến tầm gần.

Trực thăng tấn công AH-64 Apache


Boeing AH-64 Apache được coi là trực thăng tấn công hiện đại nhất thế giới do Mỹ nghiên cứu chế tạo. Với 4 cánh quạt và động cơ kép, trực thăng tấn công AH-64 Apache thực sự là sát thủ tầm thấp với khả năng không kích các mục tiêu dưới mặt đất và tiêu diệt chính xác xe bọc thép, xe tăng và các cứ điểm hỏa lực mặt đất của đối phương.

Lần đầu cất cánh vào tháng 9/1975, AH-64 Apache nhanh chóng khẳng định được mình và trở thành một trong những vũ khí chủ lực của quân đội Mỹ. Sau khi được ra mắt công khai vào tháng 4/1986, AH-64 Apache nhanh chóng được các nước đặt mua với mục tiêu tăng cường sức mạnh tấn công, giúp chiếm ưu thế dưới mặt đất.


AH-64 Apache sở hữu bộ cảm ứng đặc biệt gắn trước mũi, cho phéo nó phát hiện mục tiêu trong mọi điều kiện thời tiết, bất kể ngày hay đêm. Giá treo trên các cánh phụ cho phép AH-64 Apache mang được các giàn phóng rocket, tên lửa đối đất, đối không. Đặc biệt, phiên bản AH-64A được sản xuất nhằm thực hiện nhiệm vụ tấn công trên biển, sở hữu công nghệ và vũ khí cho phép nó hoạt động tốt nhất trong điều kiện môi trường đại dương.

Tính tới thời điểm hiện tại, AH-64 Apache đang là trực thăng tấn công chủ lực của Quân đội Mỹ, Hy Lạp, Nhật Bản, Israel, Hà Lan và Singapore. Ngoài ra, AH-64 Apache cũng là một phần không thể thiếu của quân đội Anh, từng tham chiến ở nhiều chiến trường trong đó nổi bật nhất là Afghanistan, Iraq và Kosovo. Quân đội Israel từng sử dụng trực thăng tấn công AH-64 Apache trong cuộc xung đột với Lebanon và đang đảm trách những vụ không kích trên Dải Gaza.


Trực thăng tấn công AH-64 Apache có chiều dài 17,73m, cao 3,87m, hoạt động dưới sự điều khiển của 2 phi công. Những chiếc AH-64 Apache có trọng lượng cất cánh rỗng 5.165 kg trong khi tải trọng tối đa lên tới 10.433 kg. Nó có thể di chuyển với cận tốc 365 km/h trong phạm vi 476 km. Trần bay tối đa của AH-64 Apache đạt 6.400m trong khi tốc độ bay lên thẳng đứng đạt 12,7 m/s.

Máy bay không người lái IAI Heron/Machetz-1


IAI Heron hay còn được biết đến với cái tên Machetz-1 là máy bay không người lái (UAV) do Israel nghiên cứu chế tạo. Là sản phẩm của Tập đoàn Công nghiệp Aerospace Israel (IAI), Heron ra đời nhằm mục đích khảo sát địa hình, theo dõi di chuyển của địch, ghi lại chính xác những hành động tình nghi hoặc thu thập dữ liệu tình báo trong những điều kiện nguy hiểm nhất.

Nhằm đáp ứng ứng những mục tiêu đó, Heron sở hữu khả năng bay khá ổn định với thời gian bay dài. Hệ thống thông tin liên lạc trang bị trên chiếc phi cơ cho nó giữ liên lạc tốt nhất với các lược lượng mặt đất trong tác chiến, kèm theo đó là khả năng truyền thông tin băng tần rộng, nhằm đưa dữ liệu tình báo về căn cứ.


Trên thực tế, Heron là một hệ thống bao gồm máy bay và các trung tâm điều khiển dưới mặt đất. Tuy nhiều chức năng như cất/hạ cánh được thiết kế tự động nhưng trên máy bay Heron vẫn được trang bị máy thu phát GPS để đảm bảo thông tin liên lạc với mặt đất qua vệ tinh, hay kết nối và truyền dữ liệu trực tiếp qua các trạm thu phát dưới mặt đất.

Tuy không được trang bị vũ khí nhưng bù lại, Heron sở hữu thiết kế ưu việt nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong mọi điều kiện thời tiết, bất kể ngày đêm. Trong nhiệm vụ giám sát được lên kế hoạch trước, Heron có thể tự cất cánh, bay và thu thập dữ liệu và đáp xuống căn cứ đã định theo đúng lịch trình được lên mà không cần sự can thiệp của con người.


Tuy chỉ dài 8,5m với sải cánh 16,6m, những chiếc Heron có khả năng cất cánh với trọng tải tối đa lên tới 1.150 kg. Sở hữu một động cơ làm mát bằng nước 115 mã lực, chiếc máy bay không người lái của Israel có thể di chuyển với vận tốc 207 km/h và hoạt động trong phạm vi 350 km. Trong khi đó, trần bay tối đa của Heron lên tới 9.300m với vận tốc bay lên đạt 150m/phút.

Được ra đời năm 2005, hiện có 206 chiếc Heron được Israel sản xuất để sử dụng hoặc đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. Khi Heron làm nhiệm vụ, cần tới 6 phi công để lái, giám sát và phân tích dữ liệu do chiếc máy bay gửi về. Với camera siêu nét được đặt dưới mũi cùng với hệ thống giám sát tinh vi khác, chiếc UAV thực sự là kẻ do thám đáng sợ.

Máy bay không người lái Elbit Hermes 450


Elbit Hermes 450 là máy bay không người lái hạng trung trong phi đội UAV từ số hiệu Hermes 90 tới Hermes 1500. Là sản phẩm của Tập đoàn Elbit Systems, Hermes 450 ra đời nhằm mục đích phục vụ các chiến thuật có thời gian dài. Trên thực tế, Hermes 450 chủ yếu được sử dụng nhằm đáp ứng nhiệm vụ trinh sát, liên lạc và là nền tảng giám sát của Lực lượng Không quân Israel.

Tuy nhiên, có những nguồn tin cho rằng, phiên bản nào đó của Hermes 450 được cải tiến để vũ trang, đáp ứng nhiệm vụ tấn công, tiêu diệt mục tiêu. Dẫu vậy, Israel vẫn chưa công nhận chính thức về nguồn tin trên.


Trên thực tế, Hermes 450 đang nhận được sự quan tâm ngày càng tăng của các nước trong những triển lãm hàng không quốc tế có sự hiện diện của nó. Trong khi đó, phía Israel cũng đang lên kế hoạch cho thuê hoặc bán trọn gói hệ thống Hermes 450 cho các nước có nhu cầu mua, bao gồm cả Mỹ, Anh, Singapore và Brazil.

Hình dáng bên ngoài của Hermes 450 rất giống với các thế hệ máy bay không người lái Predator của Mỹ. Tuy nhiên, thân những chiếc Hermes 450 hình ống, nơi chứa hệ thống dẫn đường, bộ tải trọng và hệ thống điều khiển cất và hạ cánh. Cánh máy bay trải dài trong khi camera độ nét cao được gắn dưới bụng cho phép Hermes 450 quan sát tốt nhất các mục tiêu. Tùy lựa chọn sử dụng để lắp thêm radar tăng cường trên thân Hermes 450.


Cũng giống như IAI Heron, Hermes 450 chỉ được trang bị duy nhất một động cơ cánh quạt. Chiều dài thân đạt 6,1m trong khi sải cánh đạt 10,5m giúp Hermes 450 cất cánh với tải trọng tối đa 450 kg. Trên thực tế, động cơ 52 mã lực của Hermes 450 giúp nó chỉ có thể bay với vận tốc 176km/h trong phạm vi 200 km. Trần bay tối đa của Hermes 450 cũng thấp hơn IAI Heron với 5.486m.

Ngoài những khả năng do thám, gián điệp hay hỗ trợ liên lạc thông thường, phiên bản Hermes 450 đặc biệt có thể trang bị 2 tên lửa chống tăng Hallfire. Hiện tại, có 100 chiếc Hermes 450 đang được biên chế và sử dụng bởi không quân Israel, trong đó không ít được sử dụng trên Dải Gaza.

Máy bay không người lái RQ-2 Pioneer


Được ra đời từ hơn 2 thập kỷ trước và lần đầu xuất hiện trong chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, RQ-2 Pioneer được xem là loại máy bay không người lái đầu tiên của Israel. Ban đầu, những chiếc RQ-2 Pioneer ra đời với mục đích làm mục tiêu giả cho pháo binh và hỏa lực tàu chiến tiêu diệt. Tuy nhiên sau đó, nó được sử dụng cho việc do thám chiến trường nhờ những cải tiến vượt bậc về mặt công nghệ.

Thiết kế của RQ-2 Pioneer được đánh giá sở hữu những lợi thế về khí động học với phần cánh đuôi khá dài so với thân máy bay. Trong khi đó, camera độ nét cao gắn ở phía mũi giúp RQ-2 Pioneer có thể giám sát và chụp ảnh mục tiêu. Hệ thống radar cùng thông tin liên lạc trang bị trên RQ-2 Pioneer giúp nó nhận lệnh điều khiển và truyền thông tin trở lại mặt đất.


Đặc biệt, những mẫu RQ-2 Pioneer hoạt động hoàn hảo ở cả 2 môi trường trên biển và trên đất liền, giúp chúng trở nên đa nhiệm trong các hoạt động giám sát. RQ-2 Pioneer có hệ thống giá phóng chuyên dụng để cất cánh từ mặt đất trong khi biến thể sử dụng giám sát biển được gắn rocket loại nhỏ, giúp RQ-2 Pioneer bay lên không trung.


Ra đời năm 1986, những chiếc RQ-2 Pioneer chỉ sở hữu 1 động cơ 2 thì 26 mã lực. Chính vì lẽ đó, chiếc máy bay dài 4m, rộng 5,2m chỉ có thể mang tối đa 205 kg. Tuy nhiên, kích cỡ nhỏ giúp RQ-2 Pioneer vẫn có thể bay được 200km/h với phạm vi hoạt động 185 km. Trần bay tối đa của RQ-2 Pioneer đạt 4.600m. Dù chỉ 20 chiếc RQ-2 Pioneer được sản xuất nhưng loại máy bay này đang góp mặt trong không quân 3 quốc gia, bao gồm Israel, Singapore và Mỹ.

 

CHỐNG CỘNG, XƯA RỒI!


 

CHỐNG CỘNG, XƯA RỒI!
 
NGUYỄN THIẾU NHẪN
 
Phải nói là tôi rất ứa gan khi đọc bài viết có cái tựa dài thoòng: "Suy nghĩ của tôi lúc gần đất xa trời về đất nước” trên diễn đàn điện tử của một ông có tên Đinh Xuân Dũng có đoạn (xin ghi nguyên văn y như ông ta viết) như sau:
 
Chống Cộng, xưa rồi! vì còn Cộng đâu mà chống, nó đã biến chất thành chế độ độc tài maphia đảng trị rồi! vì vậy chúng ta cần đấu tranh cho chế độ ấy lột xác, như Miến Điện đang từng bước thực hiện. Những nhà bình luận, muốn được thuyết phục, cần khách quan, đừng chủ quan ẩn ý.
 
Chế độ chính trị đâu có tồn tại mãi, nhất là chướng khí, cuồng phong thì lại chóng tàn, chỉ có tình dân tộc là bất diệt…”
 
Lập luận này thì cũng chẳng mới mẽ gì, y chang lập luận “Bây giờ có còn Việt Cộng đâu mà chống Cộng”của ông “Tiến sĩ đầu ruồi” trong cái gọi là Đại Hội Tập Thể Chiến sĩ Hải Ngoại tại Houston năm nào.
 
“Chống Cộng, xưa rồi! Vì còn Cộng đâu mà chống, nó đã biến thành chế độ mafia đảng trị rồi vì vậy không nên chống, mà cần phải đấu tranh cho chế độ ấy lột xác…”
 
Lập luận cù nhầy, ngu xuẩn này, nói theo phim kiếm hiệp của Kim Dung thì “bọn trí thức đầu ruồi này không nói đâu có ai nói chúng nó câm!”.
 
Như mọi người đều biết, năm ngoái, khi ông “giáo sư bưng bô VC có lai-sân” rủ rê 34 ông bà trí thức sa-lông, tháp ngà “ra” một cái “Thư Ngỏ” “bịt mắt, bắt dê” nặng mùi hôn đít bạo quyền VC còn hơn các ý kiến, thỉnh nguyện thư của các nhân sĩ, trí thức trong nước thực lòng muốn các nhà lãnh đạo Đảng CSVN sửa sai để tiếp tục… “muôn năm trường trị đất nước VN” thì lập tức, những âm thanh cuồng nộ của dư luận đã vang lên khiến “ông giáo sư bưng bô bằng miệng” phải la hoảng là những người chống lại Thư Ngỏ là những người “hành nghề chống Cộng”, “chống Thư Ngỏ là để lấy oai”, là những “Chí Phèo Bolsa” v.v…
 
Một ông giáo sư khác, vốn được nhiều người coi như một bậc tôn sư, lại cũng nhắm mắt, nhắm mũi kết tội những người đã phê phán “Thư Ngỏ” là những kẻ “chống Cộng cực đoan”, “chống Cộng quá khích”. Ông giáo sư này lại còn uống thuốc liều khi công khai viết ra giấy trắng mực đen là “chính quyền CSVN là một chính quyền hợp pháp (sic!)”    
Nhiều người, có người đã từng là học trò của ông giáo sư này, đã viết bài phân tích chứng minh “chính quyền CSVN không phải là một chính quyền hợp pháp” khiến ông giáo sư và đồng bọn đã phải ngậm câm miệng hến từ bấy tới nay.
 
Nhưng, một vài “trí thức bưng bô tương cận” không cam lòng đã tiếp tục điên cuồng bịa chuyện vu cáo, mạ lỵ những Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản hải ngoại chống Cộng là “hành nghề chống Cộng”, là “chống Cộng quá khích, chống Cộng cực đoan”, “ăn nói bá láp để kiếm tiền”, là “Việt gian bán nước, nối dáo cho giặc Tàu…” v.v… 
 
Xin hãy nghe lập luận chê bai những người chống Cộng của một bà tự xưng là bác sĩ:
 
“Những ai là con người thật, có học thức, có hiểu biết, có tâm can, trí óc, người ta chống chính sách Cộng Sản thật, đầu óc họ suy nghĩ cơ mưu kế hoạch để đi đến thành công, điển hình là Gorbachev, cựu Tổng bí thư Liên Xô. Chứ cái ngữ LS ấu trỉ, bất tài, chỉ là thứ “túi cơm, giá áo” như LDS thì chỉ ba hoa thiên địa, ăn nói bá láp để kiếm tiền…”. (LDS là ba chữ viết tắt tên của luật sư Lê Duy San ở San José - chú thích của người viết bài này).
 
Đọc xong đoạn trên,  độc giả chưa thấy cười được, phải không? Xin đọc tiếp ý kiến của một ông khác cũng tự xưng là bác sĩ  như sau:
 
“…5/ Kẻ thù to lớn nhất của người Việt Nam, CHÍNH LÀ NGƯỜI VIỆT NAM. Chúng ta làm cho cả thế giới chê cười.
 
6/ Hô hào chia rẽ, ngăn cách, có khác chi lót đường để cho TÀU DỄ VÀO ĐÔ HỘ.
 Đây là những tên Việt gian, bán nước, nối dáo cho giặc Tàu, cõng rắn về cắn gà nhà, ruớc voi về dầy xéo mả tổ tiên, mãi quốc cầu vinh.
 
Những tên chống CS đến năm 3000, chống CS đến cùng, những tên chống Cộng quá khích đều là những phường phản quốc, chúng sẽ bị toàn dân Việt Nam nguyền rủa muôn đời”.
 
Bạn đọc đã cười được chưa? Cười được quá, phải không?
 
Các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng còn ngần ngại gì mà không mời hai ông, bà bác sĩ này về làm cố vấn?
 
Hoặc cùng lắm, đề nghị ông Bộ Trưởng Thông Tin & Tuyên Truyền nên mời 2 vị trí thức “rất có khả năng bưng bô bằng miệng” này về nước và bàn giao chức vụ lại cho hai ông bà này.
 
Tài năng ăn nói ngược ngạo “ngu xuẫn tột độ”, “ngu hết nước nói” của hai ông bà bác sĩ này coi bộ hơn hẳn ông cựu Bộ Trưởng Thông Tin & Tuyên Truyền có “cái lưỡi của con bò” là ông VC Lê Doãn Hợp.
 
Bác sĩ, bác siếc gì mà viết lách, lập luận còn ngu hơn con bò tót!
 
*
Thực ra chuyện “ hai ông giáo sư thư ngỏ”, “hai ông bà bác sĩ” ở hải ngoại chửi bới những người Việt chống Cộng là “hành nghề chống Cộng” là “chống Cộng quá khích, chống Cộng cực đoan” v.v… chẳng phải là điều mới mẻ gì.
 
Và mới đây lại thêm cái ý kiến “nên đấu tranh cho chế độ VC nay đã biến thành chế độ độc tài mafia đảng trị ấy lột xác, như Miến Điện đang từng bước thực hiện.” của ông Đinh Xuân Dũng nào đó cũng chỉ nằm trong âm mưu kéo dài cái chế độ độc tài đảng trị mà thôi. 
 
*
Trước đây, trên một diễn đàn điện tử, ông Nguyễn Thế Phong, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên bang Úc Châu có chuyển một bài viết của tác giả Hà Giang mà ông nhận được.
 
Bài viết có tựa “Cuồng tín trong Cộng đồng người Việt tại Úc”.
 
Theo tác giả Hưng Việt thì bài viết này được viết vào năm 2003, nhưng không hiểu tại sao bây giờ lại được đưa lên lại.
 
Theo tác giả Hưng Việt thì tác giả bài báo không ngớt tấn công những sinh hoạt đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ của cộng đồng Người Việt Tự Do tại Úc.
 
Ở giữa bài báo, tác giả Hà Giang kết tội: "Họ (tức CĐNVTD Úc châu) liên tục hăng say ngụy tạo những thông tin về VN và tuyên truyền trong một số chính trị gia Úc.”
 
Tác giả Hà Giang vì là kẻ “ếch ngồi đáy giếng” nên trong bài viết đã có những “kết tội” cộng đồng NVTD Úc Châu một cách hàm hồ, ấu trĩ, sai lầm. Tác giả Hà Giang không biết là ở Úc Châu hay ở Hoa Kỳ và những nước tự do biểu tình phản kháng là một quyền căn bản được luật pháp bảo vệ, không sợ Công An theo dõi và đến nhà để hăm dọa hay bắt bớ giam cầm. Hay thậm chí, bắt nguội người tham dư biểu tình để đưa vào trại phục hồi nhân phẩm - như trường hợp bà Bùi Thị Minh Hằng ở Việt Nam mới đây.
 
Người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại vì có quốc tịch tại các quốc gia mà họ cư trú nên họ tham dự vào các sinh hoạt chính trị tại địa phương. Họ không chống các Hội Đồng Thành Phố (HĐTP), mà chống các quyết định sai lầm của HĐTP.
 
Sau đó, người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại vẫn tiếp tục duy trì mối dây liên lạc thân hữu với các HĐTP nói trên.
 
Thí dụ như tại Úc châu, đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân khánh thành gần đây ở Bankstom là một bằng chứng. Và mới đây, một khu phố ở Vancouver Canada đã được HĐTP đặt tên “Little Saigòn”. Cũng như trước đây, các khu phố có tên “Little Saigòn” đã được các HĐTP chấp thuận tại Nam, Bắc California.
 
Và mới đây nhất, tại Hoa Kỳ, “thành phố Santa Ana đã ban hành nghị quyết cấm cửa các phái đoàn VC lai vãng đến thành phố này” dù tên Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng lãnh sư của VC tại San Francisco đã lồng lộn điên cuồng phản đối.
 
*
Trong bài viết “Cuồng tín trong cộng đồng người Việt tại Úc”, tác giả Hà Giang viết:
 
“Trong suốt 30 năm qua những người cuồng tín và cực đoan cũng đã nhân danh chống Cộng để lôi kéo cộng đồng người Việt tại Úc chống phá VN và quyền lợi của VN”.
 
Đây là những lời kết tội hàm hồ nếu không muốn nói là sai lầm, ấu trĩ.
 
Tác giả Hưng Việt đã vả vào miệng tên ký giả gia nô Hà Giang bằng những lập luận đanh thép:
 
-Người Việt tỵ nạn cộng sản không bị lôi kéo khi chống Cộng vì họ tự ý thức được sự sinh tồn của quốc gia Việt Nam, tương lai của VN đang trên bờ vực thẳm. Người Việt Quốc Gia tỵ nạn CS không chống phá VN vì VN là tổ quốc thân yêu của họ.
 
-Người Việt tỵ nạn CS không chống phá quyền lợi của VN mà trái lại còn lên tiếng bảo vệ quyền lợi, chủ quyền của VN ở Hoàng Sa, Trường Sa, chỉ có bọn CSVN mới bán rẻ quyền lợi của VN bằng cách dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng.
 
*
“Chúng ta đã chọc đúng chỗ rồi và kết quả đã có trước mắt chúng ta là CSVN đã phải lên tiếng thoá mạ chính nghĩa và việc làm chính đáng của Cộng Đồng chúng ta”.
 
Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ Tịch CĐNVTD Liên bang Úc Châu đã có nhận định rất chính xác về bài báo của tên ký giả gia nô Hà Giang của VC.
 
Đa số người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đều coi việc chống Cộng là bổn phận của họ. Với họ, chống Cộng là chống lại Cái Ác, chống lại cái chủ nghĩa cộng sản lạc hậu lỗi thời đã kìm hãm đà tiến hoá của dân tộc, đã và đang đưa đất nước vào vòng nô lệ Trung Cộng.
 
Do đó, không bao giờ có chuyện: CHỐNG CỘNG, XƯA RỒI! - như anh già “đã gần đất xa trời” Đinh Xuân Dũng nào đó đã cố tình hô hoán “để bưng bô VC bằng miệng” vào lúc cuối đời.
 
Cũng như bọn tự nhận là trí thức ở hải ngoại chỉ là bọn bám đít VC, bọn nhai lại những cặn bả mà VC và bọn tay sai nhả ra nên bọn chúng phải điên cuồng chửi bới những người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản chống Cộng tại hải ngoại để lập công, để hy vọng được bọn VC ban phát cho chút quyền lợi và kiếm chút danh hão cuối đời.
 
Không nên chấp nhứt bọn “trí thức cục phân” này mà làm gì cho phí thì giờ!
*
Nhà có nuôi mấy con khỉ để bọn nó làm trò cũng vui! Nhưng nếu mà bọn khỉ nó quậy phá quá thì cũng nên lấy dây xích mà xiềng lại; hoặc lấy roi mây mà đét cho nó sợ mà hết làm ba cái trò khỉ!
 
 
NGUYỄN THIẾU NHẪN
tieng-danweekly.blogspot.com

Đức Quốc: Thế Liên Kết Đấu Tranh Chống Nghị Quyết 36 của CSVN


 

Đức Quốc, Hội Luận với GS Nguyễn xuân Vinh ở Moenchengladbach: Thế Liên Kết Đấu Tranh Chống Nghị Quyết 36 của CSVN

(11/27/2012) (Xem: 148)

Tác giả : Ngọc Châu

Moenchengladbach/Niederrhein, 24-11-2012: Khoảng trên 200 người, gồm đại diện các đoàn thể, đảng phái, thân hào nhân sĩ và đồng hương ở Đức cũng như từ các quốc gia láng giềng như Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Hoà Lan, Đan Mạch đã tham dự buổi Hội Thảo với đề tài Thế Liên Kết đấu tranh chống Nghị Quyết 36 của Việt Cộng tổ chức vào chiều Thứ Bảy, Ngày 24 tháng 11 năm 2012 tại thành phố Moenchengladbach vùng Niederrhein thuộc tiểu bang Nordrhein-Westfalen. Buổi sinh hoạt do Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Mưnchengladbach (HNVTNCS_MG) và Vùng Phụ Cận, với sự hỗ trợ của Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức Đức (LHNVTN tại CHLBĐức) tổ chức, diễn ra từ 14 giờ00 đến 18 giờ 30 tại Hội Trường St. Heilig Geist/MG với diễn giả là Giáo sư Nguyễn xuân Vinh đến từ Hoa Kỳ. Buổi Hội Luận đã thành công mỹ mãn.

Sau nghi thức chào quốc kỳ VNCH, phút mặc niệm, ông Nguyễn Văn Rị, Hội Trưởng HNVTNCS_MG đã đại diện Ban Tổ Chức ngỏ lời chào mừng diễn giả, đại diện các đảng phái, hội đoàn, tổ chức, quan khách và đồng hương tham dự, tuyên bố chính thức khai mạc buổi lễ.

Có nhiều hội đoàn và nhân sĩ đã hiện diện trong ngày hội luận tổ chức tại Mưnchengladbach như Quý ông/quý Hội: Bác sĩ Trần văn Tích, Chủ Tịch LHNVTN cùng thành viên Ban Chấp Hành LHNVTN tại Đức, Cư sĩ Lê công Tắc (Duesseldorf, Phật Giáo Hòa hảo), ông bà Mục Sư Huỳnh văn Công, Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản Ffm/M, bà chủ tịch và phó chủ tịch ngoại vụ và Thư Ký của Hội Phụ Nữ Việt Nam Tự Do (HPNVNTĐ) tại Đức Quốc, Hội NVTN Kưln, Hội NVTN Cao Niên FFm/M, ông bà bác sĩ Phan khắc Tường, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Pháp và phái đoàn, Phái đoàn đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH tại Âu Châu (Pháp), Đại diện võ đường VoviNam từ Bỉ, Đại diện đảng Việt Tân tại Đức và thành phố Krefeld, Đại diện đảng Dân Tộc, Đại diện Ban Chấp Hành Cộng Đồng NVTN tại Hoà Lan gồm ông CT_Nguyễn đắc Trung, Pct Nguyễn khai Trí và bà Miên Thụy, thư ký; Đại diện Hội NVTNCS tại Odenwald, đại diện Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ Âu Châu, nhân sĩ Nguyễn đình Tâm, cựu Trung tá QLVNCH, nguyên chủ tịch UBĐHCTĐT tại CHLBĐức đến từ Berlin, ông Nguyễn khắc Sơn, chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH(Bỉ), cô Nguyễn kim Hương, Cộng Đồng NVTự Do tại Đan Mạch ..v..v... Đặc biệt có sư tham dự của Trung Tá Lê vĩnh Hiệp trong bộ đồ quân phục, Trường Phòng Y dược Quân đội CHLBĐức đến từ Koblenz.

Chúng tôi cũng nhận thấy, ngoài quý vị đại diện Cộng Đoàn Công Giáo VN tại Krefeld, Moenchengaldbach, đại diện Cộng Đoàn Công Giáo VN TGP Paderbonn & Essen, đại diện nhóm Cầu Nguyện Công lý Hòa Bình (Duesseldorf) gia đình Phật Tử, Đại diện Phong trào giáo dân tại Đức ....và đồng hương tại địa phương, các vùng lân cận như Krefeld, Kưln, Dsseldorf ..v..v... còn có nhiều người đến từ các nơi rất xa như Wiesbaden, Frankfurt am Main, Mannheim, Paris/Pháp, …., thậm chí có những tham dự viên từ các nơi rất ra như từ Thụy Sĩ, Nam Đức, Hamburg (Bắc Đức), Berlin hay từ các quốc gia láng giềng Hòa Lan, Bỉ hay Nam Đức, Đan Mạch, những địa danh cách thành phố Moenchengladbach thuộc tiểu bang Nordrhein-Westfalen hơn sáu bảy trăm cây số.


Hình ảnh buổi hội luận ở Đức.

Ngoài ra còn có anh Nguyễn Quang chuyên gia điện ảnh, quay phim đến từ Hamburg và các Nhiếp Ảnh Gia Lưu (Berlin), Nguyễn Tín (Thụy Sĩ). Anh Văn Minh đến từ Frankfurt/M phụ trách phần kỹ thuật.

MC điều hợp viên buổi hội luận là Chị Ngọc Minh Và Anh Bùi văn Minh.

Tôi chỉ tóm lược vài điểm chính của buổi hội thảo nói trên tại Moenchengladbach. Vì nhớ đâu viết đó nên thiếu sót chắc chắn không tránh khỏi. Mong quý độc giả và tham dự viên hiện diện hoan hỷ cho. Trân trọng cám ơn!

Sau khi tất cả tham dự viên đồng trình bày hát bài Một triệu con tim ( nhạc và lời: Trúc Hồ) thì Bác sĩ Trần văn Tích đọc diễn văn chào mừng diễn giả cùng quan khách và trình bày ngắn gọn diễn tiến hình thành Ban Chấp Hành (BCH) Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Đức tại Đức, nhiệm kỳ 2012-2014. Tiếp đó là giới thiệu thành phần Ban Chấp Hành LHNVTN tại CHLBĐức.

Rất tiếc, theo lời bác sĩ chủ tịch Trần văn Tích cho biết là anh Cử Nhân Trịnh Đỗ Tôn Vinh, phó chủ tich ngoại vụ vì bị sốt, cảm bất thình lình nên vắng mắt. Gs Nguyễn xuân Vinh đã được gắn huy hiệu kỷ niệm cho thành viên BCH_LNHVTN tại CHLB Đức và ông cựu trung tá QLVNCH, nguyên chủ tịch Ủy Ban Điều Hợo Công tác đấu tranh của NVTNCS tại CHLB Đức, cụ Nguyễn đình Tâm đã trao tặng hoa cho thành viên BCH_LHNVTN tại CHLB Đức.

Sau khi bà Phi Nga, với giọng nói rõ ràng giới thiệu mạch lạc tiểu sử của Giáo Sư Tiến Sĩ Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh là phần rình bày của Gs Nguyễn xuân Vinh (Gs_NxV) về Thế Liên Kết đấu tranh chống Nghị Quyết 36 của Việt Cộng. Gs NxV cho biết đây là một trong những phương sách chính yếu để tiến hành chiến dịch chống lại âm mưu muốn nhuộm đỏ Cộng Đồng NVTNCS do cộng sản VN chủ xướng với sự tiếp tay của đám thiên tả và Việt gian mà phương tiện chính được sử dụng theo nghị quyết 36 là tìm đủ mọi cách chia rẽ CĐNVTN!

Chúng tôi ghi nhận là qua bài diễn văn ngắn gọn, diễn giả Gs_NxV đã nhấn mạnh và xác định chủ trương căn bản của NVTN là muốn ngăn chận ngoại xâm và xây dựng đất nước hữu hiệu, điều kiện tiên quyết là phải phân định rõ ràng lằn ranh quốc-cộng mà biểu tượng của NVTNCS ở hải ngoại nói chung là lá Cờ vàng Ba Sọc Đỏ (Cờ Việt Nam Cộng Hòa VNCH). Những luận điệu khác (cho dù dân chủ không ai có thể cấm được!) như biểu tình hay sinh hoạt không cờ không xí, gọi nôm na là "đứng giữa (?), đứng chàng hẵng", và hành động không chào cờ không hát quốc ca chỉ là những "hình thức" lập lờ đánh lận con đen.

Theo Gs. Nguyễn Xuân Vinh qua đề tài thuyết trình nói rằng mặc dù đã hơn 8 năm triển khai Nghị quyết 36 này nhưng CSVN đã thất bại trong âm mưu muốn nhuộm đỏ CĐNVTN ở hải ngoại. Cũng theo Gs NxV thì người Việt tỵ nạn đã có những lợi thế trong việc chống lại nghị quyết 36 của VC:

- Lá Cờ Vàng là điểm quy tụ, biểu tượng cho người Việt yêu chuộng Tự Do, Dân Chủ.

- Qua đó "Lằn ranh quốc cộng" được đánh giá một cách rõ ràng, phân biệt được đâu là những hành động, sinh hoạt được xem làm lợi cho quốc gia hay cộng sản.

- Người Việt tỵ nạn ở hải ngoại nói chung cần phải bảo vệ màu cờ sắc áo mà biểu tượng chính là Lá Cờ Vàng (cờ Việt Nam Cộng Hoà !).

- Và không kém phần quan trọng là nên cố gắng đánh động "Ý thức của giới trẻ VN đối với hiện tình đất nước, nhất là trước nạn VN có thể bị Hán hóa từ Trung Cộng phương Bắc với sự im lặng và đồng lõa của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam".

Ngay tư đầu, trước khi đặt câu hỏi với Gs_Vinh và chủ tọa đoàn, điều hợp viên buổi hội thảo nhấn mạnh chỉ nêu ra những cầu hỏi ngắn gọn không vòng vo, trực tiếp liên quan đến chủ đề buổi hội thảo, còn những câu hỏi nào "lạc đề" không cần phải trả lời và có quyền lọai bỏ nên thời gian hội thảo được rút ngắn rất nhiều.

Trong phần thảo luận với nhiều câu hỏi và đóng góp của các tham dự viên, xoay quanh việc làm sao chống lại nghị quyết 36 của VC!

Và sau cùng, BS Trần Văn Tích đưa đến kết luận cho rằng ông rất tâm đắc với ý kiến của Bs. Phan Khắc Tường, chủ tịch CĐNVTD tại Pháp là làm sao thành lập được cơ cấu điều hợp công tác đấu tranh chung tại Âu Châu và cho biết là Liên Hội NVTNCS tại Đức sẽ cố gắng vận động tiến hành để thực hiện ý kiến đóng góp rất cụ thể của Bs Phan khắc Tường (Pháp).

Tóm lại, buổi tiếp xúc với đồng hương tại Moenchengladbach/Niederrhein của Gs_NxV do HNVTNCS_MG và LHNVTN tại CHLB Đức đồng tổ chức đã thành công mỹ mãn.

Anh Nguyễn văn Rị, hội trưởng Hội NVTNCS tại MG &VPC/Niederrhein không quên ngỏ lời cám ơn nổ lực của các anh em đại diện cho diễn đàn Tiếng Nói Tự Do của người dân Việt Nam như Ngô Gia, Âu Lạc, Vô Danh, Trường Cũ và diễn đàn Đấu Tranh chính trị, tranh luận Dân Chủ trực tiếp truyền đi qua hệ thống Paltalk để cho đồng hương khắp nơi, ngay cả tại Việt Nam tiện theo dõi.

Xen kẽ chương trình là văn nghệ gồm những bài hát mang đầy đấu tranh tính. Những ca sĩ tại địa phương, với giọng hát điêu luyện đã cống hiến cho tham dự viên những bài hát với nội dung phong phú như anh Vũ quốc Chung với Việt Nam tôi đâu. Chị Quỳnh Chi với bài "Anh Là Ai" của Việt Khang. Đặc biệt lần đầu tiên tôi được nghe giọng hát của chị Quỳnh Chi.

Tôi không ngờ Quỳnh Chi hát và diễn tả thật hay. Chị hát bài "Đêm Chôn Dầu Vượt Biển" của nhạc sĩ Châu đình An, khơi lại kỷ niệm ngày nào nên bác sĩ Phan Khắc Tường, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Pháp đã lên tặng nữ ca sĩ Quỳnh Chi cành hoa với sự vỗ tay tán thưởng của thính giả sau khi bản nhạc chấm dứt.

Chị Thy Kim cũng không kém gì với bản nhạc "1 Chuyến Bay Đêm", hát để tặng gs Nguyễn xuân Vinh, cựu Tư lệnh Không Quân VNCH. Sau đó ca sĩ Thy Kim còn cống hiến thêm bài hát khác mang tên "Đường Về Quê Hương" của nhạc sĩ Lam Phương.

Một điểm khác không kém quan trọng là ban tổ chức cũng không quên phục vụ đồng hương được ấm lòng với món súp và bánh mì thịt xa xiú rất ngon do anh chị Hồng Yến (Frankfurt/M) đảm trách và các loại bánh ngọt, Pâté chaud, chè trôi nước do các chị HPNVNTD tại Đức tặng.

Anh Kỹ sư Phạm công Hoàng, PCT nội vụ đại diện Liên Hội NVTN đã trao tặng hoa cho chị Hồng Yến để bày tỏ lòng biết ơn. Tương tự ông Rị cũng tặng hoa cho chị NH và BT vì Quý chị trong Hội PNVNTD tại Đức. Hội NVTNCS tại MG & VPC cũng đã đóng góp công sức. phục vụ tham dự viên mới món cánh gà đùi gà chiên bơ, cơm gà... Dĩ nhiên chẳng thiếu café, trà nước để đồng hương giải lao.

Ngoài ra, chúng tôi còn thấy ở hành lang hội trường có quày thông tin, phổ biến sách và Cờ Vàng của Hội PNVNTD tại Đức.

Trước khi buổi lễ bế mạc, ông bác sĩ Trần Văn Tích đã thay mặt Ban Chấp hành LHNVTN tại CHLB Đức và Ban Tổ Chức trân trọng trao tặng hoa cho giáo sư diễn giả và phu nhân do các thiếu nữ xinh xắn trong những tà áo dài thướt tha mang vào để kính tặng.

Sau lời cảm tạ của ông trưởng ban tổ chức Nguyễn Văn Rị đến với diễn giả và phu nhân, quý vị quan khách củng tham dự viên, ông đặc biệt lên tiếng kêu gọi sự đoàn kết, mong đợi sự hợp tác của người Việt tỵ nạn chúng ta để giúp cho sinh hoạt cộng đồng ngày thêm khởi sắc.

Ông Rị không quên gởi lời cám ơn chân thành đến tất cả Quý vị, anh chị em và các cháu đã bỏ thời giờ quý báo, công sức nhiệt tình phụ sức với Hội NVTN_MG vùng Niederrhein từ nhiều tuần qua trong việc lo cho buổi tổ chức thành công tốt đẹp.

Cá nhân người viết vì đã từng sinh hoạt với anh Rị và CĐNVTNCS_MG/Nierderrhein trong thời gian qua nên có thể nói sự thành công trong những sinh hoạt, từ hội thảo đấu tranh cho đến sinh hoạt Tết Nguyên Đán hay Tết Trung Thu hàng năm thì anh Hội trưởng Nguyễn văn Rị nói riêng và thành viên Hội NVTNCS_MG nói chung đã luôn nổ lực hết mình để hoàn thành nhiệm vụ, đạt được chỉ tiêu cao như có thể. Tôi không muốn đề cao ai hết nhưng khách quan mà nói thì thành quả tốt nói trên hôm 24-11-2012 và trong quá khứ của Hội NVTNCS_MG & VPC, theo thiển ý người viết có được là nhờ sự làm việc bất vụ lợi, rất tận tâm và nhiều công sức hy sinh đã bỏ ra cũng như không bị một đảng phái nào chi phối của anh Rị và Hội.

Gần đây tuy anh rất bận bịu nhưng được biết vì đã nhận lãnh trách nhiệm được Liên Hội NVTN tại CHLB Đức tin tưởng và ủy nhiệm tổ chức nên anh Rị vẫn sốt sắng điều động thành viên Hội, thân hữu vùng Niederrhein và bạn bè thân quen từ xa lo thật chu đáo mọi việc (kể cả việc lo chỗ ngủ cho khách từ phương xa đến) để buổi hội luận thành công mỹ mãn. Đây là điểm son đáng được trân trọng nhắc đến vì sự thành công (dù ban tổ chức không nói ra) cũng sẽ được người Việt tỵ nạn hải ngoại nhận xét và đánh giá đúng. Theo tôi, sự nễ phục, khen tặng dù bất cứ từ đâu liên quan đến sự thành công về các sinh hoạt của CĐNVTN tại Đức nói chung, ở Moenchengladbach/Niederrhein hay ở địa phương nào khác nói riêng - tuy đó là sự hãnh diện lớn dành cho Ban Tổ Chức, Quý hội viên và các hội đoàn người Việt quốc gia từng sát cánh với Hội NVTNCS_MG & VPC đã thật sự hy sinh thời giờ đóng góp bằng công sức vì quyền lợi chung- cũng là niềm hãnh diện của tập thể NVTN chúng ta ở Đức vậy!

Vì thời gian có hạn nên chương trình buổi hội luận chấm dứt lúc 18giờ 30 cùng ngày.

Hôm nay, sau khi lần đầu tiên vượt gần 700 cây số tham dự với tư cách đại diện cho Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ Âu Châu & Đức quốc (trụ sở chính của Ban Chấp hành Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ hải ngoại đặt tại Nam CaLi/USA) qua thư mời của Ban Tổ Chức về tôi mới có dịp tóm lược buổi tiếp xúc của giáo sư Nguyễn xuân Vinh với đồng hương ở vùng Niederrhein/Đức và từ các quốc gia láng giềng Âu Châu được tổ chức tại Mưnchengladbach, 24-11-2012 để giới thiệu đến quý thân hữu, đồng hương xa gần.

Xin vui lòng phổ biến rộng rãi và hoan hỷ cho những thiếu sót chắc chắn không thể tránh khỏi. Trân trọng cảm ơn!

Thay lời kết:

Giống như khối cộng sản Đông Âu vào cuối thập niên 80 bị sụp đổ bất ngờ, tình hình chính trị tại Trung Đông thay đổi hoàn toàn trong thời gian ngắn. Nhiều nhà độc tài đảng trị nắm quyền từ hàng chục năm qua đã phải lần lượt "ra đi", xuất phát từ sự "nổi dậy đòi Tự Do Dân Chủ, chống tham nhũng, bất công và bạo lực của "nhân dân" qua cuộc Cách Mạng Hoa Lài. Vì thế Trung Cộng (TC) và cộng sản Việt Nam (csVN) nói riêng rúng động, lo sợ!. Chúng và tay sai đang tìm cách mở rộng chiến dịch muốn nhưộm đỏ Cộng Đồng NVTNCS tại hải ngoại nói chung. Vì thế chúng sẵn sàng tung cán bộ, bỏ tiền ra để thực hiện cho bằng được chủ trương csVN đề ra với mang tên Nghị Quyết 36.

Vâng, như trong phần đóng góp ý kiến vài tham dự viên cũng như chủ tọa đoàn gồm Gs Nguyễn xuân Vinh, bác sĩ Trần văn Tích và ông Nguyễn văn Rị cho biết đã đến lúc chúng ta phải tỏ thái độ, vạch ra những đường lối thích hợp để chống lại âm mưu này. Đã đến lúc chúng ta không thể im lặng được nữa mà hãy có hành động cụ thể cũng như đề cao cảnh giác và vạch mặt chỉ tên những kẻ thiên tả, Việt gian trong CĐNVTNCS làm lợi cho bạo quyền csVN.

Đừng quên, từ ngàn xưa đến nay kẻ thù nguy hiểm nhất vẫn là những kẻ nội thù, những tên nôm na được gọi những kẻ "ăn cơm quốc gia nhưng thờ ma cộng sản"!. Cũng có tham dự viên đề nghị phải tẩy chay những sinh hoạt không có biểu tượng là lá cờ VNCH: Bs Trần văn Tích còn nói thêm liên quan đến vấn đề được đặt ra, điển hình như 2 cuộc biểu tình ở Muenchen (Munich) không cờ không xí là theo ông, "cộng cũng không cộng vì chẳng cờ Đỏ mà quốc gia chẳng ra quốc gia vì thiếu cờ Vàng, chỉ có thể đánh giá thuộc phần "đứng giữa", tôi mạn phép ghi lại câu nói của bs Tích "dơi chẳng ra dơi, chuột chẳng ra chuột, chẳng rõ giống gì !!!).

Cuối cùng, người viết nói riêng xin được gióng lên tiếng chuông là NVTNCS hãy đề cao cảnh giác như cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã nói mà tôi mạn phép sửa chút xíu: " Đừng tin những gì những kẻ bá đạo, ở hải ngoại miệng hô hào chống cộng mà ra vào VN không gặp trở ngại nào (?), mà hãy nhìn kỹ những gì chúng làm!". Có vậy NVTNCS chúng ta mới không mắc mưu cộng sản và đám tay sai Việt gian để từ đó... tránh xa, như một tham dự viên đã nói:

"Hãy bất hợp tác với các sinh hoạt hay những ai làm lợi cho chế độ cộng sản Việt Nam"!

* © Tham dự viên Ngọc Châu lược thuật (Nam Đức, ngày 26-11-2012)

  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link