Giải Pháp Nào Cho Đảo Senkaku/Điếu Ngư?
Trúc Giang MN

1* Mở bài
Việc tranh chấp chủ quyền về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Cộng và Nhật
Bản đã có từ lâu. Ngày 7-9-2010, một tàu cá Trung Cộng cố tình đâm vào tàu tuần
của Nhật trong vùng biển tranh chấp thuộc Nhật quản lý, đưa đến việc thuyền
trưởng Zhan Qixiong và 14 thủy thủ bị Nhật bắt giữ khiến cho Trung Cộng làm ầm
lên, đình chỉ xuất khẩu đất hiếm sang Nhật, sau đó, Nhật nhượng bộ, thả thuyền
trưởng, 14 thủy thủ và trả chiếc tàu.
Và mới đây, ngày 11-9-2012, chính phủ Nhật mua lại để quốc hữu hoá quần đảo đã
khiến cho Trung Cộng nổi giận, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 85 biến cố Mãn Châu,
đánh dấu ngày khởi đầu cuộc xâm lăng của Đế quốc Nhật ở phía Bắc Trung Hoa.
Trung Cộng cho tổ chức biểu tình chống Nhật đồng loạt trên 85 thành phố. Biểu
tình bạo động, đập phá các cơ sở kinh doanh của người Nhật, gây thiệt hại cho
Nhật trên 100 triệu USD..
Ngày 15-8-2012, 14 nhà hoạt động Trung Cộng từ Hồng Kông đến đổ bộ lên 3 đảo,
đã bị Nhật bắt và trục xuất lập tức.
Ngày 19-8-2012, 150 người Nhật từ Okinawa đến cắm cờ Nhật trên đảo. Tình hình
căng thẳng thêm khi Trung Cộng tập trận hải quân lớn, bắn 40 hỏa tiễn, rồi cho
6 tàu hải giám xuất hiện ở vùng biển tranh chấp. Tuần dương Nhật báo cáo, từ
ngày 18 đến 24-9-2012, đã có 20 tàu tuần tra của TC xâm nhập lãnh hải Nhật.
Ngày 25-9-2012, Đài Loan nhảy vào tranh chấp, đòi chủ quyền trên quần đảo
Senkaku/Điếu Ngư. 50 tàu cá Đài Loan được 10 tàu tuần duyên yểm trợ đã xâm nhập
vùng biển tranh chấp. Đọ sức tay đôi xảy ra. Hai bên dùng vòi ròng phun nước
vào nhau, sau đó, tàu Đài Loan rút lui.
2* Tổng quát về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư
Quần đảo mang tên Senkaku (Nhật) và Diaoyu (Điếu Ngư) Trung Hoa, (tiếng Anh là
Pinnacle) là một nhóm đảo nhỏ không có người ở, nằm về phía Bắc Đài Loan, phía
Tây Nam đảo Okinawa của Nhật. Tổng diện tích của 5 hòn đảo là 7 km2. Đảo
Senkaku/Điếu Ngư lớn nhất, diện tích 3.82 km2.
Đảo cách bờ biển Phúc Kiến (Hoa Lục) 200 hải lý, cách Đài Loan 120 hải lý và
cách Okinawa
200 hải lý.
Cuộc khảo sát năm 1969 do LHQ tiến hành cho biết có tiềm năng lớn về dầu khí
thể khai thác,Nhật cho rằng đó là lý do khiến Trung Cộng muốn chiếm quần đảo nầy.
Hiện nay, Trung Cộng, Đài Loan và Nhật Bản đang tranh chấp về chủ quyền của
quần đảo.
3* Lập luận về chủ quyền
3.1. Lập luận của Trung Cộng
Trung Cộng cho rằng Điếu Ngư phụ thuộc vào Đài Loan do nhà Mãn Thanh cai quản
từ thế kỷ 14. Khi nhà Thanh bại trận nên phải ký Hoà Ước Mã Quan (Shimonoseki
1895) nhường vĩnh viễn Đài Loan và Bành Hồ cho Nhật Bản.
Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh tháng 9 năm 1945, Nhật phải từ bỏ chủ quyền
trên Đài Loan và Bành Hồ.
Ngày 28-4-1952, tại Đài Bắc, Nhật và Đài Loan (Tưởng Giới Thạch) ký Hiệp Ước
hủy bỏ Hiệp Ước Mã Quan năm 1895, cụ thể là trả Đài Loan và Bành Hồ lại cho
Tưởng Giới Thạch.
Vì Trung Cộng gắn chặt đảo Điếu Ngư vào Đài Loan cho nên khi trả Đài Loan thì
xem như bao gồm cả Điếu Ngư trong đó. Thật ra, Điếu Ngư quá nhỏ, không người ở,
cho nên không có tên trong các văn kiện ký kết.
Trong một chiếu chỉ của triều đình Mãn Thanh năm 1893 có ghi việc cho phép thu
nhập các thảo mộc trên 3 hòn đảo của nhóm đảo Điếu Ngư nầy. Mới đây, Trung Cộng
cho biết đã tìm được tấm bản đồ do một đại tá Pháp tên Pierre Lapie và con trai
vẽ hồi năm 1832. Đại sứ TC Liêu Lý Cường tìm được quyển sách ở Brussels, Bỉ.
Bản đồ có màu sắc của những hòn đảo giống nhau, nên Trung Cộng xem quần đảo
Điếu Ngư thuộc chủ quyền của TC. Bản đồ trong sách mua được ở Bỉ không đủ yếu
tố pháp lý để xác nhận chủ quyền.
3.2. Lập luận của Nhật Bản
Nhật Bản cho rằng, trước năm 1858, Senkaku/Điếu Ngư là một đảo hoang, không có
người ở, xem như vô chủ. Từ năm 1884, ngư dân Nhật đến đảo nầy khai thác phân
chim và lông chim nhưng không gặp một trở ngại nào từ triều đình Trung Hoa, và
cũng không có người Trung Hoa nào sinh sống trên đảo cả.
Nhật đã làm thủ tục sát nhập Senkaku/Điếu Ngư vào thành phố Okinawa vào tháng 1
năm 1895, tức trước Hiệp Ước Mã Quan ngày 17-4-1895 một thời gian là 3 tháng,
có nghĩa là Senkaku thuộc về Nhật trước khi Nhật chiếm Đài Loan và Bành Hồ.
3.3. Vài nét lịch sử về Senkaku/Điếu Ngư
Nhật đã kiểm soát đảo nầy từ năm 1895.
Năm 1900, một giáo viên Nhật tên Tsune Kuroiwa của tỉnh Okinawa đã đến thăm đảo
và đặt tên cho nó là Senkaku Retto.
Khỏang năm 1900, một doanh nhân Nhật tên Koga Tatsushiro đã xây dựng một nhà
máy chế biến cá ngừ trên đảo, có 200 công nhân. Việc làm ăn thất bại, nhà máy
đóng cửa vào năm 1940 và từ đó đảo vẫn bỏ hoang.
Thập niên 1970, con cháu Koga Tatsushiro bán 4 đảo cho gia tộc Kurihara. Ông
Kurihara Hiroyuki sở hữu 3 đảo lớn, trong đó Senkaku lớn nhất, diện tích 3.82
km2, cao 363m, và người em gái làm chủ đảo Kuba (1.55 km2, cao 117m)
Năm 2002, Bộ Nội vụ Nhật thuê 3 đảo của Kurihara Hiroyuki và trả ông nầy 25
triệu Yen mỗi năm. Bộ “Quốc Phòng” Nhật thuê đảo Kuba và trả cho người em gái
của Hiroyuki một số tiền không được tiết lộ.
Ngày 11-9-2012, chính phủ Nhật mua lại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và trả cho gia
đình Kurihara 2.05 tỷ Yen (26.15 triệu USD) để quốc hữu hoá quần đảo nầy.
3.4. Nhật Bản và Hoa Kỳ kiểm soát Senkaku
Sau khi Nhật bại trận trong Thế chiến thứ 2, Okinawa và quần đảo Senkaku đặt
dưới sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vào năm 1945. Thời gian nầy, người Nhật muốn đến
Okinawa và Senkaku thì phải xin Visa của HK.
Năm 1971, HK trả Okinawa và Senkaku lại cho Nhật Bản, từ đó chính quyền Nhật
kiểm soát quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
3.5. Động, thực vật trên đảo
Trên đảo có loài chuột chũi và kiến, và những con dê được thả lên năm 1978. Đảo
còn là nơi sinh sống của loài chim hải âu đuôi ngắn.
3.6. Tính chất quan trọng của đảo Senkaku/Điếu Ngư
Ngoài tiềm năng về dầu khí, Senkaku/Điếu Ngư chiếm vị trí quan trọng về quân
sự, đó là kiểm soát đường ra vào biển lớn của hải quân Trung Cộng, có thể đe
dọa những căn cứ quân sự của Nhật và Hoa Kỳ từ Okinawa, đảo Guam đến Hawaii.
4* Senkaku/Điếu Ngư đối với Công Ước Quốc Tế về Luật Biển
4.1. Công Ước Quốc Tế về Luật Biển
Công Ước QT về Luật Biển (United Nations Convention on Law of the Sea-UNCLOS)
xem như Luật QT về biển của LHQ, được các quốc gia tham dự công nhận, ký tên từ
ngày 10-12-1982, có hiệu lực kể từng ngày 16-11-1994. Hoa Kỳ không ký tên tham
gia.
Những quy định căn bản của Công Ước:
1. Lãnh hải (hải phận-Territorial Sea) của 1 quốc gia là 12 hải lý (22km), nếu
có bờ biển đủ rộng.
2. Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous zone): 24 hải lý tính từ bờ biển. Quốc
gia có quyền thi hành luật pháp về buôn lậu, nhập cư trái phép và gây ô nhiễm…
3. Vùng Đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone-EEZ); 200 hải lý từ bờ biển.
4. Vùng Thềm lục địa (Continental Margin): từ 350 hải lý trở vào bờ biển.
(Không vượt ra ngoài 350 hải lý)
Vùng Đặc quyền kinh tế cho phép:
- Tàu thuyền dân sự của các quốc gia khác có quyền lưu thông.
- Tự do hàng không.
- Tự do đặt ống dẫn dầu và dây cáp.
4.2. Senkaku/Điếu Ngư đối với Luật Biển
Căn cứ vào Luật Biển Quốc Tế thì quần đảo nầy:
- Nằm trong vùng Đặc quyền kinh tế của Trung Cộng (Cách Hoa lục 200 hải lý)
- Vừa nằm trong vùng Đặc quyền kinh tế của Nhật (Cách Okinawa 200 hải lý)
2* Hận thù dân tộc trong quá khứ khó xoá bỏ được
2.1. Cuộc chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất
Do chính sách duy tân của Thiên hoàng Minh Trị, Nhật Bản xây dựng một quân đội
hùng mạnh nên có ý đồ mở rộng lãnh thổ sang Đông Nam Á, bắt đầu tấn công Trung
Hoa.
Cuộc chiến xảy ra từ ngày 1-8-1894 đến 17-4-1895. Quân nhà Mãn Thanh đại bại
chỉ trong vòng 8 tháng.
Bị thất trận, nhà Thanh phải ký Hoà Ước Mã Quan (Shimonoseki 1895) ngày
17-4-1895 nhường vĩnh viễn Đài Loan và Bán đảo Liêu Đông cho Nhật.
Phải cho phép tàu buôn Nhật đi lại trên sông Dương Tử (Trường Giang), do Nhật
mở các nhà máy ở các hải cảng.
Đồng thời nước bị đánh bại phải bồi thường chi phí chiến tranh cho Nhật là 340
triệu lạng bạc. (Khoảng 21 triệu mỹ kim)
Nhà Thanh suy yếu, các cường quốc xúm vào xâu xé, buộc phải cắt đất. Nhường
Thanh Đảo (Sơn Đông) và Giao Châu cho Đức, Vịnh Quảng Châu cho Pháp, Uy Hải Vệ
cho Anh (Sau khi nhường Hồng Kông cho Anh trong Chiến tranh Nha Phiến trước
đó).
2.2. Cuộc chiến tranh Trung - Nhật lần thứ hai
Ngày 7-7-1937, quân đội Thiên hoàng tiến đánh và chiếm giữ Bắc Trung Hoa cho
đến ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh năm 1945.
Sự cai trị của quân phiệt Nhật rất tàn bạo đã gây mối thù sâu sắc giữa 2 dân
tộc.
3* Vụ hãm hiếp phụ nữ ở Nam Kinh
Ngày 13-12-1937, quân Nhật chiếm Nam Kinh một cách dễ dàng vì quân Trung Hoa bỏ
chạy. (Nam Kinh thuộc tỉnh Giang Tô, nằm dưới Bắc Kinh và sát trên Thượng Hải,
đã từng là kinh đô của 6 triều đại)
Quân Nhật bắt đầu thực hiện những hành động tàn ác như cướp bóc, đốt phá, hành
quyết tù binh, bắn giết thường dân và nhất là hãm hiếp phụ nữ.
Thời gian đó, những người Tây phương như những nhà truyền giáo, ký giả, thương
gia, làm nhân chứng về những vụ thảm sát ở Nam Kinh.
Nhà truyền giáo Harold Timberly đưa ra con số được nhiều quốc gia công nhận là
300,000 thường dân Trung Hoa bị giết.
Hành vi tàn bạo nhất là cuộc thi chặt đầu 100 người giữa 2 sĩ quan Nhật cấp
Trung úy, xem ai là người dùng gươm của mình chặt đầu người thứ 100 trước người
kia.
Trung úy Toshiaki Mukai thắng cuộc, vì đã chặt được 106 cái đầu, hơn trung úy
Tsuyoshi, 105.
3.1. Hãm hiếp phụ nữ
Sau đây là hồi ký của một nhân chứng.
Ba mươi cô gái bị bắt từ một trường ngoại ngữ tối qua, và hôm nay tôi đã nghe
nhiều câu chuyện đau lòng về những cô gái bị bắt đó -- một trong số họ mới chỉ
12 tuổi....Tối nay một chiếc xe tải chạy qua và trong đó là tám hay mười cô gái
khác, và khi nó chạy qua họ gào lên "Ging ming! Ging ming!"--cứu
chúng tôi!. (Nhật ký Minnie Vautrin, 16 tháng 12, 1937)
Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông đã cho rằng 20.000 (và có lẽ có thể lên
tới 80.000) phụ nữ đã bị hãm hiếp - họ ở trong độ tuổi từ thiếu niên cho tới
già lão (tới 80 tuổi). Những vụ hãm hiếp thường diễn ra ở nơi công cộng ngay
giữa ban ngày, thỉnh thoảng trước mặt cả người chồng hay gia đình nạn nhân.
Một số lớn trong những vụ hãm hiếp đó mang tính hệ thống, theo một quy trình
với các binh sĩ đi tìm kiếm từng nhà để bắt các cô gái trẻ, rất nhiều phụ nữ bị
bắt và bị hiếp dâm tập thể. Những phụ nữ đó bị giết hại ngay sau khi bị hãm
hiếp, thường bị cắt xẻo thân thể. Theo một số lời chứng, các phụ nữ khác bị
buộc phải vào trại mãi dâm quân đội làm phụ nữ giải trí.
Thậm chí còn có những câu chuyện kể rằng quân đội Nhật buộc nhiều gia đình phải
thực hiện các hành vi loạn luân.[9]
Con trai bị buộc phải hiếp mẹ mình, những người cha bị buộc phải hiếp con gái.
Một phụ nữ có thai bị binh lính Nhật hiếp dâm tập thể đã sinh con chỉ vài giờ
sau đó; đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh (Robert B. Edgerton, Warriors of the Rising
Sun). Những vị sư sãi đã nguyện trọn đời chay tịnh bị buộc phải hiếp các phụ nữ
để làm trò vui cho quân Nhật.[9] Đàn ông Trung Quốc bị buộc phải hiếp các xác
chết. Bất kỳ sự chống cự nào đều dẫn tới sự hành quyết. Tình trạng hãm hiếp đạt
tới đỉnh điểm ngay sau khi thành phố sụp đổ nhưng nó còn tiếp tục kéo dài suốt
thời gian chiếm đóng của Nhật Bản.
3.2. Nhà thổ của quân đội Nhật
Các sử gia cho rằng có khoảng 200,000 phụ nữ Triều Tiên và Trung Hoa bị bắt
buộc phục vụ trong các nhà thổ của quân đội Nhật trong những năm từ 1930 đến
1940.
Năm 1938, chính phủ Nhật đã ký một văn bản xác nhận sự cần thiết của các nhà
thổ trong mỗi tiểu đoàn, và đã đặt mua 321 triệu bao cao su để bảo đảm an toàn
cho binh sĩ.
3.3. Quỹ Phụ Nữ Châu Á
Năm 1995, Nhật đã vận động quyên tiền từ dân chúng để thành lập Quỹ Phụ Nữ Châu
Á nhằm chi trả tiền bồi thường cho những phụ nữ các nước châu Á bị quân đội
Nhật ép buộc làm nô lệ tình dục.
Tuy nhiên, Hàn Quốc cho rằng quỹ nầy không thể thay thế được sự bồi thường và
sự xin lỗi chính thức của chính phủ Nhật.
Trong khi đó, Nhật cho rằng vụ việc đã được giải quyết xong bằng việc bồi
thường cho các nạn nhân với số tiền trọn gói là 300 triệu USD.
Vấn đề lịch sử xâm chiếm Triều Tiên của Nhật, bao gồm cả việc nô lệ tình dục là
trở ngại cho quan hệ hai nước, nhất là trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền về
đảo Dokdo/Taeshima của hai nước hiện nay.
4* Đơn vị 731 của quân đội Nhật
Đơn vị 731 của Nhật là một đơn vị nghiên cứu và phát triển vũ khí hóa-sinh của
Quân đội Hoàng gia Nhật Bản, đơn vị này đã tiến hành nhiều thí nghiệm nguy hiểm
trên cơ thể người trong chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai (1937-1945) và chiến
tranh thế giới thứ hai. Nó được coi là một trong những tội ác chiến tranh khét
tiếng nhất của người Nhật.
Hơn 10.000 người, tức là khoảng 600 người mỗi năm bị Hiến binh Nhật bắt giữ để
làm vật thí nghiệm cho dự án 731.
Theo Hội thảo quốc tế về tội ác của chiến tranh vi khuẩn năm 2002 , số người bị
giết lên tới hơn 200.000 gồm binh lính và dân thường Trung Hoa.
Tổng tư lệnh Ishii Shiro, Trung tướng Masaji Kitano, Cục phòng chống dịch bệnh
và xử lý nước Quân đội Quan Đông, là thủ phạm.
5* Những cuộc xét xử
Năm 1948, toà án Tokyo kết án tử hình tướng Iwane Matsui về Tội ác chống loài
người. Các tướng Hisao Tani, Rensuke Isogai bị toà Nam Kinh kết án tử hình.
Theo Hiệp ước ký kết giữa Tướng McArthur và Nhật hoàng Hirohito, thì chính
hoàng đế và toàn thể các thành viên trong gia đình hoàng gia sẽ không bị truy
tố. Do đó, hoàng tử Asak, là một sĩ quan cao cấp tại thành phố ở thời điểm xảy
ra vụ thảm sát không bị kết án.
Nhiều người Triều Tiên cao niên còn căm thù đối với người Nhật trong thời kỳ đô
hộ nước họ. Hàng trăm ngàn người Triều Tiên bị đưa ra chiến đấu ở tuyến đầu và
làm việc như nô lệ trong những điều kiện vô cùng cực khổ. Phụ nữ Triều Tiên bị
đưa vào phục vụ sinh lý cho quân dội Nhật.
6* Chiến tranh thương mại Nhật-Trung có thể xảy ra hay không?
6.1. Kinh tế Nhật không dễ bị trừng phạt
Trước những cuộc biểu tình bạo loạn chống Nhật, hai tờ báo Nhân Dân và China
Daily cho rằng: “Nền kinh tế Nhật sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng nếu Trung Cộng
áp đặt việc trừng phạt kinh tế đối với nước nầy và thiệt hại kinh tế Trung Cộng
tương đối thấp”. Tuy nhiên, trang Tài Chánh Bắc Kinh cho rằng 2 tờ báo nầy “nói
cho sướng mìệng” chứ không dựa vào phân tích dữ kiện.
Trang Tài Chánh Bắc Kinh phân tích:
Nền kinh tế Nhật mang tính toàn cầu với phẩm chất kỹ thuật rất cao, trái lại
nền công nghiệp của Trung Cộng cơ bản có chất lượng thấp. Mỗi năm, Trung Cộng
phải nhập cảng linh kiện và bộ phận rời kỹ thuật cao của Nhật để lắp ráp thành
sản phẩm xuất khẩu trên toàn cầu. Khi Nhật bị nạn sóng thần thì nền công nghiệp
xe hơi của Trung Cộng và ngay cả Mỹ cũng bị chao đảo.
Nhật đứng đầu thế giới về khoa học, kỹ thuật. 700,000 nhà nghiên cứu với một
ngân khoản 130 tỷ USD mỗi năm. Những phát minh quan trọng trong ngành điện tử,
ôtô, máy móc, robot công nghiệp, hoá chất, quang học, kim loại, không gian...
Khoa học gia Nhật chiếm giải Nobel nhiều nhất châu Á. (18 người). Nhật có khả
năng sản xuất bom nguyên tử trong vòng 90 ngày.
6.2. Ám ảnh nạn thất nghiệp ở Trung Cộng
Nếu chiến tranh thương mại xảy ra, Nhật sẽ đóng cửa các nhà máy ở Trung
Cộng thì hàng triệu lao động sẽ bị thất nghiệp.
6.3. Thiệt hại của Trung Cộng về du lịch
Mỗi năm có 3.3 triệu người Nhật đi du lịch ở Trung Cộng, trong khi đó, chỉ có 1
triệu người Hoa đi du lịch và kinh doanh đến Nhật. Vừa qua, hảng hàng không
Nhật hủy bỏ 40,000 vé máy bay đặt trước để du lịch đến Trung Cộng, nếu chiến
tranh thương mại xảy ra thì ngành du lịch Trung Cộng sẽ bị thiệt hại đáng kể.
6.4. Tất cả đều thua
Theo tờ Wall Street Journal thì các công ty Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia,
Đức, Thái Lan đều có mối quan hệ chằng chịt không thể tách rời ra đối với Nhật,
cũng như đối với Trung Cộng, do đó, nếu chiến tranh thương mại nổ ra thì tất cả
đều bị tác động rất lớn ở tầm mức quốc tế.
“Đây là một cú đòn nặng nề giáng vào nền kinh tế thế giới”, nhà kinh tế Andy
Xie, chuyên gia của ngân hàng Morgan Stanley nhận xét như thế.
Chuyên gia kinh tế châu Á, Sarah McDowell thuộc hảng HIS Global Insight nêu
nhận xét, Trung Cộng chỉ hù doạ suông vậy thôi, và hai nước sẽ duy trì quan hệ
thương mại để tránh những hậu quả to lớn cho cả hai.
Trung Cộng và Nhật Bản phụ thuộc về kinh tế của nhau, Trung Cộng hiểu rõ như
thế, do đó chiến tranh thương mại rất khó có thể xảy ra.
7* Giải pháp tòa án quốc tế Vì Công Lý
Sở dĩ Nhật quốc hữu hoá quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là do ý muốn đưa vấn đề tranh
chấp chủ quyền ra Toà Án Quốc Tế Vì Công Lý, bởi vì tòa nầy chỉ xét xử những vụ
tranh chấp của các quốc gia với nhau.
Ngày 26-9-2012, Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda tuyên bố rằng, Nhật sẽ giành
thắng lợi nếu vụ tranh chấp lãnh thổ được đưa ra Toà Án Quốc Tế Vì Công Lý, khi
trả lời phỏng vấn báo chí bên lề kỳ họp Đại Hội Đồng LHQ ở New York ngày nói
trên.
Toà Án QT Vì Công Lý (International Court of Justice-ICJ) là một bộ phận trực
thuộc LHQ, thụ lý và giải quyết tranh chấp các vấn đề giữa các quốc gia thành
viên. Tòa được thành lập năm 1945, tọa lạc tại thành phố Den Haag (La Haye, The
Hague) thuộc Hòa Lan.
Vì toà ICJ không có tính cưỡng chế, nhiều trường hợp phán quyết của toà không
được thi hành nên việc tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư sẽ không được giải quyết
bằng luật pháp quốc tế. Phán quyết của toà án nầy chỉ mang tính chính trị, là
cho thế giới biết, ai là chủ quyền của quần đảo, nhưng phải được hai bên cùng
nạp hồ sơ xin toà xét xử.
8* Okinawa nơi tập trung không lực của Hoa Kỳ
Tờ Thanh Niên Tham Khảo của Trung Cộng có bài viết “Okinawa đang trở thành
“tổ chim diều hâu” của lực lượng trên không của HK tại châu Á- Thái Bình
Dương”.
Máy bay cánh xoay MV-22 Osprey, máy bay tuần tra săn tàu ngầm P-8A Poseidon,
máy bay chiến đấu tàng hình F-35 Lightning II và F-22 Raptor cùng với phi cơ
chiến tranh điện tử Boeing EA-18G Growler đã triển khai tại những căn cứ
Futenma, Kadena thuộc Okinawa.
5 loại phi cơ chiến đấu uy lực nhất của HK đã chọn Okinawa làm đại bản doanh.
Từ khi Washington tuyên bố quay lại châu Á Thái Bình Dương thì Đông Bắc Á trở
thành khu vực để Ngủ Giác Đài trang bị vũ khí tối tân nhất. Hàng không mẫu hạm
(HKMH) hạt nhân, tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Virginia (2.4 tỷ USD/chiếc),
tàu tác chiến tàng hình ven bờ LCS (Litteral Combat Ship) siêu chiến hạm tàng
hình Zamwalt DDG-1000 (3 tỷ USD/chiếc), phi cơ tàng hình ném bom tầm xa, tốc độ
siêu thanh B-2 (929 triệu USD/chiếc), phi cơ cảnh báo sớm…
8.1. Phi cơ chiến đấu tàng hình F-22 Raptor và F-35 Lightning II
F-22 Raptor
F-22 Raptor tàng hình, tấn công mặt đất, tác chiến điện tử và trinh sát vô
tuyến. Là phi cơ thế hệ 5 duy nhất hiện được đưa ra xử dụng từ năm 2005 (195
chiếc, giá 130 triệu USD/chiếc).
Đối thủ của F-22 Raptor là chiếc Chengdu J-20 của Trung Cộng. J-20 bay thử 15
phút khi Bộ trưởng QP/HK Robert Gates đang viếng nước nầy. Sẽ đưa vào xử dụng
từ 2017-2019. Công nghệ tàng hình của J-20 được cho là ăn cắp từ chiếc F-117
vốn bị bắn rơi ở Kosovo năm 1999 hoặc kỹ thuật của chiếc B-2 Spirit được lấy
bằng cách nào đó.
F-35 Lightning II
F-35 Lightning II là phi cơ chiến đấu tàng hình hiện đại nhất của thế hệ 5. Đặc
tính đa nhiệm vụ: không chiến (Tiêm kích), tấn công mặt đất (cường kích) và ném
bom. Được đưa vào xử dụng ngày 15-12-2006. F-35A cất cánh bình thường. F-35B
cất cánh đường bay ngắn, đáp xuống thẳng đứng như trưc thăng. F-35C dành cho
hàng không mẫu hạm. (giá 236 triệu USD/chiếc)
Đối thủ của chiếc F-35 là chiếc Shenyang J-31 (F-60) của TC và chiếc T-50 (PAK
FA) của Nga.
Ngày 31-10-2012 vừa qua, TC cho bay thử thời gian 10 phút chiếc nầy mang số
31001, trước khi Bộ trưởng QP/HK Leon Panetta đến viếng Bắc Kinh.
8.2. Phi cơ cánh xoay MV-22 Osprey
Phi cơ cánh xoay MV-22 Osprey được thiết kế để xử dụng vừa là một chiếc trực
thăng, vừa là một phi cơ thường. Cánh có thể xoay 90 độ để đưa chong chóng phía
trước hướng lên trời như trực thăng, và ngược lại. Là phi cơ vận tải có vũ khí
tự vệ. Chở nhiều quân hơn và các vũ khí năng hơn trực thăng, nhưng có tốc độ
cao hơn và bay xa hơn trực thăng.
8.3. Phi cơ săn tàu ngầm Boeing P-8 Poseidon
Chiếc Boeing P-8 Poseidon được thiết kế để săn tàu ngầm và dọ thám điện tử. Săn
tàu ngầm bằng ngư lôi và hoả tiễn tấn công dưới mặt nước. Chống hỏa tiễn từ tàu
ngầm phóng lên, thường hoạt động hỗn hợp với máy bay do thám không người lái.
Ngày 24-9-2012, Boeing cho biết đã nhận 1.9 tỷ USD để sản xuất thêm 11 chiếc
sau khi đưa ra xử dụng 3 chiếc.
P-8A Poseidon là phi cơ chống tàu ngầm hiện đại nhất hiện nay.
8.4. Phi cơ chiến tranh điện tử EA-18G Growler
Chiếc Boeing EA-18G Growler được thiết kế để trang bị cho hàng không mẫu hạm,
nhiệm vụ tác chiến điện tử. Năm 2009, Hải quân HK đã có 58 chiếc và đang có kế
hoạch mua thêm 90 chiếc cho 10 phi đội. Được trang bị hệ thống để xoá bỏ việc
gây nhiễu của đối phương, cho phép liên lạc nội bộ bằng tiếng nói, trong khi hệ
thống thông tin của đối phương không hoạt động vì bị nhiễu sóng.
Được trang bị hỏa tiễn để tự vệ và để phá các đài radar của đối phương. Là loại
phi cơ vô cùng lợi hại, làm mất khả năng liên lạc và chỉ huy của đối phương. Hai
chỗ gồi. Tốc độ 1.8 mach (1,188mph)
Vũ khí của HK được xem là chính xác và có hiệu quả, bởi vì, từ khi thử nghiệm,
sản xuất, đưa ra thực tế chiến trường, rút kinh nghiệm, đôi khi bằng xương máu,
rồi đưa trở lại sản xuất để sửa đổi cho hoàn hảo hơn. Trung Cộng thì trái lại,
kỹ thuật do ăn cắp khiến cho hàng nhái không bảo đảm giống hệt hàng thật 100%,
nhất là chưa thực sự tham gia chiến trường.
8.5. Sức mạnh của hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ
Ngày 3-10-2012, theo trang mạng Time thì HK đã đưa 2 HKMH USS George Washington
và USS John C. Stennis đến gần vùng biển tranh chấp Nhật-Trung cùng với một lực
lượng đặc nhiệm TQLC. Ngoài ra, chiến hạm USS Bonhomme Richard cùng với 2,000
TQLC đã xuất hiện ở vùng biển Philippines.
Việc triển khai một lực lượng vô cùng hùng hậu với các vũ khí khí hiện đại nhất
thế giới, đến vùng biển tranh chấp, đã đặt ra nhiều câu hỏi về mục đích của Hoa
Kỳ.
Mỗi HKMH có một Liên đoàn tác chiến gồm 10 chiến hạm được trang bị vũ khí hiện
đại nhất như hệ thống AEGIS, phát hiện và chận đánh hỏa tiễn từ xa. Trên mỗi
HKMH có 90 phi cơ đủ loại có khả năng xuất kích 200 phi vụ mỗi ngày.
Ngoài lực lượng áp đảo ở Okinawa, HK ngày càng siết chặt thiên la địa võng đối
với Trung Cộng.
9* Hoa Kỳ thiết lập đài Radar và viễn vọng kính ở Úc
Ngày 14-10-2012, hai Bộ trưởng QP HK và Úc công bố “Quân đội Mỹ sẽ triển khai
một đài Radar và một viễn vọng kính không gian tiên tiến ở Australia, một phần
trong kế hoạch tái tập trung ưu tiên của Mỹ ở châu Á-TBD.”
Trạm Radar C-band sẽ phát hiện hoả tiễn đạn đạo (Ballistic missile) có đường đi
qua 3 giai đoạn, là được phóng thẳng lên trời, vượt ra ngoài bầu khí quyển, đi
trong vùng không có sức hút của trái đất, rồi lại quay về mặt đất để đánh vào
mục tiêu,.
Viễn vọng kính để quan sát bên ngoài vũ trụ ở quỹ đạo cách trái đất 35,000km.
Hai thứ trang bị nầy nhằm kiểm soát, con đường mà TC đang nổ lực đi vào vũ trụ
bằng những con tàu không gian và vệ tinh.
Ngoài ra, HK và Úc cũng đang thảo luận về việc cho quân đội Mỹ xử dụng các phi
trường và quân cảng của Úc, cũng như việc gia tăng số TQLC Mỹ ở căn cứ Darwin.
Quyết tâm trở lại châu Á của Mỹ được thể hiện qua việc TT Obama đến viếng Miến
Điện trong những ngày đầu của nhiệm kỳ hai nầy. Ngày 15-11-2012, Bộ trưởng
QP/HK cũng vừa ký một hiệp thỏa thuận, mục đích tăng cường vai trò của quân đội
Thái trong nền an ninh khu vực và an ninh hàng hải, tái khẳng định các quan hệ
chiến lược và hợp tác quân sự Thái-Mỹ.
10* Kết luận
Liệu chiến tranh vũ trang có thể xảy ra hay không?
- Trung Cộng không dám gây chiến vì không đủ sức mạnh quân sự để chiến thắng
Mỹ-Nhật.
- Mặc dù vũ khí Nhật vượt trội hơn của Trung Cộng về mặt kỹ thuật, nhưng Nhật
không dám gây chiến vì số lượng vũ khí kém hơn về hỏa tiễn, tàu ngầm, tàu
chiến, phi cơ chiến đấu, bỏ bom…. Sau thế chiến 2, Nhật không được phép thành
lập quân đội và điều 9 Hiến pháp ghi như sau: “…cam kết vĩnh viễn không phát
động chiến tranh như một phương tiện để giải quyết xung đột quốc tế”.
- Hoa Kỳ cũng không muốn gây ra chiến tranh với Trung Cộng, vì kinh tế chưa
phục hồi và nhất là đã thấm mệt sau 2 cuộc chiến lâu dài ở Trung Đông. Hơn nữa
quyền lợi kinh tế giữa hai nước không cho phép họ tách rời ra được. Nhật nhờ
Hoa Kỳ bảo vệ, nhưng Mỹ không muốn chiến tranh thì cũng trớt quớt.
Ba quốc gia liên hệ không muốn chiến tranh vậy thì một giải pháp nào cho vấn đề
chủ quyền của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư?
Đó là giải quyết theo “luật giang hồ”, mạnh được, yếu thua. Kẻ mạnh đặt
ra luật chơi nhưng luật chơi của người văn minh dễ chịu và hợp lý hơn luật của
bọn bành trướng tham lam Trung Cộng.
Chiến lược HK ở châu Á nhằm mục đích bao vây, kiềm chế, răn đe hơn là tiêu
diệt, vì cả ba phía liên hệ, Nhật, Trung Cộng và Mỹ đều hưởng lợi về mặt kinh
tế của nhau. Gầm gừ, khua chiêng giống trống, đánh giặc miệng ồn ào rồi cũng tự
kiềm chế, trở về tình trạng cũ, gác tranh chấp qua một bên, hợp tác cùng phát
triển.
Ngày 15-11-2012, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố tại Úc: “Thái Bình Dương đủ rộng
cho tất cả chúng ta. Chúng tôi ủng hộ một nước Úc có những quan hệ chặt chẽ và
đa dạng với tất cả các quốc gia châu Á-TBD và trên thế giới, kể cả với Trung
Quốc, vì chúng tôi cũng mong muốn điều tương tự cho mình”. Có thể hiểu là HK
cũng muốn có quan hệ chặt chẽ với Trung Cộng, vì TBD đủ rộng cho “tất cả chúng
ta” cùng sống chung với nhau. (Úc, Trung Cộng và Hoa Kỳ)
Giấc mộng làm chúa tể hoàn cầu của TC chỉ có thể thực hiện được khi nào nước
nầy thực sự là một siêu cường số một về kinh tế và quân sự, nhưng TS Kissinger
cho biết, còn lâu TC mới thực hiện được cái tham vọng đó.
Trúc Giang
Minnesota tháng 11 năm 2012