Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, November 30, 2012

Người Việt hãy cảnh giác khi về VN



From: Lien Thi Trinh
Subject: Fw: Người Việt hãy cảnh giác khi về VN
To:
Date: Wednesday, November 14, 2012, 3:08 PM

 

 
Người Việt hãy cảnh giác khi về VN
Việt Hoàng


 
Bài này được viết với lý do thông báo cho người Việt, khi về VN hãy báo trước cho thân nhân là có thể xảy ra mà can thiệp cho kịp thời.

Sau tin tức của đài RFA ngày 13 tháng 8 năm 2012 về việc một Việt kiều Đức về Việt Nam đã bị chặn ở cửa khẩu phi trường Tân Sơn Nhất mặc dù anh ta đã có Visa, tôi đã liên lạc được với anh và được anh cho biết sự thật như sau:

Vào ngày 9 tháng 8 năm 2012 anh Vương Trí Tín đã đáp chuyến máy bay của hãng hàng không Emirates đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 19:30 giờ, sau khi nhận Visa tại phi trường thì anh ta đến cửa khẩu để vào nước. ở đây họ không cho anh vào và nói là Visa bị trục trặc và yêu cầu anh quay trở lại văn phòng nơi đã cấp Visa để hỏi nguyên nhân. Tại nơi đây Công An cục xuất nhập cảnh đã mời anh vào phòng "làm việc". Sau nhiều cuộc thẩm tra với những câu hỏi được lập đi lập lại nhiều lần như:

"Anh tên gì? "

"Sinh năm bao nhiêu?"

"Về Việt Nam có chuyện gì và dự định ở bao lâu?"

"Anh về Việt Nam đã bao nhiêu lần rồi?" và "Anh về VN sẽ ở đâu?"

Mặc dù những câu hỏi này hành khách vào VN đã phải khai khi xin Visa, nhưng họ vẫn hỏi đi hỏi lại, điều này sẽ làm cho người bị hỏi bị khủng hoảng tinh thần. Vì khi một người cứ phải trả lời những câu hỏi giống nhau thì sau một vài lần là họ bị nervous. Đây là một thủ đoạn của CSVN vẫn thường áp dụng để khống chế tinh thần người bị hỏi cung.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ cứ lập đi lập lại những câu hỏi như thế qua nhiều người (tổng cộng là 4 nhần viên, họ lần lượt thay nhau ra hỏi cung). Trong thời gian này thì anh Tín đã điện thoại ra bên ngoài báo cho gia đình biết là Visa bị trục trặc còn đang chờ đợi để được giải quyết. Đến lượt người nhân viên thứ tư của CACK (công an cửa khẩu) sau khi hỏi những câu như thế ngoài ra ông này đã hỏi mượn điện thoại di động của anh T. Vì nghĩ là họ đang giải quyết thủ tục Visa cho mình vào, nên nếu họ hỏi mượn điện thoại mà mình không đưa họ mượn, thì đây có thể cũng là 1 cái cớ để họ kiếm chuyện, do đó anh T. đã đưa điện thoại của anh cho tên này. Sau khi cầm điện thoại của anh T. thì hắn mới nói:

"Xin thông báo cho anh được biết là, nhà nước VN không hoanh nghênh anh vào VN."

Anh T. mới hỏi: "Với lý do gì mà tôi không được vào?"

Tên (công an cửa khẩu) CACK này trả lời: "Không có lý do !"

Anh T. "Vậy anh đưa lại điện thoại cho tôi để tôi thông báo cho gia đình tôi biết."

CACK: "Không, anh không được sử dụng điện thoại."

Anh T.:"Ở VN cấm xài điện thoại hay sao?"

CACK: "Việt Nam không cấm xài điện thoại, nhưng trường hợp của anh đặc biệt."

Anh T.:"Nhưng anh phải trả lại điện thoại cho tôi để tôi báo gia đình chứ để họ đợi cả đêm hay sao."

CACK: "Anh không cần phải lo, gia đình anh sẽ được thông báo."

Anh T.:"Nhưng tôi phải thông báo cho toà Đại Sứ Đức của tôi."

CACK: "Anh không được dùng điện thoại."

Anh T.:"Nếu anh giữ điện thoại của tôi thì anh phải làm giấy biên nhận cho tôi."

CACK: "Tôi đâu có giữ điện thoại anh làm gì, tôi chỉ mượn tạm thời, sau khi thủ tục giấy tờ của anh xong tôi sẽ trả lại."

Sau đó thì tên CACK dẫn anh T. ra lại phía bên ngoài nơi có dãy ghế để khách xin Visa ngồi đợi và hắn dặn một nữ CA canh chừng không cho anh T. lien lạc với một ai để mượn điện thoại hoặc nhờ họ điện thoại dùm.

Nhưng sau nhiều lần cố gắng tìm cách liên lạc thì anh T. đã gặp hai anh chị ở Mỹ về chơi cũng nhận Visa tại phi trường, nên họ ngồi đợi nơi dãy ghế đó. Được biết là anh chị này sống ở Philadelphia, họ đã nhắn tin đến với gia đình anh T.

Tên CACK sau khi đi vào văn phòng khoảng nửa tiếng sau đó thì quay ra với bản quyết định không cho nhập cảnh, văn bản này được viết bằng hai thứ tiếng (Việt và Anh), nhưng được biết là bản bằng tiếng Việt có những điều không đúng với bản tiếng Anh nên anh T. không đồng ý ký tên. Họ cũng không đưa cho anh giữ một bản phụ nào, mặc dù trước đó anh T. có hỏi thì nhận được trả lời là: "Dĩ nhiên chúng tôi sẽ đưa anh giữ một bản."

Một điều rất oái oăm nữa là, họ bắt giam anh T. và bắt anh phải trả 90 US Dollar, với lý do sử dụng phòng nghỉ. Ban đầu thì anh T. không chấp nhận điều này và nói sẽ ngồi lại ở dãy ghế nơi hành khách ngồi đợi Visa, đến lúc quay về Đức. Nhưng họ lại nói với anh rằng:

"Anh lên phòng nghỉ ngơi cho khoẻ, ở đó có điện thoại, anh muốn ăn gì thì gọi điện thoại đặt người ta sẽ đem tới cho anh."

Họ giải thích: “90 Dollar là tiền để trả cho hai nhân viên phục vụ, mỗi giờ 9 Dollar, nếu ở chỉ 3 tiếng cũng phải trả 90, mà nếu ở đến 24 tiếng cũng trả 90 Dollar.“

Vì đang cần điện thoại để nhắn tin gia đình nên anh T. bằng lòng trả tiền để lên phòng. Ba nhân viên An Ninh có đeo súng đem anh T lên phòng và sau đó khoá cửa lại, trong phòng dĩ nhiên không có điện thoại như họ đã nói. Trong hơn 24 tiếng đồng hồ họ thay tất cả 5 ca gác, mỗi ca hai nhân viên An Ninh.

Nơi phòng giam có tất cả 6 giường, có một Menu để khách bị giam có thể đặt đồ ăn, nếu muốn ăn thì nhân viên AN sẽ gọi phone đặt. Anh T. cho biết là thực đơn ở đây đựơc tính bằng US Dollar, so ra mắc hơn cả đi ăn ở nhà hàng ngay Saigon, điều này nhân viên AN ở đó cũng xác nhận.

Trong thời gian CACK ở phi trường Tân Sơn Nhất giam giữ anh T. thì gia đình anh đã thông báo cho những người bạn Đức của anh để nhờ họ liên lạc với Toà lãnh sự Đức ở Saigon. Ở đây nhân viên Lãnh sự quán Đức đã nhiều lần liên hệ với các cấp thẩm quyền, nhưng họ trả lời là không có giữ ai tại phi trường với tên họ như thế. Những người bạn Đức của anh T. nhận được trả lời của LS Đức từ Saigon như thế thì họ quả quyết:

"Gia đình của ông T đã hơn 10 tiếng đồng hồ không liên lạc được với ông ta, chúng tôi cũng thế."

LSQ Đức: "Việt Nam họ chỉ luôn luôn nói một nửa sự thật. Nhưng các ông yên tâm, đến ngày mai mà các ông cũng như gia đình ông ta vẫn chưa có tin thì chúng tôi sẽ làm việc trực tiếp với chính quyền VN."

Trong thời gian bị giam giữ CACK đã giữ Vali của anh cũng như Passport, vé máy bay và điện thoại. Đến lúc ra phi cơ để bay trở về nước thì nhân viên An Ninh dẫn ra và giao anh cho nhân viên hãng hàng không Emirates, chuyến bay dừng ở Dubai trước khi về Đức tại đây cũng có nhân viên ra dẫn anh T về một nơi và dặn là không được đi đâu chỉ ngồi tại đó đợi đến giờ máy bay gần bay sẽ có người đến dẫn đi. Tại phi trường Frankfurt thì họ mới giao Passport, vé máy bay (thì mới lấy hành lý được)... điều này cho chúng ta thấy anh bị canh giữ như một tội phạm nguy hiểm.

Qua câu chuyện trên của anh Tín thì chúng ta thấy CSVN vẫn luôn gian xảo, lừa lọc và thủ đoạn mọi thứ, họ cứ cho người bị nạn hy vọng, nên vào bẫy lúc nào không biết.

- Trước khi tuyên bố không cho nhập cảnh thì lấy cớ là mượn điện thoại, sau khi nắm lấy được phương tiện liên lạc của người bị nạn thì lúc đó mới tuyên bố không cho nhập cảnh.

- Không có lệnh bắt giam mà lại thu giữ đồ dùng cá nhân (điện thoại di động cũng như Passport, vé máy bay, giấy tờ tuỳ thân) và cắt đứt liên lạc với người thân.

- Giam giữ người trái phép không có lệnh giam, với lý do là đễ phục vụ canh giữ anh ninh cho khách.

- Và vì nhân viên An Ninh phải bảo vệ an ninh cho "khách" nên "khách phải trả tiền phòng (phòng giam)

- Cho thông tin không đúng khi nhân viên Lãnh sự điện thoại hỏi. Theo luật Quốc Tế nếu giam trên 24 tiếng đồng hồ phải báo cho Lãnh sự quán, nếu giữ công dân của họ. Ở đây nhân viên Lãnh sự đã điện thoại hỏi, nhưng họ lại đưa thông tin sai.

Trong lúc bị giam giữ anh T. đã được nhân viên AN cho biết là trong thời gian gần đây do ở Việt Nam tình hình không được ổn định (vì có nhiều cuộc biểu tình), nên những ai hay thường về Việt Nam hoặc mới về sẽ bị đặt nghi vấn, và nếu họ nghi thì sẽ không cho nhập cảnh VN và trục xuất về nước. Như thế thì qua điều này cho chúng ta biết được là tình hình đấu tranh trong nước đã có biến chuyển.

Trên đây là mẫu chuyện thật của anh Tín đã kể lại, khi tôi liên lạc với anh. Còn một điều rất đáng buồn khi nghe anh kể lại, sau khi trở về Đức và liên lạc với gia đình ở VN thì được biết bà mẹ của anh ta khi nghe con mình về thăm ngày hôm trước bà khoẻ và vui hẳn ra, đến hôm anh tới VN thì bà đòi đi đón con mình mặc dù bà bệnh nằm liệt giường cả hơn nửa năm nay, nhà anh phải chiều ý bà và bế bà cụ xuống duới nhà để chờ con, nhưng người con đã không được vào VN để về thăm mẹ mình. Xin cầu đấng thiêng liêng cho cụ có sức khoẻ để đợi ngày đứa con mình về thăm, ngày ấy không còn xa đối với anh cũng như đối với người Việt yêu chuộng Tư Do.

Việt Hoàng

Lê Tài Điển, Trong Tôi Xuân Về


 

Lê Tài Đin, Trong Tôi Xuân V

 

 Nguyễn-Xuân Nghĩa



 

Hồi tưởng về tuổi hoa niên với Lê Tài Điển là đụng vào hiện tượng "télescopage", sự va chạm dữ dội cùng lúc của ký ức, làm bung ra những màu sắc táo bạo, lạnh lùng mà buồn thảm. Như tranh của ông. Trong nhà tôi, duy nhất có bức tranh sơn dầu của một tác giả Việt Nam thì đấy là tranh Lê Tài Điển.



Năm xưa, khi đọc cuốn "Bốn Mươi" của Mặc Đỗ, chúng tôi còn là những đứa trẻ.

Ngày nay, đã gấp rưỡi tuổi đó mà nhìn lại thì Paris và Sàigon đã gấp làm một. Ở giữa là mái tóc Lê Tài Điển như cái bờm sư tử và tiếng "ụ ẹ" rất độc đáo của ông... Nhớ lại là lại trào nước mắt.

Tôi có cái may là chơi với người bạn mình coi là bậc thầy mà vẫn được gọi là "mày tao", dù Lê Tài Điển sinh trước khá lâu. Xin nói về chuyện "thầy trò" này trước, được khám phá khi còn đi học tại Paris.

Thời điểm là quãng 1968-1969. Địa điểm là Châtillon, nơi Điển trú ngụ trong một căn phòng tối cùng một người em cũng ít nói như ông. Khi ấy, tôi nào có biết họ Lê Tài là một dòng họ lớn ở miền Nam?



Lê tài Điển –Thái Tuấn - Nguyễn Phước

Tỉnh Hauts de Seine là vành cung ôm lấy phía Tây thủ đô Paris, từ Bắc xuống Nam. Châtillon là mỏm cực Nam của tỉnh, từ Paris đi xuống bằng xe điện ngầm thì phải mệt mỏi đến trạm cuối, hình như là Châtillon-Montrouge, còn sâu hơn Montrouge, là nơi gặp Danh, Lộc, Hương, Phương....

Thời ấy, Điển hút Peter Stuveysant rất thơm trong gian phòng chỉ có mùi cà phê đặc. Căn phòng tối vì chúng tôi chỉ gặp nhau nơi đó vào lúc âm u ban chiều.

Hàng năm, ngoài tờ nguyệt san Sinh Viên in ronéo, và có bàn tay của Điển, Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris vẫn tổ chức một đêm văn nghệ Tết tại rạp Maubert Mutualité. Một hý viện bình dân gần hai ngàn chỗ, tại Quận Năm. Năm đó là ngay sau vụ Mậu Thân 68 ở nhà.

Đám sinh viên tụi tôi bảo nhau phải đưa ra một tay chống cộng nổi tiếng trong cuộc bầu cử vào Ban Chấp hành. Trong Ban Chấp hành đắc cử nhiệm kỳ 1968-1969, có Lê Tài Điển. Chủ tịch là kẻ mang tiếng du côn ưa đánh lộn ngoài đường với đám sinh viên Cộng sản hay thân cộng, là người viết này. Còn lại, đều là những người tử tế, đôi khi không hiền lành, như Đinh Xuân Quân.



Nguyễn Trung ,Nguyễn Cầm ,Mai Thảo ,LêtàiĐiển

Paris 1991  

Tổ chức Văn nghệ Tết Kỷ Dậu, vụ Mậu Thân 68 có phần lấn át lễ kỷ niệm chiến thắng Kỷ Dậu 1789. Vì chủ đề của buổi văn nghệ đó phải là biến cố Mậu Thân và những vụ thảm sát ở nhà.

Viết nhạc cảnh không kéo màn, non-stop, cho buổi trình diễn đó là sự tài hoa của Nguyễn Kim Cương. Học Jean Jacques Rousseau ở nhà, Cương đã vào trường Ponts (Kiều Lộ) nhưng là tay kỹ sư có máu văn nghệ và trình độ văn hóa thuộc loại cao nhất trong số anh em....

Nhưng trên một sân khấu bề ngang 18 thước, làm sao diễn tả những cảnh đổ nát của chiến tranh - mà ngân sách của một hội sinh viên thì có hạn? Lê Tài Điển trầm ngâm suy nghĩ về bài toán này.

Chúng tôi thuộc vào loại bạn chí thiết đến độ cả ngày không nói với nhau quá ba câu. Có gì để nói đâu, ánh mắt là đủ. Đấy là sự cô đơn thoải mái.

Trong căn phòng tối thui, ngổn ngang đồ vật lỉnh kỉnh của một họa sĩ, điêu khắc gia và thiết kế nữ trang để kiếm sống, Điển làm một bình cà phê đặc quánh, có thoả hiệp với sức khoẻ là châm chút sữa, nhưng kéo thuốc liên hồi. Quấn chăn, mặc áo lạnh như con gấu, ông cứ nín thinh tựa một thiền sư. Rồi xé tấm bìa trắng, gấp làm ba như hình chữ U, ông bật ngọn đèn thổ tả trên bàn và chiếu áng sáng vàng vọt vào đó.

Sân khấu đấy!

Với màu nước và cây cọ nhỏ bằng chiếc bút chì, Điển thư thái nhờ Peter Stuveysant dẫn về nhà, hay vào một thế giới khác. Bên cạnh, tôi ngồi đực mặt với bản thảo của vở nhạc cảnh. Chẳng hiểu gì khi Điển nguệch ngoạc vẽ màu đen đỏ chằng chịt trên vuông giấy to bằng tấm carte postale.

"Đấy là maquette của sân khấu, mô hình theo đó tụi mày cố mà làm!"

Tôi hơi run và càng run hơn nữa khi anh em phải mua vải bố loại rẻ nhất rồi díu vào nhau thành một tấm bạt trắng trải lên gian phòng ở sân thượng của Đại học xá Maison de l'Indochine. Đây là loại nhà kho trên lầu bốn để chất những vật dụng chẳng ai thèm ngó tới, kể cả một bức tranh của Lê Phổ từ năm 1936 và nhiều áo quần của binh lính thời xưa, hình như đem từ nhà qua cho một cuộc Đấu xảo thời Khải Định mà mọi người đều quên ở đó.

Chuyện kinh hãi hơn là Lê Tài Điển mở ra từng thùng sơn đỏ, cam, xanh, đen. Ông lấy thanh gỗ pha ngoáy lung tung và đổ ào lên tấm bạt rồi lấy cây cọ bự bằng cái chổi mà quét ngang dọc liên hồi. Chúng tôi bì bõm trong màu mà hơi hốt hoảng vì vốn liếng chỉ có ngần đó thôi! Đợi sơn khô rồi, Điển cầm chổi vẽ dọc ngang từng mảng đen ngòm.

Nghĩa là từ tấm bìa vẽ đỏ đen trong phòng, Lê Tài Điển đã sai chúng tôi phóng màu lên tấm bạt mười mấy thước và ngoáy thêm mấy mảng xanh đậm. Rồi đợi ngày lên khung. Là đem lên sân khấu rạp Maubert tìm cách treo lên mà không được trùng. Bên dưới là mấy thùng carton méo mó được trải trên sàn, phủ bằng vải bố dày cứng những sơn.

Chúng tôi hơi khớp cho buổi tập dượt. Gói ghém đồ nghề vào nhà kho cho buổi trình diễn thì còn run hơn nữa mà không vì lạnh. Tháng Hai buốt giá tại Paris mà đi dán biểu ngữ quảng cáo cho buổi Văn nghệ Tết Kỷ Dậu, trong khi chờ đợi đụng trận với phe bên kia, tại cùng một rạp vào một ngày khác.

Thế rồi, đêm đó, khi sân khấu mở màn thì tôi học được bài học về sự sáng tạo của nghệ thuật.

Màn kéo lên trong tiếng nổ chát chúa của bom đạn và những tràng liên thanh bất tận. Hình như đấy là phần kỹ thuật của Trịnh Xuân Điều. Ánh sáng nhập nhòa trong tiếng súng, nghi ngút toả khói từ neige carbonique và tràn ra ngoài.
Khi khói tan dần thì khán giả ứa lệ trước cảnh thê lương đổ nát.
Chân trời đỏ rực những mái nhà sạt góc, phơi ra rui mè đen đủi, bên dưới là những mảnh vụn của gạch vữa và cây cối, cùng những xác chết ngổn ngang.

Khán giả bên dưới bật khóc khi bà mẹ tìm con, vợ tìm chồng và lật ngửa từng người để xem mặt. Đủ cả, lính quốc gia lẫn đặc công Việt cộng! Một người từ Besançon xuống đã được anh em đôn vào trận đánh này là Mai Thanh Truyết. Nhờ dáng vẻ gầy gò nên thủ vai Việt cộng là hợp cách!

Sau giây phút bàng hoàng làm mọi người chết lặng, bỗng thấy trổi lên điệu "Giang Đông Hướng Mã" của cổ nhạc Nam phần:
"Cũng tại chúng, nhân ngày Xuân,
"Hưu chiến rồi phản công
"Dùng dân làm bia!
"Rồi thua trận trên đường bại tẩu
"Đốt nhà! Bắn nhầu...
"Nghe tin ấy, sinh viên ở đây,
"Đau xót, hờn căm"....

Ngày nay, người sáng tác vở nhạc kịch này là Cương thì có thể đã quên. Và cũng quên phần kết rất vui tươi lấy từ một điệu Chèo cổ của miền Bắc, trên một rừng cờ vàng rực sáng. Tôi thì không quên và vẫn thắc mắc. Vì sao một kỹ sư Kiều Lộ sinh ở ngoài Bắc, du học từ một trường Tây ở Sàigon lại biết và nhớ ngần ấy điệu ca của dân gian để đưa vào một màn ca vũ nhạc cảm động như vậy?

Bây giờ thì mình cũng hiểu vì sao Lê Tài Điển là một người thầy.



Ngồi trong căn phòng nhỏ hẹp ở vùng ngoại ô tồi tàn của Paris, ông mường tượng ra sự hoang tàn ở nhà và trên một mảnh giấy nhỏ đã vẽ từ trong đầu ra sân khấu rạp Maubert. Khi âm thanh và ánh sáng nổi lên, những tấm vải bạt với màu sắc tối ám vô nghĩa bỗng sống dậy, bật lên như một trái đấm vào tim.

Tôi kết luận là họa sĩ nhìn sự thể không giống người thường.

Và biết mình sẽ không thể đi vào hội họa! Tôi kính trọng các họa sĩ và càng kính trọng ông khi thấy nét vẽ Lê Tài Điển từ bốn chục năm trước đã dần dần xuất hiện ở nhiều người khác. Nhưng Điển thuộc vào loại nghệ sĩ có tài mà có tật: rất ghét bán tranh của mình!

Sau này, khi về nước làm việc, trong nhà tôi chỉ có tranh Lê Tài Điển. Vẫn lầm lì ít nói, ông đến tận nhà, lên khung căng bạt để vẽ. Những tác phẩm đó rồi cũng mai một sau biến cố 1975.

Nhà ông ở đường Trần Quý Cáp có những tàng cây trứng cá trên cái sân im ắng như cuộc đời ông, hiền lành như thân phụ ông, một cụ ông có phong cách của nhà giáo miền Nam. Nhưng ít ai biết là tuổi thanh xuân của Lê Tài Điển lại không phẳng lặng như vậy!

Nứt mắt ra đã đi biểu tình vụ Trần Văn Ơn. Sau này còn dính líu đến vụ Nguyễn Văn Trỗi và bị mật vụ thời ông Diệm đánh cho nhừ tử. Ở bên trong ổ kiến lửa, ông biết Nguyễn Văn Trỗi là không có thật và chạy trối chết qua Pháp. Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định này cũng lạ!

Tại Paris, ông ở vào phe quốc gia thứ thiệt, dù đã từng bị bầm dập từ cả hai phía. Vậy mà khi về nhà, ông còn bị kẹt lại sau 75. Không nói ra, chúng tôi đều lo....

Trong ngôi nhà của ông, dưới tàng cây trứng cá, tôi được gặp một bà dì họ xa của Điển. Bà là cố nhân của Tướng Nguyễn Bình và nói chuyện rất lâu về giấc mơ độc lập rồi những bẽ bàng sau đó. Nguyễn Bình hay Nguyễn Phương Thảo, Nguyễn Xuân Thảo gì đó là những tiền kiếp của quê nội tôi ở làng An Phú đất Hưng Yên. Tôi nghe lại những chuyện đó trong ngôi nhà của Điển trên đường Trần Quý Cáp ở Sàigon - và cứ hỏi "tại sao mày kẹt lại?"

Kẹt lại không chỉ trong không gian mà cả một khung cảnh đầy nhiễu nhương của thời gian. Nói cho cường điệu là của lịch sử!

Từ năm ngoái, Nguyễn Xuân Hoàng tại San Jose và Phan Thị Trọng Tuyến ở bên Pháp liên lạc để nói về "Dự án Lê Tài Điển". Khi ấy, tôi dự tính trình bày lòng ngưỡng mộ của mình cho một thằng bạn tuổi thanh xuân. Nhưng ngần ấy kỷ niệm va chạm và vỡ vụn như những tảng màu của một bức tranh buồn khiến mình tần ngần mãi. Khởi đầu là truyện "Bốn Mươi" của Mặc Đỗ, với các nhân vật có ký ức chồng chất từ phe này qua phe kia trong sự loay hoay chung của đất nước. Đến thế hệ chúng tôi cũng vậy.

Cuối cùng, chỉ có Lê Tài Điển là bình thản lãnh hết. Rồi phóng lên tranh, viết thành thơ. Trong sự không may chung, ông là người ung dung nhất. Riêng tôi thì giữ được một phần thưởng chẳng ai trao: "Có người bạn thân nhất trong tất cả các bạn xưa nay, chính là Lê Tài Điển".

Tôi có nhờ Nhã Ca, Nguyễn Xuân Hoàng và nhiều người khác nhắn cho điều ấy. Nay thì xin được viết lại trên giấy, và nhớ lời dặn dò của thằng bạn lúc nào cũng mạnh bạo trong sự từ tốn bí hiểm như hội họa của ông. Đó là tên bài thơ xuôi "Tình Ca Đất Nước Ta Đi Tới"....

GHI CHÚ: TUYỂN TẬP NHỮNG MẢNG RỜI

Buổi Ra Mắt Sách Tuyển tập Những Mảng Rời của tác giả Lê Tài Điển tổ chức vào Chủ Nhật 18/11, lúc 3PM, tại Việt Báo Gallery, 14841 Moran St, Westminster, CA 92683. L/L (714) 894-2500.3

Lý Do Sâu Xa Lòng Hận Thù Nơi Người Ả Rập – Hồi Giáo Đối Với Hoa Kỳ


 

Lý Do Sâu Xa Lòng Hn Thù Nơi Người Rp Hi Giáo Đi Vi Hoa K

Nguyên Khai



 

Sau biến cố “911” (11/9/2001) rất nhiều người Mỹ nêu lên câu hỏi “Tại sao người ta (Ả-Rập Hồi Giáo) lại thù ghét chúng tôi như vậy?”

Thắc mắc nêu trên khó có câu trả lời nếu chỉ xét trên quan niệm thông thường về Tự Do – Dân Chủ – Nhân Quyền hay Công Bình – Bác Ái là những khái niệm phổ quát quá quen thuộc với đa số nhân loại đã chịu ảnh hưởng giáo dục của Âu-Mỹ và văn minh Thiên Chúa Giáo.

Một số các nhà nghiên cứu cho rằng vì chính sách của Hoa Kỳ luôn bênh vực người Do Thái chống lại thế giới Ả Rập đa số theo đạo Hồi.

Một số khác lại cho rằng vì một số người Tây Phương đã có những hành vi “báng bổ đấng Tiên Tri của đạo Hồi” (blasphemed the Prophet of Islam).
 
Chẳng hạn năm 1988 nhà văn Anh, ông Salman Rushdie, đã viết cuốn “Những Vần Thơ Ác Quỉ” (The SATANIC VERSES) đả phá Kinh Koran, “Thánh Kinh” của Hồi giáo. Ông Rushdie bị khắp thế giới Hồi Giáo phẫn nộ lên án và ngày 14/1/1989 Giáo Chủ Ayatolla Ruhollah Khomeini, lãnh đạo Tối Cao của Iran lên án “tử hình”. Tình báo Anh Quốc đã phải đưa gia đình Salman Rushdie tới một nơi bí mật và bảo vệ vô cùng chặt chẽ nên đến nay ông vẫn an toàn.

Năm 2006 Giáo Hoàng Benedict XVI trích dẫn một lời đối thoại thời Trung cổ – giữa một vị Thân Vương và một lãnh tụ Hồi Giáo – theo đó vị Thân Vương kia nói đại ý rằng “Từ khi có Hồi Giáo thì chỉ thấy có gươm đao, chém giết chứ chẳng thấy có gì mới mẻ cả.” Thế giới Hồi Giáo sôi sục phẫn nộ với những cuộc biểu tình phản đối, những lời đe dọa tính mạng Giáo Hoàng. Nhóm Hồi Giáo Huynh Đệ (Muslim Brotherhood) đòi GH xin lỗi, Morocco triệu hồi Đại Sứ của họ ở Vatican về nước…

Rồi tới vụ một họa sĩ Bắc Âu đã vẽ hình giáo chủ Muhammad giống như một trái bom; vụ binh sĩ Mỹ đốt kinh Koran khi thu giọn đơn vị tại Afganistan, hoặc phê bình tiên tri Muhammad ấu dâm khi “cưới” một cháu bé 6 tuổi tên là Aisha làm vợ trong lúc ông ta đã năm mươi tuổi. Và năm ngoái một Mục Sư Tin Lành lại dọa đốt kinh Koran khiến bùng lên những vụ phản đối, kêu gọi thánh chiến, đánh bom tự sát để trả thù các quốc gia Tây Phương (nhất là Hoa Kỳ) khiến nhiều vị nguyên thủ quốc gia (kể cả Giáo Hòang) cũng phải lên tiếng can ngăn.

Mới đây nhất là vụ một đoạn phim ngắn có tên “Sự ngây thơ của người Hồi Giáo” (The Innocent Muslims) do một công dân Mỹ gốc Do Thái thực hiện được đưa lên YouTube vào tháng 7/2012, với sự hỗ trợ của một số người không thích đạo Hồi.
 
Một loạt các vụ đánh bom, khủng bố nhắm vào Hoa Kỳ và các nước theo Thiên Chúa Giáo xẩy ra ở nhiều nơi trên thế giới mà nghiêm trọng nhất là vụ tấn công vào Sứ Quán Mỹ tại Benghazi (Libya) khiến Đại Sứ Hoa Kỳ tại đó là Christopher Stevens và một số người thiệt mạng!

Tất cả những trường hợp coi như có tính cách “chọc giận” người Hồi Giáo như đã nêu trên KHÔNG phải là nguyên nhân đích thực để người Ả Rập Hồi Giáo tấn công hay trả thù Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương.
 
Ngay tại Indonesia, Philippines, Checnia… người theo đạo Hồi (không phải là người Ả Rập) cũng chống đối nhà cầm quyền tại các quốc gia đó, luôn luôn đòi hỏi việc áp dụng luật Hồi Giáo và gây ra nhiều vụ khủng bố, phá hoại, “thánh chiến”.
 
Những trường hợp gọi là “chọc giận” đó chỉ là dịp, là những cơ hội để người Hồi Giáo thực hiện cái niềm tin – ý chí và tôn chỉ mà họ luôn luôn được nhắc nhở hàng ngày qua lời kinh KORAN.
Hoa Kỳ và các quốc gia tôn trọng quyền “TỰ DO PHÁT BIỂU” (Freedom of speech) bị mắc kẹt ở chỗ không thể cấm người dân bày tỏ quan điểm của họ về bất cứ thứ gì, kể cả các “phát biểu” của họ về Hồi Giáo.
 
Vì thế mỗi khi có một công dân nào ở các nước ấy phạm vào “điều cấm kỵ” của HG, chẳng hạn vẽ hình giáo chủ Muhammed, thì Hoa Kỳ, Anh quốc, Pháp … lại bị người Hồi Giáo trả thù.

Từ khi T.T. OBAMA nhậm chức cách nay bốn năm, ông đã tỏ ra “quá độ khiêm nhường” trước các vị Giáo Chủ HG mỗi khi công du tới các quốc gia này với hy vọng người Hồi Giáo sẽ nhẹ tay hơn trong các vấn đề tế nhị như thế. Đáng tiếc là sự khiêm nhượng của ông OBAMA không thay đổi được gì!

Vậy thì đâu là nguyên nhân sâu xa để người Hồi Giáo thù ghét Hoa Kỳ và các quốc gia không theo đạo Hồi?

Như đã nêu trên, nguyên nhân chính của những sự thù ghét nằm ở kinh Koran mà bất cứ người Hồi Giáo nào, Ả-Rập cũng như không Ả-Rập, kể cả người Mỹ chính gốc theo đạo Hồi … cũng phải đọc hàng ngày và mỗi ngày đọc năm lần.

Bà Wafa Sultan, một bác sĩ Y Khoa ở Syria, là người Hồi Giáo từ khi mới sinh. Bà xin tị nạn tại Hoa Kỳ khoảng năm 1988 và năm 2006 bà đã được tạp chí TIME bình chọn là “một trong số 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới”.
 
Trong cuốn sách nổi tiếng A GOD WHO HATES bà đã cho chúng ta thấy rằng hàng ngày mỗi người Hồi Giáo đều “nguyền rủa” người Do Thái và người Thiên Chúa Giáo rất nhiều lần mỗi khi họ cầu nguyện và họ cầu nguyện năm lần một ngày.
 
Mỗi khi cầu nguyện họ phải đọc kinh “Fatiha”, đoạn thứ nhất của kinh Koran, trong đó mô tả người Do Thái (Jews) là những kẻ làm nổi cơn thịnh nộ của Chúa và người Thiên Chúa Giáo (Christians) là những kẻ đi hoang.
 
Việc lập đi lập lại hàng ngày những lời kinh như thế đã tạo ra cái tâm lý thù ghét người Do Thái và Thiên Chúa Giáo và tất nhiên nó ăn sâu vào máu thịt, xương tủy người Hồi Giáo từ khi còn thơ ấu cho tới ngày nhắm mắt xuôi tay. Hậu quả là mỗi khi có dịp thì sự giận dữ, thù ghét và ý muốn trả thù của họ sẽ bùng lên như núi lửa!

“Người Hồi Giáo không thuộc gốc Ả-Rập không biết rằng họ đang nguyền rủa người Do Thái và người Thiên Chúa Giáo (mỗi khi đọc kinh), bởi vì họ cầu nguyện bằng tiếng Ả-Rập nên không hiểu họ đang cầu cái gì.” (Non-Arab Muslims are unaware that they are cursing the Christians and the Jews, because they pray in Arabic without understanding what they are saying.” (trang 168 sách đã dẫn). Wafa Sultan còn kể rõ chủ nghĩa khủng bố phát xuất từ thế giới Ả-Rập và từ Saudi Arabia lan sang các quốc gia Hồi Giáo khác, với sự trợ lực về ý thức hệ và về tài chánh của người Ả-Rập.
 
Nhưng tại sao người Hồi Giáo lại thù ghét Hoa Kỳ?
 
Thực ra không phải họ chỉ ghét có Hoa Kỳ mà cả Anh, Pháp, Ý, Đức, Úc, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Nga và nhiều nước khá nữa. Họ ghét tất cả những người không tin vào đạo Hồi.
 
Cứ xem các cuộc biểu tình và đánh bom đã từng xẩy ra ở khắp nơi thì rõ. Họ thù ghét tất cả những kẻ “không tin” (unbelievers), những kẻ “phản đạo” (infidels).
 
Và mệnh lệnh của Giáo Chủ là phải giết tất cả những kẻ ấy để vinh danh Chúa và để được một chỗ trên thiên đàng. Trong một đoạn khác có tên là “Cow” trong kinh Koran bà Wafa đã đếm được hơn 20 lần chữ “giết” (kill).

Một bài viết ngắn đăng trong báo Người Việt News số tháng 11/2012 có tựa đề “Kẻ tà đạo là gì?”, trong đó ông Rick Mathes kể rằng trong tháng trước ông phải dự một khóa huấn luyện bắt buộc hàng năm để giữ đủ điều kiện cho an ninh trong nhà tù.
 
Trong khóa đó có phần thuyết trình của ba diễn giả đại diện cho Công Giáo La Mã, đại diện Hồi Giáo và Tiến Sĩ Stanley, đại diện cho Tin Lành.
 
Ông Rick Mathes rất chú ý phần thuyết trình rất lôi cuốn và hùng hồn của vị đại diện Hồi Giáo.
 
Tới phần dặt câu hỏi ông Rick đã hỏi vị đại diện Hồi Giáo như sau:
-Thưa ông, nếu tôi nói sai thì xin ông sửa lại cho tôi vì tôi hiểu rằng tất cả các vị Giáo Chủ và chức sắc Hồi Giáo đều tuyên bố Thánh Chiến (jihad) chống lại các kẻ tà đạo (infidels) trên thế giới, và bằng cách giết các kẻ tà đạo để được lên Thiên Đàng. Vậy xin ông cho biết kẻ tà đạo là gì?

Vị diễn giả Hồi Giáo trả lời không chút do dự “Đó là những kẻ không tin vào Đạo Hồi”.

Ông Rick Mathes hỏi tiếp: Vậy để chắc chắn xem tôi có hiểu đúng không nhé. Đó là tất cả các tín đồ của đấng Allah đã được truyền lệnh giết bất cứ ai không cùng niềm tin để họ có được một chỗ trên Thiên Đàng. Có đúng như vậy không?

Vị đại diện biến sắc mặt, cúi đầu nói khẽ “Vâng.”
Ông Rick nói thêm “Vậy thưa ông, nếu Giáo Hoàng cũng truyền lệnh cho các người Công Giáo phải giết các tín đồ Hồi Giáo và TS Stanley cũng làm như vậy để được lên thiên đàng thì sao?”
Vị đại diện HG không trả lời được.

Ông Rick lại nói thêm “Tôi cũng rất lấn cấn trong vấn đề làm bạn với ông, bởi vì ông và các chức sắc bạn ông lại đang bảo các tín đồ của các ông giết tôi! Tôi hỏi ông, ông chọn đấng Allah, đấng ấy bảo ông phải giết tôi để có chỗ cho ông trên thiên đàng hay nên chọn Đức Giêsu của tôi, Ngài bảo tôi phải yêu ông vì nhờ đó tôi được lên thiên đàng và Ngài còn muốn cả ông cũng được lên nơi đó cùng với tôi?”

Qua chuyện này chúng ta đã thấy rõ, không phải vì Hoa Kỳ bênh Do Thái, chống Ả-Rập, không phải vì những vụ “báng bổ” đạo Hồi như đã nói ở trên mà Hoa Kỳ bị người Hồi Giáo thù ghét. Không vì lý do gì cũng vẫn bị thù ghét. Chỉ một lí do “không tin vào đạo Hồi” cũng đã đủ để bị thù ghét rồi!

Cho dù Do Thái có muốn sống chung hòa bình với người Ả-Rập cũng không được. Tổng Thống Iran Madmoud Ahmadinẹjah và phe Hồi Giáo bảo thủ vẫn khăng khăng đòi tiêu diệt Do Thái, đòi xóa tên Do Thái trên bản đồ thế giới. Không có con đường Hoà Bình nào để Do Thái lựa chọn nên họ phải chuẩn bị chiến tranh. Tất nhiên HK phải bảo vệ Do Thái, cũng là bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ ở Trung Đông.

Bác sĩ Tawfik Hamid, một học giả người Ai-Cập, trong bài viết “TỪ TRÁI TIM CỦA MỘT NGƯỜI HỒI GIÁO” (From the heart of a Muslim – đọc được qua nguyệt san Carolina Việt Báo, bản tiếng Anh trên Google) cũng đã cho thấy rõ SỰ THÙ GHÉT của người Hồi Giáo xuất phát từ kinh Koran.
 
Ông viết như sau:
“Tôi sinh ra là người Hồi Giáo và đã sống suốt cuộc đời như là một người Hồi Giáo. Sau những cuộc tấn công khủng bố man rợ khắp nơi trên địa cầu, do bàn tay của các anh em Hồi Giáo của tôi và sau quá nhiều hành vi bạo lực do người Hồi Giáo ở nhiều miền trên thế giới gây ra, là một người Hồi Giáo và là một con người, tôi cảm thấy có trách nhiệm phải nói ra sự thật để bảo vệ thế giới và cũng là bảo vệ người Hồi Giáo khỏi một tai họa có thể thấy trước và tránh cho thế giới một trận chiến giữa các nền văn minh.” (I was born a Muslim and lived all my life as a follower of Islam. After the barbaric terrorist attacks done by the hands of my fellow Muslims everywhere on this globe, and after the too many violent acts by Islamists in many parts of the world, I feel responsible as a Muslim and as a human being, to speak out and tell the truth to protect the world and Muslims as well from a coming catastrophe and war of civilizations.)

Bác sĩ Tawfik viết tiếp. “Tôi phải thừa nhận rằng giáo huấn hiện hành của Hồi Giáo tạo ra bạo hành và sự thù ghét chống lại những người không theo Hồi Giáo. Chúng ta là những người Hồi Giáo cần phải thay đổi. Cho tới nay chúng ta vẫn chấp nhận đa thê, chấp nhận việc đàn ông đánh đập đàn bà và giết chết những người đổi từ đạo Hồi sang đạo khác… Chúng ta đòi hỏi người ta tôn trọng tôn giáo của chúng ta trong khi chúng ta luôn luôn lớn tiếng nguyền rủa (bằng tiếng Ả-Rập) những người không theo đạo Hồi trong các giờ cầu nguyện ngày thứ sáu trong các giáo đường Hồi Giáo.” (I have to admit that our current Islamic teaching creates violence and hatred toward Non-Muslims.
 
 We Muslims are the ones who need to change. Until now we have accepted polygamy, the beating of women by men, and killing those who convert from Islam to other religions…. We ask others to respect our religion while all the time we curse non-Muslims loudly (in Arabic) in our Friday prayers in the Mosques.)

Chừng nào người Hồi Giáo còn đọc kinh “Fatiha” mỗi ngày năm lần để nguyền rủa người không cùng tôn giáo với họ thì không phải chỉ có Hoa Kỳ bị thù ghét mà tất cả những ai không theo đạo Hồi đều là những đối tượng mà Hồi Giáo cần phải chinh phục hoặc tiêu diệt.
 
Điều rất nguy hiểm là trong mỗi quốc gia Hồi Giáo đều có một “khối cực đoan” do các giáo sĩ cực đoan lãnh đạo, bao gồm những người “bảo thủ” luôn bám chặt vào những huấn lệnh của giáo chủ Muhammed cách nay hơn 14 thế kỷ (mà ngày nay những người Hồi Giáo bình thường không thể chấp nhận) chẳng hạn cái lệnh “Chặt đầu những kẻ không tin” (Behead the un-believers). Khủng bố, đánh bom tự sát … đều xuất phát từ các khối cực đoan này! Lực lượng Taliban ở Afganistan là một điển hình.

Nếu một ngày nào đó các thế lực Hồi Giáo cực đoan lên cầm quyền ở tất cả các quốc gia Hồi Giáo thì những cố gắng xây dựng hòa bình của nhân loại từ bao đời nay sẽ trở thành uổng công.
 
Hoa Kỳ là quốc gia Thiên Chúa Giáo hùng mạnh – với hàng chữ “IN GOD WE TRUST” trên tờ giấy bạc một đôla – sẽ trở thành mục tiêu mà Hồi Giáo phải nhắm tới.
 
Cũng còn may cho thế giới là hiện nay chỉ có một số ít các quốc gia Hồi Giáo tuân theo lời dạy “giết kẻ không tin” của Muhammed, và không phải tất cả người Hồi Giáo đều tuân theo huấn lệnh đầy máu đó.



Nguyên Khai

 

Những cái nón cối đi qua đời tôi


Những cái nón cối đi qua đời tôi



Nguyễn Bá Chổi (danlambao) Nhiều thứ nón đã đi qua đời tôi, như Phớt, Trai, Nồi, Rừng, Trận, Nhựa, Sắt, Lá... nhưng Cối để lại trên đầu tôi nhiều dấu ấn nhất. "Hiện tượng" nhiều dấu ấn nhất về nón Cối, phải chăng cũng chỉ là lẽ tự nhiên, như nỗi lòng thiếu phụ nhớ lại mối tình đầu thuở trước, vì Cối là “người” đầu tiên đi qua đời tôi, hay vì đó là cái duyên nợ đã vận vào thân.

 

Ngày ấy, sau Chiến Thắng Điện Biên Phủ một thời gian không lâu, quê tôi, làng Yên Phú bên bờ Sông La, lần đầu tiên đón tiếp các chú Bộ đội Cụ Hồ về đóng quân tại nhà dân. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được thấy tận mắt cái nón cối. 

 

“Chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về, giữa mùa hoa nở”. Nghe các chú ấy hát, tôi hình dung những cái nón cối nhấp nhô trên đường phố Hà Nội giữa tiếng reo hò của đồng bào Thủ Đô, thấy oai phong lẫm liệt hùng tráng làm sao; bây giờ hồi tưởng laị cảm xúc lúc ấy, và để diễn tả cho chính xác hơn, chắc phải mượn mấy chữ của Công tử Hà Đông, “cảm khái cách gì”. 

 

Các chú bộ đội phân tán từng nhóm ba người, ở hẳn trong hầu hết nhà dân; nhà tôi không “được” vinh dự ấy,nhưng bù lại, nhà bác tôi bên cạnh là nơi tôi được gặp các chú hằng ngày. 

 

Năm ấy tôi là đứa bé lên mười, nhưng có lẽ “nhờ” sớm thấm đòn máy bay Pháp thường xuyên đánh phá: nào phải đến trường giữa đêm khuya ; nào ban ngày thì luôn trong tư thế chạy xuống hầm do anh em tôi đào dưới những gốc cây cổ thụ chung quanh vườn để tránh bom đạn; nào phải trải qua bao kinh hoàng khi nghe tiếng khu trục cơ gầm rú, tiếng bom nổ và những đám cháy ở làng trên xóm dưới và bên kia sông; nào lâu lâu phải chứng kiến xác người chết do máy bay trương sình đang lềnh bềnh trôi hoặc tấp vào bờ trông thấy mà rờn rợn..., nên chi sớm “giác ngộ” công ơn các chú bộ đội đã hy sinh xương máu, chiến đấu gian lao để xứ sở được hòa bình, mọi người trở lại sinh hoạt bình thường với đầy đủ quyền làm người như lời Bác Hồ mượn của ai ghi lại trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước ta. 

 

Ngoài cái công ơn ấy, cách ăn ở của các chú bộ đội khiến bọn con nít có đứa nào lại không thích.Chú này làm cho con diều dấy; chú kia đẽo cho cái vụ gỗ; chiều chiều được các chú dắt ra tắm ngoài sông, đứa thì được tập bơi, đứa được các chú cho đứng trên vai nhảy cái ùm xuống nước. "Yêu ai yêu cả tông chi họ hàng", tôi yêu chú bộ đội, nên yêu luôn cái nón Cối. 

 

“Tình yêu nón cối” của tôi đã không qua mắt mẹ tôì dù bà luôn đi sớm về tối với đôi quang gánh trên vai lo việc buôn bán nơi chợ bên kia sông,và bà đã đi chợ Huyện sắm cho hai anh em tôi mỗi đứa một cái nón Cối và một đôi dép Lốp (sau này được biết còn gọi là dép Bình Trị Thiên hay dép Râu). Cái món thời trang quý hiếm này, hai anh em tôi may mắn có sớm nhất trong làng khiến những đứa khác trầm trồ càng làm tôi hãnh diện, và thích đi đó đây ngoài... đường. 

 

Nhưng rồi ngày vui qua mau. Làng bỗng xuất hiện một tốp người lạ cũng đội nón Cối mang dép râu, quần áo màu nâu và vai mang cái xắc cốt dây dài thượt... và không lâu sau đó dân làng người nhìn nhau xa lạ, kẻ nói nhau xầm xì, và những cuộc đấu tố... Bữa ăn cơm phải đóng kín cửa và nghe mẹ dặn "nay con phải gọi cá bằng cà, và thịt bằng dưa. Nhớ nha con, không thì chết cả nhà". 

 

Đóng kín cửa lúc ăn cơm và ngụy trang tiếng gọi cho miếng thịt, gắp cá vẫn chưa đủ để khỏi chết cả nhà, nên thầy mẹ tôi đã giắt con cái trốn khỏi làng Yên Phú ra đi giữa đêm khuya. Trời sáng trăng, tôi nhìn sang nhà người bác và sợ các chú bộ đội thức giấc bắt gặp, trước khi lên được thuyền bà Ph. Đang chờ ngoài bãi. 

 

Tôi như con chim phải rời tổ bay đi, và đã tìm được chốn đất lành. Nhưng chẳng được bao lâu lại gặp “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. Những cái nón cối lại nhấp nhô trên đường mòn HCM. Tôi, cậu bé ngày nào mân mê cái nón cối giờ đã khôn lớn, ra trận đối đầu với đoàn quân “GPMN”, đầu óc lẫn vẩn với ý nghĩ biết đâu trong đó lại chẳng có chú bộ đội giải phóng Điện Biên một thời tôi quấn quýt. 

 

Đội cái nón sắt made in USA trên đầu để tránh đạn AK, B,40, 41, đại pháo và hỏa tiển sản xuất từ Tiệp Khắc, Hung gia Lợi, Liên Xô... từ tay người anh em với cái nón Cối chế tạo tại Trung Quốc chụp trên đầu, đã nhiều lần tôi thèm được trở lại cậu bé năm xưa tránh bom đạn giặc Pháp bằng cách chạy xuống hầm dưới gốc cây... 

 

Quy luật của chiến tranh là chỉ có chiến thắng trong thế công. Trong cuộc “hai mươi năm nội chiến từng ngày” trong kho tàng “Gia tài của Mẹ” vừa qua, Nón Sắt luôn ở thế thủ, nên đã thua nón Cối. Trong nhiều năm làm “Tù Binh Ngụy”, rồi đổi tên thành “Phạm Nhân”, rồi “Trại Viên”, đã bao lần tôi nhận “được” từ dưới cái nón Cối những ánh mắt gầm gừ vì đủ thứ “tội” như đói quá “cải thiện linh tinh” mấy cọng rau rừng chưa kịp nuốt khỏi cổ họng, nhưng tôi vẫn không chút ân hận trước kia mình đối xử tử tế với cán binh nón Cối từ Bắc vào bị bắt làm tù binh, mặc dầu trong trận đánh họ đã gây cho chúng tôi nhiều tổn thất sinh mạng. 

 

Nón Cối đã đi qua đời tôi nhiều vô kể xiết. Nhưng nay giặc Tàu bên cạnh nguy hiểm hơn giặc Tây giặc Mỹ nhiều, các chú biến đi đâu cả. Chỉ thấy mấy chú đầu tóc chải láng bóng kéo nhau đi phủ phục phương bắc và hứa hẹn “hướng dẫn dư luận nhân dân Việt Nam để ổn định; và trong nước thì nón Cối của “chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về giữa mùa hoa nở” bị dấu nhẹm tông tích, thay bằng Băng Đỏ Dân Phòng, hay gậy gộc côn đồ để “giữ gìn hoà bình cho thủ đô”, cho anh Ba nhi nhô “bốn tốt” với “16 chữ vàng”. Hay chính các chú cũng đã bị rút ruột như ruột tượng đài chiến sĩ Điện Biên. Ruột Việt Nam?

 





 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link