Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, December 5, 2012

Những cánh hoa bạc mệnh


Những cánh hoa bạc mệnh


Phong Thu, thông tín viên RFA

2012-12-04

Thiên đường hạnh phúc mà những cô gái quê nghèo đi tìm là thế giới bên kia, thế giới của sự im lặng, an bình đã khép kín linh hồn của những cánh hoa bạc mệnh.


Courtesy vietnamnet

Đám tang cô Võ Thị Minh Phương, 27 tuổi quê ở Xã Phú An, Huyện Phụng Hiệp, Cần Thơ, đã ôm hai con, một bé gái 7 tuổi và bé trai 3 tuổi nhảy lầu tự sát tại Busan, Hàn Quốc hôm 23/11.

 

 


Hy vọng đổi đời


Ngày nay, đàn ông muốn tìm vợ ngoại quốc không còn là chuyện khó khăn. Họ chỉ cần ngồi trước máy điện toán đánh cụm từ “Women Mail-Order Bride”, lập tức hàng ngàn công ty môi giới, hàng triệu thông điệp, hình ảnh các cô gái đủ mọi chủng tộc, mọi lứa tuổi, được đánh bóng, quảng cáo rầm rộ hiện ra tràn ngập. Các ông tha hồ lựa chọn. Các cô gái Việt Nam đã dẫn đầu danh mục của những công ty môi giới mua bán “Cô Dâu Việt Nam” qua cách trực tuyến trên liên mạng được gọi là “Vietnamese Mail-Order Bride”.

Đa số các cô gái Việt Nam bị lôi cuốn bởi sự giàu sang ở nước ngoài và họ đã lao vào những cuộc phiêu lưu hôn nhân mua bán, đổi chát không có tình yêu. Bởi vì, khi cuộc sống quá cơ cực, không tìm được hạnh phúc, an vui trong thực tại và tương lai trước mặt là một bóng đêm ảm đạm, mù mịt thì người ta luôn dệt mộng, mơ ước đi tìm một chân trời xa lạ nào đó để hy vọng thay đổi cuộc đời mình và giúp đỡ cha mẹ, gia đình. Cho dù, hạnh phúc đó rất mong manh, họ vẫn như con thiêu thân, lao vào ánh đèn muôn màu để tìm ánh hào quang.

Cô Nguyễn Ngọc Nga, quê Huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang cho biết ở quê cô có rất nhiều cô gái đi lấy chồng ngoại quốc khi tuổi còn rất trẻ. Nhiều nhất là các xã Phương Bình, Hoà An, Hoà Mỹ. Đa số gia đình họ là nông dân có hoàn cảnh rất nghèo khổ. Có nhiều cô gái ra đi rồi biền biệt không ai biết họ đang ở đâu và không bao giờ còn trở lại quê nhà:


Người ta thấy những gia đình người ở gần đi rồi gởi tiền về nhiều rồi người ta nuôi ý tưởng là gả con đi nước ngoài để đổi đời.

Cô Nguyễn Ngọc Nga

“Mình nghe người mình qua bên đó như vậy thì mình cũng buồn lắm. Nói chung tại bên mình đời sống khó khăn nên người ta mới đi. Nếu người ta có công ăn việc làm, có tiền có của thì cũng không ai muốn đi đâu. Những người muốn gả con cho nước ngoài đa số là người nghèo nuôi con lớn lên để gả qua bên bển. Tại vì người ta nghèo quá! Người ta thấy những gia đình người ở gần đi rồi gởi tiền về nhiều rồi người ta nuôi ý tưởng là gả con đi nước ngoài để đổi đời. Chị đi thực tế xuống dưới dân nghèo chị mới thấy đâu có việc gì để làm, tối ngày chỉ trồng miá. Ở xứ em không có ruộng, mà người ta không có làm ruộng mà chỉ có trồng miá, mà miá năm nay một vụ miá bán ra cũng chỉ có 800 trăm hoặc 800 trăm mấy đồng một ký. Bán xong mùa mía, tiền cũ đổi tiền mới cũng không có đủ. Bởi vậy họ không có tiền. Nên người ta ước mơ gả con để người ta có tiền đổi đời. Nhiều khi con cái thấy cha mẹ nghèo quá cũng muốn đi để giúp đỡ cho cha mẹ.”

Sau 10 năm đi học xa làng quê, khi Nga trở về đã thấy nhà cửa của quê mình đổi khác. Nhiều người có con đi lấy chồng Hàn quốc, Đài Loan đã có nhà cửa khang trang, khá giả. Do đó, làn sóng lấy chồng Hàn quốc rất khó ngăn chặn vì ngoài sự nghèo khó, cơ cực ra còn có nguyên nhân khác khiến cho các cô gái Việt Nam muốn rời xa quê nhà để lấy chồng xa. Nguyễn Ngọc Nga nói:

“Người ta nói ở bên đây có chồng cũng hên xui, có khi ông chồng bên đây cũng đánh vợ, giết vợ cũng có vậy, nói chi ở bên kia. Tại vì em thấy báo đăng tối ngày, nhất là báo công an đăng dân mình đi qua bển gặp nầy kia hoài mà dân mình cũng đâu có sợ. Người Việt Nam mình em thấy có một số người cũng vũ phu quá, đánh vợ, giết vợ cũng lên báo ầm ầm bởi vậy nên người ta nói thà người ta đi xa luôn.”

images414804_1-250.jpg

Cô dâu Thạch Thị Hoàng Ngọc và người chồng Hàn Quốc Jang du Hyo tại thời điểm cử hành hôn lễ. File photo.

Theo thống kê của Tổng Cục Dân Số-Kế Hoạch Hóa Gia Đình cho biết, từ năm 1998 đến ngày 31/12/2010, có 300.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, phần lớn là Hàn Quốc và Trung Quốc. 3/4 những cô gái xuất thân từ những gia đình có 5 con trở lên, nghèo khổ, không có việc làm, không được đi học hoặc trình độ học vấn rất thấp. Có 75% cô dâu lấy chồng lớn hơn mình từ 10 tuổi trở lên, 15% cô dâu lấy chồng hơn 20-30 tuổi. Tất cả đều qua mai mối, cò mồi và bị lường gạt và đa số đều xuất thân từ Miền Tây, và các tỉnh miền Nam. Theo thống kê điều tra thì 80%, các cô lấy chồng do cha mẹ ép buộc, gả bán để nhận một số tiền có khi chỉ vỏn vẹn 500 đô la.

Tại phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh, có 300 cô lấy chồng nước ngoài mà chủ yếu là Hàn Quốc cao nhất tỉnh. Con số này vẫn đang tiếp tục tăng với tốc độ chóng mặt, một năm có trên 40 trường hợp và đang phát triển như một “phong trào" không thể ngăn cản nổi.

Làn sóng ra nước ngoài tìm kiếm vợ của đàn ông Hàn Quốc bắt đầu từ đầu những năm 2000. Tính đến cuối năm 2011, có tổng cộng 124.000 cô dâu ngoại. Họ đến từ các nước Đông Nam Châu Á như Việt Nam, Indonesia, Campuchia và Trung Quốc.
Theo số liệu của Viện Xã Hội và Y Tế Hàn Quốc công bố vào tháng 10, trong năm 2011, cô dâu Việt là 7.636, dẫn đầu trong số các cô dâu ngoại, vượt qua số cô dâu Trung Quốc. Tại Hàn Quốc, các dịch vụ môi giới hôn nhân được luật pháp cho phép, có trên 1,300 trung tâm hợp pháp và không hợp pháp đang hoạt động. Những người đàn ông Hàn Quốc không tìm được vợ đa số là dân đánh cá và làm nông nghiệp. Cứ 6 người thì có 1 người lấy vợ Việt Nam. Khoảng cách tuổi tác, ngôn ngữ, văn hóa là rào cản dẫn đến những khó khăn trong đời sống hôn nhân.


Bà Han Kuk Yom, Giám Đốc Trung Tâm bình đẳng giới nói rằng: “Vấn đề bạo lực trong gia đình nguyên nhân chính là do sự khác biệt về văn hóa giữa cô dâu và chú rể. Văn hóa của người Hàn Quốc thì đàn ông là trụ cột, có vị trí quan trọng nhất và quyết định tất cả mọi việc trong gia đình. Điều đó, sẽ gây sự phản cảm cho người vợ từ các nước khác đến. Có lần tôi đến đại sứ quán Việt Nam tại Hàn quốc, thấy tuổi tác giữa hai vợ chồng rất chênh lệch. Những người đàn ông Hàn Quốc lớn tuổi nên không nhận thức được sự bình đẳng nam nữ như giới trẻ. Mặc khác, những công ty môi giới thường chạy theo lợi nhuận nên đã giới thiệu những người đàn ông Hàn Quốc không đúng sự thật và phía bên Việt Nam cũng thế.”

Hạnh phúc ở thế giới bên kia



Vấn đề bạo lực trong gia đình nguyên nhân chính là do sự khác biệt về văn hóa giữa cô dâu và chú rể.

Bà Han Kuk Yom

Ngày 30 tháng 5 năm 2012, The Alantic online đã đăng tải bài của tác giả Andrew Billo, ông đã từng làm việc sáu năm về các vấn đề di trú ở Đông Nam Á và Trung Đông. Andrew Billo bắt đầu bài viết của mình rằng “hàng năm, có hàng ngàn phụ nữ Việt Nam được buôn bán qua môi giới hôn nhân”. Vào năm 2007, khi ông đang làm việc để giúp đỡ về tình trạng sức khoẻ và phúc lợi cho các cô dâu Việt Nam thì ông nhận được một mẫu quảng cáo do một người quen chụp được từ quận 5, thành phố Sài Gòn gởi cho ông. Đó là một bảng quảng cáo dịch vụ của một công ty môi giới hôn nhân, và văn bản gạch đầu dòng của nó là: "Cô ấy là một trinh nữ, cô ấy sẽ là của bạn chỉ trong ba tháng, giá cố định, nếu cô ấy trốn đi trong năm đầu tiên, đảm bảo phải được thay thế."
Andrew Billo bình luận rằng mặc dù những cuộc di dân giữa các quốc gia có biên giới gần nhau đã tồn tại trong nhiều thế kỷ. Nhưng giữa những năm 1990, ông đã vô cùng ngạc nhiên khi chứng kiến một sự gia tăng nhanh chóng về số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài từ các nước xung quanh Đông và Đông Nam Á. Ông đã từng chứng kiến hàng trăm phụ nữ sống trong các khách sạn xung quanh Sài Gòn để chờ đợi ngày này qua ngày khác, có một người nước ngoài đến chọn họ về làm vợ.
Tác giả đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào cô dâu cuối cùng có thể di cư đến Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, và ngay cả Trung Quốc?” Và Andrew Billo giải thích rất rõ ràng rằng tất cả đã được điều khiển bởi một mạng lưới môi giới hôn nhân của các đại lý, doanh nghiệp phát triển làm ăn phát đạt và giàu lên một cách nhanh chóng. Những tổ chức môi giới nầy đã biến việc hôn nhân mua bán thành thị trường béo bỡ, lợi nhuận cao mà không cần vốn. Họ chụp bắt được giao điểm giữa cung và cầu. Quan trọng hơn là họ sẵn sàng buôn bán người bởi động cơ thúc đẩy của lợi nhuận hơn là phúc lợi cho những người mà họ tự xưng là để giúp đỡ. Giá thị trường cho một phụ nữ Việt Nam khoảng $5.000 đô la. Một công ty môi giới hôn nhân “J & N Việt Bride” do người Singapore quản lý đã quảng cáo rằng người đàn ông có thể đi du lịch đến Việt Nam, chọn một cô dâu, kết hôn, và đem về nước họ, tất cả chỉ trong một tuần.


hanquoc250.jpg

Đại diện Hiệp hội người Hàn Quốc tại TP.HCM chia buồn với gia đình cô dâu Thạch Thị Hoàng Ngọc. File photo.

Phụ nữ Việt Nam di cư thường sống trong sự cô lập. Số phận của họ nằm trong bàn tay của người bỏ tiền ra mua họ. Họ rất dễ bị khai thác, lạm dụng, đánh đập trong một thời gian kéo dài, bị lợi dụng mua bán vào động mãi dâm bởi khả năng ngôn ngữ là một rào cản khiến họ không thể tiếp xúc với chính quyền. Cánh cửa của niềm cô đơn và tuyệt vọng cũng khép lại. Họ không thể định đoạt hay có lối thoát cho số phận may rủi của mình.

Đâu đó cũng có những nụ cười thấp thoáng ẩn hiện niềm hạnh phúc. Nhưng niềm cay đắng, tủi cực, đau khổ vì bị hành hạ, đánh đập, đôi khi bị giết chết hoặc phải tự sát cũng đã xảy ra. Chỉ trong vòng vài năm, đã có nhiều cô dâu Việt Nam chết tại Hàn Quốc là Huỳnh Mai, Hoàng Thị Nam. Bốn người phụ nữ khác người Cần Thơ bị giết là Phạm Thị Loan, Thạch Thị Hoàng Ngọc, Trần Thanh Lan, Lê Thị Kim Đồng và mới đây nhất, ngày 23/11/ vừa qua, cô Võ Thị Minh Phương, 27 tuổi quê ở Xã Phú An, Huyện Phụng Hiệp, Cần Thơ, đã ôm hai con, một bé gái 7 tuổi và bé trai 3 tuổi nhảy lầu tự sát tại Busan, Hàn Quốc, vì bị hành hạ, đánh đập và bế tắt trong cuộc hôn nhân ngoại chủng. Cô để lại một bức thư tuyệt mệnh: “Vì người chồng thường xuyên đánh đập, ghen tuông vô cớ. Tôi xin lỗi ba mẹ. Tôi cũng xin lỗi chồng trong những năm qua sống chung với nhau, có gì thiếu sót mong anh bỏ qua. Mong muốn sau khi chết, cả 3 mẹ con được đưa về quê nhà Việt Nam để an táng…”.

Cái chết thương tâm của ba mẹ con đã làm chấn động lương tâm của hàng triệu người trong và ngoài nước. Nhà thơ Kiều Mộng Hà, người cùng quê với cô Minh Phương đã đau xót, chia sẻ cảm xúc của bà như sau:

Tôi xa quê hơn 30 năm. Nhưng những hình ảnh về quê hương bao giờ cũng ở trong trí của tôi. Tôi có đọc một bản tin. Bản tin nói về một cô gái người Việt ôm hai con nhảy xuống lầu tự tử. Cái tin đó làm cho tôi cảm xúc ghê gớm lắm bởi vì tôi là người sinh trưởng ở Cần Thơ. Tuổi thơ của tôi là tôi sống tại Phụng Hiệp ngay quê hương của người con gái bạc mệnh đó. Vì vậy mà làm sao tôi không xúc động nhiều khi nhìn thấy hình ảnh đó tự nhiên tui cảm xúc ghê gớm lắm.

Cảm xúc đó làm cho tui viết liền bốn câu thơ:“Trời ảm đạm như cùng chung xúc cảm. Thương cho em cô gái Việt tên Phương. Bởi vì đâu em nhảy lầu chết thảm. Sống bán mình, chết quá đau thương.” Tôi thật sự bị cái sốc đó nặng lắm. Nhất là tôi nghĩ lại tuổi thơ của tôi và của cô gái đó gần như cô không có tuổi thơ tuổi mơ mộng. Một con người như vậy mà cô không lấy được người mình yêu mà cuộc hôn nhân của cô chỉ là cuộc trao đổi cho đến khi cô rời khỏi quê nhà theo chồng không cùng ngôn ngữ, tập quán, sở thích. Cô giống như một cành hoa bị bứng rời khỏi đất mẹ. Và tôi nghĩ là cách cư xử thiếu tình thương và tình người của nhà chồng nên cô bị trầm cảm để rồi quyết định đi tìm cái chết như một hình thức thoát ly.

Ở Việt Nam theo tôi biết, cái hoàn cảnh, cái xã hội, cái nghèo túng đã biến con người thành vô cảm. Những bi kịch sẽ còn tiếp diễn nếu chúng ta cứ vô tâm để cho nước chảy qua cầu. Thành ra cái điều tôi mong ước là các nhà xã hội, nhất là chính quyền sớm tìm một giải pháp trước khi quá trễ.”

Khi đồng tiền lên ngôi thống lĩnh mọi giá trị đạo đức, thì bi kịch xã hội sẽ diễn ra theo khuynh hướng quý trọng đồng tiền, tôn sùng vật chất. Mọi người xem đồng tiền là cứu cánh duy nhất. Họ xây dựng quyền lực, làm giàu, kiếm tiền bằng mọi giá bất chấp sự thiệt hại nhân phẩm của con người, xã hội và quốc gia. Và món hàng kiếm lời nhanh nhất, làm giàu mau nhất mà không cần vốn là buôn bán phụ nữ, trẻ em và công dân của mình sang các nước làm nô lệ tình dục và làm lao nô trên xứ người. Họ sống giàu sang trên thân phận con người.

Và giờ đây, thiên đường hạnh phúc mà những cô gái quê nghèo đi tìm là thế giới bên kia, thế giới của sự im lặng, an bình đã khép kín linh hồn của những cánh hoa bạc mệnh.

Theo dòng thời sự:


Quan hệ phức tạp giữa Hoa Kỳ và quốc gia Israel


 

H.N. NGUYEN, CO/ US/OCC (Ret) 



 

 

Quan h phc tp gia Hoa K và quc gia Israel

 

Hùng Tâm


Người ta thường nghĩ là cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có ảnh hưởng quá mạnh trong xã hội Hoa Kỳ qua nhiều lãnh vực như nghệ thuật, truyền thông, tài chánh, và tất nhiên là chính trị.



Nhiều người trong chúng ta còn tin rằng vì muốn bảo vệ Do Thái mà Henry Kissinger, một trí thức và chiến lược gia người Mỹ gốc Do Thái, đã cam tâm bán đứng miền Nam. Cách suy luận ấy không phản ảnh thực tế và có thể khiến chúng ta phân vân khó hiểu trước những biến cố của thời sự. Gần đây nhất là vụ xung đột trên Dải Gaza (xin đề nghị là nên viết Dải Gaza thay vì dải Gaza, vì là phiên dịch từ Gaza Strip).

Vì vậy, “Hồ Sơ Người Việt” kỳ này xin nói về mối quan hệ Hoa Kỳ-Do Thái và trước hết về cách gọi tên.

 

“Quốc gia Israel” của người Do Thái được thành lập vào năm 1948 trên một khu vực địa dư gọi là Palestine, xưa kia là của người Do Thái nhưng từ thế kỷ thứ bảy đã do người Hồi Giáo cai trị và trở thành vùng định cư của người Á Rập từ thế kỷ 19. Dân Á Rập trên khu vực này được gọi là người Palestine và họ sống chung với người Do Thái, được đế quốc Anh đưa về đó từ cuối thế kỷ 19. Khi Ðế quốc Anh lấy vùng đất Palestine cho người Do Thái lập ra quốc gia Israel, mâu thuẫn giữa dân Do Thái và dân Á Rập Hồi Giáo đã bắt đầu. Lúc đó, Hoa Kỳ thực sự vô can, và còn có chính sách đối nghịch với Israel vì chính quyền Do Thái tại đây đã ngả theo Liên Bang Xô Viết. Nghịch lý ấy từ thời Chiến Tranh Lạnh là điều ít ai nhìn tới, hoặc nói ra.
Quốc gia Israel

Dân tộc nào cũng bị địa dư hình thể chi phối trong vùng sinh hoạt truyền thống mà ta tạm gọi là “bản địa.” Dân Do Thái cũng vậy, đã nhận cái nghiệp phân chia và chinh chiến từ thời Thượng cổ, trước Tây lịch, cho đến thời cận đại vào thế kỷ 19 và hiện đại, kể từ năm 1948.

Vào thời Thượng cổ, người Do Thái cổ (Hebrew) đã hai lần lập ra nước Israel trên một dẻo đất hẹp và nghèo giữa biển Ðịa Trung Hải và sông Jordan. Từ tiền kiếp họ phải sống chung với các sắc tộc khác, đã bị các đế quốc lân bang khuất phục và xua đuổi khỏi vùng bản địa. Thậm chí là bị gán tội giết đấng Cứu Thế và sau này còn bị diệt chủng. Họ là những người sinh ra đã mất quê hương và nhìn về bản địa như Vùng Ðất Hứa. Nhưng do địa dư hình thể, vùng đất ấy lại rất khó bảo vệ giữa các sắc tộc đông đảo khác. Tâm tính cương cường nhẫn nại, và thậm chí quỷ quyệt mà nhiều người gán cho dân Do Thái cổ và tân (Jews), có thể xuất phát từ hoàn cảnh éo le đó.

Chi tiết đáng chú ý khác là dẻo đất khô cằn này lại có ba khu vực với ảnh hưởng trên ba cách ứng xử khác nhau. Khu vực duyên hải là nơi thuận tiện cho việc buôn bán và tạo ra một lớp thương nhân có tinh thần xin tạm gọi là “quốc tế” trước khi nhân loại tìm ra chữ này. Khu vực miền Bắc là nơi có bình nguyên và đồi núi nên là vùng đất của nông dân và chiến binh. Khu vực miền Nam của Thánh địa Jerusalem là vùng sa mạc khó sống nhất, đất dung thân của chiến binh và kẻ chăn nuôi. Chiến tranh, canh nông mục súc và thương mại là những đặc tính bẩm sinh từ địa dư hình thể.

Khi có cơ hội trở về tái lập quốc gia Israel từ năm 1948, người Do Thái từ bản địa và tứ xứ đã phải kết hợp ngần ấy bài toán về an ninh và kinh tế lẫn xã hội, và tìm ra giải pháp tồn tại nhờ ngoại giao.

Mấy ngàn năm lịch sử của người Do Thái đã để lại nhiều bài học. Thứ nhất, họ mà thiếu đoàn kết bên trong là quốc gia bị diệt vong. Thứ hai, họ có thể đương cự với các sắc dân khác ở chung quanh, nhưng không đủ sức đối đầu với các đế quốc rộng lớn ở xa hơn, như Ðế quốc Babylone, Ðế quốc Ba Tư, Ðế quốc Macedonia, Ðế quốc La Mã, Ðế quốc Thổ và cả Ðế quốc Anh. Thứ ba, nếu đồng tâm và giải trừ được sức ép ở gần, họ vẫn phải liên kết với các cường quốc ở xa để tồn tại. Cường quốc ở xa có thể là Liên Xô, hay Hoa Kỳ.

Israel giữa hai khối

Quốc gia Israel thành hình vào năm 1948 là sau những xung đột và dàn xếp giữa hai đế quốc ở xa, Ðế quốc Ottoman bị tan rã năm 1919 và Ðế quốc Anh, một loại siêu cường toàn cầu trong thế kỷ 19, trước khi một siêu cường toàn cầu khác xuất hiện, là Hoa Kỳ. Khi Israel ra đời, cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều nhìn thấy ở đó một cơ hội bành trướng vào “Phương Ðông,” khu vực mà các nhà địa dư và chính trị học gọi là “Levant,” bên trong có một cốt lõi là xứ Israel của dân Do Thái.

Khi tái lập quốc, nhiều người Do Thái là di dân đến từ nước Nga, họ mang theo kiến thức “xã hội chủ nghĩa” và cách tổ chức của chế độ Xô viết. Vì lý do tư tưởng hay ý thức hệ, họ chủ trương xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhưng với màu sắc Do Thái, chứ không vì lý tưởng vô sản quốc tế. Nhưng, quốc gia Israel cũng thành hình nhờ tiền bạc của người Do Thái tại Hoa Kỳ. Và chính quyền Mỹ thời ấy tin rằng nhờ ảnh hưởng này mà sẽ chi phối Israel trên một bàn cờ rộng lớn của cả khu vực Levant và toàn cầu.

Thật ra, cả hai siêu cường này chưa có một chính sách rõ rệt với Israel và đấy là cơ hội cho chính quyền Israel giải quyết nhu cầu ưu tiên của mình, theo kiểu Do Thái, lạnh lùng và thực dụng. Ðấy là thành tích của David Ben Gurion, bậc quốc phụ của Israel hiện đại.

Vì vậy mà đã có lúc Israel liên minh với hai đế quốc tàn lụi là Anh và Pháp để phong tỏa kênh đào Suez của Ai Cập, khi ấy còn là chư hầu của Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Nasser. Và vì thế mới gây mâu thuẫn với chính quyền Hoa Kỳ thời Tổng Thống Cộng Hòa Eisenhower. Cũng do chủ trương bảo vệ độc lập một cách rất độc đáo, Israel ngả theo Pháp trên trận tuyến “chống Mỹ” và chỉ thay đổi đối sách với Hoa Kỳ từ năm 1967. Trở thành đồng minh của Mỹ, khi Nasser cũng đã xoay chiều và ra khỏi quỹ đạo Xô Viết.

Hai chục năm đảo điên từ thời lập quốc (1948-1967) cho thấy Israel không hoàn toàn là chư hầu của Mỹ và Hoa Kỳ không thể chi phối được mọi quyết định của chính quyền Israel. Hoặc ngược lại, dân Do Thái tại Mỹ không thể xoay chuyển nổi đối sách của Hoa Kỳ theo cái hướng có lợi cho Israel mà phương hại cho quyền lợi lâu dài trường cửu của nước Mỹ. Hai quốc gia lớn nhỏ này có chung một lý tưởng là dân chủ, nhưng hành xử theo quyền lợi riêng. Và dù rằng là một xứ rất nghèo và tùy thuộc vào viện trợ Hoa Kỳ, Israel vẫn tính toán riêng, đôi khi còn gây khó cho chính quyền Mỹ.

Một chi tiết khác cũng cần nhắc đến là đa số người Mỹ gốc Do Thái, từ nghệ sĩ đến tài phiệt, đều thiên về đảng Dân Chủ với tinh thần chủ hòa và phản chiến. Trong khi vì sự tồn vong của mình, chính quyền Israel đã có lúc lấy quyết định chủ chiến, mà nhiều người nông cạn cho rằng đấy là lập trường Cộng Hòa.

Sự thể khách quan là hai quốc gia này có hai hoàn cảnh địa dư, an ninh và kinh tế khác biệt ở hai lục địa khác nhau. Vì hoàn cảnh và mục tiêu riêng, đôi khi Israel có hành động bất lợi cho nước Mỹ và cũng bị chi phối bởi những quyết định bất lợi từ phía Hoa Kỳ. Nước Mỹ cần có một đồng minh Do Thái vững mạnh tại Trung Ðông để bảo vệ sự ổn định trong khu vực chiến lược này. Cũng vì nhu cầu ổn định có tính chất chiến lược, Hoa Kỳ muốn Do Thái phải thỏa hiệp và hợp tác với các nước lân bang như trong nhiều đợt hòa giải trước đây (Hòa ước Camp David dưới thời Jimmy Carter chẳng hạn), đôi khi quá mức an toàn theo cách nhìn của Israel.

Sau mấy chục năm đồng sàng dị mộng mà vẫn keo sơn gắn bó, quan hệ giữa hai nước đã có thay đổi.

Những nan đề mới

Trong nhiều thập niên liền, Hoa Kỳ có lúc ăn nói phũ phàng với Israel là dưới các chính quyền Cộng Hòa của Richard Nixon, Gerald Ford và George H. W. Bush (ông Bush cha) qua các Ngoại Trưởng Henry Kissinger và James Baker: sự yểm trợ của Hoa Kỳ không là miễn phí và vô điều kiện! Ðấy là khi quyền lợi của nước Mỹ được coi là tối thượng và tình nghĩa đồng minh là chuyện ngoại giao bề ngoài. Chuyện ấy, người Việt ta không thể quên được.

Ngày nay sự thể đã khác vì có cả triệu người tham dự vào tiến trình lý luận và quyết định qua không gian điện tử và truyền thông tức thời. Không ứng cử viên tổng thống nào, dù là Barack Hussein Obama lại muốn tự gây khó cho mình và bị rủi ro thất cử khi khiêu khích cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái bằng ngôn ngữ nhuốm mùi “tối hậu thư” kiểu đó cho xứ Israel.

Ở tại chỗ, chính quyền Israel cũng có thay đổi, với xu hướng quốc gia và bảo thủ nay đã vào dòng chính và sẽ tồn tại khá lâu. Họ nhất quyết bảo vệ an ninh của Israel, không thể nhượng bộ và càng khó nhượng bộ khi cộng đồng Palestine lại chia hai. Phe ôn hòa của đảng Fatah chỉ kiểm soát được Tây ngạn sông Jordan (West Bank) và tiếng nói cực đoan của lực lượng Hamas trên Dải Gaza mới trở thành đại diện chân chính. Lực lượng đó lại có sự yểm trợ của Syria, Iran và cả Egypt, nay đang do phe Huynh Ðệ Hồi Giáo và Tổng Thống Mohamed Mursi lãnh đạo.

Những biến cố gọi là Mùa Xuân Á Rập từ đầu năm 2010 đã đảo lộn cục diện Trung Ðông và đặt ra nhiều bài toán sinh tử cho Israel. Nổi bật là ảnh hưởng rất lớn của Iran và các lực lượng võ trang quá khích do Iran yểm trợ, như Hezbollah tại Lebanon hay Hamas trên Dải Gaza. Rắc rối không kém là lập trường có tính nước đôi của Ai Cập. Lãnh đạo xứ này không còn là Hosni Mubarak thân Mỹ mà là Mohamed Mursi của lực lượng Huynh Ðệ Hồi Giáo.

Lần đầu tiên từ thời lập quốc, Israel thấy an ninh của mình bị đe dọa từ miền Nam, từ Dải Gaza tiếp cận với bán đảo Sinai và xứ Ai Cập. Với các hỏa tiễn tầm xa như Fajr (Bình Minh) do Iran cải chế từ hỏa tiễn Liên Xô và Trung Quốc, lực lượng Hamas trở thành mối nguy bất lường và nếu các hỏa tiễn này lại có đầu đạn nguyên tử do Iran cung cấp thì xứ Israel không có tương lai. Trong khi ấy, dân Á Rập vẫn sinh con đẻ cái, có dân số ngày càng đông, và Iran vẫn chưa từ bỏ kế hoạch chế tạo võ khí hạt nhân. Mà Mùa Xuân Á Rập vẫn có thể nở hoa Hồi Giáo.

Các chế độ độc tài và thân Mỹ bị lật đổ khiến nhiều xu hướng Hồi Giáo có dịp lên thay, với chủ trương chống Mỹ và quyết liệt hơn với xứ Israel. Chiều hướng ấy không bắt đầu từ năm 2010 mà trước đó khá lâu. Trong cuộc bầu cử năm 2005 tại Palestine, phe Hamas đã thắng lớn, đến độ còn muốn nổ súng để truất quyền lãnh đạo của lực lượng Fatah và chính quyền Palestine tại “thủ đô” Ramallah trên Tây ngạn sông Jordan. Mỗi khi có tự do chọn lựa, dân Hồi Giáo tại Trung Ðông lại chọn hướng chống Mỹ và diệt trừ Israel!

Với Hoa Kỳ, đấy là một trong nhiều đề tài tranh luận hay tranh cử. Với Israel, đấy là chuyện sinh tử của lẽ tồn vong.

Kết luận của hồ sơ rắc rối này là những gì?

Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái và quốc gia Israel không thể sai khiến được nước Mỹ khiến lãnh đạo Mỹ phải lấy những quyết định bất lợi cho Hoa Kỳ. Hai quốc gia này đều cần đến nhau và vận dụng lẫn nhau để giải quyết mục tiêu của mình. Trong việc vận dụng, truyền thông báo chí cũng là một phương tiện. Chỉ là một phương tiện.

Vì lẽ sinh tử, Israel cần đến sự bảo vệ của Hoa Kỳ, nhưng cũng ý thức được giới hạn của sự bảo vệ ấy, nên phải tự lo lấy thân. Có khi bằng những giải pháp quân sự liều lĩnh mà Hoa Kỳ ở nơi an toàn hơn thì gọi là phiêu lưu và có đầy rủi ro.

Hoa Kỳ đã tưởng là sẽ rút chân khỏi bãi mìn Trung Ðông để nhìn về Ðông Á. Chuyện không dễ. Trong thế giới Trung Ðông ấy, chống Mỹ đang là khẩu hiệu ăn khách.

Vì lẽ đó, chúng ta càng nên theo dõi những biến động chính trị tại Ai Cập khi Tổng Thống Mohamed Mursi muốn gia tăng quyền lực và gặp sự chống đối rất mạnh của các thành phần khác. Kết quả tại đây sẽ chi phối an ninh của Israel và có khi gây khó cho chính quyền Mỹ.

 

VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU


 




VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU


 LÊ THỊ CÔNG NHÂN.


 



 VÀNG



         Cái gì quý người ta thường ví như vàng.



        Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v..


Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ?

        Từ khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quyết định mở cửa và cởi trói cho nền kinh tế từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước sau gần nửa thế kỷ vừa đóng cửa vừa lấy còng số 8 trói chặt nền kinh tế để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa thì các nhà lãnh đạo vĩ đại của cộng sản hơi choáng váng vì thấy dân vẫn cất giấu được khá nhiều vàng. Lãnh đạo cộng sản tưởng rằng sau những vụ cướp vĩ đại mà họ đã làm như vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, Cải tạo công thương nghiệp-là những vụ lớn, và vô vàn những vụ nhỏ mang tính chất thường xuyên mà các cấp địa phương, cấp nhỏ hơn đên nay vẫn làm hàng tháng, hàng ngày để cống nạp lên cấp to hơn, thì tưởng rằng vàng trong dân đã được moi gần cạn hết rồi. Ấy vậy mà đến cuối mùa hè năm 2008 khi lạm phát phi mã bộc lộ và thấm thía đến từng người dân để mở đầu cho thời kỳ suy thoái kéo dài đến tận bây giờ thì giá vàng tăng đến 60% chỉ trong vòng 2 tháng từ khoảng 1,8 triệu đồng/chỉ tăng vọt lên 2,9 triệu đồng/chỉ. Thành ngữ “điên như giá vàng” phổ biến từ đấy.

        Ngộ nhất là mùa hè năm ấy ở trong tù, tù nhân khố rách chúng tôi cũng bàn tán xôn xao và theo dõi sát sao giá vàng từ sáng mở mắt dậy đến tận đêm có kẻng báo ngủ gõ đinh tai nhức óc, thì giá vàng hôm nay thế nào, lên bao nhiêu rồi cứ gắn chặt vào mồm vào miệng để hỏi nhau, kể cho nhau, buôn dưa lê với nhau. Đến bản tin tài chính trên tivi thì cả phòng im phăng phắc, các đôi tai lừa ve vẩy lắng nghe tin. Tự khắc mà chăm chú tập trung hết chỗ nói!

        Tại thời điểm cuối năm 2008 đó việc giá vàng tăng vọt và sau đó không bao giờ hạ xuống nữa có nguyên nhân là do khi ấy hậu quả tai hại của nền kinh tế nội lực yếu, vốn phần lớn là đầu tư nước ngoài còn phần vốn trong nước lại chủ yếu là vốn đối ứng được chuyển từ “giá trị quyền sử dụng đất” góp vào, và nền kinh tế vừa được vu cho là kinh tế thị trường lại vừa được chỉ đạo dẫn dắt theo chủ nghĩa xã hội, có thể hiểu ngắn gọn là kinh tế tư bản kiểu cộng sản. Trong nền kinh tế này, cái phần thị trường lại chính là tư bản kiểu nguyên thủy man rợ mà chính phe cộng sản (Không biết họ có thực học và thực hiểu về kinh tế tư bản không?) luôn vu cho các nước tư bản là như thế: người bóc lột người, tàn phá thiên nhiên, khai thác tận diệt tài nguyên, lừa đảo chộp giật đủ kiểu. Phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì là: kiên định quyết tâm bất chấp mọi thủ đoạn đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt nền kinh tế tức là tất cả các tổ chức kinh doanh sản xuất đều phải có sự cho phép của đảng cộng sản khi thành lập, khi đang hoạt động và ngay cả khi phá sản.

        Ngoài ra đảng cộng sản có lãnh đạo tuyệt đối mọi tổ chức kinh doanh của nhà nước và áp đặt tất cả tổ chức kinh tế quốc doanh này phải là chủ đạo. Từ đó trút vô tội vạ vốn từ ngân sách nhà nước do nhân dân còm cõi lầm than đóng thuế vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như vào một cái thùng không đáy để các thể loại nhân sự của những tổ chức kinh tế quốc doanh từ tổng giám đốc tới nhân viên bảo vệ đều 100% phải là con cháu người quen của các tầng tầng lớp lớp đảng viên cộng sản làm sếp to, sếp nhỏ của cơ quan ấy mới được vào làm. Cái nền kinh tế như thế, sau 20 năm sung sướng xả hơi vật vả kiếm tiền cho hả, cho bõ để bù lại gần 40 năm bị cùm, bị trói, bị bịt mắt ấy thì đến năm 2008-như một kết thúc tất yếu, bộc lộ hết bản chất nửa dơi nửa chuột của mình ra và cả nước chính thức bước vào thời kỳ suy thoái thật sự do chính mình gây ra-chứ không do giọng điệu tuyên truyền láo lếu nhảm nhí ra ra đêm ngày là do suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam. Suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam đương nhiên là điều tất yếu, nhưng nó chỉ là một phần mà không phải là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế Việt Nam như thế này.

        Và khi ấy người dân lại càng tin, càng muốn cất trữ tài sản mà mình làm ra vào một thứ có giá trị bền vững và phổ biến nhất – là vàng. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng người Việt Nam từ trước đến giờ vẫn có thói quen cất trữ tài sản vào vàng như vậy. Ấy là do trong lịch sử Việt Nam, có thể nói chưa bao giờ nước ta được lãnh đạo bởi những vị vua sáng suốt tài giỏi thương dân đến mức coi sự thịnh vượng và tiến bộ của dân chúng là thành công, vinh quang và hạnh phúc của người cầm quyền. Có thể nói gần như tất cả những vị vua của Việt Nam trong quá khứ và hiện nay nếu nói điều ấy thật lòng thì cũng chỉ ở mức muốn dân chúng đủ ăn đủ mặc để an phận làm con dân mà thôi.

        Đến giữa năm 2011 thì nền kinh tế bắt đầu rơi vào vùng đáy của suy thoái và không ai biết được khi nào sẽ thoát khỏi suy thoái khi mà các dấu hiệu thì rất nhiều người thấy, và cũng nhiều không ít hơn số ấy là dự đoán của các chuyên gia hàng đầu của rất nhiều trường phái học thuật tài chính kinh tế, nhưng tựu trung lại cũng chỉ là vấn đề niềm tin và đạo đức, rằng “Khi nào mọi thứ trở lại/về giá trị thực của nó thì kinh tế sẽ phục hồi.”. Chân lý này thường bị quên trong nhiều trường hợp, và đặc biệt hay bị quên trong lĩnh vực kinh tế. Tất nhiên những lãnh đạo cộng sản chóp bu hoàn toàn nhận thấy rõ điều ấy, thậm chí còn nhận thấy trước dân chúng rất nhiều. Do đó, một mặt họ vẫn tiếp tục ngu dân, mỵ dân bằng những bài tuyên truyền nhảm nhí, một mặc ra sức thu vén tư lợi bất chính bằng việc in tiền khống. Không gì thu lợi được nhiều hơn từ bóc lột và tận thu cùng kiệt sức lực và tài sản của dân.

        Và, vàng chính là thứ mà người dân tích lũy nhiều nhất công sức lao động của mình vào để tránh lạm phát ăn mòn tài sản của họ. Nhu cầu chính đáng này là phổ biến và bình thường ở một đất nước mà việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt và niềm tin của của người dân vào nền kinh tế và giá trị đồng tiền là rất kém. Do vậy, phải tìm mọi cách để lấy được vàng của dân ra, vì vàng thì chính quyền không sản xuất khống được như là việc in tiền-suy cho cùng cũng chỉ là tờ giấy, mà lại là giấy nội địa, loại giấy có mặt ông Hồ to tướng mà chỉ cần sang tới Thái Lan thôi đã chẳng ai thừa nhận, không còn chút giá trị nào.

        Thế là Nghị định 24/2011 ra đời, hiệu lực tháng 5.2012 đến nay mới chỉ 6 tháng mà đã làm thất điên bát đảo thị trường vàng Việt Nam vốn đã không ổn định, thì nay nhờ có chính phủ trứ danh của ông Dũng mà trở nên quái đản dị thường chưa từng thấy. Xin điểm ngắn gọn vài hậu quả của chính sách chống vàng hóa trong giao dịch mua bán và ổn định thị trường vàng của chính quyền cộng sản Việt Nam:
        - Hoàn toàn không có bất kỳ một dấu hiệu nào là thành công nhỏ nhoi trong việc chống vàng hóa trong các giao dịch mua bán;
          -  Hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu nào là thị trường vàng được ổn định, mà chỉ có:
         - Trước thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 500.000-1.000.000 đồng/lượng giờ thì đã cao hơn 3.000.000 đồng/lượng (*);
          - Chỉ trong 5 tháng Ngân hàng nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng từ trong dân (*);
         - Thị trường vàng trong nước không còn liên thông với thế giới, tức là không còn thể hiện sự liên quan bình thường với thị trường vàng thế giới, Việt Nam một mình một kiểu không giống ai;
        - Nhãn hiệu vàng SJC bỗng dưng-bằng một mệnh lệnh hành chính nhà nước, trở thành thương hiệu vàng quốc gia, và tăng giá một cách kỳ lạ, trở nên kiêu kỳ và khó tính trong cả việc bán đi và mua lại vàng của chính mình sản xuất;
        - SJC thu lợi số tiền khổng lồ mà không ai bên ngoài có thể thống kê được. Số lợi khổng lồ không chính đáng này đến từ chênh lệch giá vàng và việc mua rẻ, ép người dân phải bán lại giá rẻ có khi lên tới 500.000 đồng/lượng vàng cũ của chính mình sản xuất ra, với lý do mà bất kỳ một nhân viên thu mua vàng nào của SJC cũng luôn leo lẻo mỗi khi gặp khách đến bán vàng là “Túi chân không bị rách, có hơi ẩm, vàng méo, vàng xước, chữ/hoa văn chỗ nọ chỗ kia không rõ  ..v..v.. Bớt 300.000 đồng/500.000 đồng (so với giá niêm yết). Không bán thì thôi.” Tự tin như đinh đóng cột! Tất nhiên nếu khách bán thì số tiền chênh lệch ấy nhân viên trực tiếp mua không “ăn” một mình, SJC cũng không thể “ăn” một mình, mà tất cả bọn họ từ kẻ lãnh đạo ăn trên ngồi tróc đêm ngày ủ mưu bày kế bóc lột dân ra lệnh, đến các đại gia giám đốc quản lý tập đoàn này, còn các nhân viên trực tiếp cấp dưới thì đương nhiên cũng có những phần thưởng theo khoán, theo chỉ tiêu, định mức thu mua.
        - Thị trường vàng trở nên quái đản chưa từng thấy với chênh lệch giá giữa nhãn hiệu SJC cao hơn khoảng 5% so với vàng cùng loại của nhãn hiệu khác. Đây là một con số rất lớn đến mức kinh dị chưa từng có đối với mặt hàng đặc biệt này;
        - Dân chúng đổ xô đi bán vàng nói chung, và riêng với các nhãn hiệu không phải là SJC;
       - Nghị quyết 21/2011 của quốc hội yêu cầu bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới, thành vô nghĩa. Chính phủ hoàn toàn coi thường quốc hội.
        ..v..v..

        Và cuối cùng thì không thể khác những điều như ông nghị Nguyễn Trí Dũng-Nhóm tư vấn chính sách vĩ mô-Ủy ban Kinh tế quốc hội nói “Nhu cầu tích lũy tài sản bằng vàng để tránh lạm phát bào mòn tài sản tích lũy là nhu cầu chính đáng của người dân. Trước kia ngân hàng chưa huy động vàng người dân vẫn tích lũy, nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng.” (Báo Tuổi trẻ, thứ 7, 17.11.2012, page 7)

        Vậy là sao? Tiếc là ông Trí Dũng này, nếu tôi đoán không nhầm, lại quá lịch sự không đúng chỗ, khi ông không nói thẳng ra rằng “nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng, chính quyền đừng hòng moi được hết vàng của dân, nhá !”

        Giả thuyết của tôi hoàn toàn phù hợp với phát biểu của ông nghị Nguyễn Văn Tuyết-Bà Rịa Vũng Tàu rằng “Thống đốc trả lời khôn cũng tốt nhưng đừng nghĩ là dân không biết gì.”.

        Đúng vậy! Có thể dân-trong đó có tôi, chưa biết sự thật là gì (vì được che giấu quá kỹ), chưa biết tốt đẹp, thịnh vượng, văn minh là như thế nào nhưng chắc chắn chúng tôi biết rằng cái hiện tại của đất nước này, của chính quyền cộng sản Việt Nam này là độc tài, là gian dối, là ngu dốt. Vì vậy, mà tận sâu trong lòng người dân Việt Nam giờ đây quá chán ngán tất cả những gì cộng sản nói, bằng chứng là học sinh Việt Nam bây giờ coi môn lịch sử chỉ là môn học nhảm nhí, thậm chí không cần học, thậm chí ngay cả ông bộ trưởng giáo dục Việt Nam còn xưng xưng phát biểu rằng “50% học sinh thi tốt nghiệp trung học môn sử dưới 2 điểm, là bình thường.”

       
 Kết thúc phần Vàng, xin trích 2 phát biểu:



        - Ông nghị Trần Du Lịch phát biểu tại phiên chất vấn thống đốc Nguyễn Văn Bình sáng 13.11.2012 “Qua phần trình bày của thống đốc, dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không muốn bình ổn thị trường vàng.”
         - Thống đốc Nguyễn Văn Bình “Sau 6 tháng thực hiện nghị định 24, nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng.” phát biểu cùng buổi sáng hôm ấy tại quốc hội.

        Vô cùng sung sướng và mãn nguyện!

      
  ĐÔ LA



        Câu chuyện của đô la ở Việt Nam hiện nay cũng thú vị không kém câu chuyện của vàng. Chỉ khác là việc nhà nước thắt chặt việc mua bán ngoại tệ đã có từ rất lâu, nhưng làm thì đì đùng, vì thật ra là không làm nổi, không muốn làm. Chính thế mà nhiều người dân bị mất tiền oan khi đi mua bán ngoại tệ, vừa mất số tiền đem mua, bán, vừa bị phạt thêm một số tiền rất lớn, nên uất ức vô cùng. Giới công an, quản lý thị trường và nhất là các thể loại trinh sát liên ngành chỉ việc thỉnh thoảng phố hợp với nhau đi rình ở các hiệu vàng, các điểm mua bán ngoại tệ tư nhân mà ai cũng biết, rồi thích bắt ai là bắt, hoặc bắt theo chuyên án để vớ được quả “bẫm” mà chia nhau.

        Việc thắt chặt mua bán ngoại tệ, mà chủ yếu là đô la khác với vụ quản lý vàng ở trên là chính quyền không thể bỗng dưng chọn một loại ngoại tệ nào để làm đối tượng siết được vì nó có sẵn rồi, chỉ vài loại như thế, như thế, mà mình lại chẳng thể tác động gì vào nó, không in khống được, không làm giả được, cũng không làm nó tăng hay giảm giá trị được, vậy phải làm cách nào đây để thu gom được thật nhiều ngoại tệ, càng nhiều càng tốt. Thế là chính quyền, với công cụ quyền lực trong tay, nghĩ ra ngay những mệnh lệnh hành chính cho đám lâu la bộ sậu hùng hổ thực thi.

        Ngày 29.08.2011 Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 20 về mua bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép. Những quy định của thông tư cực kỳ nhiêu khê và còn có dấu hiệu của “nước đái chuột”. Mỗi ngày mỗi người được mua tối đa là 100 đô la cho một ngày đi công tác, du lịch, khám chữa bệnh, công tác, thăm viếng ..v..v.. và chỉ được mua tối đa cho 10 ngày, với điều kiện phải trình bày lý do bằng văn bản có các giấy tờ khác chứng minh kèm theo. Đối với doanh nghiệp thì khỏi phải nói về những nhiêu khê khốn khổ trong hành trình đi mua đô la của họ.

        Ngược lại với thủ tục áp cho người mua ngoại tệ cực kỳ quan liêu, nhiêu khê, theo đúng cái cách mà chính quyền cộng sản này luôn đối xử với dân là “Chúng mày cần nhưng bọn ông đếch cần.”, thì dân tình ngây ngô được khuyến khích đem hết ngoại tệ ra mà bán cho ngân hàng, không hạn chế số lượng, thậm chí bán cả ngoài giờ và ngay tại nhà dân thì nhân viên ngân hàng cũng sẽ rất vui lòng vác bị đến mua luôn và ngay. Còn với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì thậm chí ngân hàng còn có sáng kiến và lạm quyền tự động giữ lại đô la của doanh nghiệp mà bên phía nước ngoài trả cho doanh nghiệp trước đó qua các LC tại ngân hàng và bắt doanh nghiệp muốn lấy được số tiền chính đáng của mình phải mất rất nhiều thời gian công sức cho các thủ tục quan liêu hành dân, đến mức gần như tất cả các doanh nghiệp đều phải cho nhân viên ngân hàng ăn của đút để giải quyết cho họ được rút ngoại tệ của họ ra

        Thiết nghĩ, xin nhắc lại chút ít rằng tất cả các ngân hàng nội địa Việt Nam dù là tư nhân (nguồn gốc thành lập) hay quốc doanh được cổ phần hóa thì đều có cổ đông lớn nhất là phe cánh, bè nhóm của các thể loại lãnh đạo chóp bu cộng sản.

        
Ví dụ: Ngày 31.08.2012, tại Huế, công an đã bắt 1 vụ mua bán ngoại tệ trái phép của ông Lộc-người bán 10.000 đô la Mỹ với bên mua là hiệu vàng Phước Lộc trên đường Mai Thúc Loan-tiền để mua là 209 triệu đồng. Người bán và mua bị tịch toàn bộ số tiền này, ngoài ra còn bị phạt mỗi người một số tiền khổng lồ là 80 triệu đồng. Báo Thanh tra điện tử đăng ngày 17.10.2012, ngoài ra bài viết còn nhấn mạnh “Theo các điều tra viên, việc mua bán ngoại tệ trái phép này nhằm thu lợi bất chính. Do thủ đoạn, hành vi hết sức tinh vị nên lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ công anh thành phố Huế đã phải mất nhiều thời gian mới bắt được.”

        Ở Việt Nam, lên tiếng đòi tự do ngôn luận, viết báo đòi tự do lập hội, đi biểu tính đòi tự do yêu nước còn bị chính quyền vu cho là “để kiếm tiền, nhằm thu lợi bất chính” thì việc mấy người trên bị đối xử như tội phạm bắt quả tang, bị tịch thu hết cả tiền bạc, rồi còn bị xử phạt là cũng đúng thôi. Nhưng cái “đúng” này nên nhớ là đúng với nhu cầu ăn cướp, đúng với cách hành pháp hành dân, bẫy dân của chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ hoàn toàn không phải là sự đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thực tế và hành xử bình thường có đạo lý của xã hội và người dân Việt Nam. Bằng chứng là ai biết về vụ việc này ngay khi nó xảy ra và bây giờ khi kiểm chứng bài viết này thì chỉ đều thấy phẫn nộ chính quyền cộng sản Việt Nam là một lũ cướp đê tiện, và xót xa oán thán thay cho 2 công dân kia.

        Khỏi phải nói sau 1 năm thực hiện thông tư 20 nêu trên, các ngân hàng đã moi được của dân  bao nhiêu đô la! Ý quên, mua ạh !

        ĐÀO TẨU



        Khi quyết định đào tẩu, có 3 điều quan trọng phải nghĩ kỹ:
        1-    Đào tẩu sang nước nào?
        2-    Đào tẩu khi nào?
        3-    Đem theo gì khi đào tẩu?
        Đối với lãnh đạo cộng sản cao cấp kiêm tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay thì các câu trả lời đương nhiên là:
        1- Đào tẩu sang các nước tự do, dân chủ. Thật đáng tiếc cho họ các nước cộng sản ruột thừa anh em chi sống chí chết của họ lại chẳng có đồng chí nào là tự do, dân chủ cả, nên đành phải vác cái mặt trơ trẽn méo mó cô hồn dị hợm đào tẩu sang các nước tư bản giẫy chết vậy.



        2- Đào tẩu khi thời điểm thuận lợi, nhất là việc chuẩn bị tài lực cho cuộc sống sau đào tẩu đã chuẩn bị xong. Nhưng ôi chao! Cái việc này lại hay bị kéo dài vì lòng tham của bọn chúng là vô đáy, với lại mọi sự trên đời này nào có mấy khi như ý mình. Sự không như ý ấy vừa đến từ những rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, vừa đến từ tình đồng chí cộng sản-cái thứ tình mà ngày hôm trước còn ôm hôn nịnh bợ nhau không biết ngượng như mất trí thì ngay hôm sau đã có thể ra lệnh bắt nhốt nhau, đấu tố nhau và cả giết nhau nhân danh sự “cải tạo”.



        3- Hành trang đem theo khi đào tẩu đương nhiên là một lý lịch mới (Con em cộng sản đi du học còn làm hẳn bộ lý lịch và cả cha mẹ mới, bất chấp tự trọng và tình cảm tự nhiên của con người, huống hồ là đào tẩu!) và thật nhiều, thật nhiều tiền và kim loại quý dễ quy đổi và sử dụng được như tiền.
        Vậy, tiền ấy là tiền nào, kim loại ấy là kim loại gì mà ở đâu, lúc nào cũng có giá trị ổn định nhất so với các loại tiền và kim loại quý khác?

        Ấy là vàng và đô la. Vàng ở đâu cũng là vàng. Đô la ở đâu cũng là đô la. Giá trị luôn được bảo toàn gần như tuyệt đối bằng nhau ở mọi nơi có sử dụng vàng và đô la trên thế giới này (Tất nhiên có thể có xê dịch chút ít, nhưng đảm bảo là rất ít!).

        Do vậy, với một chính quyền đã thối nát đến tận cùng, nền kinh tế đã be bét, rách bơm không che giấu vào đâu được nữa, cộng sản chỉ còn trông mong vào sự khiếp sợ của ngươii dân mà nỗi sợ ấy đã được dày công gieo mầm nuôi dưỡng trọn vẹn 3 thế hệ trong hơn nửa thế kỷ qua, để vơ vét nốt được ngày nào hay ngày ấy, rồi đánh bài chuồn. Quá trình chuẩn bị đào tẩu đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu dưới mọi hình thức mua bất động sản, chứng khoán, đầu tư trực tiếp kinh doanh, cho con cái du học, kết hôn với người có quốc tịch nước ngoài, đem đô la, vàng kiếm được bất hợp pháp ra gửi ở nước ngoài.

        Vàng, đô la ấy kiếm thêm, moi thêm ở đâu ra bây giờ? Đầu tư nước ngoài đã chựng lại vì bộ mặt lật lọng tham nhũng phơi lộ bầy hầy nhớp nhúa đến nỗi tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ mạt cũng không còn hấp dẫn như trước nữa rồi. Dân thì cũng đã khôn ra một tí, có bị chính quyền lừa mỵ đến mấy cũng đã bình tĩnh hơn mà suy xét sáng suốt cất giữ bảo tồn tài sản của mình vào những thứ đáng quý và thực chất, và đặc biệt là có giá trị ổn định khi giao dịch toàn cầu.

     
   Ấy là vàng và đô la.



         Bỗng dưng lại tưởng tượng có một tên cộng sản tư bản đỏ nào đó lại dựng ngược lên “Ờh đấy! Bọn tao đào tẩu thì phải cần vàng, cần đô la chứ. Dở người mà mang theo tiền đồng Việt Nam để làm giấy lộn àh. Lũ dân đen chúng mày thì đi đâu, cứ yên tâm mà dùng tiền Việt, nhá! Có bao nhiêu vàng, đô hãy mang ra đây, ông có nhà máy ông in tiền đồng ông đổi cho. Chúng mày mà không đổi đúng đầu nậu nhà ông là ông tịch thu hết đấy, nhân danh nhà nước hẳn hoi, nhá!


Lê thị Công Nhân

Chuyện những nữ tử tù bị phá trinh trước khi hành-hình tại BA-TƯ



Chuyện những nữ tử tù

bị phá trinh trước khi hành-hình

tại BA-TƯ (IRAN)

 

Những quốc-gia Hồi-giáo luôn ngược-đãi phụ-nữ , là điều ai cũng biết rồi , nhưng tại Ba-Tư còn có 1 luật là "Không được xử-tử Gái đồng-trinh" !

Thay-vì chuyển án tử-hình cho họ thành chung-thân thì cái xứ này lại giải-quyết rất "gọn" là cho phá-trinh họ trước khi đem xử-tử , thế là khỏi vi-phạm "Luật Thánh" ! Thật vô-cùng dã-man , mọi rợ !

(Chúng ta thường xem truyện "1001 đêm" về "Công-Chúa Ba-Tư" ... thật "thú-vị và lãng-mạn" ... nhưng  "coi dzậy ko phải dzậy" đâu !)

 

 

Người ta mô tả những tiếng gào thét thảm thiết của thiếu nữ Iran trước khi bị hành quyết, tiếng gào thét không phải vì sợ hãi bóng ma của cái chết, mà bởi một nghi thức đáng sợ hơn cả cái chết , đó là : Nghi-thức phá trinh

 

 

Một trinh nữ Iran sau song sắt

 

Một bài báo của Israel đã gây rúng động dư luận khi tiết lộ, là một nước còn nặng thần quyền, pháp luật Iran quy định không tử hình trinh nữ, nhưng cũng không cho miễn án tử hình. Và để hợp thức hóa bản án, người ta thường biến thiếu nữ thành thiếu phụ trước khi hành hình họ.

Theo tiết lộ của một thành viên giấu tên thuộc Tổ chức hỗ trợ nhân đạo, do Iran quy định không được tử hình trinh nữ, vào đêm trước khi hành hình, những người cai ngục tổ chức nghi lễ “kết hôn giả”, để người chồng giả – thường là một quản giám – ăn nằm với nữ phạm nhân, và sáng hôm sau tiễn "cô dâu mới" ra đi hợp với luật pháp Iran.

Nhân viên này tâm sự, anh gia nhập tổ chức này khi mới 16 tuổi, được cấp trên tin tưởng, anh đã được giao thực hiện “nhiệm vụ vinh quang” trong nghi thức “kết hôn giả” khi anh mới 18 tuổi.

 


 

 

Những thiếu nữ này sợ bị phá trinh còn hơn là tử hình, họ liều chết chống lại hành động này. Việc phá trinh trong lễ kết hôn giả trước khi hành hình thường gặp khó khăn khi các nữ tù nhân cố gắng phản kháng và từ chối “hôn lễ” một cách quyết liệt; để tiến hành thuận lợi, các nhân viên này nhiều khi phải cho thuốc ngủ vào thức ăn của “cô dâu”.

Người đàn ông này chia sẻ, anh cảm thấy lương tâm cắn rứt và hối hận sau khi thực hiện “nhiệm vu cao cả”, dù biết cuộc hôn nhân này nhằm giải thoát họ.

 

 


Những trinh nữ sợ bị phá trinh hơn bị hành hình

 

“Tôi còn nhớ mỗi lần chuẩn bị kết hôn giả với những trinh nữ, họ đều rất hoảng sợ và kêu gào thảm thiết lắm. Tôi mãi mãi không thể quên hình ảnh thảm thương của một thiếu nữ khi cô ấy kêu gào và lấy tay cào rách mặt và cổ, cào xé bản thân rất đáng thương.”

Lương tâm cắn rứt và hiểu được nỗi khổ của những xử nữ Hồi giáo này, có lần, anh đã bí mật cải trang và thả một thiếu nữ 15 tuổi cùng một thiếu niên 13 tuổi; sau khi bị phát hiện, anh đã tự giác nhận tội và bị giam trong một căn phòng…

Trong chiến dịch bầu cử Tổng thống Iran hồi tháng 6 năm ngoái, với cuộc bạo loạn biểu tình trên phố nghiêm trọng nhất trong 30 năm qua, nhiều phụ nữ đã bị bắt ngồi tù.

 

Một số hình ảnh về phụ nữ Iran trong tù:


 


 


 


 


 

Theo Phunu.net

 

 
 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link