Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, December 8, 2012

Trần Hưng Đạo : Tinh hoa quân sự Việt Nam


 

Trần Hưng Đạo : Tinh hoa quân sự Việt Nam   

Trần Hưng Đạo trong tranh dân gian Đông Hồ

Trần Hưng Đạo trong tranh dân gian Đông Hồ

DR

Lê Phước

Lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài những cuộc chiến chống ngoại xâm. Về mặt số lượng và trang bị vũ khí, quân đội Việt Nam chưa bao giờ ở trong thế “cân sức” với kẻ thù xâm lược. Ấy thế mà, kẻ thù luôn thất bại, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Việt Nam luôn được giữ vững. Một tấm gương tiêu biểu : Trần Hưng Đạo hồi thế kỉ 13 đã ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông.

Nguyên lý là : Dù nước Việt không hùng mạnh, quân Việt không đông, không có nhiều vũ khí, nhưng người Việt có nghệ thuật quân sự bách chiến bách thắng của riêng mình. Đó là một nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy đoàn kết và quyết tâm làm sức mạnh, lấy “đoản binh để thắng trường trận”, “quí ở tinh nhuệ chứ không ở số quân nhiều hay ít”, một nghệ thuật quân sự mà hồi thế kỉ 13 đã được danh tướng Trần Hưng Đạo “trình diễn” trong ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông.

Tấm gương học hỏi, tự rèn luyện

Đến với Trần Hưng Đạo trước tiên là đến với một tấm gương tự rèn luyện và học hỏi không ngừng để hoàn thiện bản thân đem trí tài phục vụ cho dân cho nước. Về vấn đề này, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần tại thành phố Hồ Chí Minh, người có nhiều công trình lịch sử Việt Nam có giá trị, ông nhận định:

“Trần Hưng Đạo sinh ra trong một bối cảnh khá đặc biệt. Ông chào đời có lẽ là vào năm 1231. Tôi nói là có lẽ bời vì đến hiện nay tôi đã tập hợp được nhiều tài liệu Hán cổ, nhưng chưa một tài liệu nào xác định một cách chính xác năm sinh của ông. Có điều, dựa trên sự phân tích sử liệu, chúng ta có thể đoán chừng ông sinh năm 1231 và mất năm 1300, hưởng thọ 70 tuổi ta, 69 tuổi tây.

Bối cảnh ra đời của Trần Hưng Đạo như thế nào? Ông chào đời vào lúc nhà Trần vừa mới được thành lập, kinh tế rất đổ nát, chính sự rất rối ren bởi những di hại của triều Lý để lại.

Về đối nội, phong trào chống lại họ Trần cũng bùng nổ khá mạnh mẽ, đó là lực lượng của Đoàn Thượng, lực lượng của Nguyễn Nộn. Và chưa kể rằng nội bộ nhà Trần tuy mới bắt đầu cầm quyền những những vết rạn nứt cũng bắt đầu hình thành, và đặc biệt là vết rạn nứt giữa Trần Liễu và em ruột là Trần Cảnh. Trần Liễu là thân sinh của Trần Hưng Đạo còn Trần Cảnh là vị hoàng đế đầu tiên của triều Trần.

Về đối ngoại, nhà Trần cũng gặp không ít trở ngại. Trước hết, nhà Tống tuy suy yếu nhưng vẫn tiếp tục tác oai tác quái với nước Đại Việt. Và ở phía bắc của nhà Tống thì đế chế Mông Cổ đang trên đường nhanh chóng xác lập và sau đó đã thật sự là một đế chế hùng mạnh và gây hấn ở khắp cả Châu Âu và Châu Á. Lúc bấy giờ ở phía Tây và nam Đại Việt ta, Ai Lao, Vạn Tượng và Chiêm Thành đều gây những vụ bất ổn ở biên giới. Tóm lại, nhà Trần non trẻ phải đối mặt với những khó khăn trong cũng như ngoài nước.

Trong bối cảnh đó, Trần Hưng Đạo đã chào đời, và ông đã tìm cách xác lập vị thế của mình. Trước hết là bằng con đường tự học hỏi để nâng cao nhận thức và kỉ năng sống của mình. Ông học văn, văn rất giỏi. Ông học võ, võ rất tài. Chính Trần Hưng Đạo là người đã có công khai sáng nền khoa học quân sự của Việt Nam. Trần Hưng Đạo đã tiến hành quảng giao. Ông đã tiếp xúc với những người trong cũng như ngoài nước. Điều đáng nói là ông giỏi tiếng Trung Quốc đến nổi mà khi người Trung Quốc nói chuyện với ông họ không nghĩ rằng ông lại là người Việt”.

Ý chí học hỏi rèn luyện đó đã tạo ra một đại danh tướng Trần Hưng Đạo đánh bại quân Mông Cổ, đội quân mà vó ngựa từng giẫm nát khắp Á Âu.

Ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông

Danh tiếng lẫy lừng của Trần Hưng Đạo gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại hồi thế kỉ 13 chống quân xâm lược Nguyên Mông, một đế chế hùng mạnh từng một thời hoành hành khắp Á Âu.

Vào đầu thế kỉ 13, Thiết Mộc Chân thành lập một nước Mông Cổ hùng mạnh và bắt đầu bước đường xâm lược tứ phương. Năm 1215, Mông Cổ chiếm kinh đô nước Kim. Năm 1218, Mông Cổ chiếm được vùng phía đông của Turkestan ngày nay. Năm 1219, kỵ binh Mông Cổ tiến về Trung Á. Tại đây, một loạt những thành phố nổi tiếng lần lượt bị tấn công và bị triệt hạ. Năm 1221, các vương quốc như Azerbaijan, Gruzia và nhiều thành phố lớn của Nga bị vó ngựa Mông Cổ giẫm lên. Năm 1223, Nga bị quân Mông Cổ chiếm đóng. Năm 1225, Mông Cổ đánh chiếm Tây Hạ. Năm 1241, quân Mông Cổ đánh chiếm Hungari, đuổi vua của Hung-ga-ri đến tận biên giới nước Ý. Bấy giờ, cả Âu châu bị chấn động bởi vó ngựa hung hãn của quân Mông Cổ. Nỗi lo sợ trùm phủ khắp nơi.

Năm 1251, Mông Kha lên ngôi hoàng đế Mông Cổ. Quân Mông Cổ đẩy mạnh bành trướng xuống phương Nam. Năm 1252, ngay khi cuộc thôn tính Trung Quốc còn đang dở dang, Mông Kha ra lệnh cho em là Hốt Tất Liệt đánh xuống nước Đại Lý. Chỉ trong một thời gian ngắn, vua nước Đại Lý là Đoàn Hưng Trí đầu hàng, nước Đại Lý bị diệt. Năm 1260, Hốt Tất Liệt lên ngôi Hãn. Năm 1278, nhà Tống bị quân Mông Cổ tiêu diệt, Hốt Tất Liệt hoàn tất cuộc thôn tính Trung Quốc.

Sau khi thôn tính xong Trung Quốc, đế quốc Mông Cổ tập trung lực lượng đánh Đại Việt. Trong ba mươi năm (1257-1288), đế quốc Mông Cổ đã ba lần ào ạt cho quân tràn xuống xâm lược nước Việt, mỗi lần lực lượng mỗi to lớn hơn lần trước, chuẩn bị công phu hơn và quyết tâm cũng cao độ hơn.

Cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1257 do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy với ba vạn kỵ và bộ binh. Cuộc tấn công này xuất phát từ nước Đại Lý. Ngột Lương Hợp Thai bắt vua nước Đại Lý mới đầu hàng là Đoàn Hưng Trí dẫn đường, nhưng Đoàn Hưng Trí chết khi chưa kịp đến Đại Việt. Kết quả cuộc xâm lượt này: Giặc thua to.

Cuộc xâm lăng lần thứ hai của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1285 do con trai Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan đem năm mươi vạn quân tràn sang nước ta. Ngoài ra còn có đạo quân 10 vạn do tướng Toa Đô chỉ huy, trước đó đã có mặt ở Chiêm Thành cũng được lệnh rời Chiêm Thành tiến lên đánh nước ta, hai mặt giáp công. Tính ra, cứ khoảng sáu người dân Đại Việt (bất kể già trẻ trai gái), phải đương đầu với một tên giặc Nguyên hung hăng, tàn bạo và thiện chiến.

Lịch sử kim cổ đông tây quả thật cực kỳ hiếm có một cuộc đối đầu nào hoàn toàn không cân xứng như vậy. Thế mà kết quả cuộc xâm lược này là: Giặc thảm bại, quân chết vô số kể, Toa Đô bị chém, Thoát Hoan chui vào ống đồng để lính khiêng trốn chạy về Trung Quốc, Ô Mã Nhi và các tướng khác trốn thoát được theo đường thủy chạy về Trung Quốc.

Cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1287. Hốt Tất Liệt quyết ý phục thù hai lần thất bại trước. Để tiến hành cuộc xâm lược này, Hốt Tất Liệt huy động năm mươi vạn quân tiến vào Đại Việt qua ba hướng khác nhau : Thoát Hoan làm tổng chỉ huy, tiến theo đường bộ, tướng Áo Lỗ Xích chỉ huy cánh quân thứ hai cũng tiến theo đường bộ. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thủy binh hỗ trợ cho bộ binh và kỵ binh. Trương Văn Hổ vận chuyển lương thảo theo sau.

Kết quả cuộc xâm lược này : Giặc thảm bại, quân chết vô số kể, đội quân Trương Văn Hổ bị đánh tan không thể vận lương đến, Ô Mã Nhi bị chém, đội thủy binh hoàn toàn bị tiêu diệt, Thoát Hoan và các tướng khác trốn về đến Trung Quốc đều bị trị tội theo quân pháp, Thoát Hoan bị cha là Hốt Tất Liệt đuổi đi không thèm nhìn mặt nữa.

Ta thấy rằng, khi ấy, so với nhà Tống, Đại Việt chỉ là nước nhỏ. Ấy thế mà đội quân Mông Cổ đã đánh bại nhà Tống, đã từng làm rung chuyển khắp Á Âu, lại đại bại ở nước Đại Việt nhỏ bé.

Trong ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông này, công lao của Trần Hưng Đạo là vô cùng to lớn. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần tóm lược như sau :

“Trần Hưng Đạo đã tham gia việc cầm quân và huấn luyện quân sĩ. Khi chưa đầy 30 tuổi Trần Hưng Đạo đã là tổng chỉ huy quân đội của nhà Trần ở vùng đông bắc và có công rất lớn trong sự nghiệp chống quân xâm lăng Mông Cổ năm 1257-1258. Ông đã huấn luyện quân đội ngày càng tinh nhuệ, và chủ trương của Trần Hưng Đạo là một chủ trương rất tiến bộ mà giá trị câu nói của ông lúc sinh thời vẫn còn bất diệt với non sông, đó là “binh quí hồ tinh bất quí hồ đa”, nghĩa là “binh quí ở chổ tinh nhuệ chứ không phải ở số đông”. Chủ trương đó thật sự đúng đắn, đã phát huy được tác dụng to lớn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập thế kỉ 13.

Trần Hưng Đạo là tướng tổng chỉ huy lực lượng vũ trang của quân đội Đại Việt trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại thế kỉ 13 chống quân xâm lược Nguyên Mông. Đó là lần thứ hai vào năm 1285 và lầ thứ 3 vào năm 1287-1288. Trần Hưng Đạo đã chọn đúng người đúng việc. Trần Hưng Đạo đã tự tin và chuyển tải niềm tự tin đó đến với mọi người, dù đó là binh sĩ, dù đó là tướng lĩnh, thậm chí đến thái thượng hoàng hay hoàng đế cũng được ông chuyển tải niệm tự tin ấy mới có thể vững vàng trước thử thách của non sông.

Trần Hưng Đạo đã khai thác hết mọi tài năng của con người, kể cả những người dưới đáy xã hội, đặc biệt là lực lượng gia nô. Chính ông đã có lời nói về hành vi của Yết Kiêu và Dã Tượng khi mà những người này bộc lộ niềm trung thành lớn lao và đức hi sinh cao cả. Ông nói rằng: “Chim hồng chim hộc sở dĩ bay cao bay xa là nhờ vào 6 trụ xương cánh. Nếu không có 6 trụ xương cánh thì chim hồng chim hộc cũng chỉ là chim thường thôi”.

Ở đây chim hồng chim hộc chính là Trần Hưng Đạo và quý tộc họ Trần, những vị tướng cao cấp của quân đội nhà Trần, còn 6 trụ xương cánh ấy chính là những người như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô và nhiều gia nô khác.

Ông là nhà chỉ huy thiên tài, và thắng lợi trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại đã chứng tỏ thiên tài của Trần Hưng Đạo. Vì chúng ta biết rằng, đế quốc Mông Nguyên có diện tích khổng lồ, mình như con ác thú phủ kín từ Hắc Hải cho đến Thái Bình Dương”.

Khai sáng nền khoa học quân sự Việt Nam

Bên cạnh việc trực tiếp chỉ huy đánh trận, xông pha trên sa trường, Trần Hưng Đạo còn là một nhà khoa học quân sự xuất sắc. Các nhà sử học xem ông là người khai sáng nền khoa học quân sự Việt Nam. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần ghi nhận:

“Trần Hưng Đạo không phải chỉ có huấn luyện quân đội, không phải chỉ tập luyện võ nghệ, mà quan trọng hơn là ông đã nghiên cứu binh pháp, và đã biên soạn ra một bộ binh pháp hoàn toàn mới. Trước đó, tướng lĩnh của nhà Trần phải học ít nhất 15 bộ binh pháp của Trung Quốc. Tất cả những bộ binh pháp đó được trình bày rất sắc xảo, và có những ý kiến rất xuất sắc, nhưng nó chỉ phù hợp với những cuộc chiến tranh xung đột nội bộ, mà không phù hợp với cuộc chiến tranh vệ quốc của dân ta. Vì thế, Trần Hưng Đạo đã biên soạn bộ “Binh Thư Yếu Lược”, và đó chính là tác phẩm khai sinh của nền khoa học quân sự Việt Nam.

Trước Trần Hưng Đạo, chúng ta có rất nhiều vị tướng giỏi, nhưng đó chỉ là những vị tướng có công đưa nghệ thuật cầm quân lên một trình độ cao, chứ chưa phải khoa học quân sự. Tôi không hề có ý nói rằng nghệ thuật thấp hơn quân sự, mà chỉ muốn nói: đến đây khoa học quân sự Việt Nam mới thật sự được khai sinh.

Sau khi đã biên soạn binh pháp, thì trong huấn luyện quân đội, Trần Hưng Đạo đã tìm đủ mọi cách để kích lệ tinh thần của quân sĩ, và tác phẩm nổi bật nhất của ông trong lĩnh vực này chính là bài “Hịch Tướng Sĩ Văn”. Đây là một trong những áng thiên cổ hùng văn có giá trị bất diệt, và chỉ cần là tác giả của Hịch Tướng Sĩ Văn thôi thì tên tuổi của Trần Hưng Đạo đã trở nên bất diệt với non sông. Huống chi ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm lớn. Huống chi việc cầm bút chỉ là một phần nhỏ trong sự nghiệp to lớn của ông”.

Dĩ công vi thượng

Trần Hưng Đạo vốn là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Trần Liễu là anh ruột của Trần Cảnh. Năm lên bảy tuổi, Trần Thủ Độ sắp đặt cho Trần Cảnh cưới vị hoàng đế cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng khi ấy cũng lên bảy tuổi. Cùng năm đó, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Thế là triều Trần được thành lập khi Trần Cảnh lên ngôi lấy miếu hiệu là Trần Thái Tông.

Năm 1237, do không sinh được con nên Lý Chiêu Hoàng bị giáng làm công chúa, rồi Trần Thủ Độ ép chị gái Lý Chiêu Hoàng là công chúa Thuận Thiên Lý Thị Oanh lấy Trần Thái Tông. Trớ trêu là khi đó Lý Thị Oanh là vợ của Trần Liễu và đang có mang với Trần Liễu.

Vì chuyện này mà Trần Liễu ghi hận trong lòng và nổi binh tạo phản nhưng thất bại. Thái Tông không trị tội và lấy thân mình bảo vệ cho ông trước Trần Thủ Độ. Thế nhưng Trần Liễu vẫn còn ghi hận. Trước phút lâm chung, Trần Liễu trăn trối lại với Trần Hưng Đạo phải báo thù cho ông. Trần Hưng Đạo giả vờ vâng mệnh để cho cha an lòng nhắm mắt nhưng không cho lời cha là phải nên Trần Hưng Đạo đã không làm theo, và còn tỏ ra một lòng trung nghĩa với triều Trần vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Nhiều câu chuyện được sách sử ghi lại về lòng trung nghĩa, “đặt việc nước trước tình nhà” của Trần Hưng Đạo. Sử cũ chép, một hôm Trần Hưng Đạo vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: "Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?" Hưng Vũ vương thưa: "Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ !". Trần Hưng Đạo ngẫm cho là phải.

Lại một hôm ông đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: "Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ". Trần Quốc Tuấn rút gươm kể tội: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra" và định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Trần Quốc Tuấn mới tha. Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: "Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng"

Sử cũ cũng kể rằng bấy giờ Hưng Vũ Vương được lấy Công chúa Thiên Thụy, thế nhưng tướng Trần Khánh Dư lại thông dâm với Thiên Thụy, khiến nhà vua phải xuống chiếu, trách phạt và đuổi Khánh Dư về Chí Linh. Vậy mà khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã gạt bỏ hiềm riêng, tin cậy giao hết công việc biên thùy cho Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Ngoài ra, khi soạn xong Vạn Kiếp tông bí truyền thư, thì Trần Khánh Dư cũng là người được ông chọn để viết bài Tựa cho sách.

Cũng có chuyện kể rằng, Trần Hưng Đạo là bậc kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh Vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Hưng Đạo theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Hưng Đạo liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi.

Trần Hưng Đạo cũng chủ động đề cao tình đoàn kết trong quí tộc học Trần để tạo thành sức mạnh chống ngoại xâm. Sử cũ chép Trần Hưng Đạo là quốc công tiết chế thống lãnh binh quyền, thế mà đã chủ động hạ mình tắm gội cho Trần Quang Khải. Trần Quang Khải chính là con ruột của Trần Thái Tông Trần Cảnh, tức em chú bác với Trần Hưng Đạo.

Trần Hưng Đạo đã đạt đến tột đỉnh vinh quang. Bản thân ông đã được phong đến quốc công tiết chế nắm hết binh quyền. Vua Trần còn sai lập sinh từ cho ông, tức đền thờ dành cho ông ngay khi ông còn tại thế.

Vợ Trần Hưng Đạo là Công chúa Thiên Thành, con gái lớn của Trần Thái Tông. Bà được phong tước là Nguyên Từ quốc mẫu. Bà có với Trần Hưng Đạo 5 người con, gồm 1 gái và 4 trai:

1) Một gái đầu lòng tên là Trinh, thường gọi là Trinh Công chúa, sau trở thành vợ của vua Trần Nhân Tông, tức Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu, mẹ của vua Trần Anh Tông sau này.

2) Trần Quốc Nghiễn, tước Hưng Vũ Vương: Ông cưới Công chúa Thiên Thụy, trở thành Phò mã của vua Trần Thánh Tông. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên Mông, tháng Tư (âm lịch) năm 1289, ông được phong làm Khai Quốc Công.

3) Trần Quốc Hiện, tước Hưng Trí Vương: Ông là người có công tổ chức khẩn hoang nhiều vùng đất hoang vu của khu vực tỉnh Hải Dương ngày nay.

4) Trần Quốc Tảng, tước Hưng Nhượng Vương: ông được phong làm Tiết độ sứ. Ông có con gái gả cho vua Trần Anh Tông, tức Thuận Thánh Hoàng hậu.

5) Trần Quốc Uất, tước Minh Hiến Vương: từng tham gia đánh giặc Nguyên Mông cùng các anh em dưới sự điều khiển của Trần Hưng Đạo.

Chúng ta thấy với gia thế vương giả đến như vậy, quyền uy đến như vậy, bản thân Trần Hưng Đạo nắm hết binh quyền, con gái thì là hoàng hậu, 4 con trai đều mang tước vương. Ở vào thế đó, thì việc lật đổ triều đình đối với Trần Hưng Đạo là chuyện trong tầm tay. Ấy thế mà, qua những mẫu chuyện nêu trên ta thấy rằng ông vẫn luôn đặt việc chung lên trên việc riêng, đặt thù nước trên thù nhà. Một tinh thần đáng quí lắm thay !

Lấy dân làm gốc

Bàn về chính sách giữ nước, Trần Hưng Đạo là người theo tư tưởng “Dân vi quí”, lấy sức dân làm nền tảng xây dựng sức mạnh của chế độ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lệ chép:

“ Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào". Vương trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế "thanh dã" (tức Vườn không nhà trống-LP), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.

Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Qua cách lý luận trên ta thấy rằng Trần Hưng Đạo đã nắm hết những chỗ tinh yếu của binh pháp cổ kim, quả đúng là một bậc kỳ tài của thiên hạ. Ông đã nhấn mạnh đến việc dùng đoản binh thắng trường trận, dùng ngắn đánh dài, dùng ít thắng nhiều, dùng sức mạnh đoàn kết thắng kẻ thù tàn bạo. Điều đó hoàn toàn phù hợp với địa thế, lực lượng và truyền thống Việt Nam, đã được chứng minh tính hiệu quả qua biết bao chiến thắng kẻ thù xâm lược trong suốt mấy ngàn năm nay.

Đặc biệt điều đáng chú ý nhất đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Trần Hưng Đạo: dựa vào dân để xây nghiệp dài lâu, đây là đạo lý giữ nước, giữ chế độ ngàn đời nay không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam mà của tất cả các dân tộc trên thế giới, bởi vì có dân là có tất cả, mà mất lòng dân thì sẽ mất tất cả vậy.

Một tấm lòng son chiếu sử xanh

Tài năng và đức độ của Trần Hưng Đạo đã đi vào thanh sử, được dân chúng bao thế hệ nay tôn thờ gọi ông là “Đức Thánh Trần”. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần tóm lược:

“Bởi tấm lòng ấy, bởi tài năng ấy, Trần Hưng Đạo khiến cho muôn đời cảm phục. Vũ Phạm Hàm (từng đỗ tam nguyên thời nhà Nguyễn-LP) đã có đôi câu đối để ở đền thờ Vạn Kiếp rằng: “Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Bạch Đằng vô thủy bất thu thanh”. Nghĩa là:


Núi Vạn Kiếp chẳng nơi đâu là không có kiếm khí
Sông Bạch Đằng không có ngọn song nào không có hơi vũ khí,


Tức ca ngợi võ ông oanh liệt của Trần Hưng Đạo.

Và tôi đã đọc được những câu đối, kể cả những câu đối của người Trung Quốc đã ca ngợi Trần Hưng Đạo hết lời. Xin chọn một câu làm ví dụ:

“Địa chuyển ngã Việt chủng cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý
Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên triều đô hộ nhất bách thiên"


Nghĩa là: Đất mà hoán chuyển cho người Việt lên ở phương Bắc, thì ngựa Mông Cổ không thể nào tung hoành ngàn vạn dặm đất Châu Âu - Trời mà sinh đấng lương tài này (tức Trần Hưng Đạo-LP) trên đất Tống thì lịch sử Trung Quốc không có chuyện bị Nguyên triều cai trị 100 năm.

Lời ca ngợi như thế là tột đỉnh của sự ca ngợi, và Trần Hưng Đạo xứng đáng nhận được những lời ca ngợi đó, không phải của người đương thời mà là của người hậu thế.

Đến hôm nay, tượng Trần Hưng Đạo được dựng lên ở khắp nơi, đền thờ Trần Hưng Đạo được dựng lên ở khắp nơi, và những bức tượng ấy, đền thờ ấy là kết tinh của sự sự kính trọng của người Việt Nam đối với Trần Hưng Đạo. Tên tuổi của Trần Hưng Đạo còn được dùng để đặt cho nhiều đường phố, trường học và công sở khác. Tên ông còn sống mãi với non sông này, đất nước này”.

Ba bài học quí

Đề cập đến những bài học rút ra từ cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo, sử gia Nguyễn Khắc Thuần nhấn mạnh đến tình thần “lấy dân làm gốc” và “Dĩ công vi thượng” của ông:

“Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo để lại cho chúng ta rất nhiều điều đáng suy ngẫm. Trước hết là ý chí tự lập và không ngừng vươn lên. Đó là ý chí chung của tất cả mọi người. Và trước hết, tuổi trẻ muốn khẳng định mình thì phải không ngừng nuôi dưỡng chí lớn đó.

Thứ hai, hãy một lòng thương yêu mọi người, đoàn kết, bởi vì chỉ có đoàn kết mới có thể thành công, nếu không đoàn kết thì không bao giờ có thành công. Tâm thành của Trần Hưng Đạo xứng đáng cho ngàn đời sau noi theo.

Thứ ba, Trần Hưng Đạo là người đã không ngừng tìm tòi sáng tạo. Và chỉ có sự tìm tòi sáng tạo vì mục đích là bảo vệ cho nhân dân, cho dân tộc thì sự nghiệp tìm tòi sáng tạo ấy sẽ được đời đời tôn vinh, đời đời ghi nhớ.
Điều quan trọng là tấm lòng đối với nhân dân. Như tôi đã nói, một người sở dĩ có thể trở nên bất diệt là bởi vì người đó luôn chăm lo cho dân, nói theo cách nói của Trần Hưng Đạo là : “Khoan sức dân làm kế rể sâu gốc vững ấy mới là thượng sách để giữ nước”. Lòng thương dân là biểu hiện của một tâm hồn trong sáng, đồng thời cũng là một di sản lớn mà Trần Hưng Đạo để lại cho thế hệ chúng ta”.


Đến đây ta có thể kết luận rằng: Nghệ thuật quân sự của Trần Hưng Đạo tựu chung lại có ba điểm chính sau đây: 1) Lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít thắng nhiều, đánh phục kích bất ngờ; 2) Nêu cao tinh thần đoàn kết, đoàn kết trên thượng tầng lãnh đạo, đoàn kết trong quân, đoàn kết trong dân, gạt bỏ tình riêng để cùng chiến đấu vì lợi ích chung của cả quốc gia dân tộc; 3) Thứ ba cũng là điểm quan trọng nhất đó là: “lấy dân làm gốc”, dựa vào dân để chiến đấu, để chiến thắng, để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, để làm nền tảng tồn tại của chế độ.

Tóm lại, nghệ thuật dùng binh của Trần Hưng Đạo là tinh hoa quân sự của dân tộc Việt Nam, đã được chứng minh tính hiệu quả qua biết bao chiến thắng trước những kẻ thù hùng mạnh suốt mấy ngàn năm lịch sử. Đó chính là sức mạnh quân sự của dân tộc Việt Nam, nó không nằm ở sự lớn mạnh về vũ khí và số lượng, mà là ở tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng, biết gạt hiềm khích riêng tư vì lợi ích quốc gia, biết đề cao tinh thần “dĩ công vi thượng”, và đặc biệt là biết khoan sức dân, biết thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”.

Lũ lượt tìm đến “địa ngục trần gian”


 


Con gái không được nhiều quyền tự do tranh luận với cha mẹ về hôn nhân là một trong lý do khiến số người lấy chồng ngoại quôc ở miền Tây nhiều

Lũ lượt tìm đến “địa ngục trần gian”


Thứ Sáu, 07/12/2012, 12:10 AM (GMT+7)

(Tin tuc) - Vẫn le lói những “điểm sáng” trong số các cô gái lấy chồng ngoại, nhưng chuyện nhiều cô dâu Việt đẫm nước mắt, thậm chí chết oan khuất vẫn được kể suốt bao năm nay ở miệt ĐBSCL.

 

Và có vẻ như, những chuyện đau lòng, chết chóc đó chưa bao giờ là bài học. Những cô gái miền Tây vẫn lũ lượt tìm đến “địa ngục trần gian”…

Những cù lao xuất ngoại

Bao đời nay, Cù Lao Dung thuộc tỉnh Sóc Trăng là huyện có cuộc sống rất thuần... miền Tây. Một ngày của năm 1990, A Sị - một kỹ sư người Đài Loan có mặt trong đội thi công một công trình của nhà nước Việt Nam ở Cù Lao Dung - phải lòng cô thôn nữ tên Dự ở xã An Thạnh Nhứt. Một năm sau, họ thành vợ chồng và dắt díu nhau về Đài Loan sinh sống và đều đặn gửi tiền về cho gia đình.

Từ đó, An Thạnh Nhứt rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan. Theo thống kê chưa đầy đủ của huyện Cù Lao Dung, xã An Thạnh Nhứt là nơi có nhiều người lấy chồng Đài Loan nhất với trên 500 trường hợp đến thời điểm này. Hôm tôi ngồi trên phà cắt sông Hậu đến Cù Lao Dung, người lái phà buồn tái tê kể chuyện: “Đã có hàng trăm cô gái lần đầu tiên lên cái phà này để rời Cù Lao Dung, họ lên đất liền và mất hút luôn bên xứ người, một đi không trở lại...”. 

Rồi cũng có một người trở về là chị Dự. Chị không quay về một mình mà cùng chồng con và một giống xoài lạ của Đài Loan mà thời điểm đó Việt Nam chưa có. Vợ chồng chị Dự mua đất, trồng xoài và thành... tỉ phú sau một thời gian ngắn. Hôm tôi tìm đến, vợ chồng chị Dự không có mặt ở Việt Nam. Ông Lê Hoài Thanh - Phó Chủ tịch UBND xã An Thạnh Nhứt - xác nhận: “Ông A Sị - chồng của cô Hồ Thị Dự - về đây trồng xoài trúng lắm. Diện tích trồng đến thời điểm này đã rộng đến 7ha”. Cũng theo ông Thanh, vợ chồng chị Dự giao cho các anh em bên này quản lý và hai vợ chồng qua qua về về, chứ không ở hẳn Việt Nam.

Một cù lao khác tên là Tân Lộc (ở quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ) nằm giữa sông Hậu thơ mộng, được người đời gán cho nhiều cái tên khác nhau: Cù lao hèm; cù lao tỉ phủ, cù lao mang nợ, cù lao Đài Loan... Mỗi tên gọi gắn liền với đặc điểm thăng trầm của xứ này, như: Nơi đây từng có đến 200 lò đường; 50 tỉ phú; từng mắc nợ đến gần 1.000 tỉ đồng và có đến trên... 600 phụ nữ lấy chồng Đài Loan.

Riêng chuyện lấy chồng Đài Loan, ở cù lao này còn lưu truyền một chuyện nghe đầy huyền thoại. Năm 1993, ông Võ Minh Phương (ấp Phước Lộc, xã Tân Lộc) làm ăn thất bại, nợ nần chồng chất, rồi được mai mối gả con gái cho một người Đài Loan. Hai năm sau con gái con rể về Tân Lộc, rủ cả gia đình sang Đài Loan du lịch. Sau khi du lịch về, ông cất nhà khang trang và tiếp tục gả cô gái út cho một người Đài Loan khác. May mắn đến với ông thêm lần nữa khi cô con gái út lấy được anh chồng giàu có, gửi tiền về cho vợ chồng ông tiêu xài tưởng chừng không hết.

Lũ lượt tìm đến “địa ngục trần gian”, Tin tức trong ngày, lay chong ngoai, co dau viet tu tu, co dau viet, nhay lau, ba me viet, co dau han quoc, han quoc, hai con nho, phu nu viet, toa nha chung cu, benh vien, tu vong, tin nhanh, tin hot, vn

Con gái không được nhiều quyền tự do tranh luận với cha mẹ về hôn nhân là một trong lý do khiến số người lấy chồng ngoại ở miền Tây nhiều. Ảnh: H.V.M

Nhưng vợ chồng A Sị, chị Dự hay con gái ông Phương chỉ là những điểm sáng hiếm hoi của phong trào lấy chồng ngoại ở khu vực ĐBSCL. Bởi như cù lao Tân Lộc, theo gương ông Phương, nhiều gia đình khác ở Tân Lộc có con gái đồng loạt lấy chồng Đài Loan, thậm chí nhiều gia đình có đến 3 - 4 người (đến bây giờ là 600 người), nhưng không phải ai cũng có cơ hội làm cho cha mẹ nở mày nở mặt với xóm làng. Buồn hơn, có nhiều người đến... 3- 4 lần lấy chồng Đài Loan.

“Họ ly dị với người này, về nước thông qua mai mối lại tiếp tục lấy người khác, rồi ly dị, rồi lại lấy chồng. Hiện Tân Lộc có ít nhất 15 đứa trẻ cha Đài mẹ Việt, được mẹ gửi về ngoại nuôi để sang Đài Loan làm dâu lần thứ hai, thứ ba...” - ông Lê Minh Huấn, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Lộc - kể. Ông bảo “chúng tôi không thể ngăn cản được. Họ đến UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân, là cấp chính quyền mình phải làm đúng luật; các đoàn thể cũng tuyên truyền vận động, nhưng cũng chẳng ăn thua”.

Bất lực với lấy chồng ngoại chui?

Theo thống kê chưa đầy đủ, ĐBSCL có trên 100.000 cô gái lấy chồng nước ngoài, trong đó nhiều nhất là Đài Loan, gần đây có sự chuyển hướng sang lấy chồng Trung Quốc, Hàn Quốc. Địa phương có người lấy chồng nước ngoài nhiều nhất là Cần Thơ, Bạc Liêu, Hậu Giang, Sóc Trăng... Đáng nói là phần lớn trong số này chồng... chui, tức không đăng ký qua sở tư pháp địa phương.

Lấy ví dụ Hậu Giang - nơi có cô dâu Võ Thị Minh Phương vừa ôm hai con nhảy lầu tự tử bên Hàn Quốc - hiện có đến 4.000 cô gái lấy chồng nước ngoài, tuy nhiên, con số báo cáo của Sở Tư pháp tỉnh này cho thấy, trong năm 2012 chỉ có trên 400 trường hợp đăng ký kết hôn với người nước ngoài, còn những năm trước chỉ có 100-200 người.

Lũ lượt tìm đến “địa ngục trần gian”, Tin tức trong ngày, lay chong ngoai, co dau viet tu tu, co dau viet, nhay lau, ba me viet, co dau han quoc, han quoc, hai con nho, phu nu viet, toa nha chung cu, benh vien, tu vong, tin nhanh, tin hot, vn

Nhiều người lần đầu tiên lên phà rời cù lao, sau đó lấy chồng ngoại và không bao giờ trở về nữa...

Tại Sóc Trăng, chỉ riêng một xã đã có đến 201 người lấy chồng nước ngoài, nhưng con số chính thức của Sở Tư pháp Sóc Trăng thì... “toàn tỉnh chỉ có 210 trường hợp đăng ký kết hôn với người nước ngoài” (?). Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Giám đốc Sở Tư pháp Sóc Trăng - ưu tư: “Sự chênh lệch về con số này cho thấy hôn nhân bất hợp pháp tăng cao. Chúng tôi đã mở nhiều đợt tuyên truyền đến các huyện, thành, thị xã trong tỉnh để người dân hiểu và đăng ký kết hôn chính thức, nhưng kết quả thu được lại không như mong muốn”.

Thực tế, con đường “chính ngạch” đăng ký kết hôn với người nước ngoài xem ra còn quá xa lạ với những người dân vùng quê nghèo của ĐBSCL. Và đây là một trong những lý do dẫn đến bi kịch. Tôi tìm gặp ông Kim Sà Wach - Phó Chủ tịch UBND xã Lai Hoà, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, nơi trong năm 2012 có đến gần 70 cô gái lấy chồng Trung Quốc, diễn ra sau khi cơ quan Công an thị xã Vĩnh Châu phát hiện đường dây môi giới lấy chồng ngoại bất hợp pháp và 10 cô gái trốn thoát trở về trong đau đớn mà tôi đã kể ở kỳ trước.

Ông Wach nói: “Chúng tôi rất đau xót cho những gia đình nghèo gả con lấy chồng nước ngoài chỉ nhận được 5-10 triệu đồng. Ở xứ lạ quê người không biết nó làm gì, sống ra sao cả, có đứa bị hành hạ, sống trong tủi nhục, nghe kể mà thương đứt ruột”. Ông thở dài: “Người dân đến đây xác nhận tình trạng hôn nhân, biết thế nào cũng lấy chồng Trung Quốc, chúng tôi hết lời giãi bày, nhưng họ không tin. Đến khi con gái bị ngược đãi nơi xứ người, họ mới nhận ra, thì đã muộn”.

Tương tự ông Wach, bà Nguyễn Thu Hương - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Sóc Trăng - khẳng định: “Để ngăn chặn việc môi giới hôn nhân bất hợp pháp, chúng tôi đã tuyên truyền nhiều đợt, nhiều lần, giúp chị em nhận thức đúng đắn về quyết định của mình khi lấy chồng nước ngoài”. Đồng quan điểm này, bà Trần Hồng Chiến - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bạc Liêu - nói: “Hầu hết môi giới hôn nhân với người nước ngoài đều ở vùng nông thôn - nơi có cuộc sống khó khăn, nhận thức của người dân còn hạn chế. Chúng tôi không có quyền cấm phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, khi gặp trường hợp như vậy chúng tôi chỉ biết tư vấn, phân tích thiệt hơn để gia đình tự quyết định”.

Một thực tế rất đau lòng nữa, việc một cô gái ở miền Tây có lấy chồng ngoại hay không, phần lớn là do cha mẹ quyết định chứ sự đồng ý hay phản đối của họ chỉ mang tính... tham khảo. Đơn giản, quan niệm hôn nhân kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” thời phong kiến hiện vẫn còn ăn sâu tại nhiều vùng sông nước miền Tây. Không ít người trong con số 100.000 cô dâu nói trên đã đau khổ, ngậm ngùi chấp nhận lấy một người chồng bất đồng ngôn ngữ, khác xa tập quán, chẳng có tình yêu. Họ quan niệm lấy chồng nước ngoài là cách duy nhất để báo hiếu cha, mẹ...

Trở lại với nhân vật Lộc mà tôi đã kể ở kỳ trước. Khi biết tin Lan lấy chồng nước ngoài vì chữ hiếu, chỉ với mục đích đánh đổi 200 triệu đồng trả nợ cho gia đình, anh không hề trách Lan mà chỉ tủi phận mình nghèo. Hôm tôi với Lộc ngồi trong quán nước bên đường, gặp lúc ai đó ca điệu lý con sáo có đoạn “ai đưa con sáo sang sông, để cho con sáo xổ lồng bay xa...”. Bất giác Lộc quay sang tôi nói bâng quơ: “Do con sáo bị nhốt trong lồng lâu quá, hổng cho nó đi đâu cả và chưa ai dạy nó đường bay về nên nó mới đi mất phải không anh?”.

 

 


Di hài cô dâu Việt nhảy lầu về đến quê hương


 Ngày 30/11, sau 3 ngày sang Hàn Quốc, gia đình bà Võ Thị Ảnh đã đưa được tro cốt của con gái và 2 cháu tử nạn vì nhảy lầu từ tầng 18 về đến quê nhà an táng.


 


Khoảng 18h30' chiều nay (30/11), chuyến xe đưa tro cốt của ba mẹ con chị Võ Thị Minh Phương (27 tuổi), cùng 2 cháu là Kim Xì Chin (7 tuổi) và Kim Chà Xanh (3 tuổi) về quê nhà tại ấp Hòa Quới, xã Hòa An, huyện Phùng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Phần tro cốt của 3 mẹ con chị Phương, sau khi hỏa thiêu tại Hàn Quốc đã được chia thành 6 phần: 3 phần đưa về Việt Nam và 3 phần để lại thờ tại nhà chồng chị.

Về đến nơi, bà con lối xóm và các cơ quan chức năng đã có mặt để tiến hành nghi lễ an táng 3 mẹ con chị Phương theo phong tục địa phương. Rất nhẹ nhàng, một bàn thờ được lập vội trước sân nhà cùng di ảnh của 3 mẹ con xấu số.

Trước đó, chỉ trong thời gian ngắn ngủi, chị Võ Thị Thu Phương quê ở Hậu Giang đã nhận lời đồng ý kết hôn với chàng trai Kim Yoeng Hwa, sinh sống tại TP. Busan, Hàn Quốc. Chú rể Hwa thời điểm kết hôn lớn hơn chị Minh Phương 20 tuổi, cái tuổi bằng bậc cha chú của mình.

Tuy nhiên chị Minh Phương vẫn chấp nhận ‘nhắm mắt đưa chân’ lấy chồng xứ Hàn.

Sau 8 năm sinh sống, hai vợ chồng chị sinh hạ được 2 người con kháu khỉnh. Nhưng, hạnh phúc chẳng tày gang, bi kịch cuộc sống gia đình đã xảy ra, chị Phương sống với chồng liên tục bị bạo hành, điều đó đã khiến cô dâu Việt ôm con nhảy lầu từ tầng 18 tự sát trong đau đớn.

Khi nghe hung tin con gái và 2 cháu ngoại ôm nhau nhảy lầu tự sát. Bà Võ Thị Ảnh cùng 2 người con trai đã sang TP. Busan, Hàn Quốc đưa tro cốt con cháu về quê nhà.

Cùng ngay, phần tro cốt của 3 mẹ con chị Phương được gửi lên ngôi chùa Cao Đài, tại ấp Hòa Quới A, xã An Hòa cách ngôi nhà bà Ảnh khoảng 1km.

Một số hình ảnh đau thương được PV VietNamNet ghi lại.

Đông đảo người thân vây quanh bàn thờ lập vội.

 

Bà Võ Thị Ảnh ngất lịm sau khi về đến nhà.
Bà Ảnh cố gắng gượng dậy đưa 3 mẹ con chị Phương lên chùa.

 

Nhẹ nhàng đưa tro cốt ra khỏi nhà.

 

Bịn rịn trong đêm

 

Xuống thuyền.

 

Ngọn đèn leo lét trong đêm.

 

Di chuyển đưa bàn thờ lên chùa thờ phụng.


Quốc Huy

THUYỀN ĐỜI


 

 

THUYỀN ĐỜI

BK Bùi Đức Tính 323





Miền Nam nước Việt là nơi hội tụ của vô số mạng kênh rạch, sông ngòi. Khởi nguồn từ dòng Cửu Long, trải rộng thành các nhánh sông dài, dẫn ra chín cửa biển lớn. Hai nhánh chính là Tiền Giang và Hậu Giang. Như tên gọi, Cửu Long Giang như chín con rồng uốn lượn, vươn mình ra biển Đông. Nguồn phù sa, nguồn sống cho đất, cho đời người, được truyền dẫn vào sông, rạch, và hàng triệu xẻo, khóm, mương, ngòi...

Nhờ phù sa màu mỡ của sông Cửu Long, miền Nam nước Việt thật đa diện, nổi tiếng với ruộng đồng phì nhiêu, nhiều loại trái cây thơm ngon suốt bốn mùa... Đồng bằng sông Cửu Long là địa đàng của miền Nam. Không như những sông lớn khác, sông Cửu Long không cần phải đắp đê ở hai bên bờ. Hàng năm, vào mùa mùa nước nổi, tháng mười âm lịch, sông nước mang phù sa tràn ngập khắp ruộng đồng. Lúc nước rút đi, để lại một lớp bùn non. Đây là nguồn phân bón cho ruộng vườn, cây trái, tạo ra một khu vực trù phú độc đáo ở hạ lưu sông Cửu Long. Nơi đây, chỉ cần một mẫu vườn nho nhỏ, vài công ruộng, dân chúng dễ dàng tìm được cuộc sống thong dong, nhàn hạ.

Phong cảnh miền đồng bằng sông Cửu Long rất hữu tình, thơ mộng, dễ làm say mê, quyến rũ khách vãng lai... Sông nước chằng chịt như mạng nhện đã tạo cho vùng châu thổ miền Nam, những sắc thái và tình cảm riêng biệt. Trải qua hàng bao thế kỷ, gắn bó với sông nước trùng trùng ấy là chiếc ghe, chiếc xuồng và đã trở thành những hình ảnh không thể thiếu vắng trong đời sống của người dân nơi đây.

Với phương tiện giao thông phần lớn phải nương tựa, tuỳ thuộc vào dòng nước. Các loại tàu, thuyền, ghe, xuồng,… mà kiểu dáng cùng tên gọi cũng phong phú như cuộc sống sông nước nơi đây. Ghe và tàu, hay thuyền, không chỉ là phương tiện giao thông, mà mỗi chiếc còn như là một căn nhà nổi di động trên sông. Thuyền ôm ấp đời người, quyến luyến, gắn bó và nối truyền sang nhiều thế hệ.

Thuyền và đời người, như những cuộc tình được ơn trên ban bố, định phần!

Những thuyền đời ôm ấp, chuyên chở số phận con người qua năm tháng!

Người miền Bắc thường gọi là thuyền, dân miền Nam quen kêu là chiếc tàu. Tàu-thuyền, ghe, xuồng… được gọi theo nhiều cách khác nhau tùy theo hình dáng và ngôn ngữ địa ở địa phương. Ghe, xuồng,... có nhiều loại, thích ứng với từng vùng sông. Như vùng sông từ Long An đến An Giang, xuồng có lườn tròn để dễ lướt trên lục bình. Trên sông ngòi Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau,… xuồng thường có lườn phẳng, còn gọi xuồng ba lá, do có ba tấm gỗ ghép vào, dùng lướt nhanh hơn trên vùng sông rộng.

Ghe, xuồng được đóng thành nhiều kiểu, đa dạng, phong phú. Từ những chiếc đũ cỡ với thân gỗ nhỏ hẹp, dùng để luồn lách qua các kênh rạch nông cạn; cho đến những loại lớn hơn, hình dạng kềng càng, vận tải nặng, chuyên chở được nhiều người trong vùng nước sâu.

Ngày nay, trên sông ngòi, các ghe máy, xuồng máy chạy với vận tốc nhanh, dùng song song với các loại ghe, xuồng, cỏn dùng sức người đơn độc bơi chèo.

Thuyền, ghe, lớn hơn những chiếc xuồng nhỏ hẹp. Vì có quá có nhiều loại, nhiều hình dạng, nên cũng có lắm tên gọi khác nhau. Ghe tam bản, ghe bầu, ghe chài, ghe lườn... Gọi là ghe tam bản mui ngắn, nhưng lại có đến chín mảnh ván ghép hoặc nhiều hơn. Những chiếc này dành đến nửa chiều dài, làm chỗ nghỉ ngơi, còn phần trống đàng trước để chất hàng hóa. Bánh lái nằm dưới lườn sau, thường dùng cần dài để điều khiển. Với đôi mắt, vẻ hay khắc chạm thật công phu trước mũi, ghe thuyền trông như con cá to lớn trên sóng. Theo truyền thuyết từ ngày xưa, đôi mắt còn là biểu tượng để mang lại may mắn và làm các loài thuỷ quái phải kinh sợ, không dám tấn công tàu thuyền. Ngoài ra, còn có thêm loại ghe tam bản mui dài chiếm gần hết chiều dài của ghe. Loại này trông như một cái nhà di chuyển trên mặt nước. Ghe bầu là loại ghe lớn, thường có hình trang trí hoa văn, với nhiều màu sắc. Ghe lườn thon nhẹ, bụng nhỏ và dài, còn gọi là ghe độc mộc vì được làm từ một thân cây gỗ, đẽo gọt và khoét ở ruột để thành ghe. Loại này nhỏ, trông đơn giản, không cong ở hai đầu mũi và lái. Ngược lại, ghe chài rất to lớn, gồm nhiều mảnh gỗ ghép lại, thường có đến hai tầng dành cho người theo ghe. Ghe chài còn có phần mui rời, đóng nối thêm phía sau phòng lái dùng nơi tắm rửa và nấu ăn, tạo thêm tiện lợi cho người đi buôn bán xa, cần sinh sống lâu ngày trên sông nước.

Nghề đi ghe, đi xuồng, trở nên quen thuộc với cư dân miến Nam, như những nghề làm ruộng, làm vườn… Từ ngàn xưa, Cửu Long Giang với các nhánh sông, giòng nước êm đềm đầy thơ mộng, cùng hình ảnh những chiếc ghe, chiếc xuồng trên sông rạch, đã gắn bó với đời sống dân làng miền Nam, trong thơ văn, trong những câu hát, điệu hò dân gian mộc mạc.

Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng,
Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em


Với trọng tải chỉ có 15 tấn, chiếc tàu mang số 3392 trông như đại đa số những tàu chở hàng trên sông ngòi miền Nam. Màu gỗ đen mốc, cũ kỹ. Thân tàu có chừng tám mét chiều dài và ba mét bề ngang.

Cấu trúc tương tự như các ghe thuyền đồng kích thước. Hầm nhỏ, có nấp đậy, ngoài mũi tàu, được dùng chứa neo cùng dây neo, cùng vài vật dụng cần thiết khác. Kế sau hầm mũi này, lòng tàu để mở trống. Với khoang tàu không che kín bên trên như thế, sức chứa hàng được tận dụng và rất tiện lợi cho việc lên xuống hàng hoá, nhưng tàu dễ bị chìm khi sóng to tràn ụp vào. Bên trên thành khoang chứa hàng, có đóng miếng gổ bề ngang chừng gang tay. Hai miếng be gỗ chạy dọc từ mũi đến mui, vừa giúp kềm vỏ tàu thêm cứng chắc, vừa làm lối đi từ mui đến mũi tàu. Lối đi bên trên thành tàu, tuy nhỏ hẹp, nhưng rất cần thiết, nhất là lúc khoang tàu chở đầy hàng hoá. Đi trên be tàu, nhanh và tiện lợi, nhưng có phần nguy hiểm khi tàu đang chạy. Nhằm lúc sóng lắc lư và mặt gỗ bị ướt, rất dễ bị trợt chân rơi xuống nước. Khi tàu đang chạy, thân người rơi xuống, sẽ bị sức mạnh của giòng nước, xoáy hút vào cánh quạt đang quay vùn vụt bên dưới lườn tàu.

Từ phần khoang chứa hàng, đến phía sau đuôi, thì khoang tàu được lót ván che kín bên trên; nhưng các miếng ván này có thể lấy ra cho trống để xuống kiểm soát hay sửa chửa động cơ. Bên dưới sàn gỗ là hầm máy, nơi đặt động cơ của tàu. Căn phòng nhỏ bên trên sàn gổ này, thường được gọi là mui tàu. Mui tàu giống như cái hộp bằng gổ, nhưng là căn nhà yêu quý trên mặt nước của người sống theo tàu.

Mui tàu được ngăn ra là hai phần. Một ngăn nhỏ ở cận sau mui tàu, làm nơi nấu ăn. Khu vực còn lại ở phía trước, là nơi ăn và cũng là chỗ ngủ. Hai bên vách của mui tàu, có khung cửa sổ nho nhỏ, để có thêm chút ánh sáng và gió mát trong những ngày nắng ấm. Phía sau và trước mui đều có cửa, để chui người ra phía sau lái hay tuột xuống khoang chứa hàng hoá đàng trước. Nóc mui không cao lắm, chỉ đủ cao để ngồi, hay đi lom khom mà thôi. Thực ra, trong cái khung gỗ có diện tích dưới ba mét vuông như thế này, thì không mấy khi cần phải "đi", chỉ cần lết người, hay vói tay qua lại, là có thể lấy được vật dụng khi cần. Nóc mui có một khung chữ nhật trống, có nấp đậy lại để che mưa gió khi cần. Khi mở nấp mui, đứng trên hầm máy, thân người từ ngực trở lên sẽ được ló cao bên trên nóc mui, dễ dàng xoay trở và nhìn các phương hướng quanh tàu.

Thuộc loại chuyên chở hàng trong sông, hay ven bờ biển. Mũi và thân tàu mang số 3392 có hình dạng tròn bầu, để chứa được nhiều hàng hoá, nhưng tàu sẽ gặp khó khăn cắt sóng, để chạy lẹ hay an toàn ngoài biển khơi. Với cấu trúc của thân tàu như thế, chiếc 3392 chỉ thích hợp để vận chuyển hàng hoá nơi sóng ít, gió nhẹ mà thôi.

Sáng sớm, nhằm lúc không ghe tàu nào chở hàng đi hay trở về, bến tàu của công ty hải sản hầu như còn đang ngáy ngủ. Hai bên cầu tàu, nối từ bến ra ngoài vùng nước sâu ngoài sông, ghe tàu nằm kề cận nhau. Vài chiếc tàu có người thức sớm, họ ngồi yên lặng một mình bên tách trà, cùng khói thuốc, đôi ba người kéo nhau lên trên bến, ngồi rù rì nói chuyện, để bạn đồng thuyền còn mệt mỏi, được nằm thêm mươi phút nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng, bên ngoài lòng sông có ghe xuồng ra chợ, lướt ngang qua, làm chao động yên lành trong chốc lát. Sóng nối nhau, đùa vào, xào xạc bên mạn gỗ, vỗ về giấc mơ. Giấc mơ an bình, hạnh phúc trên quê hương dấu yêu.

Bây giờ, an bình và hạnh phúc chỉ còn là mộng ước, trở về trong giấc mơ của dân lành!

Từ khi những đội quân gọi là "Cách Mạng Tháng Tám", "Đồng Khởi" cướp chính quyền, thì Công Lý và Tự Do đã phải chịu cùng số mệnh bị cưởng chiếm, như những bảng tên đường của miền Nam Việt Nam.

"Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do"

Lòng người ai oán, khi đường Công Lý trở thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do bị gọi là Đồng Khởi, cũng là lúc nhân quyền cùng Công Lý và Tự Do của dân tộc, đã bị bạo quyền cộng sản cướp đoạt. Công lý và tự do chỉ còn là sáo ngữ của đảng, kẻ cầm quyền!

Sông nước hiền hoà. Giòng phù sa cưu mang dân lành. Tình người, con thuyền mãi mãi lưu luyến bến bờ. Ra đi, lòng nhớ thương, mong chờ lần được trở về quê hương. Một lần đi, biết đâu sẽ là nghìn trùng cách biệt!

Vì hai chữ Tự Do, người dân Việt cô thế phải liều mình, tìm đường vượt trốn chế độ cai trị bất nhân của đảng cộng sản. Đường ra đi, vượt rừng, vượt biển, mang theo ước mơ đến được vùng đất tự do để tạm dung. Triệu người đã vùi thân xác trong rừng, ngoài đại dương.

Đường đến bến bờ Tự Do, đêm đêm trở về trong hàng triệu giấc mơ, thôi thúc, khoắc khoải, kinh hoàng!

Bên giấc mơ với nụ cười, với nước mắt tủi mừng trên bến bờ tự do, có những cơn ác mộng đấm chìm trong biển sâu hay oằn người trong ngục tù tra tấn của bạo quyền.

Đại dương mênh mông, thuyền đời mong manh quá!

BK Tính 323


 

MỘT BẦY DÃ THÚ ĐI HAI CHÂN


MỘT BẦY DÃ THÚ ĐI HAI CHÂN

Giặc Tàu đã vào Việt Nam !

Lịch sử lại tái diễn một ngàn năm nô lệ giặc Tàu !

 

     Đã đến lúc bọn cầm quyền man rợ Cộng sản Hànội phải mở mắt, ngưng ngay những hành động phản dân hại nước rước giặc Tàu vào nhà trước khi đã quá muộn !

     Đã đến lúc tất cả mọi người dân khốn khổ ở trong cũng như ngoài nước Việt Nam phải vùng dậy để cứu nước !

     Chúng ta vùng dậy để đòi hỏi bạo quyền CS Hànội, những tên súc vật đi hai chân từ Bộ Chánh Trị tới Trung Ương Đảng Việt gian Cộng sản phải trả lại cho người dân cái quyền làm con người xứng đáng là được can dự trực tiếp vào việc điều khiển guồng máy quốc gia; được can dự trực tiếp vào quyền quyết định vận mạng sinh tồn cho cả Dân Tộc. Cái quyền đó đã bị bọn người súc vật đi hai chân Việt gian CS bán nước cho Tàu, cướp đoạt từ hơn nửa thế kỷ nay qua Điều 4 Hiến pháp độc tôn, man di mọi rợ phản dân tộc !

     Cho đến lúc này, những ai còn có chút lương tri, không thể nào chịu đựng nỗi trước những cái nhục mà bọn người súc vật đi 2 chân Việt gian CS Hànội đã gây ra cho dân tộc VN trước cộng đồng thế giới như hiện nay !

     Những bọn người súc vật đi 2 chân Việt gian CS đã đánh mất lương tri, vô cảm trước mọi nỗi khổ đau của quốc dân đồng bào, dân oan khiếu kiện; đồng thời vô cảm trước những cái nhục mà toàn dân Việt Nam, nòi giống Việt Nam phải chịu đựng về những hành vi man rợ tiếp tục cướp nhà, cướp đất, đàn áp người dân trong nước... Ăn cắp của công, tham nhũng cả nhũng đồng tiền viện trợ của nước ngoài, bị báo chí thế giới nguyền rủa, bị các chánh phủ viện trợ lên án, mạt sát thậm tệ !

     Và bây giờ, bọn người súc vật đi hai chân kia lại mở cửa ồ ạt đón giặc rợ Hán bành trướng phương Bắc vào Việt Nam, núp dưới chiêu bài khai thác quặn Beauxite để dọn đường biến Việt Nam thành một Tây Tạng thứ hai !!!

     Cái nỗi nhục này biết đến bao giờ chúng ta mới rửa sạch được khi mà bọn súc vật đi hai chân mang danh nhà nước Cộng Hoà XHCNVN vẫn còn đó !?

     Dưới chế độ CS toàn trị như hiện nay ở trong nước, ăn cắp và tham nhũng được đặt lên hàng đầu. Viên chức lớn ăn cắp lớn; viên chức nhỏ ăn cắp nhỏ. Điều tâm niệm của bọn cán bộ CS là người người thi đua, nhà nhà thi đua... ăn cắp !

     Vụ phi công hãng hàng không VN bị bắt hồi năm ngoái tại Nhựt Bổn và bị truy tố ra trước toà án Nhựt; vụ buôn lậu ở Nam Phi, cộng với nhiều vụ phi công buôn lậu bị chánh phủ Úc bắt trong thời gian qua, đã vùi chế độ Việt gian CS xuống tận đáy bùn nhơ ! Bọn cầm quyền CS Hànội đã bị cả thế giới khinh bỉ, coi như một lũ "giòi bọ" !

     Chính các cơ sở ngoại giao của Việt cộng ở hải ngoại, đã tận dụng vào quyền đặc miễn ngoại giao để tham nhũng, yểm trợ cho các phi vụ buôn lậu, ăn cắp. Đó là một bằng chứng hùng hồn nền đạo đức Việt Nam ngày nay đã bị phá sản đến tận cùng vô phương cứu vãn !

     Tất cả những vấn nạn trên đây chỉ có thể chấm dứt, khi bọn người súc vật đi 2 chân đang ngự trị ở Bắc Bộ Phủ Hànội kia không còn nữa ! Bắt buộc chúng phải bị loại đi bằng cách nào đó!?

     Tất cả những vấn nạn trên đây chỉ có thể biến mất, khi nào chính người dân ở trong nước được quyền quyết định cho số phận của chính mình và tương lai của đất nước qua các cuộc tổng tuyển cử thật sự tự do, dân chủ và công bằng !

     Đừng hy vọng hảo huyền bọn người độc ác vô cảm, là giống súc vật đi 2 chân kia chịu giác ngộ, ăn năn, sám hối; tự ý trả lại cho người dân cái quyền sống làm người khi mà cái bản chất con người, lương tri con người của chúng đã bị đánh mất trở thành vô cảm. Chính cựu tổng thống Boris Yelsin của Nga đã từng nói : Chế độ cộng sản chỉ có thay thế (hay sụp đổ) chứ chẳng bao giờ có thể sửa chữa.

     Lịch sử thế giới đã chứng minh, không có sự Tự Do nào không phải trả giá. Chẳng lẽ chúng ta cứ phải chờ phép lạ tự trên trời rơi xuống hay sao !?...

     Hỡi Quốc Dân Đồng Bào ơi !?

Võ Văn Sáu (Góp Gió)

    

    

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link