Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, December 9, 2012

Lưỡi bò TQ và lưỡi Nguyễn Tấn Dũng


Lưỡi bò TQ và lưỡi Nguyễn Tấn Dũng

© Nguyễn Thu Trâm
Đường lưỡi bò Trung cộng xuất xứ là Cửu đoạn tuyến, còn gọi là Đường chữ U, là tên gọi dùng để chỉ đường quốc giới hải vực biển Đông mà Trung cộng chủ trương nhằm để biến cả Biển Đông thành ao nhà của mình.
Biển Đông với đường Lười Bò của TQ


Đường chín đoạn được hình thành dựa trên cơ sở“đường mười một đoạn” của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Đường mười một đoạn làđường quốc giới trên biển Đông do mười một đoạn liên tục tạo thành, xuất hiện công khai lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1948 trong phụ đồ “Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải” của “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân Quốc” do Cục Phương vực BộNội chính Trung Hoa Dân Quốc phát hành. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tức Trung cộng sau khi thành lập vẫn xác định cương vực trên biển Đông theo “đường mười một đoạn” của Trung Hoa Dân Quốc, đến năm 1953 thì bỏ hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ và trở thành “đường chín đoạn”.

Cũng cần nhắc lại rằng Ngày 15 tháng 6 năm 1956, hai tuần lễ sau khi Việt Nam Cộng Hoà (RVN) tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, thì tại Bắc Việt, Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV) đã nói với Ban Thường Vụ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC) rằng “theo những dữ kiện của Việt Nam thì quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và quần đảo Trường Sa (Nansha) là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc”.


Rồi hai năm sau đó, Trung cộng đã ra bản tuyên bố xác định lãnh hải của họ. Bản tuyên bố này đã vạch ra rõ ràng khoảng khu vực của lãnh hải Trung quốc có bao gồm cả Trường Sa. Để đáp lễ, Thủ tướng Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (DRV), Phạm Văn Đồngđã gởi một bản công hàm đến Thủ tướng Trung cộng Chu Ân Lai, vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 nhấn mạnh rằng “Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tán thành và tôn trọng quyết định này”.

Bản Công Hàm này của Phạm Văn Đồng chính là cơ sở để Trung Cộng khẳng định quyền sở hữu đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với cả đường Lưỡi Bò và cũng là nguyên nhân chính của những tranh chấp, xung đột nổi lên trong quan hệ Việt Nam và Trung Cộng trong thời gian gần đây, như việc Trung cộng cản trở hợp đồng của British Petroleum (BP) với Việt Nam tại khu vực bồn trũng Nam Côn Sơn năm 2007, cản trở hợp đồng của Exxon Mobil với Việt Nam năm 2008, vụ tàu Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam năm 2007, vụcăng thẳng giữa tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ với một số tàu Trung Quốc đầu năm 2009 v.v… đều nằm trong ranh giới đường chín đoạn trên biển này.


Ngày 23 tháng 6 năm 2012, Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Cộng công bố mời thầu quốc tế với chín lô dầu khí. Các lô dầu khí này, chiếm diện tích tới 160.129 km2, thuộc nội vùng biển của đường chín đoạn nhưng nằm sâu trên thềm lục địa của Việt Nam. Chồng lên các lô từ 128 đến 132 và từ 145 đến 156 mà Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang tiến hành các hoạt động khai thác dầu khí cùng đối tác của mình.


Sau vụ đụng độ giữa Hải quân Trung cộng và Hải quân Việt Nam năm 1988, một số học giả Trung Cộng tuyên bố rằng ranh giới chínđoạn là ranh giới biển lịch sử của Trung Cộng. Tại cuộc Hội thảo lần thứ nhất vềvấn đề tranh chấp chủ quyền tại biển Đông tổ chức tại Hà Nội tháng 3 năm 2009, báo cáo của ông Hoàng Việt thuộc Quỹ Nghiên cứu biển Đông, đã phân tích các yêu sách của Trung Quốc về khu vực “đường lưỡi bò” theo luật quốc tế, khẳng định đường lưỡi bò vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982.


Cho nên chỉ một ngày sau khi Trung cộng trình tấm bản đồ 9 đường gián đoạn trên Biển Đông lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ngày 7 tháng 5 năm 2009, nhiều quốc gia liên quan trong khu vực gồm Việt Nam, Malaysia và tiếp đó là Indonesia đã phản đối, bác bỏ.

Đó là Lưỡi Bò Trung Cộng, một vấn đề còn nhiều tranh cãi tranh chấp, và chắc chắn là còn tốn nhiều giấy mực của những người quan tâm.


Về phía Việt Nam, mặc dù người đứng đầu chính phủ Việt Nam hiện nay là ông Nguyễn Tấn Dũng từng tuyên bố trước Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam vào ngày 25 tháng 11 năm 2011 rằng: “Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta làm chủ thực sự, ít nhất từ thế kỷ 17 khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào.


Chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình, năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa lúc đó trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ và lịch sử pháp lý để khẳng định điều này.


Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, phù hợp với Công ước Luật biển. Đối với quần đảo Trường Sa, năm 1975 hải quân Việt Nam đã tiếp quản 5 đảo do quân đội của chính quyền Sài Gòn đang quản lý. Sauđó, với chủ quyền của Việt Nam, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra, Việt Nam còn xây dựng 15 nhà giàn để khẳng định chủquyền của chúng ta ở vùng biển này – vùng biển trong phạm vi 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta.


Như vậy, trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất… Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo, trong đó có 6 nhân khẩu đã sinh ra và lớn lên trên các đảo này. Việt Nam chủ trương nghiêm túc thực hiện công ước Luật biển, công ước ứng xử của các bên liên quan ở biểnĐông (DOC) và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây đã ký với Trung Quốc.


Việt Nam yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm để gây ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định khu vực này. Việt Nam cũng tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật ở những nơi đang đóng giữ, để cải thiệnđời sống và tăng cường khả năng tự vệ đối của quân dân trên đảo Trường Sa”.

Đó là lưỡi của Nguyễn Tấn Dũng, lưỡi của ngườiđứng đầu chính phủ Việt Nam hiện thời khiến nhiều người phải suy nghĩ. Điều suy nghĩ đầu tiên khi Nguyễn Tấn Dũng xác nhận rằng: “năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lựcđánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa lúc đó trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó phản đối, lên án việc làm này vàđề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp.”

Như vậy chính phủ cộng sản Bắc Việt thuở ấy cũng hiểu rằng Hoàng Sa là một hải đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa, vậy Phạm Văn Đồng và chính quyền cộng sản Bắc Việt lấy tư cách gì để tán thành quyếtđịnh lãnh hải 12 hải lý của Chu Ân Lai, để Hoàng Sa, Trường Sa và cả toàn bộ hải phận của Việt Nam đều trở thành của Trung cộng?

Rằng với công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cộng sản Hà Nội đã dâng hết hải phận Việt Nam cho Trung cộng như thế, người Việt Nam chúng ta đã có đủ cơ sở pháp lý đểkhẳng định rằng chính phủ cộng sản Việt Nam đã bán nước có văn tự, có công hàmđược hay chưa?.


Vấn đề cần suy nghĩ tiếp theo là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳngđịnh rằng: “Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam…” cớ sao khi xây dựng thành phố TAM SA Trung cộng đã công khai khẳng định rằng Hoàng Sa – Trường Sa và Việt Nam là thuộc chủ quyền của Trung cộng mà phía chính quyền cộng sản Việt Nam cũng không có bất cứ một động thái tích cức nào để phản bác lại điều đó. Tại sao nhà nước Việt Nam không những không tổ chức cho người dân Việt Nam biểu tình chống trung cộng xâm lược mà lại còn ngăn cấm, bắt bớ những người tham gia biểu tình chống giặc ngoại xâm?


Tại sao những bích chương, khẩu hiệu của người dân việt “HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM” đều bị ngăn cấm, những người lưu hành và phổ biến những khẩu hiệu như trên đều bị bát bớ tra tấn? Phải chăng chính quyền cộng sản Việt Nam muốn người dân Việt Nam phải nói rằng “HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA TRUNG CỘNG”? rằng “BIỂN ĐÔNG LÀ CỦA TRUNG CỘNG” hay sao?

Thật là ô nhục khi Hội Nghị Trung Ương 6 vừa kết thúc, và một tháng sau, khi gặp Tập Cận Bình, Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố rằng:“Trên tinh thần đồng chí, anh em và thỏa thuận cấp cao giữa hai nước, trên cơ sở luật pháp quốc tế, hai bên cần bàn bạc, thảo luận, đàm phán để tìm ra giải pháp thỏa đáng, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; không để vấn đề vềbiển Đông làm ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.”

Tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xảy ra cùng lúc với chủ trương của Nhà nước tiếp tục sách nhiễu, trấn áp người dân phảnđối động thái hung hãn và tham vọng bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông. Khi nói “không để vấn đề về biển Đông làm ảnh hưởng đến quan hệ hai nước”,ông Nguyễn Tấn Dũng ít nhất gián tiếp cho Trung Quốc biết là lãnh đạo Việt Namđặt quan hệ giữa hai nước lên trên tranh chấp chủ quyền.


Ông Nguyễn Tấn Dũng và lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam có biết rằng “Lịch sử thế giới nói chung và lịch sửViệt Nam nói riêng cho thấy rằng sự yếu kém của lãnh đạo, của nhà nước, sự phân hoá trong xã hội, là yếu tố mời gọi ngoại bang xâm phạm chủ quyền, thôn tính lãnh thổ của một nước.” ?


Và, như để đáp trả lại thiện chí của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trung cộng không ngừng đẩy mạnh các hoạt động phi pháp của họ ởHoàng Sa và Trường Sa qua việc làm cho thế giới bất ngờ bởi một động thái ngoại giao: Công bố hộ chiếu của công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có in hìnhđường lưỡi bò ôm trọn 80% diện tích biển Đông-vùng biển đã và đang trở thành điểm nóng tranh chấp giữa Trung cộng và các nước Asean bao gồm Việt Nam, Phillippines, Malaysia, Brunei, mà theo tờ Daily Telegrap ngày 22/11/2012, Trung cộng đã cấp khoảng 6 triệu hộ chiếu loại này. Và điều “nguy hiểm” hơn là công dân nước họ đã bắt đầu sử dụng nó để đi sang Việt Nam. Lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đang nghĩ gì về việc này?

Các ông có nhìn thấy một đại họa mất nước đang đến rất gần hay không? Sao các ông vẫn cứ giữ thái độ im lặngđáng sợ như vậy?


Trong khi cùng thời gian này, cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân cùng phu nhân là bà Vương Ích Bình cùng một số các quan chức cấp cao của đảng và nhà nước Trung cộng khi đón tiếp các lãnh đạo củaĐại Học Hải Dương Thượng Hải ở Bắc Kinh, đến dự kỷ niệm tròn một trăm năm của trường đại học này hôm 9 tháng 10 vừa qua, ông Giang Trạch Dân đã dõng dạc tuyên bố rằng: “thế kỷ 21 là kỷ nguyên biển” và rằng “là một quốc gia hiếm hoi tài nguyên thiên nhiên, Trung Quốc phải rất coi trọng việc phát triển trên biển”.


Liệu các trí tuệ đỉnh cao của nhà nước cộng sản Việt Nam có hiểu được thâm ý của nhà lãnh đạo kỳ cựu của Trung cộng khi phát biểu mang tính chỉ đạo cho một chiến lược bành trướng ra biển đông của Trung cộng hay không? Riêng toàn dân Việt Namđều hiểu được rằng Trung cộng đang chủ trương thôn tính Việt Nam và toàn dân của họ cũng đều đang đồng tình với chiến lược đó của đảng và nhà nước Trung cộng.


Gần đây, hai chữ “ai-guo” (ái quốc), được nhắcđến nhiều ở Trung Quốc, nhất là khi đảng cầm quyền của nước này vừa tổ chức Đại hội để bầu ra ban lãnh đạo mới.
Xin mời các trí tuệ đỉnh cao của Việt Nam nghe những phát ngôn của một số “đồng chí” trẻ của Mẫu quốc Trung cộng” rằng: “Các nước yếu như Việt Nam và Philippines không đời nào dám đối đầu Trung Quốc nếu không có giúp đỡ của Mỹ và những nước giàu như Nhật chẳng hạn.”
“Để dạy cho chúng một bài học, thì không có cách nào khác là đánh. Phải đánh!”
Dương Chu Hiểu thì ví von: “Mấy nước nhỏ đó mà không đánh thì sẽ tiếp tục sủa bậy, đánh thì chúng sẽ chạy thôi”.
Còn Tôn Hải Lâm thì tuyên bố chắc nịch như đinh đóng cột: “Cái gì của Trung Quốc thì Trung Quốc phải lấy lại. Điếu Ngư Đài là của chúng tôi, chúng tôi phải giành lại nó. Các đảo ở Nam Hải mà Philippines và Việt Nam chiếm đóng cũng vậy“.

Trương Khải, 25 tuổi, một hướng dẫn viên du lịch thì ngạo mạn tuyên bố rằng: “Đặng Tiểu Bình đã có cuộc chiến dạy cho Việt Nam một bài học, chúng ta cần một cuộc chiến nữa.”

“Chúng ta hãy làm như chính phủ dạy, chúng ta không muốn chiến tranh, nhưng không sợ phải chiến đấu.”

Cùng với thái độ hiếu chiến đó của những người dân Trung cộng là hành vi gây hấn trên biển Đông của đảng và nhà nước trung cộng bằng việc cắt cáp của tàu thăm do dầu khí của Việt Nam Petrolimex ở gần đảo cồn cỏ, trên thềm lục địa Việt Nam, chỉ cách trung tâm thành phố Huế non 60 km vào hôm 03 tháng 12. Theo đó một chính sách chận bắt tàu của ngư dân Việt ngay trong lãnh hải của Việt Nam cũng sẽ được áp dụng vào tháng 01 năm 2013 sắp tớiđây.

Ôi! Nhục quá! Nhục quốc thể quá!

Thưa các trí tuệ đỉnh cao, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta chịu đựng bao mất mát hy sinh, xương của cha ông ta đã chất thành núi, máu của cha ông ta đã chảy thành sông là để đời con, đời cháu không phải nô lệ giặc Nam Hán, giặc Nguyên Mông, giặc Minh, Thanh. Và ngày nay tinh thần hào hùng của Trưng Triệu, của Ngô Quyền, của Trần Hưng Đạo, của Lê Lợi, của Quang Trung vẫn luôn cháy bừng trong tim của mỗi người dân Việt.

Ải Chi Lăng vẫn còn lưu dấu tích của Lê Sát chém cụt đầu Liễu Thăng, Gò Đống Đa vẫn còn đó dấu tích của bại tướng Sầm Nghi Đống phải treo cổ để khỏi phải mất đầu và dòng Bạch Đằng Giang vẫn cuồn cuộn máu giặc Tàu từ hai lần xâm lược của quân Nam Hán và Nguyên Mông.

Hào khí dân Nam bao giờ cùng bừng bừng trong từng ống máu, luồng xương, thớ thịt của mỗi người dân, sao các trí tuệ đỉnh cao lại nhu nhược lại đớn hèn, lại khom lưng, cúi đầu trước ngụy Hán Bắc phương suốt 70 năm qua, để cho chúng gặm dần đất đai bờ cõi của ông cha để lại?

Các trí tuệ đỉnh cao còn tiếp tục khom lưng, cúi đầu để dâng bán hết cả giang sơn Đại Việt này cho ngụy Hán, để cho Việt Tộc phải thêm một ngàn năm nữa nô lệ giặc Tàu chăng?


Đảng cộng sản ơi! Bao dân người dân Việt mới rửa sách nỗi nhục này?

Ngày 07 tháng 12 năm 2012
© Nguyễn Thu Trâm

VC Dẫn Hổ Về Thịt Dê Nhà

VC Dẫn Hổ Về Thịt Dê Nhà
*Dương Thu Hương
Đối với thế giới, uy tín của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.
 
Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác.
 
Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.
 
Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kỳ kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng.
 
Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh nguyên tử hay bàn tay cầm dao găm, súng lục.
 
 Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.
 
Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn Năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung.
 
Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh Hóa bị giặc Tầu giết ngoài khơi, trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979...
 
Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?
 
Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200.000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc.
 
Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em.
 
Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn.
 
Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kỹ của đám mới giầu.
 
Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.
 
Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác.
 
Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen.
 
Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha.
 
Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.
 
Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam , nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó.
 
Chỉ có ở xứ Việt Nam , khi tất cả các cuộc ký kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.
 
Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành.
 
Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam , đảng thừa thãi quyền hành vì không có người đối kháng trọng yếu.
 
Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen” của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân.
 
Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm.
 
Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.
 
Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự Do ngày 27 tháng 10 năm nay:
 
“Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Sài Gòn, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp...”
 
Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân.
 
Các phản ứng này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.
 
Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”?
 
Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân...” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.
 
Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”?
 
Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợ hãi.
 
Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày.
 
Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.
 
Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.
 
Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của “các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án.
 
Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.
 
Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.
 
Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng?
 
Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anh hùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông.
 
 Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.
 
Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam , dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A.Q, đàn bà không bó chân như các mợ Tầu.
 
Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?
 
Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu để cắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?
 
Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.
Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọ này đã bôi nhọ mặt chúng ta!”

      Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc.
 
Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này?
 
 Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?
 
Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộ chính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?
 
Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bị tiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh.
 
 Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.
 
Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.
 
1/. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều.
 
Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị như vậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.
 
2/. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.
Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.
 
Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họ là những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong ký ức là “giặc phương Bắc”.
 
Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kỳ bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng.
 
Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.
 
Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc.
 
Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh.
 
Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà”.
 
 
DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ.
    
 
Tại sao lại là hổ và dê?
 
Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.
Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽ thấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây Nguyên chính là phần sống lưng con dê đó.
 
Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.
 
 
Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻ dựng lên công trình bauxite Tây nguyên?
 
Bauxite ư? Trò lừa đảo!
 
Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam , tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên?
 
Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thế giới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất

Bức tranh Úc: Người Việt


 

TT Duy FWD

Happy Holidays

Bức tranh Úc: Người Việt

Nguyễn Hưng Quốc


Hiện nay, có khoảng gần bốn triệu người Việt Nam đang sống rải rác trên hơn 100 quốc gia trên thế giới.

Nhiều nhất là ở Mỹ (theo cuộc điều tra dân số năm 2010 là 1.548.449 người); kế tiếp là Cambodia (khoảng trên 700.000 người; chiếm 5% dân số cả nước); Pháp (khoảng 300.000 người); Trung Quốc (khoảng 280.000 người); Đài Loan (khoảng 190.000 người, bao gồm khoảng 80.000 công nhân lao động và 110.000 phụ nữ lấy chồng Đài Loan). Úc đứng vào hạng thứ 6 với 185.000 người; cao hơn Canada, hạng thứ 7, một chút (180.000 người).

Bảng liệt kê do Tiến sĩ Long S. Lê biên soạn dưới đây có thể giúp chúng ta có cái nhìn tương đối bao quát về tình hình
di trú của người Việt ở hải ngoại.


​​

Khác với Pháp, nơi lịch sử di dân của người Việt bắt đầu khá sớm, nhiều nhất là ở thời điểm bắt đầu chiến tranh thế giới lần thứ hai - lúc chính phủ Pháp ào ạt tuyển lính Việt Nam để đánh nhau với Đức, Úc, cho đến năm 1975, vẫn còn khá xa lạ với người Việt Nam. Trước biến cố tháng 4/1975, trên cả nước Úc, chỉ có khoảng 700 người Việt sinh sống, bao gồm ba thành phần chính: sinh viên du học, phụ nữ Việt lấy chồng Úc, và một số trẻ mồ côi được các gia đình Úc nhận nuôi.

Ngay sau khi miền Nam bị sụp đổ, số người Việt tại Úc bỗng tăng vọt. Từ năm 1976 đến 1981, có 56 chiếc tàu với 2.100 người tị nạn đi từ Việt Nam đến thẳng nước Úc. Tuy nhiên, phần lớn các thuyền nhân được nhận định cư tại Úc sau khi đến một quốc gia nào đó gần Việt Nam, như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines. Làn sóng tị nạn đầu tiên được nhập vào Úc là năm 1980 với 12.915 người. Sau đó, số người đến Úc vẫn gia tăng, tuy nhiên, phần lớn qua ngả đoàn tụ gia đình hơn là thuyền nhân từ các trại tị nạn ở các nước láng giềng của Việt Nam.

Dưới đây là bảng thống kê số người Việt Nam định cư tại Úc qua các cuộc điều tra dân số Úc từ năm 1976 đến nay:

Năm kiểm tra dân số
Người sinh ở Việt Nam
1976
2.427
1981
41.096
1986
83.028
1991
121.813
2001
154.831
2006
159.850
2011
185.000


Có thể nói, tuy dân số cộng đồng người Việt tại Úc chỉ đứng hàng thứ sáu trên thế giới, tuy nhiên, đó lại là cộng đồng người Việt tị nạn đứng hàng thứ hai, chỉ sau Mỹ, và trên Canada. Nhìn vào bảng dưới đây, chúng ta sẽ thấy Úc
nhận người tị nạn nhiều hơn bất cứ nước nào khác, trừ Mỹ.

Nước đến định cư
Kiểu ra đi
Bằng tàu hoặc đi bộ
ODP (Orderly Departure Program)
Tổng cộng
Úc
14.70%
7.69%
11.62%
Canada
13.66
9.67
11.9
Pháp
3.58
3.25
3.44
Mỹ
56.26
72.89
63.57
Các nước khác (bao gồm các nước Âu châu, Nhật và New Zealand)
11.8
6.5
9.47
Tổng cộng
100.00%
100.00%
100.00%


Tuy nhiên, đó chỉ là giai đoạn đầu. Gần đây, như hầu hết các nơi khác, tính chất tị nạn ấy càng lúc càng loãng nhạt dần. Thế vào đó là những người di dân, phần lớn là các sinh viên, sau khi tốt nghiệp, xin ở lại Úc theo diện tay nghề; hoặc là người sang Úc theo diện đoàn tụ gia đình (với con cái hoặc với người phối ngẫu có quốc tịch Úc).

Ví dụ trong tài khóa 2010-2011, có 4.709 người Việt được nhận thường trú tại Úc. Trong số đó, có 1.383 người được nhận vì có tay nghề cao, chiếm 29%; 3.323 người được nhận vì được bảo lãnh, trong đó 2/3 là do người phối ngẫu có quốc tịch Úc bảo lãnh, chiếm 71%. So với các sắc dân khác, số người được bảo lãnh sang Úc chiếm tỉ lệ khá cao (6.1% trên tổng số 54.000 người được nhận từ khắp thế giới); nhưng số người được ở lại vì có tay nghề cao lại thấp, chỉ có 1.2% tổng số di dân.

Ngoài những người có quốc tịch hoặc được thường trú, ở Úc còn có khá nhiều người Việt có visa ngắn hạn. Ví dụ, vào ngày 30 tháng 6 năm 2011, có 16.340 du học sinh Việt Nam tại Úc. Với con số ấy, Việt Nam đứng hạng thứ tư trong tất cả các nước có du học sinh tại Úc. Cũng trong năm 2011, có 23.906 người Việt Nam đến Úc với tư cách du khách. (Xem Country Profile: Vietnam trên trang web của Australian Department of Immigration and Citizenship).

Cộng đồng người Việt tại Úc khá già. Tuổi trung bình là 42.1, cao hơn tuổi tác trung bình của người Úc đến 5 năm. Về phái tính cũng có sự chênh lệch đáng kể: Nữ chiếm 53% trong khi nam chỉ có 47%. Tỉ lệ thất nghiệp là 7.2%, cao hơn mức trung bình của cả nước là 5.2%. Nghề nghiệp chính là lao động chân tay (19%); kỹ thuật viên và buôn bán chiếm 18%; những người có trình độ chuyên môn chiếm 17%.

Người Việt tại Úc, như ở phần lớn các nước khác, có khuynh hướng sống tập trung, gần nhau. Và cũng giống như hầu hết các cộng đồng di dân khác, thích cư ngụ ở những khu vực có mức độ đô thị hóa và kỹ nghệ hóa cao. Hai tiểu bang có đông người Việt nhất cũng là hai tiểu bang lớn nhất nước Úc (New South Wales, 40%; và Victoria, 36%). Ở hai tiểu bang ấy, người Việt thích sống ở hai thành phố lớn nhất (Ở New South Wales là Sydney, và ở Victoria là Melbourne). Rất ít người Việt sống ở các vùng quê, xa trung tâm của thành phố cũng như của tiểu bang.


​​
Ở đâu có đông người Việt nhất định ở đó sẽ có những trung tâm thương mại với các tiệm ăn đủ loại, từ phở đến bún bò, hủ tiếu, cơm tấm sườn bì… và các tiệm tạp hóa, ở đó, hầu như người ta có thể tìm thấy mọi thứ cần thiết cho các bữa ăn của người Việt. Trước năm 1975, nghe nói nhiều sinh viên du học ở nước ngoài thèm nước mắm độ chỉ muốn bỏ học để quay về Việt Nam. Bây giờ, ở các khu chợ người Việt tại Úc (cũng như ở Mỹ, Canada, Pháp…), hầu như không thiếu một món gì. Có khi còn đa dạng hơn ở Việt Nam. Đa dạng chủ yếu nhờ có nhiều nguồn: Không phải chỉ có hàng nhập từ Việt Nam mà còn có cả hàng nhập nhiều nước Á châu khác. Nhiều nhất là từ Thái Lan.

Và, có lẽ từ nước… lạ nữa.

Không thể tránh được.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link