» Tác giả : Hứa Hoành
» Dịch giả :
» Thể lọai: Thời Chinh Chiến
» Số lần đọc: 554
1. Sau ngày tuyên bố độc lập
Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt
Vừa chiếm được chính quyền và ra mắt cái chánh phủ tự phong, công việc quan
trọng nhứt của ông Hồ gồm: cầu phong với đồng minh; đút lót tiền bạc
cho các tướng Tàu để họ không can thiệp; tiếp tục đi đêm thương thuyết với Pháp
để có thì giờ khủng bố người quốc gia.
Công việc cầu phong với đồng minh để họ nhìn nhận “Việt
Minh là tập họp các đảng phái quốc gia, đã từng tranh đấu bên cạnh đồng minh,
chống Pháp, chống Nhựt.. Xin đồng minh nhìn nhận Việt Minh là đại diện duy nhứt
và chính thức của dân tộc Việt Nam” thất
ba.i. Ông Hồ dàn cảnh để dân chúng đón tiếp phái bộ của thiếu tá A. Patti, đôn
phái bộ nầy lên làm “phái bộ đồng minh đến nhìn nhận và thâm xã
giao chánh phủ lâm thời”. Phái bộ không tới vì biết mình bị lợi
du.ng. Việt Minh lại dàn cảnh đoàn biểu tình đến nhà riêng để phái đoàn ra đứng
trước cửa cho họ chào.... Nhiều người biết việc ấy chỉ là một màn
lừa bịp, nhưng một số lớn dân chúng vẫn chưa hiểu.
Mặt khác, các tướng Trung Hoa, đại diện đồng minh, đến tiếp thu và giải giới
quân Nhựt từ vĩ tuyến 16 trở lên, đã bị ông Hồ đút lót tiền, vàng, để ông ta tự
ý hành động mọi việc có lợi cho đảng cộng sản. Trong khi đó, Việt Minh vẫn đi
đêm thương thuyết với Pháp để họ có thì giờ rảnh tay đàn áp, khủng bố những
đảng phái quốc gia yêu nước. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, trong hồi ký đã viết: “Đã
nói chánh sách của Việt Minh là một chánh sách giả dối, lường ga.t. Còn là một
chánh sách gây câm thù, một chánh sách bốc lột, một chính sách chém giết. Tất
cả những chính sách xảo trá và tàn bạo của Việt Minh thấy ở mỗi hành vi, phân
tích ra từng mục là một điều phức ta.p. Cho nên chỉ nói ra ít nhiều trường hợp,
để có ít nhiều quan niệm” (Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, tr.
325).
“...
Về tuyên truyền, có thể nói Việt Minh đã thắng thế. Qua tuyên truyền của Việt
Minh phải nói là một sách lược cao độ, cả một nghệ thuâ.t. Cán bộ Việt Minh
thường dựng đứng lên những chuyện có tính cách tốt đẹp, vẻ vang, có lợi cho họ,
cho đảng, và dĩ nhiên dìm, hạ thấp đối phương. Dân chúng sẵn sàng tin, lại tán
dương thêm vào. Về sau, những chuyện đơm đặt kia, dân cũng không cần xét đến
thực hư, dẫu có biết chắc là không có, cũng sẵn sàng quên, rồi tin ngay một
chuyện đồn khác.. “. Yêu nhau nên tốt” là thế. Mặc dầu Quốc
Dân Đảng thời ấy, tung ra mấy tiếng gọi là một thành ngữ “nói
dối như vẹm”, vẹm vẫn nói dối và vẫn lường gạt được dân. Dân
chúng tin Việt Minh đến mức có thể nói như 'ăn phải bùá. Tất cả đã ủng hộ Việt
Minh từ trước, hoặc mới theo, đều có một thái độ căm thù Quốc Dân Đảng. Chỉ
phong thanh nghe nói những ai là Quốc Dân Đảng, không cần biết tông tích, thành
tích, không cần biết tâm tình, không một mảy may suy nghĩ, gắn ngay cho những
người ấy những tiếng “phản động”, “phản quốc” và muốn bắt giam ngay, muốn giết
ngay.
Về chuyện giết lẫn nhau nghe thuật lại: hai lãnh tụ quan trọng Quốc Dân Đảng là
Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Thế Nghiệp mà tôi có gặp mấy lần trong thời gian trước
ngày Việt Minh đảo chính, đều bị cắt tiết ở Trèm Vẽ, xác trôi sông. Những vụ
chôn sống, cũng được nghe kể lại, nay quên tên mất nhân vật và nơi chốn. Những
vụ ám sát thì nhiều, kể một vụ là Nhượng Tống....
Nhưng riêng chuyện cắt tiết thì phương pháp tàn nhẫn đối với người như đối với
loài vật vâ.y. Việt Minh không những thi hành ở thủ đô trong cuộc tranh đấu với
Quốc Dân Đảng, mà còn thi hành ở các thôn quê trong công cuộc trừng trị những
phần tử gọi là phản đô.ng. Ở đây, cắt tiết còn moi gan trong những trường hợp
giết vì thù cá nhân.
Thời kỳ đầu, Việt Minh cầm chánh quyền, cán bộ còn thiếu súng đa.n. Chôn
sống, cắt tiết dành những triê.u chứng căm thù, cũng còn là những phương pháp
tiết kiệm đa.n. Lại một thủ đoạn nữa, tàn nhẫn bội phần là lấy búa bổ lên đầu
người, như đồ tể bổ vào đầu vâ.t. Ngay hồi còn ở chiến khu mà Việt Minh cũng đã
giết những người Việt hay Nhựt nghi ngờ, cán bộ chỉ dùng gươm, dao chém, hay
búa bổ để khỏi phí đa.n.
Ngoài sự tranh giành thế lực, Việt Minh còn có những vụ tống tiền. Vụ tống tiền
công khai và vĩ đại của Việt Minh là “Tuần lễ vàng”. Việt
Minh lớn tiếng kết tội tội những người quốc gia là “phản quốc”, “Việt gian”,
“phản động”, “thổ phỉ” mà cho tới nay chưa trưng được bằng cớ nào về những hành
động mà họ đã phao vu, thêu dệt cho những người đã bị họ giết.
Còn trong khi đó, Việt Minh lại xu phụng người ngoại quốc thì được gọi là...
yêu nước! Thỏa thuận cho Pháp vào chiếm đóng các
thành phố lớn trên đất Bắc, Việt Minh lại hô hào chống Pháp. Tiêu diệt tất cả
các đảng phái quốc gia, Việt Minh hô hào “chỉ có một Mặt Trận Việt Minh”. Kẻ
có chánh nghĩa, lại không biết kỹ thuật tuyên truyền như Việt Nam Quốc Dân Đảng
(Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), dùng tờ báo sao
trắng, vạch trần bộ mặt thật của Việt Minh là cộng sản, và Hồ Chí Minh chính là
Nguyễn Ái Quốc. cán bộ Đệ Tam cộng sản trá hình, thí ít được dư luận chú ý...”
(Nguyễn Xuân Chữ, tr. 303).
Trong khi Hồ Chí Minh theo phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau, thì
ở nhà, đã ra mật lịnh cho Giáp tàn sát, tấn công tất cả trụ sở của Quốc Dân
Đảng, Đồng Minh Hội... Võ Nguyên Giáp là kẻ chủ
mưu bịa đặt, ngụy tạo, vu khống các vụ án Ôn Như Hầu, cầu
Chiêm Sơn.... để thẳng tay tấn công các đảng phái tại Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh
Yên, Phúc Yên, Việt Trì, Hưng Hóa, Yên Báy, Phú Thọ tới sát biên giới Trung
Hoa.
Ông Nguyễn Việt thuật lại: “...Riêng anh tôi, cùng một số đồng chí bị vây tại
nhà ga xe lửa Việt Trì, và bị bắt sống trên trần nhà Hotel de la gare của cụ bà
Lưu. Việt Minh giam tất cả trong nhà máy giấy Việt Trì, ngay đầu cầu Bạch Hạc,
rồi đem ra bờ sông giết bằng lưỡi lê, xác bị vứt xuống sông mất tích. Nhiều
người trốn thoát được trong vụ càn quét nầy biết rõ.. Tại Bắc Bộ Phủ, thư ký
riêng của Phạm Văn Đồng, hiện sống ở Hà Nội, biết rõ vụ nầy. Cũng không ngờ,
trong số bị giết, có người em chú bác ruột với mình.Biết
cũng vậy, không biết cũng thế thôi, đối với người cộng sản không có nhân tình,
cũng chẳng có nhân tính. Ai ở trong hàng ngũ Việt Minh, chỉ có một cách giải
quyết duy nhất là giết, kể cả bố mẹ, anh em hay những người thân yêu nhất”.
“Tại Hải Phòng, khi rút lui, Việt Minh bắt dân chúng Hải Phòng phải tản cư sang
Kiến An, đi bộ nườm nượp suốt ngày đêm cả tuần lễ. Đồng thời, khi tản cư, Việt
Minh thực hiện kế hoạch nhằm vào 3 thành phần phải tiêu diê.t. Đó là:
- Việt gian: đối với những người nào trước
kia đã làm việc cho Pháp. Trong lúc chạy loạn, ông thợ cắt tóc, gia đình chỉ có
bộ đồ nghề dao cao, kéo, tông đơ và cái gương. Việt Minh nói “cái gương đó có
thể làm ám hiệu cho phi cơ Pháp bỏ bom”. Ông thợ cắt tóc hiền lành vô tội, bị
lôi ngay ra lề đường bắn bỏ tức khắc. Anh thanh niên mặc áo sơ mi trắng, quần
xanh thợ máy, túi cày bút chì xanh đỏ, đúng là cờ tam tài của Pháp, bị cho là
ám hiệu của bọn Việt gian, bị bắn ngay.
- Phản động: là thành phần không theo chúng
như Việt Quốc, Việt Cách, công chức người Pháp, quan lại cũ, chánh tổng, lý
trưởng.... nếu không chịu làm việc, tham gia các công tác như tự vệ, canh gác
khu phố... đều bị ghép vào hai tiếng ‘phản động’.
- Thổ phỉ: để chỉ những người Hoa ở lại Hải
Phòng, không chịu tản cư, mà treo ở trước nhà tấm bảng “Maison chinois” để tỏ
ra trung lập, đứng ngoài cuộc chiến. Ngoài ra, khi thấy người Pháp vào nhà họ
mua thức ăn, họ bị ghép tội “tiếp tế cho địch”.
“....Công việc đầu tiên của Việt Minh trong khi kêu gọi tản cư là phá nhà cửa ở
tỉnh lỵ thành bình địa, phân tán mỏng lực lượng, nếu bị tấn công thì rút nhanh
và bảo tồn lực lươ.ng. Ở vào trường hợp nầy, cái khó là làm sao đem theo và
nhốt ở đâu một số lớn mà họ gọi là “Việt gian, phản động”? Sách lược cố hữu của
Việt Minh từ xưa tới nay vẫn không thay đổi: đó là giải
phóng, tức là “giết”. Bộ đội trong tiểu đoàn, chỉ cách
trại giam có một bức tường. Đêm đêm nghe nhiều tiếng bốp bốp... tiếp theo là
tiếng rên nhỏ và tiếng người ngã huy.ch. Toán tuần tiễu và canh gác tò mò, trèo
lên tường nghe ngóng: một cảnh tượng hãi hùng diễn ra trước mắt. Tên Rộng, mặt
rỗ, thường gọi là “Rộng rỗ”, đứng giạng chân, tay cầm búa tầm sét, nhấm ngay
chính sọ người bị giam bổ mạnh như bổ củi. Nạn nhân bị bịt mắt, chỉ còn kêu
được tiếng hự rồi ngả vật xuống đất. Vì số người bị giam quá đông, nếu giết
không kịp, khi bị tấn công, nên tên Rộng la lớn:
- Không bịt mắt nữa! Không cần trói!
Thế là nạn nhân vừa bước ra, ngơ ngác, chưa kịp định thần nhìn sự thế bên
ngoài, đã bị tên Rộng quai cho một búa vào sọ, ngã vật, dẫy giẫy và chết
tươi....
Và cứ thế suốt đêm, xác người chồng chất cao như đống rạ, máu chảy lênh láng ngập
sân. Sáng hôm sau, chúng xúc từng thùng đất đổ lên máu, rồi hốt đổ ngay lề
đường, ngoài trại giam. Rồi máu đông thành cục với đất, ruồi nhặng bu đen. Bộ
đội chạy tập thể dục buổi sáng, đến quãng đường nầy dội ngược trở lại, vì mùi
xú uế xông lên nồng nă.c. Còn xác chết, chúng đào từng hố lớn ngay chân núi Cột
cờ, sau trại lính khố xanh cũ. Vì quá vội vã, chúng lấp đất kín xác người cho
xong chuyê.n. Qua này hôm sau, xác chết sình lên, đẩy mấy lớp đất mỏng bên
trên, để lộ nguyên người, giò, cả chân, tay. Mùi hôi thúi tỏa đi khắp nơi thôn
xóm lân câ.n. Không biết làm sao, chúng chất rơm phủ kín xác người và đốt. Đốt
hết lớp nầy đến lớp khác, đến khi xác bị cháy xẹp xuống, chúng lấp đất la.i.
Cảnh tượng đó được lập lại chôn hơn 14000 dân Huế vào dịp tết Mậu Thân”. (Hồi
ký Nguyễn Việt, báo Lạc Việt).
Còn ở Trung Bộ, việc bắt cóc rồi thủ tiêu những nhân vật có uy tín, hoặc thuộc
các đảng Việt Quốc... đều được thực hiện âm thầm, ít lộ liễu hơn. Chẳng hạn,
trường hợp ông Phạm Quỳnh, bị cán bộ Việt Minh tới nhà mời đi họp vào buổi xế,
rồi sau đó mất tích. Cùng bị giết với ông Phạm Quỳnh còn có ông Ngô Đình Khôi,
một người con ông Khôi là Ngô Đình Huân và một người đàn bà cho tới nay chưa
xác định rõ là ai: người đàn bà Bắc Bộ, ăn mặc theo lối Bắc. Bác sĩ Hồ Văn Châm
còn kể lại nhiều vụ Việt Minh giết người ném đá giấu tay như trường hợp các ông
giáo sư của trường Quốc Học Huế như: giáo sư Nguyễn Trung Thuyết, Đại Việt Quốc
Dân Đảng bị Trần Việt Châu là trưởng phòng chánh trị sở công an Trung Bộ cho
người bắt giữ vào một ngày cuối tháng 10/1946. Giáo sư Thuyết đang ngồi ăn cơm
trưa với bác sĩ Bửu Hiệp, là xứ trưởng xứ bộ Trung Việt của Đại Việt Quốc Dân
Đảng. Sau đó, thầy Thuyết bị đưa ra giam tại lao xá Đồng Hới, rồi bị Việt Minh
giết. Thầy Ngô Văn Hân, thường viết bài cho báo Sống Mới của Phan Quang Bổng,
cùng với thầy Phan Ngô xuất bản ở Huế tờ nhựt báo Dân Đen, đấu tranh đòi cải tổ
dân sinh, dân chủ. Tất nhiên chỉ có cộng sản giết thầy và nhà cầm quyền đương
thời cũng theo dõi, rình rập thầy dữ lắm. Thầy Ngô Văn Hân thuộc Quốc Dân Đảng,
được sự hỗ trợ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Thứ, lập ra “nhóm thứ năm”, qui
tụ một số tí thức và nhân sĩ Huế, và các đệ tử ruột của thầy ở ban Tú Tài như
các anh Lê Tuyên, Lê Văn, Nguyễn Văn Mừng, Thái Mộng Hùng, Âu Ngọc Hồ...
Hoạt động của “nhóm thứ năm” kéo dài nhiều năm, chỉ chấm dứt ít lâu sau khi
thầy Ngô Văn Hân bị Việt Minh bắt ở Bàu Vá và xử bắn ở Nam Đông,
vùng ngoại ô thành phố Huế! Nhóm Đại Việt Quốc Dân Đảng thành lập bởi Trương Tử
Anh tại Hà Nội vào năm 1939 và nhanh chóng phát triển tại 3 kỳ. Xứ bộ Bắc Việt
do bà cả tề (Đặng Thị Khiêm), Trung Việt có Bửu Hiệp và Nam Việt có Nguyễn Văn
Hướng, tức em ruột bà bác sĩ Nguyễn Thị Sương. Cuối
năm 1946, Việt Minh bắt và giết Trương Tử Anh, tấn công các
chiến khu của Quốc Dân Quân, khủng bố trắng. Một
người biết rõ thủ đoạn của Việt Minh là Lê Khang. Khang trước là đảng viên Đệ
Tứ quốc tế, sau theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, lãnh đạo ban chấp hành.
Lê Khang có mặt trong buổi họp lịch sử của Quốc Dân Đảng tối ngày
18/8/1945 tại Hà Nội để thảo luận việc cướp chính quyền. Trong lúc lực lượng võ
trang của Quốc Dân Đảng điều động từ chiến khu Lạc Triệu về tập trung tại
trường tiểu học Hàng Kèn để đợi lệnh khởi nghĩa, thì các vị lãnh đạo Quốc Dân
Đảng ngần ngừ, thiếu quyết đoán, ngại đổ máu, trừ một mình Lê Khang cương quyết
chủ trương cướp chánh quyền ngay trong đêm. Những lý lẽ của Lê
Khang đưa ra vô cùng xác đáng. Lê Khang cảnh cáo rằng Việt Minh sẵn sàng
cấu kết với thực dân Pháp và với quân phiệt Tàu, để tiêu diệt những người cách mạng
dân tô.c. Nếu để Việt Minh cướp chính quyền, họ sẽ trở mặt vu cáo người quốc
gia là phản động, là Việt gian. Vì vậy Quốc Dân Đảng phải nắm chính quyền ngay,
thu súng đạn của Bảo An Binh, tiếp nhận khí giới của quân Nhựt chứa trong kho
Ngọc Hà để trang bị cho 3 sư đoàn quân cách mạng để làm chủ tình thế.
Tiếc
thay, ý kiến của Lê Khang không được hội nghị chấp thuận, đại sự hỏng ngay từ
bước đầu. Lê Khang bèn tức tốc lên Tam Lộng, phối hợp với Đỗ Đình
Đạo, sáng ngày 22/8/45 cướp chính quyền Vĩnh Yên. Lê Khang làm chủ tịch chánh
trị, bỏ chiến khu Vĩnh Yên, Đỗ Đình Đạo làm tư lệnh, Lê Thanh phụ tá, rồi mở
rộng tiến lên các tỉnh Yên báy, Phú Thọ, Việt Trì, Lao Cay... Đầu năm 1946, Lê
Khang được điều động về trung ương, đại diện cho Quốc Dân Đảng, công tác trong
ban Liên Kiểm của chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến, cùng Trần Văn Giàu (?) đại
diện Cộng sản đi các nơi dàn xếp các vụ xung đột võ trang giữa Việt Minh và
Quốc Dân Đảng. Ít tháng sau, Lê Khang vào Thanh Hóa, giúp củng cố và mở rộng
chiến khu Di Linh Bái Thươ.ng. Sau vụ Ôn Như Hầu, Lê Khang bị công an Cộng
sản bắt giam ở Hỏa Lò, rồi đưa lên lao xá Phú Thọ, đến giữa năm 1947 thì bị thủ
tiêu cùng với Phan Kích Nam và 11 đảng viên Quốc Dân Đảng khác.
Một đời Lê Khang nhìn xa thấy rộng, gốc gác là cộng sản, biết quá rõ về cộng
sản mà rút cục vẫn không thoát khỏi chết thảm dưới bàn tay của cộng sản! (Câu
Chuyện Xoay Quanh Lá Cờ của Bác sĩ Hồ Văn Châm, báo Đi Tới).
Trong khi tìm cách tiêu diệt những người ngoài đảng Việt Minh,
ông Hồ bắt đầu bí mật liên lạc với Pháp. Theo sự tiết lộ của Sainteny thì do sự
dàn xếp của Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám đến
gặp Sainteny, Salan và Pignon. Họ bí mật gặp nhau nhiều lần
trong đêm, tại một biệt thự gần công trường Paul Bert. Hai
bên thương lượng một hiệp ước để Pháp đổ quân vào Hà Nội và Hải Phòng, ngược
lại chỉ nhìn nhận “Việt Nam là nước tự do”.
Một tuần sau (7/12/45), Pignon lại bí mật giao cho Hoàng Minh Giám một bản dự
thảo hiệp ước sơ bộ mà Hồ đợi sau ngày thành lập chính phủ liên hiệp, mới dám
ra mặt để ký kết vì sợ dân chúng chống đối. (Việt Nam Niên
Biểu, Chính Đạo, tr. 291). Sau đó Pignon vào Saigon báo
cáo những cuộc gặp gỡ bí mật với Việt Minh cho Cao Ủy D'Argenlieu. Cao Ủy Pháp
đồng ý gặp Hồ Chí Minh trên chiến hạn Richelieu đậu ở ngoài khơi Đồ Sơn. Lúc
đó, chính phủ Liên Hiệp vừa trình diện quốc hội và được phê chuẩn. Ông Hồ công
khai thương thuyết với Pháp, không còn đi đêm nữa.
Cụ Trần Trọng Kim kể lại: “Khi chính phủ Pháp ký hiệp ước với chính
phủ Trung Hoa rồi mới trù tính đem quân ra Bắc Bộ. Cao cấp ủy viên nước Pháp
lúc ấy là D'Argenlieu, có ra vịnh Hạ Long, mời ông Hồ Chí Minh xuống tàu nói
chuyê.n. Ông Hồ đi với ông Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao và mấy người
khác nữa. Xuống dưới tàu, chỉ một mình ông Hồ được vào buồng nói chuyện, còn
mọi người đứng ở ngoài. Xong việc nói chuyện ở dưới tàu chiến rồi, cao cấp ủy
viên là ông Sainteny thay mặt để lên Hà Nội cùng với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng
khanh... ký tờ hòa ước mồng 6/3/46”. Rõ ràng ông Hồ thương
lượng riêng với Pháp, không cho bất cứ ai biết. Khi xong việc, ông nhân danh
chính phủ Liên Hiệp ký vào hòa ước. Ông mời Vũ Hồng Khanh ký phó thự, để cùng
chia xẻ trách nhiê.m. Trong lúc Hồ đi đêm thương thuyết với Pháp,
dư luận biết Hồ “bán nước”, nên dân chúng biểu tình, do Việt Nam Quốc
Dân Đảng tổ chức, để chống lại Hồ Chí Minh. Đoàn biểu tình cũng
yêu cầu Bảo Đại lên cầm quyền (Việt Nam Niên Biểu, Chính Đạo, tr. 308).
Hiệp ước sơ bộ vừa ký kết, phía Viêt Minh cho là “thắng lợi”, bắt dân chúng lên
tỉnh khiêng về huyện, rồi từ huyện khiêng về xã, về thôn để “học tập”.
Tuy nhiên, đó chỉ là một sự bán nước trắng trơ.n. giặc
thập thò trước cửa, Hồ ký hiệp ước rước giặc vào tận trong nhà. Việt Nam Quốc
Dân Đảng thấy rõ âm mưu của Hồ, nên lại hô hào dân chúng biểu tình rầm rộ tại
nhà hát lớn, chống Hồ Chí Minh. Hồ phải sai Phạm Văn Đồng tới
giải đô.c. Hồ còn thề thốt “Hồ Chí Minh nầy không bán nước đâu” (Việt
Nam Niên Biểu, tr. 321).
Nam Bộ: 3 tuần độc lập bánh vẽ, Việt
Minh phá nát lực lượng kháng chiến.
Ba tuần độc lập bánh vẽ ở Nam Bộ (2/9 tới 23/9/45) cũng như một năm độc lập
dưới chế độ quân quản của các tướng Lư Hán, Tiêu Văn, Việt
Minh đã gây cảnh cốt nhục tương tàn, phá nát thế đoàn kết kháng chiến, cuối
cùng chỉ còn một lực lượng duy nhứt là Việt Minh, tức cộng sản trá hình. Việt
Minh bôn đào, trốn mất dạng, mặc cho quân Pháp tung hoành chiếm lại lãnh thổ mà
họ đã mất. Cuộc chiến tranh kỳ lạ, diễn ra hàng ngày, hàng giờ giữa
những người lãnh đạo và những kẻ đồng chiến tuyến. Về ngoại giao, Việt Minh
thất bại hoàn toàn. Không một nước đồng minh nào nhìn nhận Mặt Trận Việt Minh
hay Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ, cũng như Chính Phủ Lâm Thời tự phong ở Bắc Bộ.
Chiếm ngụ tại dinh Norodom Nam Kỳ (dinh Độc Lập sau nầy), Trần Văn Giàu và Lâm
Ủy Hành Chánh Nam Bộ, tức chính phủ lâm thời của ông ta, ra lịnh “chuẩn bị tiếp
đón phái bộ đồng minh”. Lâm Ủy ta thông cáo:
“Dân chúng phải cộng tác với chính phủ tổ chức lễ “đón tiếp phái
bộ đồng minh thật long tro.ng. Mỗi nhà, mỗi công sở hay tư nhân phải treo đủ 4
lá cờ đồng minh: Anh, Pháp, Nga, Mỹ....trong đó lá cờ VN treo ở giữa.
Ngoài đường phố, các biểu ngữ giăng khắp các ngã tư, ngã ba đường lớn:
- Hoan hô phái bộ đồng minh!
- Độc lập hay chết!
- Thà chết còn hơn nô lệ!
Ngày 3/9, đại diện Pháp và Việt Minh họp tại Sàigòn. Phía đồng minh có Henry
Brain, cố vấn cho tướng Gracey, đã nói với phái đoàn Việt Minh do bác sĩ Phạm
Ngọc Thạch cầm đầu:
- Người Anh không nhìn nhận chính phủ do quân thù (Nhựt) tạo nên. Lâm Ủy Hành
Chánh Kháng Chiến Nam Bộ không phải là một chính phủ hợp pháp do toàn dân bầu
ra, do đó không đại diện cho toàn dân Nam Bộ.
Theo nhận xét của đồng minh, thì mối quan tâm của Lâm Ủy Hành
Chánh là tìm cách tiêu diệt tất cả các đảng phái, khuất phục mọi sự chống đối
việc làm của họ, để tỏ ra Việt Minh có đủ khả năng giữ trật tự khi đồng minh
tới.
Ngày 6/9/45, đại tướng Gracey, đại diện tổng tư lịnh đồng minh ở Đông Nam Á là
Lord Mounbatten tới Sàigòn. Ông ta nhân danh đồng minh, nắm quyền chỉ huy từ vĩ
tuyến 16 trở xuống phía Nam. Ngày hôm sau, không
biết hai bên có hop mật như thế nào, đột ngột Lâm Ủy Hành Chánh ra lịnh khiến
dân chúng hoang mang: “giải tán các tổ chức dân quân chống Pháp”.
Ủa sao lạ vậy? Mọi người ngơ ngác hỏi nhau câu ấy. Lịnh của Trần Văn Giàu nói
rõ: “Đối với những ai đã kêu gọi dân chúng võ trang chiến đấu chống
lại phe đồng minh (ý nói chống Pháp) sẽ bị coi là phá hoại và sách đô.ng.” Lúc
nầy Pháp và Việt Minh còn hưu chiến (1 tuần, đến ngày 10/10/45). Pháp cần thời
gian chờ viện binh tới. Việt Minh cần thời gian để loại những người quốc gia
ngoài đảng Việt Minh. Cả hai bên gặp nhau chỗ đó, mới có sự hưu chiến. Lần lượt
nhiều chiến hạm Pháp chở viện binh tới Sàigòn. Trong khi đó, nhiều máy bay của
Pháp bay qua không phận Sàigòn, thả truyền đơn đe do.a. Tình trạng chiến tranh
có vẻ nguy cấp thêm.
Ngày 12/9, có thông cáo của phe Trotskyist công khai tố cáo Việt
Minh phản bội chính trị, đang tìm cách thương thuyết với Pháp và nhận những
điều kiện gần như đầu hàng, trước sự đe dọa tấn công của quân Anh Pháp.
Ngày hôm sau 13/9, tướng Gracey ra lịnh đuổi Ủy Ban Hành Chánh ra khỏi dinh
Norodom (Dinh Toàn quyền cũ). Liền ngày ấy, hồi 4:30 phút, Dương Bạch Mai,
thanh tra chính trị miền Đông, chỉ huy một nhóm thanh niên cứu quốc bao vây trụ
sở của nhóm Đệ Tứ quốc tế CS, đang nhóm đại hô.i. Trong
lúc giặc Pháp khiêu khích, Việt Minh chỉ lo khủng bố những người cùng chung
chiến tuyến. Mặc dầu quân số đông, võ khí đầy đủ hơn, nhưng phe
Đệ Tứ chịu để bị Việt Minh bắt. Việt Minh tịch thu súng trường, tước súng lục
(súng cá nhân), cướp trụ sở, lấy đi nhiều tài liệu như máy đánh chữ. Dương Bạch
Mai còn ra lịnh cho nhóm cứu quốc dưới quyền của y đập phá bàn ghế, xé cờ Đệ Tứ
CS, đốt tài liệu, sách báo.....chỉ vì phe Trotskyist muốn tránh đổ máu nên
không kháng cự.
Sau khi thi hành cuộc khủng bố nầy, Trần Văn Giàu tuyên bố bắt đầu tàn sát phe
Trotskyist ở Nam Bộ. Lần lượt, các thành viên phe Trotskyist đều sa lưới CS đệ
tam.
Người ta còn nhớ, trong cuộc biểu tình mừng độc lập 2/9, chẳng những Giàu cho
biểu dương lực lượng bằng 4 sư đoàn dân quân như là một sự thách thức đối với
thực dân Pháp mà cũng kích thích lòng dũng cảm của toàn dân khi quân đồng minh
tới, đồng thời cũng làm nản chí nhóm Trotskyist khi nhóm nầy kêu gọi dân chúng
võ trang. Rồi cũng do lịnh Dương Bạch Mai, phóng thích những người Pháp bị bắt
trong cuộc biểu tình ngày 2/9 để hòa hoãn với Pháp, đặng rảnh tay đối phó với
người quốc gia. Lịnh phóng thích nầy làm cho dân chúng hoang mang, nghi ngờ
thái độ của Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ. Chẳng những thế, Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ
còn ra lịnh thật động trời: “Cấm mang võ khí như dao găm, mã tấu hay tầm vông
vạt nhọn, súng trường....ngoa.i trừ dân quân và các toán an ninh, tự vệ của Lâm
Ủy Hành Chánh.
Trong khi Việt Minh nhượng bộ Pháp, nhóm Đệ Tứ quốc tế tổ chức một cuộc biểu
tình trước chợ Bến Thành, rải truyền đơn kêu gọi tăng cường các ủy ban nhân dân
và võ trang quần chúng chống bọn đế quốc dù mang nhãn hiệu phát xít hay dân
chủ.
Trong cuộc biểu tình nầy, nhiều biểu ngữ và khẩu hiệu nhằm chống áp bức, bất
công xã hội như:
- Chia đất cho dân cày
- Công nhân làm chủ xí nghiệp
- Độc lập cho Đông Dương.
Trước vụ này, nhóm Đệ Tứ bị phản ứng từ hai phía Việt Minh và Pháp:
Báo Dân Chúng của Việt Minh tố cáo nhóm Trotskyist là Việt gian, xúi giục dân
chúng làm loa.n.
Phía đồng minh và Pháp ra lịnh cho thống chế Terauchi phải chịu trách nhiệm giữ
trật tự, tức phải dẹp các đám biểu tình như vậy (4/9).
Phái bộ đồng minh tới Sàigòn, Việt Minh vẫn tiếp tục bắt bớ,
khủng bố nhóm Trotskyist, bắt một số lãnh tụ Hòa Hảo, rồi kết tội họ: âm mưu
đảo chánh chính phủ tức Lâm Ủy Hành Chánh. Lý do nhóm Trotskyist trưng bằng
chứng Giàu làm mật thám cho Pháp.
Ngày 7/9/45 tin Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi được lan truyền ở Sàigòn. Tin
này được dán trước tòa soạn báo Tranh Đấu tại ngã tư đường Garros và
Lagrandière. Nhóm La Lutte thách thức Trần Văn Giàu về vụ nầy, Giàu trả lời: vụ
Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi không có liên quan gì tới Lâm Ủy Hành Chánh Nam
Bộ. Ủy ban hành chánh Quảng Ngãi không có quyền xét xử Tạ Thu Thâu. Cũng ngày
đó, báo Cờ Giải Phóng của Việt Minh tại Hà Nội kêu gọi: “Phải
triệt hạ ngay bọn Trotskyist. Lý do thầm kín vụ nầy là do ông Hồ.
Vũ Thư Hiên viết:
“Ông Phạm Ngọc Thạch, trong một câu chuyện vui tại nhà tôi hồi đầu thập niên
1960 nói với ông Dương Bạch Mai:
-
Mấy chả không ưa mầy, vì mầy thẳng như ruột ngựa, nghĩ sao nói vậy, mầy làm mấy
chả mếch lòng, mới lòi cái vụ mầy hợp tác với đám Tờ-rốt-kít ra mà rêu rao.
- Thì mầy cũng bị mấy chả rêu rao là có thời chơi thân với Nhật đó thôi. Chơi
với Tờ–rốt-kít thì mẩy cũng có chơi chớ bộ.
Dương Bạch Mai cười ngất:
- Nè, cẩn thận, sổ đen của mấy chả có ghi thêm vô chớ không có xóa đâu nghen!
“Theo cha tôi, thái độ của những người lãnh đạo CSVN đối với
những người Tờ-rốt-kít là không thể hiểu đươ.c. Họ có thể đoàn kết với bất cứ
ai khác, trừ những người Tờ-rốt-kít, thậm chí cả những hành động cụ thể chống
lại nhà cầm quyền thuộc địa” (Hồi ký Vũ Thư Hiên)
Để giải thích thái độ bất cộng đới thiên nầy, người ta dẫn ông Hồ Chí Minh: “Đối
với bọn Tờ-rốt-kít không thể có một thỏa hiệp hay nhân nhượng nào cả. Phải lột
mặt nạ chúng như là tay sai của phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị” (trích
báo cáo của ông gởi Quốc Tế CS cuối năm 1939).
Quả ông Hồ có viết như vâ.y. Lập trường cứng rắn này của ông, được những người
nghiên cứu tiểu sử ông giải thích bằng sự cần thiết: phải thanh minh trước một
quốc tế đa nghi, dưới sự chỉ đạo của Stalin sắt thép.
Hồi ấy, quốc tế nghi ngờ lập trường cách mạng vô sản của ông Hồ, cho rằng nó
không vững chãi. Ông cần sự ủng hộ của quốc tế cho mục đích giải phóng dân tộc
hay cần tiền để sống qua ngày trong khi còn lang bạt nơi đất khách quê người,
mà quốc tế là nguồn cấp đó?
Trở lại việc đồng minh tới Sàigòn gặp đại diện của Trần Văn Giàu. Đột ngột Giàu
theo lịnh của đồng minh, ra lịnh: Đại bản doanh quân Nhựt có lịnh buộc Lâm Ủy
Hành Chánh phải giải giới 4 sư đoàn mới thành lập vội vã ngày 29/8/45. Theo
Giàu thì nhóm, Đệ Tứ biểu tình trước chợ Bến Thành, đòi võ trang dân chúng
chiến đấu, tạo cơ hội cho ngoại quốc cướp đoạt chủ quyền của VN. Lại một lần
nữa, Giàu đổ tội cho phe Đệ Tứ. Đối với Việt Minh, sách lược của họ cũng kỳ lạ: Khi
giành được quyền hành, đánh không được thì đàm. Hòa đàm thất bại, bị dồn vào
thế gần như đầu hàng thì lại đổ tội cho nhóm Đệ Tứ. Tại sao Việt Minh cầm quyền
lại đổ tội cho kẻ khác khi đồng minh và Nhựt ra lịnh giải tán quân dân? Đó là
thủ đoạn của Việt Minh.
Nhắc lại Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, nhận lịnh ông Hồ, tức tốc vào Nam đảo
chánh Trần Văn Giàu. Nhiệm vụ bí mật của Việt và Lãnh là củng cố sự lãnh đạo
của đảng CS miền Bắc. Họ mở phiên họp tại dinh thống đốc Nam Kỳ. Ngoài
mặt, họ làm bộ cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh, mời nhiều nhân vật đối lập, bên ngoài
đảng tham gia, làm ủy viên hoặc cố vấn, có mục đích cầm chân họ để tiêu diê.t.
Đây là một thủ đoạn thâm độc, gian hùng của Việt Minh thời kháng chiến.
Chính Hoàng Quốc Việt (tên thật là Hà Bá Cang) là người được đảng CS miền Bắc
cử theo dõi Tạ Thu Thâu khi Thâu về tới Quảng Ngãi. Khi Hoàng Quốc Việt và Cao
Hồng Lãnh vừa lên đường, ông Hồ liền phái một nhóm binh lính trung thành với
ông ta lên đường vào Nam để tăng cường quyền hành cho Việt và Lãnh, đề phòng
phe miền Nam chống lại phe miền Bắc. Đó là các đạo quân Nam tiến Quang Trung,
và một toán 72 khóa sinh mới tốt nghiệp khóa 4 quân chính vào Nam Bộ ngày
4/10/45. Các đoàn quân Nam tiến ấy với danh
nghĩa là giúp dân Nam Bộ đánh Pháp. Độc giả có thấy sự khôi hài, giả tạo ở chỗ
đó? Nam Bộ đâu thiếu nhân lực, tài lực, vật lực để kháng chiến mà phải nhờ đến
Bắc chi viện? Bí mật lịch sử đó ít người biết. Sự
thật, toán quân Nam tiến nầy chỉ bảo vệ quyền lợi của phe CS miền Bắc.
Trong phiên họp cải tổ Lâm Ủy ngày 8/9/45, Việt và Lãnh chọn sẵn một nhân vật
gốc đại điền chủ ở Trà Vinh, có vợ đầm là luật sư Phạm Văn Bạch làm chủ tịch Ủy
Ban Hành Chánh......Ủy ban mới cải tổ nầy gồm:
- Chủ tịch: Luật sư Phạm Văn Bạch
- Ủy viên quân sự: Trần Văn Giàu
- Ngoại giao: Phạm Ngọc Thạch
- Nội vụ: Nguyễn Văn Ta.o.
Các ủy viên: Ngô Tấn Nhơn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Nghiêm, Huỳnh Văn Tiểng,
Từ Bá Đước.
- Dự khuyết: Phan Văn Hùm (không nhận) Trần Văn Nho, Nguyễn Văn Thủ.
- Cố vấn đặc biệt: Huỳnh Phú Sổ
(Tài liệu của Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, trang 260).
Hồi đó rất ít người biết thủ đoạn của Việt Minh. Họ rất quỷ
quyê.t. Ngoài mặt Việt Minh luôn kêu gọi đoàn kết, liên hiệp, hợp tác, nhưng
bên trong tìm cách ám sát, bắt cóc, thủ tiêu. Đường lối của Việt Minh là làm
mọi cách độc chiếm chính quyền. Tạm giấu biệt bộ mặt thật CS,
ông Hồ giả vờ giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương, nhưng vẫn duy trì
và gia tăng sự lãnh đạo của đảng, nhứt là Nam Bộ. Khi mạnh, đánh được, thì phao
vu, rồi trở mặt, tàn sát, tiêu diê.t. Khi yếu thế, đánh không được thì liên
hiệp, đoàn kết. Ban ngày hợp tác trong các ủy ban, ban đêm tới
mời họp, rồi thủ tiêu mất tích, cách làm việc của Việt Minh ở đâu cũng giống
nhau. Khi Pháp mở cuộc tấn công, nhiều người tản cư về hậu phương, bị Việt Minh
chận bắt, rồi kết tội là Việt gian rồi cho mò tôm. Chiến
dịch dã man nhứt là thời gian 10 ngày hưu chiến trong tháng 10/45, Việt Minh
gieo ác mộng kinh hoàng cho những người yêu nước, nhưng không chịu theo Việt Minh.
Những ai không theo Việt Minh là Việt gian. Những ai không tản cư cũng là Việt
gian. Chưa bao giờ dân ta trở thành Việt gian nhiều như dưới thời Việt Minh!
Theo tài liệu của Nam Đình, trong phiên họp cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh do Hoàng
Quốc Việt đóng kịch, có nhiều người đề cử các ông Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm,
luật sư Dương Văn Giáo (Lập hiến)......làm ủy viên. Đây
không phải là thiện chí của Việt Minh, muốn mở rộng thành phần chính phủ, mà
chỉ là một thủ đoạn, một cái bẫy để lừa các nhân vật trên tham gia, cầm chân
họ, để tới nhà bắt và giết đi. Sau khi phiên họp giải tán, nội
tối đêm đó, Trần Văn Giàu liền trở mặt cho bao vây trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo tại
đường Miche để bắt đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Nhân chứng vụ nầy là cụ An Khê Nguyễn
Bính Thinh thuật lại như sau:
“...và một đêm, Mười Bạch, cảnh sát quận 1 do luật sư Huỳnh Văn Phương bổ nhiệm
nhận được lịnh quái gở là đánh úp vào trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo ở đường Miche.
Mười Bạch có chịu ơn đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Khi ra khỏi khám Sàigòn, anh đến tá
túc tại chỗ ở của vị giáo chủ Hòa Hào và đức Thầy có biệt nhãn với anh.
Đêm ấy, Mười Bạch cố tình tập họp quân lính trễ hơn nửa tiếng đồng hồ, và bí
mật báo tin cho đức Thầy biết. Vì thế khi quân Việt Minh bao vây và tấn công
vào ngôi nhà lầu của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, không tìm được đức Thầy ở đâu,
chỉ bắt được vài trăm tín đồ. Mới liền hiệp hồi sáng, thì tối bao vây, tấn
công, đánh úp. Đó là thế đoàn kết của Việt Minh!
Ngày 12/9/45, Giàu ra lịnh giải tán các bót cảnh sát, bỏ trống, trả võ khí cho
Pháp. Các bót chánh ở mỗi quận có 15 súng trường, 25 súng lục trái khế, các bót
phụ thì có 7 súng trường, 15 súng lục trái khế. Khi bị các cảnh sát trưởng chất
vấn, Giàu trả lời:
Chánh phủ đang điều đình với Pháp để tìm một giải pháp khỏi đánh nhau, khỏi đổ
máu. Muốn tỏ thiện chí, ta trả cho Pháp các thành lính, các bót cảnh sát cùng
võ khí. Rõ ràng Việt Minh ở Bắc và Nam Bộ đều có chung một chính sách: Hòa
hoãn với kẻ thù để tiêu diệt anh em trong nhà.” (Thư riêng
của cụ An Khê).
Tình hình chiến tranh càng ngày thêm bộc phát. Được viện binh, Pháp khiêu khích
khắp nơi. Vừa tới Sàigòn, quân Anh Ấn liền chia nhau chiếm lại các ngân hàng,
ngân khố, phi trường, thương cảng, nhà đèn Chợ Quán, sở lọc nước...Việt Minh
phản ứng yếu ớt rồi giao các cơ sở ấy cho Pháp, Anh.
Ngày 16/9/45, Ủy Ban Hành Chính dời về Tòa Đô Chánh, vì trụ sở tại dinh Norodom
bị Anh chiếm la.i. Trong tình trạng lâm nguy tới nơi, Ủy Ban Hành Chánh ra
thông cáo nhằm vào anh em, gây chia rẽ: Chính Phủ Lâm Thời Nam Bộ đang dự bị
lập ủy ban điều tra mỗi tỉnh, mục đích xem xét và tố cáo bọn phản quốc. Bọn nầy
sẽ bị tòa án nhân dân trừng trị, tài sản của họ sẽ bị tịch thu, ruộng đất của
họ sẽ bị lấy lại và chia cho dân nghèo. Thông cáo này được đăng báo ngày 8/9/45
vì kể từ khi Việt Minh nắm chính quyền, báo chí Việt ngữ đặt dưới quyền điều
khiển của Mai Văn Bộ, cán bộ tuyên truyền của Việt Minh. Đây
là một thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng, vừa vu khống họ vừa đán áp. Tiếp theo
là một phong trào khủng bố lan tràn khắp nơi. Những ai đối lập với Việt Minh đều
bị thủ tiêu bí mâ.t. Một cơ hội để Việt Minh trả thù. Những
người biết các hành vi chỉ điểm của Trần Văn Giàu và đồng bọn sẽ bị bắt cóc,
dẫn đi trong đêm tối và không bao giờ trở về.
Ngày 17/9/45,Ủy Ban Hành Chánh của Phạm Văn Bạch ra lịnh đình công: cấm bán
hàng cho Pháp, cấm bồi bếp phục vụ cho Pháp. Ai làm việc đó sẽ bị coi là phản
bội, là Việt gian. Sàigòn bắt đầu tê liê.t. Tại các nhà hàng, khách sạn, không
có bồi bàn. Trên đường phố không còn xe xích lô, cu li. Bến tàu vắng ngắt. Mọi
sự giao thông trên đường phố đều ngưng hoạt đô.ng. tình trạng nghiêm trọng
thêm....
Trước tình trạng ấy, tướng Gracey ra lịnh mở cửa khám lớn Sàigòn, phóng thích
tất cả những người Pháp bị Việt Minh bắt giữ vì tình nghi trong cuộc biểu tình
ngày 2/9/45. Đồng thời Cédille võ trang cho 1400 tù binh Pháp bị Nhựt cầm tù
mới được thả. Sở dĩ Cédille vừa chân ướt chân ráo tới Sàigòn mà lạc quan như
vậy nhờ tiếp xúc với luật sư Béziat, chủ đồn điền cao su, Bazé....là những tên
thực dân hạng nặng ở Sàigòn lâu năm. Ông Nam Đình
kể lại:
“Hai người nói cho Cédille biết rằng: Việt Minh là CS,
họ đã đứng cạnh Nhựt chống Pháp. Bây giờ đại tá cứ võ trang quân đội Pháp. Súng
nổ là họ chạy hết. Chúng tôi biết người Việt nhiều. Cương quyết là họ chạy
liền.
Cédille làm sao hiểu được lòng dân lúc bấy giờ? Ông ta cũng chẳng biết gì về
phong trào kháng chiến của toàn dân Nam Bộ có một lời thề: Thà chết chớ không
chịu nô lệ!.
Ngày 19/9/45, Cédille tổ chức một buổi họp báo. Bây giờ nhiều ký giả Anh, Mỹ,
Pháp có mặt tại Sàigòn, nhứt là đoàn viết báo Pháp. Cédille tuyên bố:
- Việt Minh không phải là đại diện dân chúng VN. Họ không có đủ
lực lượng để giữ trật tự an ninh ở Sàigòn. Quân đội Pháp sẽ đứng ra tái lập
trật tự. Khi trật tự vãn hồi, Pháp sẽ thành lập cho VN một chánh phủ theo bản
tuyên ngôn 24/3/45. Hai ngày sau, 12/9/45, đại tướng Douglas
Gracey chỉ huy quân đội Anh Ấn ra lịnh:
- Cấm các báo Việt ngữ.
- Xử tử bất luận những kẻ nào âm mưu phá hoa.i.
Nghe lời Pháp, đại tướng Gracey làm cho dư luận quần chúng xôn xao. Gracey liền
ra thông cáo số 1, dán khắp nơi.
“1. Quan đô đốc Lord Louis Mounbatten, tổng tư lịnh các đạo quân đồng minh tại
Đông Nam Á, đã giao quyền cho ta là đại tướng D.D. Gracey, cai quản tất cả quân
đội (Anh, Pháp và Nhựt) cùng các đội bảo an và quân đội khác.
2. Mọi người phải hiểu rõ rằng: ta nhất định sẽ dùng các phương pháp trung lập
đến triệt để, đặng mà thi hành sự trần thuật ôn hòa trong thời kỳ giao thời
giữa buổi chiến tranh và lúc hòa bình.
3. Thay mặt cho quan Tổng Tư Lịnh quân đội đồng minh, ta báo cho tất cả dân
chúng phải hợp tác một cách triệt để mà thực hành cái mục đích đã nói trên.
Luôn đây ta báo cho những kẻ bất lương, nhứt là trộm cướp...biết rằng: chúng sẽ
bị tử hình ngay.
4. Những lịnh sau đây sẽ thi hành lập tức:
a/ Không được phép tổ chức một cuộc biểu tình và cuộc biểu diễn nào hết.
b/ Không được hội họp đâu hết.
c/ Không được mang võ khí bất kỳ là thứ nào, cho đến gậy, giáo, tầm vông vạt
nhọn...trừ ra quân đội Anh và đồng minh và các quân đội nhà binh hay là Bảo An,
có ta cho phép riêng mới đươ.c.
d/ Thiết quân luật theo lịnh ta mà nhà binh Nhựt đã buộc ở trong châu thành
Sàigòn - Chợlớn từ 21 giờ rưỡi cho đến 5 giờ rưỡi sáng, sẽ còn thi hành và
quang soát một cách nghiêm nhă.t.
Saigon, le 19 Septembre 1945
Ký tên: D. D. Gracey
Quan Tổng Tư Lịnh Quân đồng minh
đóng ở miền Nam Đông Dương.
Thông cáo nầy ký ngay, nhưng đến 21/9/45 mới dán ra khắp nơi cho dân chúng đọc
và hiểu.
Với lực lượng viện quân, quân Pháp mới được thả từ khám tù, võ trang, khuya đêm
22 rạng 23/9/45, Pháp tung ra chiếm lại các công sở, các bót cảnh sát, công an
dễ dàng vì Ủy Ban Hành Chánh của Việt Minh đã bỏ chạy từ trước. Tuy vậy, dân
quân Sàigòn vẫn tiếp tục ở lại chiến đấu.
Các ông Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà thành lập Ủy ban phong tỏa Sàigòn
Chợlớn. Việt Minh đã cao bay xa chạy ra Bình Điền, Chợ Đệm, rồi xuống Mỹ
Tho.....mặc cho dân quân tự túc chiến đấu. Lực lượng quốc gia
tự vệ của Nguyễn Văn Trấn được lịnh lùng sục hàng đêm, bắt cóc các nhân vật yêu
nước, ngoài đảng Việt Minh, hoặc không chịu theo Việt Minh, rồi phao vu cho họ
là Việt gian để xử tử một cách lén lút.
Trước ngày bỏ chạy xuống Hậu Giang, Ủy Ban Hành Chánh còn ra lịnh cho tất cả
dân chúng chuẩn bị kháng chiến. Tản cư những ông già, bà cả và trẻ em, phụ nữ
ra khỏi thành phố. Cùng ngày 20/9/45, Gracey gởi giác thư cảnh cáo Phạm Văn
Bạch không dung thứ bất cứ hành động tẩy chay hay đình công nào.
Thứ bảy 22/9/45, quân Pháp chiếm nhà tù, bưu điện, ty cảnh sát ở Sàigòn. Trung
tá Rivier được lịnh trang bị hoàn tất cho 12 đại đội của trung đoàn 11BB thuộc
đi.a. Tờ mờ sáng ngày 23/9/45 Gracey bãi bỏ lịnh giới nghiêm và coi như toàn
thắng. Khoảng 20.000 Pháp kiều có mặt ở Sàigòn xuống đường ăn mừng chiến thắng
nầy bằng cách sỉ nhục và hành hung bất cứ người Việt nào họ gặp trên đường phố.
Phía Việt Minh lấy ngày 23/9/45 làm ngày bắt đầu của Nam Bộ kháng chiến. Đó là
ngày toàn dân miền Nam nhứt tề đứng dậy theo
tiếng gọi của non sông. Họ tạm quên thù nhà, quên những tội ác của Việt Minh đã
giết các người yêu nước vì khác chính kiến. Chỉ trừ những gia đình có thân nhân
bị giết lúc tản cư, được vài tháng, thấy không thể sống với Việt Minh, nên quay
trở la.i. Từ đó có phong trào hồi cư. Ngoài Bắc sau 19/12/46, có phong trào
Dinh tê, ta gọi về thành.
Một nhân chứng lịch sử, ông Ngô Văn kể lại những chi tiết:
“Tối, hồi 4:30 khuya đêm 22 rạng 23/9/45, Ủy Ban Hành Chánh đã rút khỏi Sàigòn
từ trước. Tiếng súng bắt đầu im bặt lúc 6 giờ rưỡi sáng. Tờ báo Daily
Telegraph, phóng viên người Anh tường thuật vụ nầy như sau: “Đêm 22/9 quân Pháp
đã khủng bố và săn đuổi người Việt (lúc đó gọi là Annam).
Họ bắt được hàng trăm người Việt, cho quỳ gối, đưa hai tay lên đầu ở phía trước
tòa đô chánh, trước nhà bưu điê.n. Đây là hành động nhục mạ mà thực dân Pháp cố
ý gây ra để trả thù người Viê.t.
Đêm 23/9/45, theo báo thì “Sàigòn nổi loạn toàn diện”. Trên nhiều đường phố,
cây cối bị đốn ngã ra đường làm chướng ngại giao thông. Phong trào dân chúng
nổi dậy lan qua các khu Khánh Hội, Cầu Kho, Bàn Cờ, Phú Nhuận, Tân Định, Thị
Nghè và các khu vực đông dân quanh Sàigòn. Nhiều toán dân quân tấn công để cố
chiếm lại thương cảng Sàigòn. Sáng sớm ngày 24/9, quân Anh bắt đầu lục soát
những nhà ở trung tâm Sàigòn Chợlớn. Còn các thủy thủ lục soát khu vực quanh
bến tàụ”
Đột ngột, chiều 24/9, dân quân Sàigòn mở cuộc phản công quân Pháp. Hồi ký Trần
Tấn Quốc viết:
“Sáng ngày 24/9 tình hình Sàigòn khá yên tĩnh, nhưng xế chiều, tình hình th