Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, December 18, 2012

Cuộc Chiến Giành Giật Châu Á Giữa Mỹ Và Trung Quốc


 

Cuộc Chiến Giành Giật Châu Á Giữa Mỹ Và Trung Quốc

Ngọc Trí

Sẽ là rất lịch sự nếu dùng những từ đại loại “đối tác” hay “đối thủ” mà không phải là kẻ thù để chỉ mối quan hệ hiện tại giữa Mỹ và Trung Quốc. Và nếu xem Trung Quốc là kẻ thù, Mỹ đang đối mặt với một kẻ thù hắc ám và kỳ lạ chưa từng có trong lịch sử cổ kim, một kẻ thù không hoàn toàn nằm ở chiến tuyến đối lập thật sự như với Liên Xô trước đây mà lại “bị” gắn kết bởi những lợi ích song phương gần như không thể tách rời. Điều đó cũng đúng với phía Trung Quốc.

Làm thế nào để “diệt” nhau trong bối cảnh quan hệ phức tạp như vậy?

Kỳ 1: Lịch sử một chuyện tình

Từ kẻ thù không đội trời chung

Lịch sử đã cho thấy một khi lợi ích chính trị bị đe dọa thật sự, người ta vẫn có thể hy sinh quyền lợi kinh tế và sẵn sàng dùng nắm đấm phân biệt hơn thua. Trước Thế chiến thứ nhất, Anh và Đức là hai đối tác thương mại chính của nhau. Tuy nhiên, điều đó vẫn khiến giới chính trị chóp bu London xem sức mạnh đang lên của Đức là mối đe dọa cho vị trí đế quốc thực dân của họ cũng như sự ổn định chính trị châu Âu nói riêng về lâu dài.

Và dù quan hệ mậu dịch gắn kết với Anh vẫn tăng đều, Đức vẫn đi đến kết luận rằng Anh đang tìm cách khống chế, cố tình ngăn cản và “trù dập” sự lớn mạnh của họ. Thế là bất chấp quyền lợi kinh tế song phương, quan hệ chính trị hai nước xấu dần rồi cuối cùng dẫn đến chiến tranh. Trường hợp Anh - Đức đã cho thấy sự lệ thuộc kinh tế song phương chưa chắc là yếu tố giúp củng cố tình bạn thêm bền vững mà thậm chí chính nó lại là nguyên nhân chủ yếu cho những bất ổn, mâu thuẫn và xung đột.


Nixon trong chuyến công du lịch sử đến Trung Quốc

Điều này đang xảy ra trong mối quan hệ Mỹ và Trung Quốc, khi mà Trung Quốc không chỉ ngoi lên như một cường quốc kinh tế mà còn là một sức mạnh quân sự đe dọa quyền lợi Mỹ - đúng như dự báo của Tổng thống Theodore Roosevelt (nhiệm kỳ 1901-1909) cách đây hơn 100 năm, khi cho rằng: “Lịch sử tương lai của chúng ta sẽ được quyết định bởi vị trí của chúng ta ở Thái Bình Dương đối mặt với Trung Quốc hơn là vị trí của chúng ta ở Đại Tây Dương trực diện với châu Âu”.

Cho nên, điều mà cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, vốn là người thân Trung Quốc, một “tình nhân vĩ đại” trong lịch sử quan hệ Washington - Bắc Kinh, kết luận trong quyển On China (phát hành 2011) của mình - về việc nên tạo một “cộng đồng Thái Bình Dương” trong đó Mỹ, Trung Quốc và tất cả các nước trong khu vực đều cùng sống chung và phát triển trong hòa bình - chỉ là một ảo tưởng phi thực tế chính trị, ngây ngô đến mức ngớ ngẩn! Trong chính trị thế giới, làm gì có chuyện “ăn cùng mâm, ngủ cùng giường” với những đối thủ đang lăm le đe dọa sức mạnh lẫn quyền lợi mình!

Trung Quốc và Mỹ vốn chẳng bao giờ thật tâm với nhau. Chính kiến là một chuyện (tư bản và cộng sản). Tranh giành ảnh hưởng mới là vấn đề chính. Thời Chiến tranh lạnh, hai nước xem nhau như mặt trăng với mặt trời. Năm 1954, tại Hội nghị hòa đàm Geneva, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đã thẳng thừng từ chối bắt tay người đồng cấp Chu Ân Lai và thậm chí ra lệnh tất cả thành viên Mỹ phó hội Geneva phải “phớt lờ mọi lúc về sự có mặt và tồn tại của phái đoàn Trung Quốc”. Cùng với chính sách cô lập Trung Quốc về mặt ngoại giao, Mỹ cũng thiết lập một mạng lưới đồng minh và căn cứ quân sự ở Đông Nam Á.

Đến giữa thập niên 50 của thế kỷ trước, Washington đã ký thỏa ước Hợp tác quốc phòng với Úc và New Zealand (1951), Philippines (1951), Nam Hàn (1953); thắt chặt quan hệ với Đài Loan (1954) và cả cựu thù Nhật (1951). Mỹ còn thành lập nhiều tổ chức quân sự trong đó có Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Tây Âu, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO; Philippines, Thái Lan, Pakistan…), Tổ chức Hiệp ước trung tâm (CENTO; Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq, Pakistan…). Đến trước Thế chiến thứ hai, Philippines đã trở thành căn cứ vững mạnh Mỹ ở Thái Bình Dương, nối với chuỗi đảo thuộc quản lý Mỹ (Guam, Wake, Midway)… Từ năm 1950, Washington cũng áp đặt lệnh cấm vận toàn diện đối với Trung Quốc…

Đến một chuyện tình “cưỡng hôn”!

Có lẽ Trung Quốc chẳng bao giờ có cơ hội “ngóc đầu” lên được nếu không xảy ra hai yếu tố thời cuộc, khiến chính sách Washington đối với Bắc Kinh thay đổi 180o. Thứ nhất, đó là sự đe dọa của Liên Xô, và thứ hai là cuộc chiến Việt Nam. Trong bối cảnh bế tắc của cuộc chiến Việt Nam và đồng thời cần một đối trọng để cân bằng quyền lực với Liên Xô, Mỹ bắt đầu chơi trò “mèo mả, gà đồng” với Trung Quốc. Đến đầu thập niên 70, “bè lũ” Kissinger đã áp dụng một chính sách tiếp cận Trung Quốc hoàn toàn khác. Mục tiêu của Mỹ không còn làm suy yếu mà ngược lại phải làm cho Trung Quốc mạnh! Cụ thể nhất là việc hỗ trợ cho lực lượng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) bằng nhiều loại vũ khí hiện đại, đủ sức để Trung Quốc đương đầu nếu nước này xảy ra chiến tranh với Liên Xô.


Henry Kissinger - một “người bạn tốt” lâu năm của Trung Quốc

Tuy nhiên, trong khi Tổng thống Richard Nixon và cố vấn An ninh quốc gia Kissinger muốn tăng tốc kế hoạch viện trợ quân sự cho Trung Quốc, Quốc hội Mỹ vẫn tỏ ý lo ngại và tìm cách ngăn chặn, với niềm tin rằng Bắc Kinh là một đối tác bất khả tín. Tuy nhiên, Nixon, rồi người kế nhiệm Gerald Ford, vẫn thuyết phục được Quốc hội, dù mức độ viện trợ không được như phác thảo ban đầu. Trong số thiết bị - phương tiện viện trợ cho Trung Quốc lúc đó, có hệ thống bắt tín hiệu truyền hình vệ tinh, 10 chiếc Boeing 707 và hai máy tính tốc độ cao. Đến năm 1975, Kissinger (lúc này là ngoại trưởng) còn kêu gọi xóa một số hạn chế xuất khẩu được áp dụng thời Chiến tranh lạnh, trong đó có việc bán động cơ phản lực Rolls-Royce (Anh sản xuất) cho Trung Quốc. Song song, Mỹ và Trung Quốc cũng thiết lập các chương trình tập trận, huấn luyện quân sự và thậm chí soạn thảo kịch bản tác chiến…

Dù vậy, Mỹ rất cân nhắc chính sách viện trợ quân sự cho Trung Quốc, phần vì bản chất của “cuộc tình” Washington - Bắc Kinh thực chất chỉ là mối tình tạm bợ, một cuộc tình vì “cưỡng hôn” mà có, vì thời cuộc xoay vần mà ra. Phần nữa, Mỹ không dám ào ạt viện trợ quân sự cho Trung Quốc bởi lo ngại Liên Xô có khả năng phản ứng mạnh và chơi đòn phủ đầu bằng cách bất ngờ tấn công Trung Quốc, dẫn đến nguy cơ một cuộc đại chiến thế giới lần ba. Trong thực tế, đã có vài tín hiệu cho thấy Liên Xô sẵn sàng dập Trung Quốc, không phải đánh bằng một chiến dịch quân sự thông thường mà là đập cho nát ngướu! Hè 1969, khi xung đột biên giới Trung Quốc và Liên Xô căng thẳng, tại một bữa ăn trưa ở nhà hàng “Beef and Bird” ở trung tâm Washington, một viên chức ngoại giao cấp trung Liên Xô đã nói với người đồng cấp Mỹ rằng Moscow đã lên kế hoạch “cực kỳ nghiêm túc” việc tấn công phủ đầu vào các cơ sở hạt nhân Trung Quốc.

Vài tuần sau tại Teheran, một tùy viên không quân Liên Xô cũng nói với một sĩ quan Mỹ rằng, Liên Xô “sẽ không ngần ngại dùng vũ khí hạt nhân để tiêu diệt Trung Quốc” nếu Trung Quốc tiếp tục quấy rối biên giới Liên Xô. Năm 1973, một lần nữa, Liên Xô lại đề cập khả năng tấn công các cơ sở hạt nhân Trung Quốc. Phản ứng, Kissinger - trong chuyến kinh lý Bắc Kinh cuối năm 1973 - nói với Chu Ân Lai rằng, trong trường hợp Moscow tuyên chiến với “người anh em” Trung Quốc, Mỹ “có thể giúp đỡ bằng cách cung cấp thiết bị và các dịch vụ khác” (nhưng không nêu cụ thể là những gì), đồng thời giúp Trung Quốc giảm thiểu khả năng thiệt hại bằng cách cung cấp thông tin tình báo cảnh báo sớm. Điều này chỉ có thể thực hiện một khi thiết lập đường dây nóng “giữa các vệ tinh của chúng ta để chúng tôi có thể thông báo cho các bạn chỉ trong vài phút”…


Mỹ và Trung Quốc bắt đầu thiết lập quan hệ chính thức ngày 1/1/1979 sau nhiều cuộc gặp gỡ ngoại giao suốt thập niên 70 (trong ảnh là Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình trong chuyến công du Mỹ gặp Tổng thống Jimmy Carter ngày 31/1/1979)

Giữa thập niên 70, Mỹ bắt đầu giảm bớt liều lượng nhiệt tình trong quan hệ với Trung Quốc. Cuộc chiến Việt Nam đã ngả ngũ và mối đe dọa hạt nhân Liên Xô cũng không còn. Hơn nữa, quan điểm nổi trội trong chính trường Mỹ vẫn là sự áp đảo của phe chính trị truyền thống với chính sách không thân thiện với một nước cộng sản như Trung Quốc. Phần mình, Bắc Kinh cũng chẳng thấy vui gì khi Washington thắt chặt bang giao với mình, một mặt, vẫn đi lại và bênh vực Đài Loan. Trong thực tế, cả hai đều nhìn thấy rõ bản chất của mối quan hệ: Trung Quốc cần dựa hơi Mỹ để chống Liên Xô, trong khi Washington cần vuốt ve Trung Quốc để lấy nó làm đối trọng trong những cuộc mặc cả chính trị với Moscow. Tuy nhiên, tháng 12/1979, khi quân đội Liên Xô tấn công Afghanistan, quan hệ chiến lược Washington - Bắc Kinh lại được đẩy lên một “tầm cao” mới.

Trong chuyến công du Bắc Kinh tháng 1/1980, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Harold Brown đề xuất loạt trao đổi giữa các viên chức quốc phòng cấp cao hai nước, ở một mức độ “chưa từng có trước nay”. Tổng thống Jimmy Carter tuyên bố ông sẽ chuẩn y các giấy phép xuất khẩu cho những mặt hàng liên quan kỹ thuật kép (dùng cho dân sự lẫn quân sự) và lần đầu tiên cũng chuẩn y phi vụ bán các hệ thống quân sự không giết người, như radar, vận tải cơ, trực thăng và phần cứng viễn thông. Tuy nhiên, Carter vẫn còn đủ tỉnh táo và thận trọng không đồng ý bán vũ khí tấn công, bất chấp sự bày tỏ quan tâm từ Bắc Kinh...

Chính sách thân thiện của Washington đối với Bắc Kinh, dù ẩn sâu bên trong vẫn tồn tại nhiều nghi kỵ và dè chừng, đã khiến dư luận Mỹ thời điểm đó bớt nhìn Trung Quốc bằng cặp mắt tiêu cực. Trong suốt thập niên 70, chỉ khoảng 1/3 người được hỏi trong các cuộc thăm dò tại Mỹ là bày tỏ cái nhìn tích cực dành cho Trung Quốc trong khi 2/3 hoặc hơn nói chung tỏ ra nghi ngại Trung Quốc. Đến thập niên 1980, những kết quả thăm dò bắt đầu cho thấy ngược lại. Trong cuộc thăm dò tháng 2-1989, tỉ lệ người Mỹ “khoái” Trung Quốc đã lên đến 73%!

Các cây bút nghiên cứu chính trị và giới chóp bu quân sự Trung Quốc đang lên án Mỹ việc sử dụng nhiều “âm mưu và thủ đoạn tinh vi” để thực hiện chính sách cản trở con đường phát triển của Trung Quốc, dù đó là sự “phát triển trong hòa bình”. Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy chính Mỹ từng “hà hơi tiếp sức” cho sự lớn mạnh của quân đội nước này nói riêng và Trung Quốc nói chung. Thiếu những nền tảng ngoại lực ban đầu như vậy, Trung Quốc khó có thể đạt được những kết quả như hiện nay…

 

Kỳ 2: "Dưỡng hổ di họa"

“Thân Trung, bài Nga”

Lịch sử chính trị thế giới cho thấy có khi, chỉ bởi vài quan điểm cá nhân, thế cục đã có thể thay đổi. Trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ, đó là những bộ não như Henry Kissinger và sau đó là “học trò” của ông - Ngoại trưởng Alexander Haig. Trong nội các Ronald Reagan (kế nhiệm Jimmy Carter), Haig được xem là nhân vật luôn ủng hộ mạnh mẽ chính sách thân Bắc Kinh. Haig muốn đặt dấu ấn riêng trên trang sử quan hệ Mỹ - Trung bằng việc thực hiện những bước đột phá để nâng quan hệ hai nước lên một cấp độ chiến lược mới, mà trọng tâm của nó là tăng tốc việc bán vũ khí giết người cho Trung Quốc cả về chất lẫn lượng. Haig tin rằng, chỉ khi như vậy, Mỹ mới có thể cân bằng được sức mạnh quân sự Liên Xô.

Quan điểm của Haig cũng được chia sẻ bởi một số người trong bộ máy quân đội Mỹ. Bản nghiên cứu về mối quan hệ an ninh chiến lược với Trung Quốc năm 1981 của Bộ tổng Tham mưu quân đội Hoa Kỳ kết luận rằng, Trung Quốc “đang đóng góp đáng kể” cho “sự cân bằng toàn cầu”. Tuy nhiên, một lần nữa, Quốc hội và một số tướng lĩnh Lầu Năm Góc vẫn dè dặt việc mở rộng cửa và cung cấp cho Trung Quốc những kỹ thuật quân sự tiên tiến. Với Haig, đó là những ý kiến “thiển cận”, xuất phát từ hạng người có “tư duy bàn giấy” và “đầu óc hẹp hòi”…


Chủ tịch Giang Trạch Dân (và Tổng thống Bill Clinton) trong chuyến công du Mỹ cuối năm 1997 (chuyến viếng thăm đầu tiên của một lãnh đạo Trung Quốc kể từ sự kiện Thiên An Môn)

Sự vận động liên tục của Haig cuối cùng cũng có kết quả, dù khiêm tốn. Năm 1983, Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger tuyên bố, trong số những bước đi mới được thiết kế nhằm tăng cường quan hệ quân sự song phương Mỹ - Trung, Washington sẽ sẵn lòng bán những hệ thống “vũ khí phòng ngự” cho Bắc Kinh. Và trong nửa sau thập niên 80 của thế kỷ trước, Washington cũng đồng ý bán cho Trung Quốc ngư lôi, radar chiến thuật, thiết bị máy móc để sản xuất vỏ đại bác và hệ thống điện tử cho thiết bị đánh chặn của chiến đấu cơ. Giới chức Mỹ thậm chí còn bày tỏ việc sẵn lòng thảo luận việc bán hệ thống tên lửa chống tăng, hệ thống dò âm chống tàu ngầm, động cơ turbine khí cho tàu chiến và hệ thống tên lửa không đối không.

Tóm lại, Washington đã chuẩn bị bán một số mặt hàng quân sự với số lượng lớn cho Trung Quốc. Sau chuyến công du Trung Quốc của Weinberger năm 1983, một loạt trao đổi qua lại giữa giới chức dân sự lẫn quân sự ở mọi cấp bậc của hai nước liên tục diễn ra. Không chỉ dự tính tổ chức các cuộc phối hợp tập trận hải quân giữa hai quân đội, Mỹ còn háo hức đề xuất ý kiến triển khai máy bay chiến thuật đến những căn cứ gần Vladovostok; phát triển “những hệ thống phòng không và cảnh báo sớm”, xin được phép tiếp liệu cho vận tải cơ Mỹ mang hàng hóa cung cấp cho lực lượng “kháng chiến quân” Afghanistan trong cuộc chiến chống Liên Xô…

Tuy nhiên, thời cuộc lại thay đổi và ảnh hưởng của nó là sự tái nhận thức về các mối quan hệ. Giữa thập niên 80, Liên Xô đang lún sâu vào hỗn loạn nội bộ, trong làn sóng cải tổ của Mikhail Gorbachev. Nhận định rằng, Moskva không còn là kẻ thù và là mối đe dọa an ninh lớn đối với mình, Bắc Kinh bắt đầu muốn cải thiện quan hệ với Moskva để tận dụng quan hệ quân sự lẫn kinh tế. Dù sao, hai nước cũng từng có những mối liên hệ chặt chẽ thời thập niên 50 của thế kỷ trước. Việc tái nhận thức trong chiến lược quan hệ với Liên Xô khiến Bắc Kinh “tế nhị” đẩy quan hệ với Mỹ xuống một… tầm thấp hơn. Thế là thay vì hăm hở sắm “đồ chơi” Mỹ, Trung Quốc đã bỏ qua (cơ hội ngàn vàng này) và chỉ mua vài thứ tượng trưng. Những kế hoạch hợp tác quân sự song phương như nói ở trên cũng bị bỏ xó…

con bài cũ

Năm 1989 đã xảy ra hai sự kiện kinh thiên động địa khiến Mỹ bắt đầu giảm dần, dù rất chậm mối quan hệ với Trung Quốc. Thứ nhất đó là sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6 và tiếp đó là sự kiện bức tường Berlin sụp đổ vào tháng 11. Cả hai sự kiện đều mang lại những ảnh hưởng sâu sắc đối với chính sách đối ngoại của Mỹ lẫn Trung Quốc. Với Mỹ, sự tan rã của các nước Đông Âu khiến điểm tựa Liên Xô không còn đã dẫn Washington đến những phác thảo mới cho chủ trương đối ngoại. Có một điều đến nay không thể giải thích là tại sao dù chiến lược cân bằng với Liên Xô không còn cần thiết nhưng Washington, bất chấp sự kiện Thiên An Môn, vẫn duy trì quan hệ khá gần gũi với Trung Quốc.


Dù chỉ trích Bill Clinton về chính sách đối với Trung Quốc nhưng George W. Bush cũng áp dụng con đường chẳng khác mấy so với chính phủ tiền nhiệm (trong ảnh là vợ chồng Tổng thống George W. Bush và Ngoại trưởng Dương Khiết Trì tại Thế vận hội Bắc Kinh 2008)

Vài tháng sau, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Lawrence Eagleburger đệ trình Quốc hội một danh sách những phạm vi “sống còn” mà Mỹ cần tiếp tục thực hiện trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Eagleburger giải trình rằng, dù Liên Xô sụp đổ, nhưng những “giá trị chiến lược” với Bắc Kinh vẫn không thể vì thế mà từ bỏ. Do đó, Bắc Kinh và Washington cần tiếp tục chia sẻ nhiều mối quan tâm mới, qua những chương trình hợp tác mới, trong bối cảnh chính trị mới. Theo quan điểm Eagleburger cũng như một số giới chức hoạch định chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, Washington bây giờ cần hỗ trợ để đưa Trung Quốc tiếp cận và gắn kết sâu hơn vào các hệ thống định chế quốc tế. Một cách tinh vi, đó là cách thuần hóa một con cọp đang mọc nanh.

Chính sách này xuất hiện ngay từ những ngày đầu của nhiệm kỳ Bill Clinton. Năm 1994, Chính phủ Mỹ tuyên bố Washington sẽ theo đuổi chính sách “hợp tác toàn diện” với Trung Quốc - như Tổng thống Bill Clinton đã trình bày: “Chúng tôi sẽ có nhiều mối liên hệ hơn. Chúng tôi sẽ giao thương nhiều hơn. Chúng tôi sẽ hợp tác quốc tế nhiều hơn”. Nói cách khác, Mỹ đã phát quang dọn đường đưa Trung Quốc lên vũ đài quốc tế, với hy vọng rằng, Trung Quốc sẽ có ý thức trách nhiệm hơn với những nghị sự thế giới và những vấn đề toàn cầu (chẳng hạn ô nhiễm môi trường), cũng như sẽ hành xử biết điều, biết luật hơn, với những xung đột khu vực… Mỹ đã tạo ra một ảo tưởng cho Trung Quốc rằng, họ bây giờ là một cường quốc.

Đặt Trung Quốc lên chiếc ghế định chế quốc tế không chỉ buộc Trung Quốc phải “ăn ở” cho ra “tư cách người lớn” mà cũng là một cách để có thể giám sát và thậm chí khống chế Trung Quốc. Đó là lý do tại sao Mỹ dành cả nửa sau của thập niên 90 để vận động đưa Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2000, George W. Bush chỉ trích nội các tiền nhiệm đã “dung túng” và “nuông chiều” Trung Quốc thái quá. Với Bush, Trung Quốc không thể là “đối tác chiến lược” mà phải là “đối thủ chiến lược”. Dù vậy, thế cờ đã được bày, trong một thời gian dài như thế, làm sao có thể gỡ một sớm một chiều. Cuối cùng, dưới áp lực của giới doanh nghiệp và tài phiệt Mỹ, Bush cũng buộc phải áp dụng chính sách đối với Trung Quốc chẳng khác thời Bill Clinton bao nhiêu…


Ngoại trưởng Alexander Haig và người đồng cấp Hoàng Hoa tại Sân bay Bắc Kinh (tháng 6/1981)

Tuy nhiên, trong lĩnh vực quân sự, những gì được thiết lập trước năm 1989 đã không bao giờ được tái lập. Mỹ bắt đầu nhận ra rằng, Trung Quốc đang từng bước trở thành một mối họa đối với an ninh và quyền lợi Mỹ. Sự nhận thức này diễn ra rất chậm. Trước năm 1996, giới chức quân sự Mỹ vẫn còn chưa quan tâm sự phát triển quân sự Trung Quốc. Họ chỉ nghĩ Trung Quốc đang mải mê lo làm giàu, thế thôi. Trong khi đó, một sự nhận chân toàn bộ về thực trạng quân sự non kém của mình lại đang sôi sùng sục tại Trung Quốc, từ khi họ chứng kiến sức mạnh kinh khủng của Mỹ phô diễn ở cuộc chiến vùng vịnh 1991. Trung Quốc bắt đầu âm thầm tăng tốc đầu tư quân sự, trước sự thờ ơ của Mỹ.

Tất cả chỉ thay đổi vào năm 1996, khi Đài Loan tổ chức cuộc bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên. Trung Quốc đã gây sức ép Đài Bắc bằng cách triển khai dàn tên lửa chĩa thẳng về Đài Loan. Lần đầu tiên trong hơn 30 năm, Mỹ mới nhận ra một hiểm họa chiến tranh thật sự tại châu Á đến từ Trung Quốc. Lập tức sau đó, tình báo Mỹ bắt đầu theo dõi hoạt động quân sự Trung Quốc. Kết quả thật đáng lo ngại, nếu không nói là đầy tính cảnh báo. Hóa ra quân đội Trung Quốc đã mạnh hơn Mỹ nghĩ rất nhiều. Trước sự kiện 1996, CIA gần như chẳng đếm xỉa đến Trung Quốc.

Trong báo cáo các mối đe dọa toàn cầu vào tháng 2/1996, Giám đốc CIA John Deutch trình bày ngắn gọn: “Chúng ta vẫn biết rất ít về giới lãnh đạo tương lai Trung Quốc cũng như kế hoạch của họ”. Một năm sau, sau vụ khủng hoảng Đài Loan, người kế nhiệm Deutch, George Tenet, bắt đầu “la thất thanh”: “Những hành động và tuyên bố của Trung Quốc cho thấy họ quyết tâm thể hiện mình như một sức mạnh đỉnh cao ở Đông Á”. Đến năm 1998, Tenet tin chắc rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc “có một mục tiêu rõ ràng: biến nước họ thành một sức mạnh chủ yếu ở Đông Á cũng như là cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới ngang hàng Mỹ vào giữa thế kỷ XXI”.

Sau những năm tháng tận tình nuôi lớn con cọp dữ và bây giờ nó không những không bị thuần hóa mà còn bắt đầu tính quay sang đớp chủ, Mỹ đã bắt đầu biết “hối” rồi chăng? Đã quá muộn!

Khi cùng nhận ra “dung nhan” thật của người tình, với bản chất thật sự của nó, đằng sau lớp son phấn giả tạo bắt đầu rơi rớt, cả hai đều có những “ứng xử” đối phó. Với Mỹ, đó là một chính sách gồm ba bước. Với Trung Quốc là bắt đầu xây dựng chiến lược mới. Cách chọn lựa những gì cần làm và cách dứt khoát như thế nào những gì cần loại bỏ trong các đề mục của đối sách đối ngoại ở bối cảnh mới của mối quan hệ sẽ là những yếu tố quyết định thành bại, nếu không muốn nói là mang tính sinh tử, đối với cả hai…

Bài 3: Điều chỉnh và tái cân bằng

Duy trì cân bằng

Với cái thế đang lên như rồng cuốn của Trung Quốc, cùng sự gắn kết móc xích kinh tế giữa Mỹ và nước này, Washington hiểu rằng sẽ là hạ sách nếu cố kiềm tỏa Bắc Kinh bằng chính sách cô lập triệt để như từng dùng thời Chiến tranh lạnh với Liên Xô và Đông Âu. Cho nên, phương án được chọn của Mỹ là tìm cách cân bằng. Cân bằng tốt sẽ là cách hữu hiệu để gián tiếp khống chế.


Ấn Độ là một chọn lựa trong thế trận khống chế Trung Quốc của Washington (ảnh: Tổng thống Bush và Thủ tướng Manmohan Singh tại New Delhi, tháng 3/2006)

Thứ nhất, đó là triển khai mạnh sự hiện diện quân sự tại Thái Bình Dương. Đấu pháp này thật ra không phải bắt đầu sau khi Barack Obama ngồi ghế tổng thống (năm 2009) mà đã hình thành từ thời Bill Clinton, khi Clinton tiên liệu được sức mạnh mang tính đe dọa quyền lợi Mỹ của Trung Quốc tại đấu trường châu Á, đã quyết định duy trì một lực lượng ổn định với tối thiểu 100.000 quân tại Châu Á - Thái Bình Dương. Sang thời George W. Bush, trái với nhiều nhận định rằng, Bush đã bỏ lỏng châu Á cho Trung Quốc khi dồn lực vào cuộc chiến chống khủng bố, chính nội các Bush mới là nơi khai sinh khái niệm “tái phối trí”, khi Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld triển khai mạnh chương trình tái phối trí lực lượng quân sự Mỹ khắp toàn cầu với sự tăng cường hiện diện khá rõ nét tại châu Á. Quân đội Mỹ được phân bổ dàn rộng hơn (không tập trung ở những căn cứ truyền thống như Okinawa và Hàn Quốc), với yếu tố tác chiến cơ động được đề cao - như lời Đô đốc William J. Fallon giải thích: “Chúng tôi đưa lực lượng mình đến những nơi mà chúng tôi nghĩ có thể sử dụng mà không cần phải xin phép bất kỳ ai”.

Đến trước khi Bush rời Nhà Trắng, hải quân lẫn không quân Mỹ đều đã tăng cường những đơn vị tinh nhuệ có khả năng chiến đấu cao nhất đến Thái Bình Dương. Năm 2007, lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh lạnh, hơn 1/2 tàu chiến của Mỹ đã được điều động đến Thái Bình Dương, trong đó có 6 (trong tổng số 11) hàng không mẫu hạm; gần như tất cả 18 chiếc khu trục hạm lớp Aegis (có khả năng bắn chặn tên lửa); 26 (trong tổng số 57) tàu ngầm tấn công... Cùng lúc, không quân cũng chuẩn bị triển khai các phi đội chiến đấu cơ F-22, oanh tạc cơ B-2 và máy bay do thám không người lái Global Hawk… Năm 2007, Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, Đô đốc Timothy Keating, đã nói thẳng: “Chúng tôi phải duy trì khả năng vượt trội tại bất kỳ hoàn cảnh nào và bất kỳ môi trường nào. Không có ngoại lệ”.

Thứ hai, đó là việc tăng cường liên kết đồng minh. Một lần nữa, điều này cũng được dàn dựng vào thời Clinton và tiếp tục duy trì thời Bush. Năm 1997 rồi lần nữa vào năm 2005, giới chức Mỹ - Nhật đã thảo luận sâu về vấn đề hợp tác quốc phòng cũng như tìm cách tháo gỡ rào cản pháp lý liên quan việc mở rộng quân đội Nhật (vốn bị hạn chế bởi Hiến pháp Nhật được soạn sau Thế chiến thứ hai). Để tránh bị quy kết can thiệp nội bộ Tokyo, nội các Bush đã ngầm ủng hộ nhóm chính trị gia Nhật kêu gọi sửa đổi Hiến pháp. Ngoài Nhật, Washington cũng mở rộng liên kết hợp tác quân sự với Australia và một số nước trong đó có Philippines, Singapore và Thái Lan... Năm 1998, Singapore thậm chí đồng ý chi trả tổn phí xây một hải cảng đủ lớn để chứa hàng không mẫu hạm Mỹ (khánh thành năm 2001). Năm 2003, Singapore và Mỹ tiếp tục mở rộng hợp tác quốc phòng… Với Ấn Độ, bang giao Washington - New Delhi từng có lúc căng thẳng sau khi Ấn thử nghiệm bom nguyên tử năm 1998. Đến thời Bush, quan hệ Mỹ - Ấn được tái lập. Vài tháng sau vụ khủng bố Mỹ 11/9/2001, Washington đã bày tỏ “thiện chí” cụ thể (xóa cấm vận; mở rộng hợp tác an ninh - tình báo - quốc phòng; tập trận chung; bán vũ khí…). Mỹ muốn Ấn phải mạnh. Một láng giềng sát nách Trung Quốc, với nguồn lực kinh tế lẫn quân sự đủ lớn, sẽ là một thách thức thật sự, nếu không muốn nói là một đe dọa “kỳ đà cản mũi”, đối với kế hoạch bành trướng và thống trị châu Á của Bắc Kinh.

Thứ ba, đó là sự hạn chế đà phát triển của quân đội Trung Quốc. Đây là bài toán thật sự hóc búa đối với Mỹ. Làm thế nào để tăng cường xuất khẩu Mỹ (sang Trung Quốc) mà không làm ảnh hưởng an ninh quốc gia? Mặt hàng nào nên được xếp vào nhóm “nhạy cảm”? Cho đến nay, câu hỏi này, được đặt ra từ năm 1989, tới giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa mãn hay một giải pháp thật sự khả dĩ mang lại cảm giác an toàn. Sau sự kiện Thiên An Môn, Tổng thống George H. Bush (Bush - bố) đã áp đặt lệnh cấm vận toàn diện đối với các thương vụ vũ khí sát thương dành cho Trung Quốc; đồng thời thuyết phục các nước đồng minh áp dụng tương tự. Năm 1991 và một lần nữa vào năm 1993, Bush-bố rồi Clinton đã chặn đứng việc xuất khẩu vệ tinh cho Trung Quốc. Tuy nhiên, khi miếng bánh thị trường Trung Quốc đang bị mất dần vào tay Nhật và châu Âu, giới doanh nghiệp Mỹ liên tục vận động hậu trường để được Washington cho “xả cảng”. Vậy là, trong suốt thập niên 90, dù ngày càng có nhiều ý kiến bày tỏ quan ngại sự bành trướng quân đội Trung Quốc, Bộ Thương mại Hoa Kỳ vẫn phải chuẩn y hàng trăm giấy phép bán những kỹ thuật kép cho Trung Quốc trong đó có bán dẫn, máy móc chính xác cao và những thiết bị kiểm định đặc biệt. Những mặt hàng này, như sau này được biết, đã chạy thẳng đến các nhà máy và phòng thí nghiệm quân sự Trung Quốc, để từ đó tạo ra những radar quân sự, tên lửa hành trình và vũ khí hạt nhân…

Tuy vậy, về tổng thể, Clinton lẫn Bush-con đều cố kiểm soát tình hình bất kỳ khi nào có thể. Năm 2004, một cuộc tranh luận về việc tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Trung Quốc một lần nữa lại bùng lên tại châu Âu. Với chính giới châu Âu, lệnh cấm vận 15 năm dành cho Trung Quốc đã làm thiệt hại đáng kể ngành công nghiệp quốc phòng và không gian của họ. Đã đến lúc phải gạt bỏ tư tưởng hoài nghi dành cho Bắc Kinh - châu Âu đề nghị. Suýt chút nữa thì chiến dịch vận động xóa cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc của châu Âu đã thành công, nếu nội các Tổng thống Bush-con không quyết liệt can thiệp vào giờ chót…

“Bất chiến tự nhiên thành”

Giáo sư Thời Ân Hoằng, Trưởng khoa Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Nhân Dân Trung Quốc nhận định rằng, Bắc Kinh nên lợi dụng lợi điểm xu thế Trung Quốc đang lên để thiết lập một vị thế “siêu hạng” hoặc “gần siêu hạng” về chính trị, quân sự, ngoại giao và ảnh hưởng kinh tế, lên ngoại vi của Trung Quốc, đặc biệt Đông Á. Tương tự, Môn Hồng Hoa, chiến lược gia thuộc Trường Đảng Trung ương, cũng nói rằng, sự thống trị khu vực của Trung Quốc không chỉ là yếu tố quan trọng sống còn mà còn là mục tiêu tối thượng cho tương lai. Hướng đi của Bắc Kinh - họ Môn phân tích - là phải đạt được ảnh hưởng toàn cầu bằng cách trở thành sức mạnh thống trị tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Từ bàn đạp châu Á, sự thống trị của Trung Quốc mới có thể dự phóng ra thế giới…


Đến cuối nhiệm kỳ hai của Tổng thống George W. Bush, quân đội Mỹ đã hiện diện tại châu Á với lực lượng lớn nhất từ sau Chiến tranh lạnh (ảnh: Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan tại Trân Châu Cảng, Hawaii)

Nói cách khác, mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc là phải trục Mỹ khỏi sân chơi Đông Nam Á, một cách gián tiếp, không đối đầu trực diện; bằng những “thủ pháp” sau:

Thứ nhất, phải tìm cách trì hoãn hoặc thậm chí loại bỏ bất kỳ phản ứng có thể nào của Mỹ, đối với chiến thuật tăng cường hiện diện thông qua hợp tác mà Mỹ đang áp dụng;

Thứ hai, Trung Quốc phải lập ra những thể chế chính trị khu vực được thiết kế sao cho Mỹ không thể tham gia;

Thứ ba, ổn định những vùng đệm an toàn tại khu vực;

Thứ tư, Trung Quốc có thể tập trung hơn vào chiến lược thống trị Biển Đông trong khuôn khổ chủ thuyết “đường lưỡi bò”. Tổng quát, điểm nổi bật trong bảng tổng phổ của khúc giao hưởng đầy giai điệu ma quái là chiến lược “bất chiến tự nhiên thành”, tức dùng những mảng miếng ngoại giao để “đánh” Mỹ, hơn là đối đầu quân sự với nước này, bởi hơn ai hết, Trung Quốc hiểu rằng, sức mạnh quân sự họ đang có chỉ “vừa đủ” để dọa dẫm các nước láng giềng chứ không thể đương đầu với con diều hâu từ bên kia bờ đại dương.

Dựa theo bài bản xây dựng đồng minh của Mỹ tại châu Á, Trung Quốc cũng có những dự án xây dựng thể chế để gắn kết đồng minh riêng, trong đó có Tổ chức Hợp tác Thượng Hải hay cơ chế “cộng ba” đối với khối ASEAN. Với Trung Á, Trung Quốc đã không bỏ lỡ thời cơ tìm kiếm những cơ hội nảy sinh khi khối Liên Xô tan rã. Và bằng cách tạo ra mô hình “đối tác chiến lược” với các nước láng giềng, trong khuôn khổ chính sách “biên giới mềm” - như cách nói của nhà báo Ross Munro, Trung Quốc không chỉ tăng cường ảnh hưởng mà còn hạn chế những rủi ro đe dọa trong tương lai. Để thực hiện chiến lược “biên giới mềm” nhằm tăng cường ảnh hưởng khu vực ngoại vi, theo Munro, Trung Quốc đã áp dụng nhiều thủ đoạn trong đó có hối lộ giới chức quốc gia sở tại, tuyển dụng giới doanh nghiệp và viên chức địa phương để cung cấp thông tin cho Trung Quốc (những thông tin này khi được tình báo Trung Quốc sàng lọc lại sẽ giúp Bắc Kinh có cái nhìn rõ hơn về tình hình chính trị quốc gia sở tại), áp dụng thủ thuật chèn ép tinh vi trong đàm phán biên giới để buộc các nước láng giềng yếu hơn không chỉ nhường đất mà còn phân tán lực lượng biên phòng và cuối cùng, là âm thầm tổ chức các cuộc di dân từ Trung Quốc sang quốc gia ngoại vi…

Với chiến lược thâu tóm Biển Đông, một trong những khó khăn nhất đối với Trung Quốc là chặt đứt sợi xích đồng minh lâu đời giữa Mỹ và Nhật - một siêu cường thật sự hiểu đúng theo mọi góc độ của từ này. Theo cách nói của chiến lược gia Từ Vượng Thịnh thuộc quân đội Trung Quốc (vào tháng 11/2005), Trung Quốc cần phải học được cách “xử lý riêng biệt với Mỹ và với Nhật…; phải hiểu đúng và tìm được phương án giải quyết vấn đề dựa trên những mâu thuẫn và khác biệt giữa hai nước này”. Đó là lý do tại sao, có hồi người ta thấy Trung Quốc bóng gió “khuyên” Washington rằng, Nhật ngày càng trở thành một quốc gia suy yếu về kinh tế, không đáng tin về chính trị, một kẻ luôn trong tâm thế muốn phục thù đầy nguy hiểm… Cùng lúc, Bắc Kinh cũng gieo vào giới chính trị Nhật một khả năng rằng, họ có thể bị Washington “chơi xỏ lá”, như cách họ từng “giở mặt đểu” bỏ rơi nhiều đồng minh trong lịch sử, một khi mối quan hệ với đối tác đó không còn mang tính chiến lược và không còn thỏa mãn lợi ích Mỹ…

Gần như tất cả lá bài đã lật ngửa. Cả hai đối thủ đều ra mặt kình chống nhau. Trung Quốc đang làm mọi cách để loại Mỹ khỏi châu Á trong khi Mỹ cố hết sức để ngăn chặn sự lan rộng và mức độ ảnh hưởng Trung Quốc đối với khu vực. Vậy ai đang thắng ai?

Kỳ cuối: Ai sẽ thắng ai?

Trò chơi đấu trí

Giáo sư Diêm Học Thông thuộc Đại học Thanh Hoa (một trong những chuyên gia quan hệ quốc tế lừng lẫy Trung Quốc, lấy bằng tiến sĩ chính trị Đại học California Berkeley, từng được chuyên san Mỹ Foreign Policy chọn vào danh sách 100 nhà trí thức hàng đầu thế giới) nhận định rằng, Trung Quốc cuối cùng rồi sẽ nổi trội hẳn ở trung tâm của một trật tự khu vực mới.

Trong đó tất cả các nước Đông Á không còn chọn lựa nào khác là phải chấp nhận sự lãnh đạo Trung Quốc; Nhật có thể sẽ đứng ngoài cái trật tự mới này nhưng rồi “đến lúc nào đó khi mà câu lạc bộ Trung Quốc bắt đầu ngày càng lớn mạnh thì Nhật cũng phải nhảy vào”.

Theo cách nói của họ Diêm, có thể thấy rằng, trong bối cảnh trên - được nhìn như một thực tế xảy ra không sớm thì chầy, trục các quốc gia đồng minh của Mỹ tại khu vực hoặc sẽ ngưng tồn tại hoặc sẽ bị hút sạch sinh lực trong cuộc chạy đua vũ trang với Trung Quốc.

Tương tự, năm 2007, Giáo sư Thời Ân Hoằng cũng dự phỏng rằng, nếu Trung Quốc tiếp tục lớn mạnh, Mỹ sẽ “có khuynh hướng rõ hơn việc cân nhắc lại hoặc thậm chí chấp nhận thuận theo một giải pháp cuối cùng mang tính hòa bình, đồng thời Mỹ cũng nhận thức rõ một sự phân biệt về sự cân bằng quyền lực và ảnh hưởng ở những khu vực địa lý khác nhau”; trong đó, Washington sẽ phải chấp nhận “vị thế lãnh đạo” của Trung Quốc, xét về ảnh hưởng tổng thể chính trị, kinh tế lẫn ngoại giao tại châu Á”, cũng như (chấp nhận sự thật về) “sự tương đồng quân sự và thậm chí nhỉnh hơn Mỹ khi xét đến các khu vực duyên hải”…


Khước từ chính sách “ẩn mình” thời Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc liên tục phô diễn sức mạnh quân sự

Theo cách nói của hai nhà chính trị học tên tuổi trên, xem ra Mỹ gần như không có “cửa” thắng Trung Quốc, chi bằng sớm biết điều “qui thuận” và chấp nhận một thực tế bất khả từ. Sự tự tin Trung Quốc còn thể hiện ở một câu chuyện được Đô đốc Timothy Keating (nguyên tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ) thuật vào tháng 3/2008 trong phiên điều trần trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện Hoa Kỳ.

Keating kể, trong một cuộc gặp, một đô đốc Trung Quốc đã đề nghị nên vẽ một lằn ranh chia đôi Thái Bình Dương, trong đó “các anh có thể giữ phần phía đông Thái Bình Dương, từ Hawaii đến duyên hải Mỹ. Chúng tôi thì giữ phần phía Tây Thái Bình Dương, từ Hawaii đến duyên hải Trung Quốc”. Tất nhiên tay đô đốc Trung Quốc chỉ nói đùa nhưng điều đó cũng cho thấy phần nào cái hàm ý về sức mạnh và sự ảnh hưởng Trung Quốc mà Mỹ khó có thể chống lại. Nó cũng cho thấy một ngụ ý rằng, nếu “anh” tử tế thì “tôi” còn rộng lượng chia phần, còn không thì mất trắng!

Một thập niên qua, sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng trở nên công khai, lắm lúc đôi bên chẳng cần giữ kẽ hay tế nhị trong ngôn từ. Cả hai đều nhận thức rõ rằng họ đang thật sự là đối thủ của nhau. Một mất một còn. Rừng không thể có hai cọp! Khi Mỹ thể hiện rõ quyết tâm hiện diện châu Á để khống chế sức mạnh Trung Quốc thì Trung Quốc cùng lúc cũng trở nên hung hãn hơn trong tư thế của con chó dữ sẵn sàng tấn công kẻ lạ lăm le vào nhà mình (và cả những nhà hàng xóm mà mình đang muốn thể hiện vai trò của một tay anh chị “bảo kê”)!

Họ cố “đọc” được những nước cờ tiếp theo của đối thủ. Ai đang thắng trong cuộc đọ sức này? Nói cách khác, ai đang tiến đến gần hơn đến việc đạt được những mục tiêu chiến lược mà mình phác thảo? Hãy còn quá sớm để có thể chủ quan kết luận ai đang thắng ai trong cuộc tranh giành này. Ở vài trận địa, phần thắng có vẻ nghiêng về Trung Quốc. Vài trận địa khác, Trung Quốc đang ấm ức nhìn Mỹ chơi trội hơn họ.

Bởi tính chất cuộc đấu là giành giật ảnh hưởng nên trước mắt cả hai đều chơi trò đấu trí trong việc “dụ dỗ” lôi kéo đồng minh. Nói theo ngôn ngữ hình tượng là “móc toa”. Ai móc được nhiều toa hơn thì khả năng giành chiến thắng cao hơn. Tuy nhiên, yếu tố phức tạp của cuộc đấu dài hơi không chỉ nằm ở kỹ thuật chiêu dụ đồng minh mà còn ở sự chi phối của tính thời cuộc và cả sự thay đổi tư duy chính trị của giới lãnh đạo. Đó là lý do người ta thấy có khi “toa” này tưởng chừng đang được móc chặt vào đầu kéo Trung Quốc nhưng sau đó đột nhiên lại “tách ray” để móc vào chiếc đầu kéo Mỹ.

Trường hợp Myanmar là một ví dụ! Tổng quát, riêng trong cuộc đấu giành giật và xây dựng đồng minh, Mỹ rõ ràng đang thành công hơn Trung Quốc, xét về chiến lược lẫn chiến thuật. Một phần vì Trung Quốc đã “lộ hàng” quá sớm, phô diễn sức mạnh quá sớm, bày tỏ thái độ diều hâu hung hãn quá sớm - sớm hơn nhiều so với sức mạnh thật sự mà họ đang có. Cho nên, thay vì kết bạn được nhiều hơn - dù có lợi thế vượt trội Mỹ về ảnh hưởng kinh tế và đặc biệt là văn hóa đối với khu vực, Trung Quốc lại đang bị cô lập, bởi chính họ!

Hơn lúc nào hết, các nước châu Á đang nhìn Trung Quốc bằng cặp mắt nghi kỵ. Vào cuối nhiệm kỳ hai của George W. Bush (2008), các cuộc thăm dò ý kiến tại Hàn Quốc cho thấy, có đến 74% người được hỏi đã bày tỏ lo ngại về sự đe dọa quân sự Trung Quốc (một tỉ lệ còn cao hơn tại Mỹ, nơi có 70%)!

Vấn đề là ai biết cách “quản lý rủi ro” tốt hơn

Nói theo ngôn ngữ kinh doanh, bất cứ cuộc đầu tư nào cũng chứa đựng yếu tố rủi ro. Vấn đề là biết cách lượng định mức độ rủi ro và cách xử lý tình huống một khi rủi ro xảy ra. Với giới hoạch định, họ luôn kỳ vọng những điều tốt nhất trong khi cùng lúc phải biết chuẩn bị cho những gì xấu nhất. Điều xấu nhất ở đây là gì và yếu tố rủi ro nào, nếu không thể tránh khỏi, là sẽ đáng sợ nhất? Đó là chiến tranh! Liệu có khả năng xảy ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc? Đâu là “tiền đề” để thần chiến tranh xuất hiện?

Như đã nói ở kỳ một, yếu tố ràng buộc kinh tế chưa chắc là điều khả dĩ giúp giải tỏa sự căng thẳng dẫn đến chiến tranh, một khi cả hai - hoặc một bên - nhận ra rằng mâu thuẫn và xung đột lợi ích bắt đầu trở nên nghiêm trọng đến mức quyền lợi quốc gia bị thiệt hại nặng nề và không còn con đường nào khác hơn là sự chọn lựa binh đao.


Trung Quốc liệu có thể “quản lý rủi ro” tốt khi liên tục thách thức Nhật tại quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư? (ảnh: một cuộc bám đuổi giữa tuần duyên Nhật và tàu Hải giám Trung Quốc ngày 14/9/2012)

Xét về tổng thể, Trung Quốc - dù dư dả tiền của và là chủ nợ khổng lồ của Mỹ - đang yếu hơn Mỹ rất nhiều. Họ có những vấn đề nội bộ và nhiều thách thức lớn hơn Mỹ vạn lần, ở thời điểm hiện tại cũng như lâu dài. Ở một nơi vẫn tồn tại hiện tượng “quốc phú, dân cùng”, đầy dẫy tham nhũng, nền tảng kỹ thuật yếu kém, trình độ khoa học thiếu sáng tạo nhưng thừa “chỉ số” ăn cắp, nguồn tài nguyên hiếm hoi nhưng dư thừa “khả năng” tàn phá môi trường… xã hội Trung Quốc đang sôi sục và tiềm ẩn nhiều bất ổn dẫn đến rạn vỡ và thậm chí tan nát. Khi mà chưa giải quyết được những khó khăn và khủng hoảng nội tại, Trung Quốc sẽ không đủ tỉnh táo phác thảo những kịch bản và kế hoạch lâu dài đối phó với Mỹ. Đây là một trong những điểm yếu sinh tử của Trung Quốc.

Trong khi đó, “bài” mà Trung Quốc áp dụng thường xuyên gần đây, quen đến mức thế giới đã “thuộc”, là mạo hiểm chuyển bớt “lửa” từ trong nước ra bên ngoài. Nó đã bộc lộ một tâm trạng bất lực hơn là thể hiện của một đòn thế khiến đối phương sợ hãi. Cái cách mà cứ bất kỳ khi nào tình hình trong nước rối ren thì Trung Quốc lại hung hăn với những động thái gây hấn khu vực chỉ mang lại bất lợi cho Trung Quốc về mặt đối ngoại và làm hỏng đại cục của Trung Quốc trong chính sách thôn tín châu Á. Mặt khác, nó lại vô tình giúp Mỹ lôi kéo thêm đồng minh.

Điều đáng nói nhất là sẽ rất khó cho Trung Quốc “quản lý rủi ro” trong chiến thuật “chuyển lửa” ra bên ngoài. Họ không thể dập tắt ngọn lửa này lại cùng lúc tạo ra một đám cháy khác! Trận hỏa hoạn trong nước (có thể xảy ra từ những dồn nén bất ổn xã hội), so với trận hỏa hoạn bên ngoài (có thể xảy ra từ thái độ hiếu chiến), trận nào sẽ kinh khủng hơn, đã lượng định và so sánh được hậu quả của hai trận hỏa hoạn chưa, trận hỏa hoạn nào mới là ngọn lửa thật sự làm cháy rụi căn nhà, mới là ngọn lửa đốt trụi quốc gia và xóa sổ chế độ?...

Điều đáng nói nữa từ cái “điều đáng nói” trên là khi mà Trung Quốc cuối cùng nhận ra rằng họ không đủ sức “quản lý rủi ro” nữa thì họ có thể có khuynh hướng chơi cú liều “được ăn cả, ngã về không”. Lúc đó, chiến tranh sẽ bùng nổ. Theo nhận định của hai phân tích gia Mark Burles và Abram Shulsky thuộc Viện Nghiên cứu chính sách RAND (Mỹ), Trung Quốc sẽ có khả năng đánh trước. Họ muốn tận dụng lợi thế của yếu tố bất ngờ. Điều mà Mark Burles và Abram Shulsky không diễn giải là tại sao yếu tố bất ngờ lại quan trọng đối với Trung Quốc. Đó là vì Trung Quốc hiểu rõ rằng, họ không thể địch lại Mỹ và “bầy sói” đồng minh của Mỹ xét ở mọi góc độ của chiến tranh qui ước. Chỉ bằng yếu tố bất ngờ mới có thể giúp họ có được lợi thế ở “hiệp một” so với đối phương...

Tất nhiên viễn cảnh chiến tranh không thể xảy ra chừng nào hai bên còn đủ tỉnh táo và kiên nhẫn để kiềm chế (và còn chưa hết “bài” để tiếp tục thức thâu đêm đánh đến tàn cuộc). Tuy nhiên, như đã nói, vấn đề tối quan trọng lúc này là ai đủ bản lĩnh để kiểm soát tình hình và đủ khả năng để “quản lý rủi ro” - những rủi ro không thể không tính đến và không thể không xảy ra, phát sinh từ những chiến lược tranh giành ảnh hưởng…

Ngọc Trí

(Nguồn tham khảo: “A Contest for Supremacy: China, America, and the Struggle for Mastery in Asia”; giáo sư Aaron L. Friedberg; NXB W. W. Nortin & Company; phát hành ngày 1/10/2012)

 

Kích Động Lòng Yêu Nước Cực Đoan


 

Kích Động Lòng Yêu Nước Cực Đoan

Đào Văn Bình

Yêu nước là tình cảm thiêng liêng, cao quý không một thứ tình cảm nào có thể sánh bằng. Yêu cha yêu mẹ, yêu thầy yêu cô, yêu bạn yêu bè, yêu quê cha đất tổ, thậm chí “tử vì đạo” cũng không thể sánh được với lòng yêu nước. Bởi vì “tử vì đạo” là chết cho tôn giáo riêng của mình chứ chưa phải chết cho đất nước.


Chính vì lòng ái quốc thiêng liêng, cao quý như thế cho nên khắp nơi trên thế giới, tại thủ đô hoặc các thành phố hoặc những nơi gọi là di tích lịch sử, dân tộc nào cũng có truyền thống tạc tượng, lập tượng đài…để nhớ và tôn vinh những vị đã được cả dân tộc ghi nhận là “những nhà ái quốc.” Riêng dân tộc ta còn lập miếu đền - suốt năm nhang khói - không phải chỉ để tôn thờ mà còn để nhắc nhở con cháu muôn ngàn đời sau về lòng ái quốc. Khi nhìn thấy miếu đền, chúng ta thấy lịch sử sống lại và các vị anh hùng dân tộc vẫn còn ở với chúng ta.

Sống trong lòng dân tộc mà một người nào đó không có lòng ái quốc thì giống như một thứ “ngoại kiều” trục lợi trên quê hương mình mà không hề “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”. Không có lòng ái quốc giống như “gỗ mục” như “bèo giạt mây trôi” - thời bình có thể làm gián điệp cho ngoại bang còn khi đất nước lâm nguy có thể sẵn sàng làm tay sai bán nước nếu bản thân mình hoặc gia đình mình có lợi.

Mặc dù lòng ái quốc thiêng liêng và cao cả như thế nhưng không phải là chuyện khó làm. Tùy theo hoàn cảnh, trình độ và vị trí - mỗi người có thể bày tỏ lòng yêu nước một cách khác nhau.

- Đối với người bình thường (thứ dân) thì trong thời bình là một công dân tốt, đóng thuế đầy đủ, tuân thủ luật pháp quốc gia. Thời chiến thì bản thân mình hoặc khích lệ con em hăng hái tòng quân giết giặc, tham gia vào các công binh xưởng, các nhà máy, nông công trường cung cấp tất cả những gì cần thiết cho chiến tường, bỏ bớt những ham thích cá nhân (xin xem “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo) trong tinh thần “hâu phương yểm trợ tiền tuyến”. Như thế có thể gọi là một công dân yêu nước.

- Nếu là một người khá giả có thể đóng góp tiền bạc cho chính phủ để mua sắm vũ khí, yểm trợ cho binh sĩ ngoài tiền tuyến và gia đình họ. Như thế gọi là một công dân danh dự của đất nước.

- Khi quốc biến, nếu quốc gia cần cũng phải cởi áo tu hành để theo tiếng gọi của non sông. Như thế gọi là bậc tu hành yêu nước.

- Dũng cảm chiến đấu, khích lệ đồng đội chiến đấu, tạo nên những chiến công hiển hách như thế gọi là quân nhân yêu nước, hoặc cao hơn - một anh hùng.

- Dù sức yếu nhưng tử chiến, quyết không đầu hàng giặc như thế gọi là “dũng tướng” được cả dân tộc tiếc thương như Cụ Hoàng Diệu và Phò Mã Nguyễn Lâm tuẫn tiết ở Thành Hà Nội trước sức công phá của giặc Pháp.

- Bị giặc bắt vẫn hiên ngang không khuất phục mà dõng dạc hô to “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc ! “ như Trần Bình Trọng là khí phách nuôi dưỡng uy linh dân tộc.

- Đất nước bị Thực Dân Pháp đô hộ, dày xéo, nhục mạ, bóc lột… sức yếu không thể làm cách mạng hoặc dấy binh khởi nghĩa, sáng tác “những vần thơ rướm máu” để nói lên nỗi nhục của dân tộc như Cụ Nguyền Đình Chiểu là bậc chí sĩ yêu nước.

- Trước thế nước ngả nghiêng không “bàn thối”, xốc gươm giết kẻ phản quốc như Cù Thị, Ai Vương, Thiếu Qúy và đoàn tùy tùng của sứ Tàu để chặn đứng âm mưu dâng nước ta cho nhà Hán như thế gọi là “bầy tôi lương đống” một lòng vì dân vì nước, lưu danh muôn thuở: Tể Tướng Lữ Gia.

- Thấy dân chúng lầm than trước nạn Bắc Phương giày xéo, dấy binh, tập họp dân chúng xây dựng lực lượng vũ trang khởi nghĩa, đánh đuổi quân thù, kiến tạo nền độc lập tự chủ dù không lâu dài … như hai Bà Trưng-Triệu là biểu tượng tuyệt vời của lòng yêu nước của dân tộc ta.

- Đất nước bị quân xâm lược đô hộ, bóc lột, giày xéo, nhục nhã… hy sinh đời sống cá nhân, bôn ba làm cách mạng, ngục tù không sờn chí, khơi dậy lòng ái quốc trong quần chúng, từng bước xây dựng cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang rồi thanh thế mỗi lúc mỗi mạnh, cuối cùng đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, xây dựng nền độc lập tự chủ…người lên đoạn đầu đài, kẻ bỏ thân nơi chiến địa, người bị lưu đày, người chết trong ngục tù… đều là các anh hùng của dân tộc.

- Không phải chỉ sống trên quê hương mới thương dân yêu nước. Có rất nhiều người sống xa Tổ Quốc suốt đời mà vẫn nhớ về cội nguồn. Trong Thế Chiến I, nhiều người Việt Nam bị bắt đi lính cho Pháp. Sau khi chiến tranh chấm dứt, kẻ sống sót trở về được gia nhập quốc tịch Pháp, hưởng hưu bổng, lấy vợ Pháp, sinh con đẻ cái, nhận nơi này là quê hương thứ hai - nhưng Việt Nam vẫn canh cánh bên lòng.
 
Có rất nhiều người du học hoặc trí thức trốn tránh ách thực dân lưu vong qua Pháp rồi trở thành giáo sư đại học, khoa học gia, viện sĩ Viện Hàm Lâm...tuy sống ở đó, tuân thủ luật pháp xứ người nhưng lòng thì vẫn hướng về quê cha đất tổ và luôn có những việc làm ái quốc.

Lòng yêu nước có sức mạnh vạn năng. Nó có thể tạo nên những chiến công hiển hách, xây dựng đất nước từ nô lệ trở thành độc lập, từ bị ngoại bang khinh rẻ trở nên được kính nể, từ đống hoang tàn đổ nát trở nên phú cường như Nhật Bản, Do Thái chẳng hạn. Một dân tộc có lòng yêu nước, nếu có lãnh đạo và được tổ chức tốt, dù nhỏ bé có thể đánh thắng bất kỳ một đạo quân xâm lược hùng mạnh nào. Thông thường lòng yêu nước được khơi dậy khi:

-Đất nước bị ngoại bang xâm chiếm, đô hộ.

-Đất nước bị ngoại bang đe dọa, uy hiếp.

-Bờ cõi bị xâm lấn.

-Danh dự của đất nước bị tổn thương.

-Một đôi khi lòng yêu nước còn được bộc lộ qua những trận đấu thể thao như “Giải Túc Cầu Thế Giới” (World Cup) chẳng hạn. Nhưng lòng yêu nước này chỉ là thứ tự ái, lửa rơm sớm lụi tàn.

Ngày nay khi một nước nhỏ bị nước lớn hiếp đáp, lòng yêu nước được thể hiện qua hình thức biểu tình- thường là trước các tòa đại sứ hoặc tòa lãnh sự của nước thù nghịch. Những cuộc biểu tình này thường là tự phát. Mới đây nhất khi Hoa Lục xâm lấn Bãi Cạn Scarborough của Phi Luật Tân và đưa tàu chiến và tàu ngư chính tới Đảo Senkaku để uy hiếp Nhật Bản thì tại ba quốc gia nói trên đều nổ ra các cuộc biểu tình.
 
 Tuy nhiên phong cách biểu tình tại ba quốc gia đó lại hoàn toàn khác nhau. Tại Phi Luật Tân, dân chúng chỉ biểu tình một hai lần rồi để chính phủ tìm phương giải quyết và cũng không bày tỏ thái độ, hiếu chiến hoặc “bài Hoa” đập phá các sơ sở thương mại của người Tàu. Nhật Bản, sau những cuộc biểu tình ở Trung Quốc, họ chỉ tổ chức một cuộc biểu tình quy mô trong ôn hòa, trật tự và không hề có khẩu hiệu khiêu khích. Riêng tại Hoa Lục,
 
Tuổi Trẻ Online đưa tin: “ Theo hãng AFP, hôm qua 16 Tháng 9, làn sóng biểu tình phản đối Nhật tiếp tục bùng nổ tại 50 thành phố lớn ở Trung Quốc. Tại Thẩm Quyến, đám đông biểu tình đã cầm khẩu hiệu đòi “tắm máu” nước Nhật.
 
Nhóm này đã đụng độ với cảnh sát. Lực lượng an ninh đã phải dùng tới hơi cay và vòi rồng để giải tán đám đông cuồng nộ. Kênh truyền hình Cable TV của Hongkong cũng đã cho phát các đoạn băng quay cảnh hơn 1000 người biểu tình đốt cờ Nhật và tràn vào đập phá một khách sạn bên cạnh Lãnh Sự Quán Nhật ở Quảng Châu.
 
Những người biểu tình còn đòi gây chiến và cấm vận kinh tế Nhật. Ở Thanh Đảo, mười nhà máy hợp tác với công ty Nhật bị dân Trung Quốc đập phá. Báo Yomiuri Shimbun dần nguồn Đại Sứ Quán Nhật tại Bắc Kinh cho biết đã xảy ra các vụ phóng hỏa và các dây chuyền sản xuất bị phá hủy.
 
Theo Reuters, nhiều đại lý xe hơi Toyota ở Trung Quốc bị đốt phá, một số lượng lớn xe bị phá hủy. Nhiều siêu thị và trung tâm thương mua sắm do Nhật đầu tư tại ít nhất năm thành phố ở Trung Quốc bị đập phá. Đám biểu tình còn xông vào các siêu thị hôi của.
 
Hãng tin BBC dẫn lời một nhân chứng ở Thành Phố Tây An kể máy ảnh của anh đã bị giật và đập phá vì mang nhãn hàng của Nhật. Các xe hơi mang thương hiệu Nhật bị chận lại một cách ngang nhiên trên đường phố, tài xế bị lôi ra ngoài, còn chiếc xe đó bị đập phá, đốt cháy. Trên mạng SinaWeibo, nhiều cư dân mạng Trung Quốc tiết lộ họ không dám lái xe thương hiệu Nhật trong hai ngày cuối tuần.
 
Tại Bắc Kinh, nhiều người quá khích đốt cờ Nhật. Khung cảnh tương tự cũng diễn ra trước Lãnh Sự Quán Nhật ở Thượng Hải.” Rồi vào ngày 30/11/2012 mới đây, khi hai tàu cá của Hoa Lục cố tình tiến sát để làm đứt giây cáp của tàu thăm dò dầu khí Bình Minh của Việt Nam thì trên mạng Facebook đã xuất hiện những đoạn Video ngụy tạo hình ảnh hải quân Trung Quốc bắn chìm một tàu thăm dò dầu khí của Viêt Nam - không ngoài mục đích kích thích thanh niên Tàu cho thêm hăng máu.

Chiến dịch khích động lòng yêu nước cực đoan của Trung Quốc đã gây tác hại nghiêm trọng về kinh tế cho cả hai Hoa- Nhật và làm căng thẳng thêm tình hình. Hiện nay số lượng sản xuất xe hơi của các hãng Toyota và Honda tại Hoa Lục đã giảm 40% và Nhật Bản đang suy tính chuyển hướng các nhà máy sản xuất xe hơi qua Thái Lan và Việt Nam. Một cuộc thăm dò dư luận do chính phủ Nhật tiến hành mới đây cho thấy 80% dân Nhật bắt đầu chán ngán người Tàu, điều mà từ 1950 tới nay không hề có.
 
 Việc khích động lòng yêu nước cực đoan, bài ngoại gây khó khăn cho tiên trình hỏa giải (nếu có) và cuối cùng”gậy ông đập lưng ông” giống như “phù thủy lụy âm binh”. Khi mà hằng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ xuống đường hò hét những khẩu hiệu hiếu chiến, sắt máu mà sau đó chính quyền không làm được thì sẽ bị tố cáo là ươn hèn. Tại Hoa Lục hiện nay vẫn có những học giả công tâm như Lý Lệnh Hoa nói rằng không có một cơ sở nào pháp lý nào để chứng minh Đường Lưỡi Bò là của Trung Quốc. Rồi khi Ô. Mã Anh Cửu ồn ào “ăn có” vào chuyện Senkaku, cựu Tổng Thống Lý Đăng Huy (1988-2000) cũng khẳng khái nói Senkaku chẳng ăn nhập gì tới Đài Loan thì lập tức hai ông này bị đám đông cuồng nhiệt chụp cho cái mũ “phản quốc”! Thực ra hai ông này có phản quốc gì đâu. Họ chỉ cất lên tiếng nói trung thực và hoàn toàn vì lợi ích của Trung Quốc là xin đừng đẩy 1.3 tỉ dân vào một cuộc chiến hoàn toàn phi nghĩa không lối thoát.

Đồng ý là ngoài những tranh chấp về Đảo Senkaku, Trung Hoa và Nhật Bản còn có những cọ sát đau thương về lịch sử, đó là Cuộc Thảm Sát Nam Kinh năm 1937 khi Nhật chiếm đóng Trung Hoa, khiến người Trung Hoa không sao quên được mối hận này, khi mà họ sắp sửa trở thành siêu cường và muốn rửa nhục. Thế nhưng thế giới ngày hôm nay lại không giải quyết những cọ sát của lịch sử theo kiểu “thù dai “ như người Tàu. Lịch sử thì không thể thay đổi nhưng chính sách ngoại giao thì có thể thay đổi cho phù hợp với quyền lợi quốc gia mỗi thời kỳ. Thử hỏi con số 1 triệu người Việt chết đói năm Ất Dậu (1945) khi Nhật chiếm đóng Đông Dương có kinh hoàng và uất hận hơn 300,000 người chết trong Cuộc Thảm Sát Nam Kinh không? Thế nhưng người Việt lại biết quên đi quá khứ để hướng về tương lai. Trước 1975, Nhật Bản đã viện trợ cho Miền Nam dưới kế hoạch “Bồi Thường Chiến Tranh” bằng các công trình như Nhà Máy Xi-măng Hà Tiên, Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa, Thủy Điện Đa Nhim, Lò Nguyên Tử Đà Lạt v.v..
 
Còn bây giờ, Nhật Bản cũng đã viện trợ, cho vay, hùn vốn giúp Việt Nam qua các công trình như Cầu Cần Thơ, Nhà Máy Điện Nguyên Tử Ninh Thuận, phóng vệ tinh viễn thông, xây dựng Trung Tâm Vũ Trụ lớn nhất Đông Nam Á ở Hòa Lạc (Hà Nội), giúp huấn luyện thủy thủ tàu ngầm và là quốc gia có số đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với nhiều công trình và 208 doanh nghiệp. Nhìn rộng hơn nữa trong Thế Chiến II, Hoa Kỳ đã tử chiến với Đức và Nhật như thế nào? Cả triệu người đã ngã xuống thế nhưng sau đó họ trở thành đồng minh chiến lược cho tới bây giờ vì họ biết quên đi quá khứ để hướng về tương lai.

Ngụy tạo chứng cớ về chủ quyền biển đảo, bịa đặt tin tức, kích thích lòng yêu nước cực đoan cùng sự hung hăng hiếu chiến, Hoa Lục khiến Đông Nam Á, Nhật Bản và cả thế giới lo sợ. Nhưng khác với Hoa Lục, Nhật Bản không ồn ào, không kích động quần chúng, lầm lì như một kiếm sĩ đi trong mùa đông tuyết phủ. Nhật Bản đang âm thầm chuyển hướng từ “phòng vệ” qua hợp tác và viện trợ để mở rộng “bản đồ quân sự “ của mình. Trước sự do dự của Mỹ trong việc yểm trợ đồng minh, Nhật Bản thay vì tiếp tục theo sách lược “núp dưới cái dù của Mỹ” như trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, đang tìm cách “tự đứng trên đôi chân” của mình. Theo Nghiên Cứu Biển Đông thì “Nhật Bản đang âm thầm bày thế trận để chống lại Trung Quốc tại Đông Nam Á, cung cấp chuyên gia quân sự giúp đào tạo về giảm nhẹ thiên tai cho Campuchia và Đông Timo; Nhật Bản cũng có kế hoạch giúp đào tạo y tế cho các thủy thủ làm việc trên tàu ngầm mới mua của Việt Nam.
 
 
 Nhật Bản đang đàm phán về việc cung cấp 10 tàu tuần duyên nhỏ cho Phi Luật Tân với giá khoảng 12 triệu đô-la/chiếc. Nhật Bản cũng cho biết có thể cung cấp những tàu tương tự như vậy cho Việt Nam. Trong năm tới, Nhật Bản sẽ tăng gấp đôi viện trợ quân sự cho Indonesia và Việt Nam. Úc Đại Lợi, Việt Nam và Mã Lai cũng có thể là nước đầu tiên được phép mua các tàu ngầm Lớp Soryu của Nhật là thế hệ tàu ngầm tấn công chạy bằng động cơ diesel tân tiến nhất thế giới.” Lời tuyên bố ngày 6/12/2012 của Tư Lệnh Thái Bình Dương - Đô đốc Samuel Locklear mà Đài VOA đưa tin “ Mỹ từ chối hỗ trợ đồng minh Châu Á trong tranh chấp Biển Đông và Đông Bắc Á với Trung Quốc.” đã khẳng định chọn lựa “tự đứng trên đôi chân” là chọn lựa sinh tử của Nhật Bản.

Lòng ái quốc giống như tấm gương cần được lau chùi, như ngọn lửa thiêng không bao giờ để tắt. Khi thế nước nghiêng ngả, ngoại bang chực chờ xâm lấn - biểu tỏ lòng yêu nước là điều phải có. Nhưng cần biểu tỏ một cách chừng mực, vừa đủ để không gây khó khăn cho chính quyền, vừa phải đối đầu với ngoại bang vừa phải đối đầu với các cuộc biểu tình trong nước, cách mà người dân Nhật Bản và Phi Luật Tân đang hành xử.
 
 
Cách đây ít lâu khi Pháp phản đối cuộc xâm lăng của Mỹ vào Iraq, đài truyền hình cực đoan bảo thủ của Mỹ là Fox News đã kích động phong trào tẩy chay hàng hóa Pháp nhưng không thành công. Sở dĩ Fox News không thành công là vì nhận thức của dân Mỹ rất cao. Nếu Mỹ chính thức phát động phong trào bài Pháp thì Pháp lập tức trả đũa bằng cách tẩy chay hàng hóa Mỹ. Khi đó Mỹ sẽ lao vào cuộc chiến tranh kinh tế vô ích với Pháp trong khi Mỹ còn đang cố gắng thuyết phục Âu Châu đứng về phe Mỹ trong cuộc chiến tranh này.

Yêu nước là điều kiện CẦN nhưng chưa Đủ. Lịch sử chứng tỏ rằng dù lòng yêu nước có tuyệt vời, cuồng nhiệt tới đâu đi nữa mà sức yếu thì vẫn bị diệt vong. Song song với lòng yêu nước, muốn giữ nước cần phải chuẩn bị chiến tranh như: mua sắm vũ khí tối tân, dự trữ lương thực và nguyên liệu chiến lược, huấn luyện binh sĩ sẵn sàng chiến đấu, cảnh giác cao độ, có kế hoạch phòng thủ tinh vi, trong thì trên dưới một lòng, vỗ an dân chúng, ngoài thì tranh thủ chính nghĩa, liên kết xa gần để tạo thế liên minh, âm thầm, không tỏ ra hiếu chiến, bề ngoài thì nhã nhặn, nhịn nhục nhưng bên trong là cả một khối thép mà khi kẻ thù đụng đến thì “ôm đầu máu” hay “chui vào ống đồng” mà chạy.
 
Câu chuyện nuôi gà chọi Thời Xuân Thu Chiến Quốc cho chúng ta bài học đó. Truyện kể rằng Tề Hoàn Công là ông vua rất mê đá gà. Trong bầy có con gà quý gọi là Kim Kê. Tề Hoàn Công cho tuyển một bậc thầy về nuôi gà chọi để chăm sóc con này. Cứ lâu lâu Tề Hoàn Công lại hỏi con Kim Kê đem đá được chưa? Ông thầy gà đáp: Dạ chưa.

Tề Hoàn Công hỏi: Tại sao vậy?

Vị kê sư đáp: Con Kim Kê chưa đá được vì tính nó chưa đằm.

Tề Hoàn Công lại hỏi: Chưa đằm là sao?

-Con Kim Kê còn hăng lắm. Nghe gà khác gáy nó lồng lộn tức khí muốn chui ra khỏi chuồng đá nhau ngay.

Ít lâu sau Tề Hoàn Công lại hỏi: Con Kim Kê đá được chưa?

-Cũng vẫn chưa được. Vì con Kim Kê tuy nghe tiếng gà khác gáy nó bớt tức khí nhưng hãy còn hung hăng, ra trận chưa chắc thắng.

Ít lâu sau Tề Hoàn Công lại hỏi: Gà đá được chưa?

-Tâu đại vương, được rồi.

Tề Hoàn Công hỏi: Tại sao vậy?

Vị kê sư đáp:

-Thần đã ra công ngày đêm tập cho nó bình tĩnh. Bây giờ nghe gà khác gáy nó không lồng lộn chạy quanh chuồng để tìm lỗ chui ra, cũng không gáy đáp lại mà nó đứng ngửng cao đầu nghe ngóng chứng tỏ nó đang suy nghĩ về đối thủ cho nên thần nghĩ rằng con Kim Kê có thể xuất trận và có cơ may thắng.

Sau hết, một nước nhỏ muốn thắng một cường địch mạnh hơn mình cả chục lần không phải dễ. Điều tất yếu là phải có chính nghĩa và toàn dân phải được trang bị bằng lòng ái quốc. Thế nhưng xin nhớ cho lòng ái quốc là tình cảm vô cùng thiêng liêng, nó cần được khơi dậy đúng lúc. Lòng yêu nước không phải là một thứ “thời trang” để trình diễn. Ồn ào để tỏ ra mình yêu nước có khi chỉ là yêu nước “dỏm”, giặc tới thì trốn hoặc hủy hoại thân thể để được “miễn dịch” hoặc mượn tiếng du học để trốn lính, hoặc chạy chọt để xin thuyên chuyển về đơn vị không tác chiến. Kẻ lầm lầm, lì lì sống bình thường, không bàn tán gì về quốc sự, khi quốc biến có khi lại là kẻ có lòng yêu nước tuyệt vời không biết chừng. Xin nhớ cho chỉ khi nào đất nước nổ ra chiến tranh mới biết ai thật sự yêu nước, ai yêu nước “dỏm”: “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần”.

Tham vọng cuồng điên về lãnh thổ và biển đảo đã là một sai lầm, kích động thêm lòng yêu nước cực đoan - đã đẩy Hoa Lục vào đường hầm không lối thoát. Có thể vì thấy mình quá mạnh cho nên Hoa Lục không còn biết sợ ai nữa chăng? Ban bố lệnh chặn giữ, khám xét các tàu qua lại trên Biển Đông mới đây, Hoa Lục đã khiến “Biển Đông” không còn là vấn đề song phương, đa phương nữa mà là “Vấn đề quốc tế”.
 
Qua chuyển động mới nhất này, Hoa Lục đã gửi cho thế giới một tín hiệu là “Chúng tôi đang làm chủ Biển Đông”, không có luật pháp quốc tế ở đây mà chỉ có luật pháp của Trung Quốc. Hành động ngang ngược này chắc chắn đầy Đông Nam Á và thế giới vào một cuộc khủng hoảng mới. Nhưng xin các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh nhớ cho chuyện Biển Đông lớn hơn cả chuyện Vịnh Ba Tư. Vịnh Ba Tư không có các đại cường dính vào.
 
Ngoài các quốc gia Đông Nam Á - Biển Đông là hải lộ sinh tử của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Úc Châu, Ấn Độ và Nga. Không một ai có quyền độc chiếm hay áp đặt một luật lệ riêng - nói khác - làm bá chủ vùng này. Kẻ nào có tham vọng bá chủ vùng này tức thách thức với toàn thế giới.

Đào Văn Bình

 

__._,_.___

TRUNG CỘNG SẼ ĐÁNH VN DƯỚI HÌNH THÁI MỚI


 

BẮC KINH QUYẾT DIỆT HỆ NGỮ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG!
TRUNG CỘNG SẼ ĐÁNH VN DƯỚI HÌNH THÁI MỚI
Hà Nhân Văn



TỰ HÀO VIỆT NAM

Thêm một niềm hãnh diện cho người Việt trong và ngoài nước: tin từ Paris vừa cho biết, trưa ngày 6-10-2012, Hội đồng chuyên gia UNESCO tức Giáo dục, khoa học, văn hóa LHQ, đã nhất trí chấp thuận "Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên ở đền vua Hùng, xã Hy Cương, Phú Thọ", là một di sản "Văn hóa phi vật thể có tính cách tiêu biểu của nhân loại". Đại hội đồng UNESCO sẽ thông qua. Văn hóa có nhiều loại hình, đại cương chia làm 2 loại: vật thể như Chùa Thày, Sơn Tây, Văn miếu quốc gia ở Hà Nội, quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm, lăng tẩm các vua triều Nguyễn ở ngoại thành Huế. Văn hóa phi vật thể như nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là di sản của thế giới. Các di sản văn hóa VN được UNESCO công nhận liệt kê vào hàng đầu Á châu. Nhất là vũ đạo (múa) Nhã nhạc trống chiêng trống lễ tế, thuộc về nền văn hóa phi vật thể. Năm nào mở hội cũng có đoàn múa Lào và thiếu nữ Mường diễn tấu trống Đồng cũng là một di sản VN của thế giới.

TRUNG CỘNG SẼ ĐÁNH VN!

 

Tin từ Hồng Kông cho biết Quảng Đông sẽ là căn cứ tiền đồn vĩ đại. Tập Cận Bình chính thức bổ nhiệm Hồ Xuân Hoa thay Uông Dương làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông, phát triển Quảng Đông thành một căn cứ tiếp vận lớn nhất ở phía Nam để chuẩn bị cho một cuộc chiến VN khó tránh khỏi. TC đã thiết trí Lữ đoàn 827 - hỏa tiễn phòng không - ở Thiền Quang, Quảng Đông với loại Đông Phong 21D có tầm bắn xa từ 2000 đến 3000 km và loại Đông Phong 16 (xem: Focus Taiwan 8-2-2012). Mới đây, tướng La Viện viết trên báo QĐND Bắc Kinh cho rằng TQ phải dùng võ lực ở Nam Hải. Tổng giám đốc Tổng cục ngư chính biểu đồng tình với tướng Viện lên tiếng: "TQ đang đối mặt với các nước láng giềng hung hăng là VN và Phi Luật Tân".


Hồ Xuân Hoa (Hu Chuhua) bàn tay sắt của Nội Mông, điều về Quảng Đông theo tin Hồng Kông. Hoa sẽ thực hiện đại kế hoạch "Chiến tranh nhân dân trên biển". Điều hợp dân sự hậu cần với đại quân khu Quảng Châu, chuẩn bị cho một ngày X, phối hợp cơ động chiến với đại quân khu Côn Minh (Vân Nam). Diễn văn khai mạc ĐH 18, Hồ Cẩm Đào kêu gọi đoàn kết trong đảng: "Không được phép nao núng trước bất cứ hiểm nguy nào, không được phép phân tán trước bất cứ sự can thiệp nào" (ám chỉ Mỹ), theo tin Tân Hoa xã.

Tin tình báo cấp chiến lược ở Hồng Kông mới đây "lộ tin" ra ngoài về "cuộc diễn tập thủy lục không quân", phối hợp Việt - Trung sẽ diễn ra vào tháng 5 hay cuối Hè 2013. Nhằm đúng vào tháng mà Tổng công ty dầu khí quốc doanh TQ đã ổn định là hạn chót để các công ty nước ngoài đấu thầu vùng 9 lô, ở ngoài khơi Đà Nẵng xuống đến Cà Mau. Nếu không có nước nào trúng thầu thì công ty CNOOC sẽ liệu lý, nghĩa là CNOOC sẽ tự đứng ra khai thác khu vực 9 lô (thuộc chủ quyền VN). Trong khi có lô VN đã cho công ty Exxon Mobile Mỹ và công ty Gazpin của Nga khai thác. Báo Financial Times cho rằng đây là thế "khó xử của VN và TQ" (27-6-2012). Thực ra chỉ là thế khó xử cho phe đầy tớ Bắc Kinh trong lãnh đạo đảng CSVN. Đến tháng 5 này hết hạn, nếu không có nước nào thầu, CNOOC sẽ đưa các dàn khoan vào 9 lô để khai thác. Lãnh đạo Hà Nội sẽ xử trí như thế nào?
Ngày 7-12 vừa qua, phát ngôn viên Hồng Lỗi với thái độ nước lớn, giọng cha, cảnh cáo VN: "VN phải ngưng ngay lập tức những hoạt động đơn phương liên quan đến dầu khí trong các vùng biển này và chấm dứt ngăn chặn tàu cá TQ". Thông cáo của Bắc Kinh cho biết kể từ 1-1-2013, cảnh sát biển Hải Nam sẽ lên tàu khám xét nếu tàu nước ngoài xâm nhập vùng cửu tuyến (tức vùng Lưỡi Bò 9 đoạn). Các nước phản đối dữ dội, bộ ngoại giao Mỹ đòi Bắc Kinh phải sáng tỏ. Bắc Kinh đổ thừa cho tỉnh Hải Nam đã được ủy quyền quản trị Biển Đông rộng trên 2 triệu km2. Hải Nam được lệnh sáng tỏ, Giám đốc Cục ngoại vụ Hải Nam Ngô Sĩ Tôn nói thẳng chỉ kiểm soát các tàu VN xâm nhập bất hợp pháp! Tàu cá TC lại ngang ngược cắt dây cáp của tàu Bình Minh 2 của Petro VN. Đây là lần thứ 2. Báo trong nước đồng loạt loan tin theo tin chính thức của công ty Petro VN. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao VN cũng lên tiếng phản kháng như thế. Chắc là có lệnh của lãnh đạo, tin buổi chiều loan khác đi sợ phạm vào 16 chữ vàng 4 tốt, ban tuyên giáo TƯĐ do Đinh Thế Huynh cầm đầu bắt sửa lại: "Tàu cá TQ vô tình chạm phải dây cáp tàu Bình Minh". Nhân xuống Hải Phòng tiếp xúc với cử tri, một cử tri nêu vấn đề, Thủ tướng Dũng trả lời: "Đã có sự chuẩn bị để nhanh chóng khắc phục hậu quả của việc tàu Bình Minh 2 vừa bị 2 tàu cá TQ cắt cấp để đưa tàu trở lại hoạt động bình thường" (VTX, 5-12-2012). Ông Dũng cũng tuyên bố VN quyết tâm bảo vệ chủ quyền Biển Đông. Đã bao nhiêu lần rồi, giới lãnh đạo CSVN nói như thế, như con vẹt. Rút cuộc đâu vẫn hoàn đó, TC càng ngày càng tác oai tác quái.

MÙA HÈ ĐỎ LỬA 2013

Vẫn theo tin Hồng Kông, tôi thuật lại ở đây với sự thận trọng dè dặt: Mùa Hè 2013 này có thể Biển Đông nổi cơn giông tố. Công ty dầu khí TQ CNOOC sẽ đưa các máy khoan dầu vào khu vực 9 lô đặc quyền kinh tế của VN, dĩ nhiên là có tàu chiến hải giám bảo vệ. Nói theo báo Financial Times, Luân Đôn, "TQ là con tin của các diều hâu trong quân đội". Công ty quốc doanh dầu khí CNOOC thuộc Hội đồng quốc phòng và Tổng quân ủy. Trước con mắt háu đói của đám diều hâu này là một Biển Đông với trữ lượng từ 20 đến 30 triệu tấn dầu và 50,000 tỷ thước khối dầu khí. Muốn trở thành đại cường biển cả mà không đủ nhiên liệu thì làm nên trò trống gì?

Dự trù trong đại chiến lược "Đại dương Nam tiến", biển chưa đủ, TC phải bám đất. Cao Miên thì quá thường về mặt chiến lược quân sự. Bám chốt được ở Đắc Nông - Đắc Lắc và Tây Nguyên là đủ. TC sẽ không bao giờ liều mạng đánh VN như cuộc chiến 1979 hay xa hơn như Tôn Sĩ Nghị ồ ạt tiến chiếm Thăng Long, ăn Tết Kỷ Dậu xong sẽ tiến vào Huế với ý đồ lập chân vạc tam tỉnh "Tam Quảng" (Quảng Đông, Quảng Tây và Quảng Nam (VN), nhưng Nghị đã dại dột đem 200,000 quân nạp mạng cho Hoàng đế Quang Trung. Trong vòng năm 2013, sớm hay muộn, Việt - Trung sẽ tổ chức chung một cuộc diễn tập qui mô bộ chiến hợp đồng tác chiến "bộ binh tùng thiết" và pháo như Bắc Kinh đã dự kiến, đặt dưới sự chỉ đạo của Tổng quân ủy hai nước và Hội đồng chỉ đạo chiến lược Việt - Trung. Các quân đoàn từ quân khu Côn Linh theo lộ tuyến xa lộ Côn Minh - Lào Cai đã hoàn tất, còn lại đoạn Lào Cai - Hải Phòng sẽ hoàn tất vào mùa Hè sang năm. Các quân đoàn quân khu Quảng Châu sẽ tiến xuống theo ngã Đông Hưng - Móng Cái, cây cầu chiến lược Đông Hưng - Móng Cái thứ 2 sẽ hoàn tất vào mùa Xuân 2013. TQLC sẽ đổ bộ lên bãi biển Chu Lai để trên dưới trong ngoài hợp đồng tác chiến. Kết thúc cuộc diễn tập QĐ hai nước mới là chủ đích chính của Bắc Kinh, TC để lại ở VN một số đơn vị gọi là "Sở liên lạc Việt Trung", thực ra đó chỉ là căn cứ của QĐTC mà chủ yếu là Đắc Nông, Đắc Lác - Kontum. Kế hoạch này cũng chẳng mới lạ gì, cũng chẳng phải là bí mật mà 2 quân đội "2 nước anh em" đã dự trù từ lâu. Nay thì rất thuận lợi và kịp thời. Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng QPVN, đã nằm trong tay Bắc Kinh còn TBT Trọng thì bảo sao nghe vậy! Bắc Kinh tính đúng thời điểm cho đấu thầu 9 lô dầu khí trên thềm lục địa VN đã hết hạn và là lúc công ty CNOOC hành động, kéo dàn khoan vào khai thác.

MỘT VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG

 

Dân Tạng vẫn tiếp tục biểu tình và tự thiêu. Số này xin tiếp tục kỳ trước. Thế giới tự hỏi tại sao lãnh đạo Bắc Kinh chai đá, vô cảm đến như thế! Dăm ba người tự thiêu đã đủ làm chấn động dư luận quốc tế, nay đã lên con số 94 mà Bắc Kinh bên ngoài vẫn dửng dưng. Các ông Ba Đỏ có lý do: nếu nhượng bộ Tây Tạng - Đông Tạng, Du Ngô Nhĩ Tân Cương sẽ ào ạt theo dân tộc Tạng, Nội Mông (Inner Mongolia) kể cả dân tộc Choang (15 triệu) dân tộc Khách gia tức Hakkas (Việt tộc), sẽ kiên quyết không chịu Hán hóa văn tự. Năm 2011, Bắc Kinh đã toan bỏ tiếng Quảng Đông nhưng phải ngưng ngay để Quảng Đông tiếp tục nói tiếng Quảng Đông.

Văn tự ngôn ngữ Tạng là cốt tủy của Phật giáo ngữ hệ Tạng. Phật giáo Tạng là sợi dây vô hình kết nối với dân tộc Mông Cổ, Nội Mông thuộc Tàu và Cộng hòa Mông Cổ. Ngôn ngữ Tạng cũng là giải đồng tâm nối kết với dân tộc Miến Điện qua hệ ngữ Tạng Miến, ấy là chưa kể nối kết với các dân tộc theo Phật giáo dưới chân Hy Mã Lạp Sơn. Giả dụ Tập Cận Bình dù có ý hòa hoãn với Đức Lạt Ma cũng là điều Bắc Kinh cho là "tối nguy hiểm": do ảnh hưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma quá lớn từ Cộng hòa Mông Cổ đến Nội Mông, dân thiểu số Tạng ở Tây Hoa Lục từ các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải. Phật giáo Tây Tạng sớm phát triển, năm 775 xây tu viện Tang Duyên (Sa Mye), Phật giáo thành quốc giáo Tây Tạng, bắt đầu thành lập Tăng già, vẫn dựa vào căn bản Đại thừa của các Đại sư Long Thụ và Vô Trước. Huyền bí mà rất khoa học so với khoa học hiện đại. Tu tập đến bậc Ge-She như hòa thượng của Phật giáo Tàu và Việt, giống như bậc Tiến sĩ của Hội thánh Công giáo, phải thấm nhuần Bát Nhã, Trung giáo luận, Nhân minh hoặc Lượng học tức Vinaya. Đạt Lai Lạt Ma là danh hiệu tối cao. Vào năm 1257, vua Mông Cổ phong cho một Đại sư phái Hoàng giáo (Gelugpa) là Đạt Lai Lạt Ma có nghĩa là Đại sư "với trí tuệ như biển cả". Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất viên tịch, ngài lại thác sinh vào một em bé nào đó, tâm hồn xác thâncòn nguyên sơ, hoá thân thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 2. Kể từ năm 1617, Đạt Lai Lạt Ma trở thành Đại sư lãnh đạo tinh thần của nước Tây Tạng. Đến Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 tức ngài Thương Ưng Gia Mục Thổ, vị Đạt Lai này được vua Khang Hy (1661-1723), nhà Mãn Thanh thống trị Trung Hoa, phong cho tước Vương, nhận làm chư hầu và triều cống Bắc Kinh, còn nội chính hoàn toàn tự trị cho đến năm 1912. Thời nhà Nguyên tức Mông Cổ thống trị Trung Hoa, gần 100 năm, dân thiểu số gọi là Sắc Mục được ưu đãi đặc biệt. Vua Hốt Tất Liệt tức Khoubilai (1260-1294), hai lần xâm lăng VN để tiến xuống ĐNA bị quân dân Đại Việt đánh tan, Thái tử Thoát Hoan chạy chết về Tàu, bị lột ngôi Thái tử và đày ra Viễn châu với lời dặn "vua cha chết cũng không được về Bắc Kinh thọ tang". Đặc biệt Hốt Tất Liệt rất ưu đãi Phật giáo Tây Tạng (bấy giờ còn ngôi vua Tây Tạng). Hốt Tất Liệt chia xã hội Tàu làm 10 giai cấp: 1. Quan lớn triều đình (người Mông Cổ); 2. Quan nhỏ địa phương; 3. Lạt Ma, thầy tu Tây Tạng ... Giai cấp thứ 8 là gái giang hồ, ca nhi; thứ 9 là Nho sĩ, vốn là giai cấp đứng đầu trong xã hội Tàu "sĩ, nông, công, thương"; thứ 10 là ăn mày. Nho sĩ đứng sát với ăn mày. Đây là thời kỳ hoàng kim của các Lạt Ma Tây Tạng.
Phật giáo Tây Tạng rất uyên bác, huyền diệu, gần như thần bí, nhất là về chú thuật, thuật luyện kim thần bí (Đại sư Long Thọ), trí năng và quyền lực, Bát nhã đối với Thần quyền, rất khoa học như vật lý hiện đại qua biểu tượng không gian, màu sắc, đức tính của tâm, yếu tố cử chỉ, nhất là về Om và Hum, kinh nghiệm và biểu tượng siêu hình. Mênh mông lắm, như "Thiền định, thực tại của sáng tạo, vật chất nguyên sơ, cơ bản về "ma lực của lời nói" mà Thiên Chúa giáo gọi là Ngôi Lời với sức mạnh của ngôn ngữ. Chỉ Tạng ngữ mới thấm sâu, thấm thuần được tinh hoa tính lý của Phật giáo Tây Tạng.

Đảng CS Tàu quyết tiêu hủy Tạng ngữ, thật là tội ác của nhân loại, văn minh văn hóa của loài người. Nói về tâm linh, hơn 90 Phật tử Tây Tạng tự thiêu để bảo vệ Phật pháp và Tạng văn, Tạng ngữ sẽ là ngọn đuốc thần, sẽ có một ngày không xa sẽ tiêu hủy ĐCS Tàu. Chính ĐCS Tàu đang bên bờ vực thẳm tự diệt. Chú của Phật giáo Mật Tông Tây Tạng rất cao siêu thần bí (Zhou). Rồi có một ngày các bạo chúa sẽ tiêu tan với câu thần chú của các đại sư mà Đức Phật sống Đạt Lai Lạt Ma tinh thông quán triệt. Chú cũng là tâm hướng về một mục tiêu khác do sự tri niệm Đà La Ni, Mạt Đà La (trong kinh Đại thừa Mật Tông). HNV có một người bạn cũ Tây Tạng hồi còn học ở Georgetown, ân cần gởi tặng tác phẩm của Đức Đạt Lai Lạt Ma "An open heart - practicing compassion every day life". Lý thú quá, với chương "The desire for happiness" (pp. 29-41) và nhất là chương thế giới vật chất và phi vật chất "the material and immaterial world" (op. cit, pp. 57-80). Cao siêu, khoa học mà lại đơn giản dễ hiểu. Ngâm nga qua nhiều ngày đọc Open heart của Đức Đạt Lai Lạt Ma, HNV tôi thấy tâm hồn càng thêm thanh thản và chợt nghĩ rằng, Đức Giáo Hoàng Phaolô II và Ngài Đạt Lai Lạt Ma như anh em một nhà, cả hai Ngài đều là vĩ nhân của thời đại. Đức Gioan Phaolô II đã đóng góp công sức cao như núi non trong sức mạnh thần thánh làm sụp đổ Cộng sản Đông Âu và Liên Xô. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã và đang là sức mạnh thần thánh sẽ xô đẩy chế độ CS Tàu xuống vực thẳm của quả báo nhãn tiền.

HÀ NHÂN VĂN

 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link