-- “BÊN THẮNG CUỘC”
VẠCH MẶT THẬT TRẦN
KIÊM ĐOÀN
LÃO MÓC
Như mọi người đều biết, trận Tổng công kích Tết Mậu
Thân là một tội ác của của VC đối với dân chúng miền Nam; trong đó cuộc thảm
sát tại Huế là do những tên đao phủ thủ Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh… gây ra. Cho đến nay, với những
bằng chứng do nhân chúng sống Nguyễn Thị Thái Hoà đưa ra thì bọn này
đã phải ngậm câm miệng hến. Trong khi đó thì lại có những kẻ cố gắng cãi chầy,
cãi cối để bênh vục bọn này. Một trong những kẻ đó là Trần Kiêm Đoàn.
Sau ông tiến sĩ Trần Chung Ngọc và-những-con-tương-cận
thì Trần Kiêm Đoàn cũng rất xứng đáng để được gọi là “tiến sĩ Bác Hồ”
vì, cũng như Trần Chung Ngọc, ông này ra mặt bênh vực Việt Cộng và bọn tay
sai VC còn hơn cả chúng nó bênh vực chúng nó.
Năm 2005, khi:
Sư ông áo gấm về làng
Sư bà, đệ tử hai hàng bước theo
Sư ông mặc cả kỳ kèo
Đòi đảng Việt Cộng làm theo ý mình
Đảng bèn… đánh đu với tinh
Cho phép tổ chức linh đình đón đưa
Huyền Quang hoà thượng làm ngơ
Hoà thượng Quảng Độ cũng vô tịnh phòng
Sư ông ôm lấy… chân không
Lọng vàng, hoa đỏ - sắc, không mịt mờ
Ôi chân tu! Ôi giả tu
Chúng sinh bá ngọ thứ đồ sư gian!
thì ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn đã viết bài
bênh vực thiền sư Nhất Hạnh và công kích Khu hội Cựu Tù Nhân Chính Trị
Sacramento đã dám phạm thượng nói đến chuyện:
Ới kinh nuôi kệ, kệ nuôi trôn
Ới mảnh thiền y đã lấm bùn
Ới Nhất Hạnh ăn chay, ngủ mặn
Ới kinh nuôi kệ, kệ nuôi trôn!
của ông sư “ngày ăn chay, đêm ngủ mặn” này. Ông “tiến
sĩ Bác Hồ” này đã lập luận để bênh vực cho Giáo chủ phái Tiếp Hiện như sau: “Quan
hệ tình dục hầu hết là hành động riêng tư và thường không có chứng cớ!
Như vậy, những vụ vi phạm tình dục dù ở con người phàm tục hay tu hành, thông
thường thế nhân không biết và kết luận được, vì đó là một bí mật tuyệt đối và
riêng tư của hai đương sự, thế nhân chỉ đoán dè chừng mà thôi.”
Đúng là Vua chưa lên tiếng mà Thái giám đã nóng mặt!
Năm ngoái, ông tiến sĩ này chắc là muốn được “nổi
nang” nên đã làm chuyện “sát Phật thành Phật” viết bài lên giọng kẻ cả với
ông Liên Thành, tác giả quyển sách “Biến Động Miền Trung” khi ông này
đến Sacramento ra mắt sách, bị ông này đề nghị đối chất thì ông “tiến sĩ Bác
Hồ” bèn đánh bài tẩu mã. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” chơi kiểu này đúng là chơi chạy!
Sở dĩ nói ông “tiến sĩ Bác Hồ” này mắc nạn là vì tên
báo điện tử có một người cũng ở Huế xưng tên là Nguyễn Phi tố cáo ông
Trần Kiêm Đoàn là “Việt Cộng nhưng bị vắt chanh bỏ vỏ nên chạy mà thôi”.
Không thấy ông “tiến sĩ Bác Hồ” này trả lời, trả vốn gì cả. Trong khi ông
Liên Thành viết sách tố cáo các Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Quang là Việt
Cộng thì ông “tiến sĩ Bác Hồ” đưa ra đủ thứ lập luận để bênh vực hai vị này.
Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đúng là kẻ:
“Chân mình thì lấm lê mê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người!”
Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này cũng đã từng viết bài bênh
vực “tên nhạc sĩ màu da cam” Trịnh Công Sơn và trong vụ nhà văn Nguyễn
Quang (ở trong nước) bị nhóm Cội Nguồn của ông Song Nhị ở San José
quỵt tiền và hăm dọa đốt sách “Biển Đỏ”, ông tiến sĩ này có viết thư cho nhà
văn Nguyễn Quang và khoe là đã được nhà xuất bản Trẻ và Thuận Hóa ở trong nước
xuất bản 4 quyển sách, được công ty Phương Nam và Sahara in và phát hành, được
hưởng 10% tiền nhuận bút, chứ không như ở Mỹ xuất bản sách không được đồng
nào với mục đích bênh vực việc làm đốn mạt của Song Nhị và nhóm Cội Nguồn.
Xem ra ông tiến sĩ này “bảnh” hơn mấy ông nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng
Giác, Bùi Vĩnh Phúc… nhiều.
Xin mời độc giả nghe ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm
Đoàn làm thơ con cóc “Về Nguồn” “ca tụng” “hai anh già không nên nết” Phạm
Duy, Trần Văn Khê như sau:
“Người về nguồn
Mang tâm hồn mình theo
Trái tim là chiếc đũa thần
Hoàn cảnh là nắng gió.
Phạm Duy đi trên phố Bolsa
Gặp một người Mỹ già
Gật đầu chào nhau
Như với một gã Tàu xa lạ.
Phạm Duy đi trên đường Hà Nội
Chợ Xuân đào và gió Xuân ca
Người hàng xóm nửa thế kỷ xưa
Nhận ra nhau và chào:
-Ông đã về và đã tới!
Trần Văn Khê đi trên phố Paris
Gặp một bà đầm già:
-Chào người châu Á
Sông Seine xanh bóng người xa lạ.
Trần Văn Khê đi giữa phố Sàigòn
Khô nai, khô cá thiều và chợ Tết rất đông
Gặp ông Bảy đờn cò
-Chào Thầy! Nhạc Việt trời Tây thuở nọ
Hai cụ dắt nhau đi tới phố Huế
Vô tư, tóc trắng, da mồi
Gặp chị Bộ đội và bà Bán Xôi cũng vô tư, da mồi, tóc
trắng.
Ai hỏi trong nửa lời câm lặng:
Khi hết tuần trăng,
Bóng tối lại về!
Nghe nói ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đã về Việt Nam nhiều
lần và trong đại hội Phật Giáo Quốc Doanh cũng có mặt ông “tiến sĩ Bác Hồ”
này.
*
Năm ngoái, nhiều người rất ứa gan khi đọc bài viết “Oan
Khuất Mậu Thân -Cần Một Lời Xin Lỗi” của ông “Tiến sĩ Bác Hồ” này.
Xin mời đọc giả đọc một trích đoạn trong bài viết:
“Cuộc tàn sát ấy đã được (hay bị) nhìn và
lý giải dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Ta cũng như Tây, nhưng cho
đến hôm nay vẫn còn là nỗi oan khuất.
Khi “sự cố đã thành cố sự” chứng tích lịch sử đã trả
về cho sự phán xét công bằng của lịch sử như Lò Giết Người Holocaust ở Đức, Ngục
Tù Lao Động Tàn Sát Gulag của Nga, Trại Tập Trung Interment Camps của Mỹ… thì
một khi biến cố kinh hoàng ấy qua đi, thế hệ kế thừa quyền lực lãnh đạo quốcgia
đời sau chỉ còn cách hành xử tương đối nhân bản - như lối hành xử mà hầu hết
các nước văn minh trên thế giới đã làm - là nhân vật hay thế lực lãnh đạo quốc
gia đương quyền cần lên tiếng chính thức xin lỗi (Official Apology) để hoá giải
oan khiên và giảm thiểu hận thù” (Hết
trích).
Đây mới đúng là luận điệu của kẻ gian chạy tội của
“tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn.
Chưa hết! Hãy nghe tiếp miệng lưỡi của kẻ gian chạy
tội:
“Riêng tại Huế, cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân đã vạch
rõ trước mắt thế giới lằn ranh rõ rệt. Giữa biến cố chiến tranh và tội ác chiến
tranh. Nhưng cũng đều là cảnh thường dân bị chết như trường hợp Thất Thủ Kinh
Đô 23-5 Ất Dậu 1885 là hậu quả của biến cố chiến tranh Sát Hại Mậu Thân 1968 (Hue
Massacre) - một mảnh trong toàn thể cuộc chiến Tết Mậu Thân (The Tet Offensive)
là vết tích của tội ác chiến tranh”.
Tên “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn này dù có ngoa
ngôn, xảo ngữ để chạy tội cho những tên đao phủ thủ Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan… thì cũng như Cao Huy Thuần chạy tội
cho “sư hổ mang” Thích Trí Quang!
Những tên này chưa bằng “tổ sư bồ đề” của chúng nó
là thiền sư Nhất Hạnh.
Ông sư “ăn chay ngủ mặn” này đã chạy tội cho bọn VC
sát nhân bằng cách đổ tội cho máy bay Mỹ dội bom sát hại 300.000 nóc gia tại
thị xã Bến Tre chỉ vì 7 du kích núp buội tre bắn máy bay Mỹ!
Gian trá, xảo quyệt, lưu manh rất mực như ông thiền
sư này mà còn bị VC nó dụ dỗ giựt cả một cái “Làng Mai” đã phải dẫn vợ bỏ của
chạy lấy người.
Bọn “tiến sĩ Bác Hồ” cỡ như Cao Huy Thuần, Trần
Kiêm Đoàn mà nhằm nhòi gì.
*
Sở dĩ có bài viết có cái tựa “‘BÊN THẮNG CUỘC’ VẠCH
MẶT TRẦN KIÊM ĐOÀN” vì mấy ngày qua đài RFA, báo Người Việt với mấy ông giáo
sư Đại học, nhà báo, nhà thổ “TAI TO, MAT LON” ở trong nước lẫn hải ngoại mở
hết volum ca tụng, quảng cáo sách “Bên Thắng Cuộc” của ông nhà báo VC Huy Đức
quá cỡ thợ mộc. Nhà văn Đỗ Văn Phúc bèn tìm đọc và phát giác ông Tiến
sĩ Trần Kiêm Đoàn là VC thứ thiệt, chứ không phải là Việt gian.
Bằng chứng như sau:
“Ở Huế, chiều ngày 21-9-1975, Hiệu phó kiêm Bí thư Đoàn
trường Nguyễn Tri Phương Trần Kiêm Đoàn 130 được Thành đoàn Huế giao phối hợp
với Đoàn trường Đồng Khánh, dẫn 200 đoàn viên theo cửa Thượng Tứ vào Đại Nội.
Trước khi đi, Thành Đoàn ra lệnh: "Chuẩn bị khăn gói, thức ăn ba ngày, sẵn
sàng chiến đấu”. Ông Đoàn kể: Tụi tui hồi hộp: Mỹ quay lại hay binh lính
Sàigòn nổi dậy? Tới 3 giờ sáng mới hay tin sáng mai đổi tiền. Khi ấy tôi còn
trẻ, hào hứng với những cái mới nên nghe nói 1 đồng tiền mới giá trị bằng 500
đồng tiền cũ cũng có cái gì đó tự hào. Sáng ra vẫn tả xung hữu đột đôn đốc đoàn
viên hoàn thành nhiệm vụ”.
Nhưng tới trưa, theo ông Trần Kiêm Đoàn: "Đi
đâu cũng thấy dân kêu gào thất vọng. Ba giờ chiều, tôi tranh thủ về nhà, thấy
vợ ngồi thẩn thờ, nước mắt lưng tròng: Anh! Mình trắng tay rồi!” Mỗi gia đình
chỉ đổi được tối đa 100 nghìn tiền Sàigòn trong khi tiền mặt trong nhà vẫn
còn tới gần 10 triệu. Không chỉ nhà ông Đoàn, nhiều gia đình buôn bán ở cửa
Đông Ba, hàng xóm của ông cũng kêu khóc.
Những người càng tin tưởng vào chế độ mới càng mất
mát lớn hơn, vì khi chiến tranh kết thúc, họ đã đào vàng lên bán, lấy vốn
kinh doanh. Ông Đoàn kể: "Tôi trở về Đại Nội. Một vị chỉ huy lực lượng đổi
tiền biết cuyện kêu lại nói:
“Muốn đổi bao nhiêu cũng được nhưng phải chia 5:5. Về
xóm coi có ai thì kêu họ đổi luôn!” Tôi về lấy tiền và móc nối với mấy người trong
xóm. Đúng là bao nhiêu cũng được thật”.
(Trích “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức,
trg 41, 42).
Trước kia, khi người ký tên Nguyễn Phi tố cáo “Trần
Kiêm Đoàn là VC nhưng vì bị vắt chanh bỏ vỏ nên bỏ chạy” trên diễn đàn điện
tử thì ông TKĐ còn chối cãi là ông Nguyễn Phi vì có thù oán với ông ta nên bịa
điều, đặt chuyện vu cáo. Nay, thì chính Huy Đức, “nhà báo lớn của VC”, là người
của BÊN THẮNG CUỘC viết ra giấy trắng mực đen. Và sách thì đang được đài Á
Châu Tự Do, báo Người Việt đã từng đăng bài sỉ nhục “QLVNCH là lính
đánh thuê” gióng trống, khua chiêng quảng cáo ầm ỉ!
Đúng là cái thảm cảnh “đảng viên VC Huy Đức” vạch mặt
“đoàn viên VC Trần Kiêm Đoàn”!
Dù sao đi nữa
(dịch ra Anh ngữ theo trường phái “Bể Dâu” là “umbrella star go more)
thì chuyện “đảng viên VC Huy Đức vạch mặt “đoàn viên VCTrần Kiêm Đoàn”
cũng còn “nhân đạo” gấp ngàn lần thời kỳ “cải cách ruộng đất” con tố cha, vợ
tố chồng còn ghi đậm nét trong mấy câu thơ của Xuân Diệu:
“Ai về Bố Hạ
Nhắn với vợ chồng thằng Thu (*)
Rằng chúng bây là lũ quốc thù!...”
LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com
(*) Bố mẹ của ông Xuân Diệu
|
Vietnam
===
=====
lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91
===
https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Tuesday, December 18, 2012
--“BÊN THẮNG CUỘC” VẠCH MẶT THẬT TRẦN KIÊM ĐOÀN
Labels:
CSVN
CON THUYỀN ĐỨC TIN
Labels:
CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI
CON THUYỀN ĐỨC TIN
HUỆ KHẢI
Thầy đưa thuyền từ ra bể
khổ để vớt vạn linh sanh chúng mà mỗi con là mỗi chơn linh trong vạn linh, mỗi
chúng sanh trong chúng sanh, chỉ khác một điều là đứa giác ngộ thì lên thuyền,
còn đứa chưa giác ngộ thì ở lại.
Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
Thiên Lý Đàn, 07-11-1965

Tại
Vatican, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã công bố Năm Đức Tin, mở màn từ ngày
11-10-2012 và sẽ khép lại vào ngày 24-11-2013. Tính từ lễ Giáng Sinh năm nay trở
đi thì thời gian còn mười một tháng nữa. Năm Đức Tin ra đời trong hoàn cảnh
nhân loại đang khủng hoảng đức tin!
Biểu tượng của Năm Đức Tin là một hình vuông, bên
trong là con thuyền đang lướt sóng. Con thuyền tượng trưng cho Giáo Hội Công
Giáo. Góc trái trên hình vuông là một vòng tròn tượng trưng Thánh thể (the
Eucharist), làm nền cho cột buồm là thánh giá với cánh buồm no gió được tạo
hình bằng ba chữ cái IHS lồng vào nhau. IHS viết tắt từ Iesus (Jesus)
Hominum Salvator, có nghĩa: Đức Giêsu Đấng Cứu Độ Loài Người.
Tôi thấy biểu tượng này rất gần gũi với giáo lý nhà Phật
và Cao Đài.
Trước hết, giáo lý nhà Phật và Cao Đài quan niệm đời
là biển khổ, con người là những chúng sanh đang lặn hụp, chìm đắm trong biển khổ
do tham dục, sân si… Tôn giáo là con thuyền cứu vớt chúng sanh chở vào bến bờ
giải thoát. Do đó mà cũng nói là cứu độ, vì độ là chở qua sông qua biển
đưa sang tới bờ bên kia.
Qua tới bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) tức là paramita
(ba la mật đa). Trí huệ bát nhã (prajna) hay bát nhã ba la mật đa (prajna
paramita) giúp con người đoạn lìa tham dục, sân si mà đến chỗ giải thoát.
Cho nên trí huệ bát nhã được hình tượng hóa là con thuyền cứu độ người đời
thoát ra khỏi biển khổ. Trong đạo Phật và Cao Đài có thuật ngữ thuyền bát
nhã, phương Tây dịch là prajna boat. Con thuyền này cũng gọi khác đi
là từ hàng. Hàng là con thuyền; từ là từ bi, tấm lòng thương xót của các
Đấng giáo chủ đau đáu lo cứu khổ nạn đời. Kinh Phật và Cao Đài có nhắc tới Đức Từ
Hàng Bồ Tát, phương Tây dịch là Mercy Boat Bodhisattva.
Tóm lại, con thuyền trong biểu tượng Năm Đức Tin cũng
là con thuyền bát nhã hay chiếc từ hàng; ngọn sóng đáy thuyền là sóng nước biển
khổ trần gian. Những hình ảnh này rất truyền thống, rất quen thuộc trong đạo Phật
và Cao Đài. Vòng tròn làm nền cho cánh buồm là hình ảnh mặt trời. Tôi nghĩ đến
hai câu mở đầu một bài kinh nhật tụng trong đạo Cao Đài:
Biển trần khổ vơi vơi trời nước
Ánh thái dương giọi trước phương Đông…
Mặt trời (thái dương) mọc ở phương Đông nghĩa là bình
minh xuất hiện, xóa tan màn đêm hắc ám. Nói khác đi, ánh sáng đạo pháp xuất hiện,
xóa tan tội lỗi và đau khổ của chúng sinh.
Con thuyền trong biểu tượng Năm Đức Tin khiến tôi nhớ
tới một dụ ngôn lý thú được phổ biến trên Internet mấy năm gần đây:
Có anh nọ không kịp chạy lũ bèn leo lên mái nhà ngồi.
Nước càng lúc càng dâng cao. Sợ hãi, anh thành tâm chắp tay cầu xin Chúa cứu
giúp. Chúa nhậm lời.
Thế là từ đâu có mảng bè đi tới. Người trên bè gọi anh
mau xuống bè thoát thân. Anh từ chối, nói Chúa sẽ đến cứu chứ không phải mảng
bè này.
Mảng bè đi mất. Lúc sau, nước dâng cao hơn, ngập hơn nửa
tường nhà. Chúa cứu anh lần thứ hai. Thế là từ đâu bỗng có chiếc thuyền nan đi
tới. Người trên thuyền gọi anh mau xuống thuyền thoát thân. Anh vẫn từ chối,
nói Chúa sẽ đến cứu chứ không phải thuyền nan này.
Thuyền nan đi mất. Lúc sau nữa, nước dâng cao hơn, ngập
sát mái nhà. Chúa cứu anh lần thứ ba. Thế là từ đâu bỗng có chiếc thuyền tam bản
đi tới. Người trên thuyền gọi anh mau xuống thuyền thoát thân. Anh vẫn cứ từ chối,
nói Chúa sẽ đến cứu chứ không phải chiếc tam bản này. Rốt cuộc, nước ngập nóc
nhà và dìm chết nạn nhân.
Các chánh pháp là những con thuyền cứu độ loài người.
Nhưng nếu con người không có đức tin vào chánh pháp, không tin vào ơn cứu độ của
Chúa, của Trời Phật, họ đâu chịu bước lên thuyền!
Giữa cơn khủng hoảng đức tin của nhân loại hiện thời,
xin cầu nguyện sẽ có muôn vạn con người sớm mở lòng đón nhận ơn cứu độ mà mau
chân nhanh gót tìm cách bước lên thuyền.
01-12-2012
HUỆ KHẢI
MỘT VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Labels:
CSVN
MỘT VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Dân Tạng vẫn tiếp tục biểu tình và tự thiêu. Số này xin tiếp tục kỳ trước. Thế giới tự hỏi tại sao lãnh đạo Bắc Kinh chai đá, vô cảm đến như thế! Dăm ba người tự thiêu đã đủ làm chấn động dư luận quốc tế, nay đã lên con số 94 mà Bắc Kinh bên ngoài vẫn dửng dưng.
Dân Tạng vẫn tiếp tục biểu tình và tự thiêu. Số này xin tiếp tục kỳ trước. Thế giới tự hỏi tại sao lãnh đạo Bắc Kinh chai đá, vô cảm đến như thế! Dăm ba người tự thiêu đã đủ làm chấn động dư luận quốc tế, nay đã lên con số 94 mà Bắc Kinh bên ngoài vẫn dửng dưng.
Các ông Ba Đỏ có lý do: nếu nhượng bộ
Tây Tạng - Đông Tạng, Du Ngô Nhĩ Tân Cương sẽ ào ạt theo dân tộc Tạng, Nội Mông
(Inner Mongolia) kể cả dân tộc Choang (15 triệu) dân tộc Khách gia tức Hakkas
(Việt tộc), sẽ kiên quyết không chịu Hán hóa văn tự. Năm 2011, Bắc Kinh đã toan
bỏ tiếng Quảng Đông nhưng phải ngưng ngay để Quảng Đông tiếp tục nói tiếng Quảng
Đông.
Văn tự ngôn ngữ Tạng là cốt tủy của Phật giáo ngữ hệ Tạng. Phật giáo Tạng là sợi dây vô hình kết nối với dân tộc Mông Cổ, Nội Mông thuộc Tàu và Cộng hòa Mông Cổ. Ngôn ngữ Tạng cũng là giải đồng tâm nối kết với dân tộc Miến Điện qua hệ ngữ Tạng Miến, ấy là chưa kể nối kết với các dân tộc theo Phật giáo dưới chân Hy Mã Lạp Sơn.
Văn tự ngôn ngữ Tạng là cốt tủy của Phật giáo ngữ hệ Tạng. Phật giáo Tạng là sợi dây vô hình kết nối với dân tộc Mông Cổ, Nội Mông thuộc Tàu và Cộng hòa Mông Cổ. Ngôn ngữ Tạng cũng là giải đồng tâm nối kết với dân tộc Miến Điện qua hệ ngữ Tạng Miến, ấy là chưa kể nối kết với các dân tộc theo Phật giáo dưới chân Hy Mã Lạp Sơn.
Giả dụ Tập Cận Bình dù có ý hòa hoãn với Đức Lạt Ma cũng là điều Bắc Kinh
cho là "tối nguy hiểm": do ảnh hưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma quá lớn từ
Cộng hòa Mông Cổ đến Nội Mông, dân thiểu số Tạng ở Tây Hoa Lục từ các tỉnh Cam
Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải.
Phật giáo Tây Tạng sớm phát triển, năm 775 xây tu viện
Tang Duyên (Sa Mye), Phật giáo thành quốc giáo Tây Tạng, bắt đầu thành lập Tăng
già, vẫn dựa vào căn bản Đại thừa của các Đại sư Long Thụ và Vô Trước.
Huyền bí mà rất khoa học so với khoa
học hiện đại. Tu tập đến bậc Ge-She như hòa thượng của Phật giáo Tàu và Việt,
giống như bậc Tiến sĩ của Hội thánh Công giáo, phải thấm nhuần Bát Nhã, Trung
giáo luận, Nhân minh hoặc Lượng học tức Vinaya. Đạt Lai Lạt Ma là danh hiệu tối
cao.
Vào năm 1257, vua Mông Cổ phong cho một Đại sư phái Hoàng giáo (Gelugpa)
là Đạt Lai Lạt Ma có nghĩa là Đại sư "với trí tuệ như biển cả". Đạt
Lai Lạt Ma thứ nhất viên tịch, ngài lại thác sinh vào một em bé nào đó, tâm hồn
xác thâncòn nguyên sơ, hoá thân thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 2.
Kể từ năm 1617, Đạt Lai Lạt Ma
trở thành Đại sư lãnh đạo tinh thần của nước Tây Tạng. Đến Đạt Lai Lạt Ma thứ 5
tức ngài Thương Ưng Gia Mục Thổ, vị Đạt Lai này được vua Khang Hy (1661-1723),
nhà Mãn Thanh thống trị Trung Hoa, phong cho tước Vương, nhận làm chư hầu và
triều cống Bắc Kinh, còn nội chính hoàn toàn tự trị cho đến năm 1912.
Thời nhà
Nguyên tức Mông Cổ thống trị Trung Hoa, gần 100 năm, dân thiểu số gọi là Sắc Mục
được ưu đãi đặc biệt. Vua Hốt Tất Liệt tức Khoubilai (1260-1294), hai lần xâm
lăng VN để tiến xuống ĐNA bị quân dân Đại Việt đánh tan, Thái tử Thoát Hoan chạy
chết về Tàu, bị lột ngôi Thái tử và đày ra Viễn châu với lời dặn "vua cha
chết cũng không được về Bắc Kinh thọ tang".
Đặc biệt Hốt Tất Liệt rất ưu
đãi Phật giáo Tây Tạng (bấy giờ còn ngôi vua Tây Tạng). Hốt Tất Liệt chia xã hội
Tàu làm 10 giai cấp:
1. Quan lớn triều đình (người Mông Cổ);
2. Quan nhỏ địa
phương;
3. Lạt Ma, thầy tu Tây Tạng ...
Giai cấp thứ 8 là gái giang hồ, ca nhi;
thứ 9 là Nho sĩ, vốn là giai cấp đứng đầu trong xã hội Tàu "sĩ, nông,
công, thương"; thứ 10 là ăn mày. Nho sĩ đứng sát với ăn mày. Đây là thời kỳ
hoàng kim của các Lạt Ma Tây Tạng.
Phật giáo Tây Tạng rất uyên bác, huyền diệu, gần như thần bí, nhất là về chú thuật, thuật luyện kim thần bí (Đại sư Long Thọ), trí năng và quyền lực, Bát nhã đối với Thần quyền, rất khoa học như vật lý hiện đại qua biểu tượng không gian, màu sắc, đức tính của tâm, yếu tố cử chỉ, nhất là về Om và Hum, kinh nghiệm và biểu tượng siêu hình.
Mênh mông lắm, như "Thiền định, thực tại của sáng
tạo, vật chất nguyên sơ, cơ bản về "ma lực của lời nói" mà Thiên Chúa
giáo gọi là Ngôi Lời với sức mạnh của ngôn ngữ. Chỉ Tạng ngữ mới thấm sâu, thấm
thuần được tinh hoa tính lý của Phật giáo Tây Tạng.
Đảng CS Tàu quyết tiêu hủy Tạng ngữ, thật là tội ác của nhân loại, văn minh văn hóa của loài người.
Đảng CS Tàu quyết tiêu hủy Tạng ngữ, thật là tội ác của nhân loại, văn minh văn hóa của loài người.
Nói về tâm linh, hơn 90 Phật tử Tây
Tạng tự thiêu để bảo vệ Phật pháp và Tạng văn, Tạng ngữ sẽ là ngọn đuốc thần, sẽ
có một ngày không xa sẽ tiêu hủy ĐCS Tàu. Chính ĐCS Tàu đang bên bờ vực thẳm tự
diệt. Chú của Phật giáo Mật Tông Tây Tạng rất cao siêu thần bí (Zhou). Rồi có một
ngày các bạo chúa sẽ tiêu tan với câu thần chú của các đại sư mà Đức Phật sống
Đạt Lai Lạt Ma tinh thông quán triệt.
Chú cũng là tâm hướng về một mục
tiêu khác do sự tri niệm Đà La Ni, Mạt Đà La (trong kinh Đại thừa Mật Tông).
HNV có một người bạn cũ Tây Tạng hồi còn học ở Georgetown, ân cần gởi tặng tác
phẩm của Đức Đạt Lai Lạt Ma "An open heart - practicing compassion every
day life". Lý thú quá, với chương "The desire for happiness"
(pp. 29-41) và nhất là chương thế giới vật chất và phi vật chất "the
material and immaterial world" (op. cit, pp. 57-80).
Cao siêu, khoa học mà lại đơn giản dễ
hiểu. Ngâm nga qua nhiều ngày đọc Open heart của Đức Đạt Lai Lạt Ma, HNV tôi thấy
tâm hồn càng thêm thanh thản và chợt nghĩ rằng, Đức Giáo Hoàng Phaolô II và
Ngài Đạt Lai Lạt Ma như anh em một nhà, cả hai Ngài đều là vĩ nhân của thời đại.
Đức Gioan Phaolô II đã đóng góp công sức cao như núi non trong sức mạnh thần
thánh làm sụp đổ Cộng sản Đông Âu và Liên Xô. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã và đang là
sức mạnh thần thánh sẽ xô đẩy chế độ CS Tàu xuống vực thẳm của quả báo nhãn tiền.
HÀ NHÂN VĂN
HÀ NHÂN VĂN
Dạ tiệc quỷ và ước mong diệt lũ ma cà rồng
Labels:
CSVN
15/12/12
| Tác giả: Uyên Thao
Dạ tiệc quỷ và ước
mong diệt lũ ma cà rồng
Dạ Tiệc Quỷ là tác phẩm bị cấm xuất bản tại Việt Nam, đã được tác giả trao cho Tủ Sách Tiếng Quê Hương để giới thiệu với bạn đọc hải ngoại. Tác phẩm vẽ lại cuộc sống đọa đày trong vô vàn thảm cảnh đau đớn kinh hoàng suốt gần một thế kỷ qua với hình ảnh tập thể cầm quyền là một lũ ma cà rồng chuyên hút máu và người dân vừa lọt lòng mẹ đã bị biến thành những oan hồn để mang kiếp phận con ếch mắc nghẹn giữa họng rắn.
Dạ Tiệc Quỷ sẽ được Tủ Sách Tiếng Quê Hương phát hành trong mùa Xuân Qúy Tỵ 2013.
Nhà văn Võ Thị Hảo
Bút danh Võ Thị Hảo trở nên quen thuộc không chỉ do thái độ bất khuất trước các hiểm họa đe dọa cuộc sống an lành của con người mà còn qua các sáng tác văn học độc đáo từ tố chất nội dung tới phong cách nghệ thuật.
Võ Thị Hảo sinh ngày 13 tháng 4 năm 1956 tại nguyên quán Diễn Bình, huyện Diễn Châu, Nghệ An, từ năm 1973 là sinh viên Văn Khoa Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp năm 1977, Võ Thị Hảo tham gia sinh hoạt báo chí với các vai trò biên tập viên, phóng viên, trưởng văn phòng đại diện, trưởng ban thư ký biên tập. Năm 2002, Võ Thị Hảo đứng vị trí và làm công việc phó tổng biên tập tại một tờ báo, nhưng từ chối gia nhập Đảng Cộng Sản để được thăng chức nên sau đó đã từ bỏ tờ báo này.
Năm 1989, Võ Thị Hảo khởi sự góp mặt trong dòng văn học nghệ thuật với các sáng tác ngắn đăng tải trên báo. Năm 1992, tác phẩm đầu tay Biển Cứu Rỗi được xuất bản và Võ Thị Hảo mau chóng xác định vị thế trong làng văn. Tới nay, Võ Thị Hảo đã xuất bản gần 20 tác phẩm gồm hầu hết là truyện ngắn, ba kịch bản phim truyện và cuốn tiểu thuyết dã sử Giàn Thiêu.
Dị sắc hiển lộ của nghệ thuật sáng tác Võ Thị Hảo là cách ly với vùng trời nghệ thuật từng bao trùm sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam từ thập niên 1930 mà nét đặc trưng có thể tóm gọn theo một phát biểu trước đây của Nhất Linh : Hai tiêu điểm trong nghệ thuật văn chương là đơn giản và trong sáng.
Hai tiêu điểm đơn giản, trong sáng là đòi hỏi mà người sáng tác văn học không chỉ riêng tại Việt Nam theo đuổi, và đã khởi từ nhiều thế kỷ trước so với cột mốc văn học Việt Nam 1930. Cho tới thời điểm hiện nay, hai tiêu điểm này vẫn chưa rời vị trí chủ đạo, bất kể qua nhiều đoạn đường thời gian từng xuất hiện không ít người nỗ lực mở ra những khung trời nghệ thuật với các đặc trưng mới.
Võ Thị Hảo là một tác giả trong đội ngũ cầm bút chia xẻ ý hướng này.
Qua các tác phẩm Võ Thị Hảo, hai tiêu điểm đơn giản và trong sáng đã nhường chỗ cho hai tiêu điểm sáng tạo và súc tích. Bất kỳ người đọc nào đến với tác phẩm Võ Thị Hảo cũng dễ dàng nhận ra dị sắc này — từ cách vận dụng ngôn từ đến cách nối kết tình tiết, cách tạo dựng nhân vật và bố cục nội dung. Đây là một ưu điểm biểu hiện tinh thần sáng tạo không ngừng, nhưng cũng chính là một trở ngại cho những ai quen tìm cảm giác hưởng thụ nhẹ nhàng với việc đọc sách.
Dưới ngòi bút Võ Thị Hảo, không chỉ thứ lớp thời gian, không gian bị đảo lộn, không chỉ ranh giới giữa thực tại và hư ảo bị xóa nhòa, không chỉ xuất hiện các nhân vật đang trần trụi bỗng trở thành huyền hoặc mà ngay chính mỗi ngôn từ cũng chứa đựng nhiều tầng ẩn nghĩa. Người đọc không thể giữ nguyên cảm giác thoải mái với những bước chân dạo nhẹ bên các khóm hoa dọc theo một lối mòn phẳng phiu êm ả mà buộc phải vận động trí não tối đa để định hướng như khi lạc giữa một chặng đường ngổn ngang chướng ngại. Nếu từng làm quen với tác phẩm Kafka, hay gần đây hơn, với tác phẩm Herta Muller, dị sắc này có thể không gây bất ngờ, nhưng nếu chưa từng rời xa vùng trời quen thuộc của những Khái Hưng, Nhất Linh… hẳn khó tránh ngỡ ngàng trong giây phút đầu bước vào thế giới nghệ thuật Võ Thị Hảo.
Tuy nhiên, dị sắc nổi bật trong thế giới nghệ thuật Võ Thị Hảo chính là nội dung do các tác phẩm chuyển đạt. Qua mọi đề tài, Võ Thị Hảo gần như luôn gắn chặt hướng nhìn vào cuộc sống trước mắt.
Khi kể lại chuyện từ nhiều thế kỷ trước, tác phẩm Võ Thị Hảo vẫn gợi nhắc người đọc về các cảnh ngộ thực tế đang diễn ra với những trầm luân oan nghiệt, những khắc khoải bi thương … khiến dồn dập xô lên những đợt trào cảm xúc nghẹn ngào, phẫn nộ …
Cũng tương tự, dù chỉ kể lại một chuyện tình của tuổi học trò hay kể lại cảnh ngộ những cô gái phải vùi lấp tuổi thanh xuân trong một xó rừng hoang giữa sự dày vò của những cơn khát thèm vô phương giải tỏa… luôn vang vọng tiếng gào uất ức về những tàn khốc, những bỉ ổi của một cõi sống u mê vô cảm, tởm lợm kinh hoàng.
Trong cõi sống đó, nhung nhúc những con người mang mọi thứ màu sắc, được tô điểm bằng mọi thứ mỹ từ chen chúc giữa hằng hà sa số con người đã hóa dạng oan hồn ngay khi vừa cất tiếng khóc chào đời để dựng nên một thế giới tràn ngập cảnh tượng điên rồ man rợ với mức độ hoang dại, hung ác vượt xa cả nếp sống của mọi loài dã thú — một cõi sống không những tước đoạt hết thẩy nhu cầu sống tối thiểu của con người mà còn cuồng nhiệt xô đẩy con người biến thành quỷ dữ…
Đó chính là cuộc sống kéo dài trên đất nước Việt Nam từ gần một trăm năm trước tới nay.
Qua ấn tượng của từng tình tiết trần trụi hoặc mơ hồ, của giọng kể lạnh băng như giễu cợt, như mỉa móc nhưng chứa đầy uất nghẹn, của từng ngôn từ sắc như một nhát chém hoặc dịu ngọt như một lời thơ mang nhiều tầng ẩn dụ, Võ Thị Hảo luôn cho thấy nỗi đau đớn cùng cực và lòng phẫn hận cuộc sống đã buộc nhiều thế hệ hiền lương phải từ bỏ thân phận con người để biến thành công cụ hèn mạt, nhơ nhuốc qụy lụy cúi đầu trước một bầy đồng loại hiến dâng tim óc cho ác quỷ luôn vênh váo tuyên xưng độc quyền nắm giữ cẩm nang thần bí mở cửa Thiên Đường.
Chính từ dị sắc này, tác phẩm Võ Thị Hảo đã cùng lúc mang hai hình vóc, vừa là lưỡi gươm bênh vực các thân phận bị đọa đày vừa là chướng ngại trên nẻo đường của những thiên-thần-ác-quỷ. Cho nên, ngay trong lúc tác phẩm Võ Thị Hảo được người đọc đón chờ cũng là lúc tác phẩm Võ Thị Hảo bị loại bỏ khỏi thị trường chữ nghĩa — mà thực tế đã cho thấy qua sự kiện hai tác phẩm mới nhất của Võ Thị Hảo, Ngồi Hong Váy Ướt và Dạ Tiệc Quỷ, đều bị cấm xuất bản tại Việt Nam.
Cả hai hình vóc trên không hoàn toàn cách biệt với đối tượng Võ Thị Hảo, nhưng hình thành từ một căn bản xa thẳm với căn bản không thể thiếu khi nhận định về một tác phẩm nghệ thuật nên đã thu gọn tầm nhìn theo giới hạn chủ quan do các vị thế phân lập trong cuộc sống.
Chắc chắn có thể nhìn Võ Thị Hảo như Emile Zola khi viết những trang J’accuse cuối thế kỷ 19 nếu thân phận các nạn nhân đang bị đọa đày tại Việt Nam được hình dung qua cảnh ngộ oan khiên của nạn nhân Alfred Dreyfus. Nhưng đây chỉ là cái nhìn từ một vị thế phân lập rõ ràng trong hình thức cấu thành xã hội chứ không phải cái nhìn bao trọn mối tương quan giữa con người trong cuộc sống và các tác phẩm nghệ thuật.
Với cái nhìn sau này, sẽ không hề có tương hợp giữa tâm cảnh Emile Zola và tâm cảnh Võ Thị Hảo khi cầm bút.
Cây bút trong tay Emile Zola với J’accuse đúng là lưỡi gươm ngăn chống bạo quyền, che chở nạn nhân bị dày xéo nên tâm cảnh người viết khó vươn khỏi mối ưu tư về diễn biến một trận đấu hay một cuộc chiến. Emile Zola cảm thông với nỗi đau của nạn nhân để bất bình, phẫn nộ nhập cuộc nên dù bị dồn ép bởi không ít đòn thù vẫn không gánh chung nỗi đau của chính nạn nhân, không bao giờ phải nhận chịu những đắng cay, uất nghẹn nối tiếp trút xuống thân phận nạn nhân.
Tiếng nói cất lên từ ngòi bút Emile Zola là tiếng nói từ con tim nhân ái, từ tinh thần nghĩa hiệp, tiếng nói của người tự chọn vị trí trên một trận tuyến đã phân ranh để ngăn chặn các thế lực bạo ngược bóp nghẹt quyền sống của các nạn nhân cô thế. Từ đây, tiếng nói dù xót xa, dù bất bình, dù phẫn nộ vẫn sang sảng âm vang toại nguyện do sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nghèo để bảo toàn nhân cách của con người đúng nghĩa con người. Dù bị đặt vào cảnh huống chông gai cùng cực, gian khổ trăm bề, tiếng nói vẫn mang giọng ngạo nghễ biểu hiện một khí phách can trường thản nhiên nhìn mọi khó nguy chỉ là các thách thức tất yếu.
Trong khi đó, cây bút trong tay Võ Thị Hảo cất lên tiếng nói không khởi từ một chọn lựa tự nguyện, cũng không nhắm kháng cự một tai ách xa vời với chính bản thân. Bởi cõi sống bao trùm toàn bộ nội dung chuyển đạt từ tác phẩm Võ Thị Hảo là cõi sống của chính bản thân Võ Thị Hảo. Trong cõi sống đó, con người ngay từ thuở lọt lòng mẹ đã hóa dạng oan hồn. Trong cõi sống đó nhung nhúc ác quỷ. Trong cõi sống đó. “mỗi người đều là một món ngon trên bàn tiệc quỷ.” Và, chính bản thân Võ Thị Hảo cũng là một món ngon trên bàn tiệc quỷ trong cõi sống đó. Cho nên, cây bút trong tay Võ Thị Hảo không hề là thanh gươm nghĩa hiệp mang sứ mệnh diệt bạo trừ gian bênh vực các nạn nhân cô thế mà chính là khí giới cuối cùng của một nạn nhân chỉ luôn “muốn nhảy ra khỏi bàn tiệc” như Võ Thị Hảo từng phát biểu.
Có thể bảo tâm cảnh Võ Thị Hảo tương hợp phần nào với tâm cảnh Eduard Dekker, ít nhất qua ý nghĩa bút danh Multatuli — người gánh nhiều đau khổ — ký trên tác phẩm Max Havelaar của nhà văn Hà Lan này.
Tương hợp thứ nhất là Eduard Dekker kiên cường cáo giác một chế độ chính trị bất nhân đã thi thố mọi hành vi bóc lột tàn nhẫn đối với những con người yếu đuối đang bị áp đặt trong vòng kiềm tỏa hung bạo của nó. Tương hợp thứ hai là chính bản thân Eduard Dekker cũng bị chế độ chính trị bất nhân đó vây hãm hành hạ khi lên tiếng đòi hỏi phải tôn trọng sự sống và nhân cách của con người.
Nhưng mức tương hợp chỉ dừng tại đó do khác biệt giữa vị thế xã hội của Eduard Dekker giữa thế kỷ 19 và vị thế xã hội của Võ Thị Hảo trong thời điểm hiện nay. Vì nạn nhân trực tiếp của chế độ thực dân Hà Lan giữa thế kỷ 19 là những con người không chung màu da, không chung huyết thống với Eduard Dekker và Eduard Dekker chỉ trở thành đối tượng bị xua đuổi, bị ngược đãi khi chọn thế đứng đối đầu với các tập đoàn thống trị do không chấp nhận vỗ tay tán trợ tội ác. Hiển nhiên Eduard Dekker vẫn là một người tự chủ trong quyết định chọn lựa số phận cho chính mình. Vì thế, để đạt một so sánh chính xác, chỉ có thể đặt Eduard Dekker vào vị thế trung gian giữa trang hiệp sĩ Emile Zola và nạn nhân Võ Thị Hảo đang bị tước đoạt mọi quyền sống bẩm sinh tối thiết của con người.
Khi nhìn lại cảnh ngộ bản thân, Võ Thị Hảo từng tâm sự vẫn may mắn hơn nhiều đồng hội đồng thuyền. Nhưng trên thực tế, Võ Thị Hảo cũng thiếu may mắn vô cùng so với chính những người đó.
Lý do đơn giản là Võ Thị Hảo sống với nghiệp văn trong khi tương quan giữa văn chương và thực tế cuộc sống luôn gắn kết như keo sơn. Từ đây, thân phận nạn nhân Võ Thị Hảo không thu gọn trong cuộc sống bản thân mà tất yếu bao trùm mọi thân phận nạn nhân. Thêm nữa, nếu thực tế như một vạc dầu địa ngục hực lửa thì mọi nạn nhân chỉ bị thiêu đốt một lần trong khi người sống với nghiệp văn không bao giờ ngừng bị thiêu đốt. Mỗi nạn nhân chỉ gánh chịu nỗi đau trong khoảnh khắc thân xác giãy giụa giữa ngọn lửa cực hình còn người sống với nghiệp văn sẽ phải kéo dài nỗi đau giãy giụa trước mọi ngọn lửa cực hình nối tiếp thiêu đốt vô vàn thân xác. Khắc nghiệt hơn là ngọn lửa cực hình thiêu đốt mỗi nạn nhân không bao giờ ngừng thiêu đốt tâm não người sống với nghiệp văn kể cả khi ngồi trước bàn viết.
Cho nên, dù tác phẩm Võ Thị Hảo có thể mang nét tương hợp với các hành vi tiêu biểu bởi những tên tuổi lẫy lừng như Emile Zola, như Eduard Dekker, dù giọng kể Võ Thị Hảo có thể như lạnh lùng giễu cợt, thế giới nghệ thuật Võ Thị Hảo vẫn chỉ hiển lộ dị sắc là tiếng gào thất thanh, bi thống của những nạn nhân vẫy vùng tuyệt vọng cho mong ước thoát khỏi cảnh sống của thú hoang, của ma quái, của ác quỷ mà guồng máy bạo quyền vô cảm đang tạo dựng bằng mọi giá.
Với tác phẩm Dạ Tiệc Quỷ, dị sắc này càng được tô đậm thêm.
*
Võ Thị Hảo viết xong Dạ Tiệc Quỷ cuối năm 2006, gồm 22 chương nhưng sau nhiều lần chỉnh sửa đã rút lại thành 20 chương.
Tác phẩm mở đầu bằng những tiếng rú và hình ảnh sau:
“Cái thây người treo lủng lẳng bằng sợi thừng bện lông lợn đen xỉn thõng thượt lệt quệt sát đất.
Phía trên, nút thòng lọng thít chặt lấy chiếc đòn tay gỗ xoan.
Mặt người xấu số bị mớ tóc xổ tung che phủ.
Mớ tóc dài chấm đất, óng mượt, phản chiếu những tia mặt trời đầu tiên phun xói qua những kẽ lá của rặng cây. Nắng hồng như máu loãng.
Đôi chân như dợm bước lên trời.”
Đó là Phượng, người con gái nổi tiếng đẹp của ông Cử, đã theo gương mẹ, tự kết thúc đời mình bằng sợi thừng thắt cổ do sự đổi đời mở ra từ cuộc Cải Cách Ruộng Đất mà cuối năm 1956, Hồ Chí Minh đã ca ngợi là “chiến thắng vĩ đại” đạt được bằng các hoạt cảnh tiêu biểu như giây phút cuối đời ông Cử dưới ngòi bút Võ Thị Hảo:
“Đã khá lâu rồi ông Cử không cần mặc quần.
Vì đã là linh hồn thì đâu cần quần áo.
Linh hồn chỉ trần truồng mà bay.
Ông Cử đã sang thế giới bên kia.
Tiễn đưa ông Cử sang thế giới bên kia, là một chiếc cọc. Ba sợi thừng chuyên trói chó để cắt tiết. Một sợi thừng chuyên buộc lợn vào thang mà thiến… Kèm thêm là một loạt đạn trong nòng súng kíp tự chế.
Rộn ràng hơn, thêm ba nhát cuốc mẻ và mười bảy nhát vồ đập đất.
Để cho vỡ nát đôi mắt thảng thốt.
Cho vỡ nát cả cái uất hận đang đọng lại dưới tròng mắt mở chong chong.”
Với giọng kể khô khốc như dửng dưng cay độc, Võ Thị Hảo đã dựng lại các chi tiết khiến nhân vật ông Cử trở thành tử tội và vạch mặt những kẻ nhân danh cách mạng, nhân danh công lý để trà đạp con người:
“… Ông Cử từng dạy học, từng làm thơ, từng cho thuốc cải tử hoàn sinh cả ngàn mạng người trong xứ, đã bị loạt đạn tự chế của con ông cu Cáy nhồi vào nòng súng làm nổ tung.
Ông cu Cáy trước đây đã được ông Cử cứu mạng trong trận đau bụng bão. Đau đến mức cắn đất cắn sỏi, bò lê bò càng trên mặt đất. Chỉ còn nước bó chiếu đem chôn. Thế mà ông Cử cứu được …
Chuyện đó cũng đã lâu rồi. Nay thì viên đạn của con ông cu Cáy đã xuyên qua đầu, làm tinh óc ông Cử trắng hồng phọt ra ruộng mạ. Óc ông Cử làm bữa tiệc cho lũ giun đất và sâu bọ.
Linh hồn ông Cử lên trời…..
Để lại thê tử, chiếc cọc và dây trói, chiếc cuốc mẻ lưỡi và những chiếc vồ đập đất bết máu.
Để lại những vỏ đạn, ngôi nhà, đồ đạc, của cải và những bộ quần áo bằng lụa nõn, lụa tía quý phái.
Những thứ ông Cử để lại thì không ế…”
Những thứ ông Cử để lại có vợ ông và con gái ông, Phượng.
Bà Cử đã nhờ sợi thừng thắt nghẹt cần cổ để được tức khắc theo chồng.
Riêng Phượng trở thành vật sở hữu của lão đánh dậm đang nắm quyền uy tuyệt đối đã ra lệnh diệt trừ ông Cử và chiếm trọn gia sản nạn nhân. Rồi Phượng cũng theo con đường của mẹ nhờ một sợi thừng sau khi cho chào đời một bé gái mà cô đặt tên là Miên nhưng lão Dậm chỉ cho gọi là Tép để tránh dấu tích tư sản.
Bé gái đó là nhân vật chính của tác phẩm Dạ Tiệc Quỷ cuối cùng đã bị trói vào cây cọc giữa pháp trường để lãnh một loạt đạn như người ông ngoại thuở nào.
Nhưng Phượng đã hiện hình trở lại trong vai chủ nhân một dạ tiệc và tái hội mẹ cha.
“Phượng mở mắt, ngẩng đầu nhìn. Đằng kia có một luồng sáng hình trăng lưỡi liềm đang bay tới. Nhìn kỹ, hoá ra đó không phải trăng lưỡi liềm mà là một người đàn ông, lưng dài, ngón tay dài, móng thon ba tấc, đôi mắt sâu, hiền minh chập chờn trên một cái đầu đã bị đập vỡ nát. Phượng đau đớn:
- Cha ơi! Mẹ ơi! Con không mở tiệc này cho cha và mẹ. Con nghĩ hai người đã lên Niết Bàn rồi. Con mở tiệc này cho những oan hồn bị buộc trở thành loài quỷ ……
Ông Cử lại cười:
-Ta biết ta biết.… Mà này, con chết đi nguyện làm giống quỷ. Ngược đời là giống quỷ thời này lại cứu rỗi giống người.
- Cha biết tại sao mà…
- Ta biết, con ạ. Vì đã quá lâu rồi người lương thiện và trung thực không có quyền sống trên mảnh đất hình chữ S này. Họ hoặc bị tù đày, hoặc bị buộc phải lưu manh hóa để sống, hoặc phải chết đi trong oan ức mà làm giống quỷ. Trên Niết Bàn bây giờ Phật đang băn khoăn nghĩ xem giống Người thực sự là cái gì. Vì loài ma cà rồng đã chiếm chỗ trên dương thế. Chúng ngang nhiên tự phong mình là thánh, là thiên thần và gọi những người lương thiện là Quỷ…”
Buổi dạ tiệc đó có mặt Đứa Con Xanh là đứa trẻ sinh ra từ những tử thi chết trận và Đứa Con Vàng Nghệ là con ruột của lão Dậm đã bị chính lão giết chết rồi vùi xác dưới gầm bàn thờ trong ngôi nhà chiếm đoạt của ông Cử.
Và một cảnh ma quái đã hiện ra từ câu chuyện do hai đứa trẻ mở đầu:
“Đứa trẻ sinh ra từ những tử thi chết trận ấy bay tới bên cạnh Đứa Con Vàng Nghệ, nắm lấy tay nó, và nói :
- Lão Dậm, cha ngươi đã chôn ngươi dưới chân bàn thờ, sao ngươi lại ở đây?
Đứa trẻ màu vàng nghệ – vì nó là Đứa Con Vàng Nghệ – cười:
- Ông ấy không chôn được ta, ông ấy chỉ chôn chính mình. Bây giờ ông ấy đang làm ma cà rồng. Chỉ khác là ma cà rồng thì hút máu ban đêm, còn ông ấy đi hút máu ban ngày. Nhìn xem…
Ở bên trái vòm hang, mở ra, để lộ một đường phố với những ngôi nhà hình ống.
Ông Dậm đang ngồi uy nghi sau chiếc bàn, trong một ngôi nhà cao tầng, trước một hội nghị cỡ mấy trăm người. Ông đang nói, đang giảng giải, miệng cười rất tươi, đôi mắt có vẻ nhân từ.
Những người ngồi dưới lắng nghe và ghi chép.
Họ không thấy rằng, có một hình người trong suốt đang tách khỏi hình hài ông Dậm, bay đi, với hai ngón chân cái đút vào lỗ mũi, vụt qua cửa sổ, nhẹ nhàng xuyên qua những bức tường và hai chiếc răng nanh cắn ngập vào cổ một ai đó rất nhanh. Những cái răng nanh ấy cắn vào nhiều chiếc cổ. Cái hình người đó mang cái dạ dày ngày càng phồng to như một cái thùng không đáy. Nhưng trong khi đang bay đi hút máu, trên gương mặt ông Dậm đang ngồi họp trông vẫn như nhân từ, chỉ có làn môi lúc nào trông cũng thèm thuồng, hơi run run và giật ở mép phải.
Đám thực khách nhìn lom lom, rồi thét lên, dùng tay chỉ trỏ loạn xạ:
- Ma cà rồng! Nhưng ông ta không bay một mình!
Mẹ trẻ Phượng và Đứa Con Xanh, Đứa Con Vàng Nghệ cùng ông Cử, bà Cử cùng nhìn theo những ngón tay chỉ trỏ. Thấy quả thực ông Dậm không bay một mình. Rất nhiều người trong hội nghị, dù đang ngồi uy nghi và trông còn có vẻ hiền lành vô sự, nhưng kỳ thực, họ cũng tách ra như ông Dậm, bay đi với đôi răng nanh thấm máu và tìm những chiếc cổ để cắm vào …”
Sự việc mơ hồ huyền hoặc giữa vùng trời ma quái mờ ảo nhưng lại như những nét khắc sắc đậm về một thực cảnh qua ngôn từ diễn tả chắc nịch và thẳng băng khiến khó tránh cảm giác bị bao bọc bởi một đám ma cà rồng đang điên cuồng cắm những cặp răng nanh đẫm máu vào cổ các nạn nhân. Trong tình huống đó, “lời nhắc rơi nhẹ như một tiếng thì thào” quả đã trở thành một tia sáng lòa chói khắp không gian: Muốn tái sinh giống người, trước hết hãy diệt lũ ma cà rồng. Nếu không, hễ cứ có người nào mới ra đời, lại bị làm mồi ngay cho lũ chúng…
Đây là những dòng kết thúc tác phẩm Dạ Tiệc Quỷ và cũng là những dòng gợi nhắc tâm tư tác giả Max Havelaar qua ước mong : Tôi mong sẽ được đọc! Tôi mong sẽ được đọc bởi các chính khách…, bởi các thức giả…, bởi các thương gia…, bởi các gia nhân từ ái của các mệnh phụ…, bởi các quan chức đã hồi hưu…, bởi các vị trưởng nhiệm cơ quan…, bởi hết thẩy tùy tùng của các thượng cấp…, bởi các giáo sĩ…, bởi hàng ngàn hàng vạn con người đang theo đuổi những lý lẽ riêng …
Võ Thị Hảo chắc chắn cũng mong như Eduard Dekker là mọi người sẽ đọc những dòng chữ của mình, và với tâm cảnh khi viết Dạ Tiệc Quỷ chắc chắn còn mong một hành vi cụ thể ở hết thẩy những con người chưa hết ước tái sinh để chấm dứt kiếp phận con ếch mắc nghẹn hoài giữa cổ rắn: Hãy diệt lũ ma cà rồng!
Virginia December 01, 2012
© Uyên Thao
© Đàn Chim Việt
Subscribe to:
Comments (Atom)
Popular Posts
-
Duoi day la 33 truyen ngan cua Tieu Tu ma mot so truyen qui vi da doc qua that tham thia.Xin chia se voi qui vi.Thiet nghi nhung vi nao chu...
-
Biểu tình lắng xuống ở Hong Kong TIẾT LỘ CHẤN ĐỘNG LƯƠNG TRI LOÀI NGƯỜI: CSVN GIẾT TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ BẰNG VIRUS HIV TIẾT LỘ CHẤN Đ...
Popular Posts
-
Duoi day la 33 truyen ngan cua Tieu Tu ma mot so truyen qui vi da doc qua that tham thia.Xin chia se voi qui vi.Thiet nghi nhung vi nao chu...
-
Cảnh đẹp : Những hàng tre / Nhật Điểm thu hút của Kyoto - Arashiyama khu vực danh lam thắng cảnh hải trình,sưu tầm.
-
Vaclav Havel - Chờ Tự Do Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Lời người dịch: Tên vở kịch nổi tiếng nhất của nhà viết ...
-
Kính thưa các bạn bỏ đảng, Thiển nghĩ, bỏ đảng là khuynh hướng thời đại tại VN . Tuy nhiên bỏ đảng rồi ngồi yên hay chỉ lo tới mình m...
NEWS HTD.
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
LISA PHẠM - Khai Dân Trí Số https://www.youtube.com/results?search_query=LISA+PH%E1%BA%A0M+-+Khai+D%C3%A2n+Tr%C3%AD+S%E1%BB%91+
Popular Posts
-
Danh Mục Audio Truyện Nghe Trực Tiếp (online) Không Donwload Chân Thành Cảm Ơn Chú8 Hà, Đông Hà, Trái Táo, Yên Như, Biển Và Em, Mai Vân ...
-
From: Mai G. Pham < Subject: Sự thật về ác tăng thích Thích Chân Quang Date: Tuesday, April 23, 2013, 3:17 AM Giới thiệu ph...
-
Cái chết của Cha ruột Nguyễn Tấn Dũng , Tướng Nguyễn Chí Thanh Hy vọng anh ba Dũng chăn Vịt ở Kiên Giang sẻ trả thù cho cha mình vì bị ...
-
Đỗ Mười kết luận phải khai trừ ông Giáp Vào cuối thâp kỷ 60, trước và sau khi ông Hồ chết, nội bộ ĐCSVN xảy ra “Vụ Án Xét L...
-
Vaclav Havel - Chờ Tự Do Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Lời người dịch: Tên vở kịch nổi tiếng nhất của nhà viết ...
-
Phát biểu của Tổng thống Obama tại Đại học YANGON Ngườ...
-
Duoi day la 33 truyen ngan cua Tieu Tu ma mot so truyen qui vi da doc qua that tham thia.Xin chia se voi qui vi.Thiet nghi nhung vi nao chu...
-
bon. VN chung' ta la` da^n dden nen khong lo bi. ai chui vao` computer phanh phui: - co' bao nhieu nha` - co' ...
-
[ Attachment(s) from Can Bui included below] Thưa quí vị trên DD, Đọc email của ô. Phách gửi cho ô. Ngô Kỳ, tôi thấy nhữn...
-
Subject: Fw: Nhung Tien Doan 2012 http://multiply.com/m/item/vulep:journal:955 http://multiply.com/m/item/vulep:journal:955 ...
My Link
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Cách tự kiểm tra xem mình có nhiễm virus COVID-19 không (?) - NT2K4FL Nếu không muốn nhận Email này Xin cho biết để chấm rứt.Cám ơn * Please delete my address before sending this document out. * On ...6 years ago
-
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon - ---------- Forwarded message --------- From: *Le Hiep* Date: Mon, Jan 27, 2020 at 8:26 PM Subject: Fw: Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Sai...6 years ago
-
Thuc phẩm được cảnh báo là chất gây ung thư, ăn càng ít càng tốt - ( Cảm ơn bạn đã chuyển . Có vài ý kiến thô thiển : 1 - những thức ăn quá hạn ( out of date ) dù còn dùng được , cũng nên liệng bỏ . Đừng t...6 years ago
-
-
-
