Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, December 22, 2012

Việt Nam 2012-Những Lãnh Đạo Múa Rối


 

 

Việt Nam 2012-Những Lãnh Đạo Múa Rối

 

  Phạm Trần

 

Quan tâm hàng đầu trong năm 2013 của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đặt trọng tâm vào việc sửa đổi Hiến pháp và lấy phiếu tín nhiệm 49 chức danh hàng đầu của Nhà nước, trong đó có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng nếu căn cứ vào những việc làm và lời nói của lãnh đạo trong năm 2012 thì chuyện của năm 2013 cũng chỉ là trò chơi múa rối trước mắt người dân trong khi hiểm họa mất sạch tài nguyên ở Biển Đông vào tay Trung Cộng đã rõ hơn bao giờ hết.

Sau đây là những bằng chứng:

- Tại Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã đưa ra Nghị Quyết ngày 31/12/2011 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Đảng viết : “ Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.”

Đảng còn nhìn nhận:“ Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”

Vậy bây giờ Nghị quyết 4 đã tròn 1 năm mà đảng đã làm nên cơm cháo gì chưa ?

Tất nhiên là chưa và sẽ “chưa mãi” bởi vì sau khi Bộ Chính trị và Ban Bí thư gồm 18 người,14 trong Bộ Chính trị và 4 của Ban Bí thư (Ban Bí thư có 10 người nhưng 6 người cũng đồng thời là Ủy viên Bộ Chính trị ) làm gương họp hành kiểm điểm cá nhân và tập thể trong 21 ngày rồi “đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét có hình thức kỷ luật khiển trách về trách nhiệm chính trị đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị”.

Nhưng, theo Thông báo kết luận của Hội nghị Trung ương 6 ngày 16/10/2012 : “ Sau khi thảo luận, cân nhắc nhiều mặt, Ban Chấp hành Trung ương đã bỏ phiếu quyết định không kỷ luật Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị.”

Thế là màn kịch chấm dứt, sân khấu hạ màn để đào kép vừa dâm chết Nghị quyết 4 tẩy xóa hóa trang, rửa tay vấy máu cho ra người thật.

Nhưng tại sao sau bao nhiều lỗi lầm gây tai họa cho dân cho nước từ năm này qua năm khác, năm sau cao hơn năm trước, mà chỉ nhận về “trách nhiệm chính trị” ?

Những cái chết oan, tức tưởi giữa vùng biển của Tổ quốc của bao nhiêu ngư dân trong tay quân thù Trung Cộng ở Biển Đông; bao nhiều trăm ngàn tỷ bạc tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân lao động đã bị tiêu tan ở Vinashin và Vinalines không phải là “trách nhiệm chính trị” mà là những tội ác cần phải bị xét xử.

Rồi những tiếng than, tiếng khóc chống bất công, đòi công bằng và máu đã đổ trên những cánh đồng, thửa đất của hàng trăm ngàn nông dân ở khắp nước, tiêu biểu như ở Tiên Lãng, Văn Giang và Vụ Bản đâu chỉ là “trách nhiệm chính trị” ?

Vì vậy, những gì Hội nghị Trung ương 6 đã làm như “xin nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân và cố gắng sẽ làm hết sức mình để từng bước khắc phục” có nghĩa lý gì không, hay chỉ là hành động chạy tội, lấp liếm bao che cho nhau để cùng hưởng lợi của Ban Chấp hành Trung ương đảng và từ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuống cho đến anh cán bộ quèn cấp xã, phường ?

Vậy thì ông Nguyễn Phú Trọng cần phải đọc lại lời nói của mình trong Diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 4 xem có còn gía trị gì không hay ông đã “bốc đồng” nói cho dân nghe sướng lỗ tai ?

Ông nói : “ Sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu làm trước; tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài; tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tệ hại.”

Trung ương của ông đã làm trước, nhưng không gương mẫu mà đã làm gương mù cho đảng viên nên từ sau Hội nghị 6, Tỉnh, Thành nào cũng chỉ biết vươn cổ ra “nhận lỗi” cho huề vốn !

Trong Diễn văn bế mạc Hội nghị 4, ông Trọng còn đánh lừa dân khi ông nói để cho mọi người tưởng ông đã thật lòng quyết chí ra tay làm sạch đảng. Ông ra lệnh : “Mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác, trung thực, đánh giá mình cho thật khách quan. Tập trung kiểm điểm trên các vấn đề trách nhiệm đối với công việc, đối với đơn vị; phẩm chất cá nhân của mình về các mặt : nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, quan hệ với quần chúng... Thấy rõ ưu điểm để phát huy, nhận ra khuyết điểm để sửa chữa, coi trọng sự giáo dục, sự giúp đỡ chân thành của đồng chí, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, "trị bệnh cứu người". Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng.”

Sẽ có đảng viên rất thích thú khi đọc lại những lời này vì chính Tổng Bí thư đã dạy họ nói dối, hay “nói mà không làm” như trong suốt 13 năm đảng đã không làm theo Nghị quyết 6 (lần 2) “ Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay” dười thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu khóa VIII.

Đây cũng chính là lý do tại sao đã có chuyện “nước đổ đầu vịt” mà ông Trọng đã vô tình, hay cố ý nói ra trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 4. Ông bảo : “ Cần nghiêm túc phân tích thật sâu sắc những nguyên nhân chủ quan, chỉ ra những căn bệnh gốc rễ, như: do không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, mang nặng chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội thực dụng; buông lỏng các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng; quan liêu, xa dân, thiếu gắn bó mật thiết với nhân dân; việc tổ chức thực hiện nghị quyết không đến nơi đến chốn, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm. Đặc biệt, có một câu hỏi lớn, rất day dứt, trăn trở lâu nay cần được trả lời cặn kẽ là: Vì sao công tác xây dựng Đảng được Trung ương rất coi trọng, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị rất đúng, rất hay, nhiều cuộc vận động sâu rộng, nhưng kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu? Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng? Vướng mắc chính là ở chỗ nào? Đề nghị Trung ương đi sâu phân tích, mổ xẻ, chỉ ra đúng căn nguyên để có biện pháp chữa trị hữu hiệu.”

THAM NHŨNG MUÔN NĂM

- Bây giờ đến chuyện phòng , chống tham nhũng thì chuyện “dài không có đọan kết” này đã được chuyển từ tay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trưởng Ban chỉ đạo, phòng chống Tham nhũng (từ 1977) sang tay Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng từ sau Hội nghị Trung ương 5.

Đảng không nói ra lý do tại sao ông Dũng đã bị tước quyền, nhưng ai cũng biết ông ta chính là Ủy viên Bộ Chính trị đã bị Bộ Chính trị và Ban Bí thư đề nghị bị kỷ luật và đã được Ban Chấp hành Trung ương đảng tha tội trong kỳ họp thứ 6.

Nhưng tại sao chuyện phòng, chống Tham Nhũng theo Luật đã có từ năm 2005 và nhiều Nghị quyết tiếp theo mà vẫn không đi đến đâu ?

Lý do thì nhiều nhưng chỉ cần nêu ra vài tỷ dụ như quyền Giám sát và Kiểm sát của Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc đã không được thi hành nên những kẻ tham nhũng cứ tự do “hành nghề” trong tất cả mọi cơ quan, tổ chức và ngành của nhà nước, nhất là ngành công an, thuế vụ, ngân hàng và qủan lý đất đai thì tha hồ làm ăn không ai dám đụng tới.

Tại sao vậy ? Bởi vì đảng nắm tất cả mọi việc mà người của đảng lại nắm cả Quốc hội, Mặt trận Tổ Quốc và trong tất cả các cơ quan, kể cả Báo chí nên tham nhũng là chuyện do đảng tạo ra và được đảng bảo vệ nên không sao giải quyết được.

Chuyện này đã được Hội nghị Trung ương 5 (Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí), chứng minh : “ Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành , nhất là trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý ngân sách; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; công tác cán bộ; quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp..., gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.”

Lý do ? Đây là lời giải thích của Hội nghị 5 : “Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém nêu trên là: Không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa thực hiện tốt trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Vai trò của nhiều chi bộ, tổ chức cơ sở đảng còn mờ nhạt; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành, kể cả cấp Trung ương, chưa nêu gương về đạo đức, lối sống, giảm sút sức chiến đấu và thiếu kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí . Cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập; một số quy định thiếu nhất quán, thiếu chặt chẽ, vẫn còn tình trạng "xin - cho". Tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng chưa đủ mạnh, có mặt chưa hợp lý.”

Ngoài ra vì đảng không đồng ý để cho một cơ quan “độc lập” với đảng, với Chính phủ và Quốc hội lo chuyện bài trừ tham nhũng nên việc chuyển quyền từ tay ông Nguyễn Tấn Dũng sang tay ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng giống như chuyện “đánh bùn sang ao”, hay nói cách dân dã là “vừa đá bóng vừa thổi còi” thì còn trông mong gì?

Tỷ dụ như chuyện “Kê khai tài sản” của cán bộ, đảng viên các cấp lãnh đạo và trong các ngành có cơ hội “hái ra tiền” như Hải Quan, Đất đai, Thuế khoá, Công an-Cảnh sát v.v… cũng đã thành chuyện “nước lã ao bèo” từ khuya rồi, nhưng các cấp lãnh đạo, kể cả ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng chỉ biết nói cũng “cần sự đóng góp ý kiến của nhân dân để đạt hiệu quả thực chất” , khi ông tiếp xúc với cử tri Quân 1, Sài Gòn, ngày 15-12-012, thì còn “cơm cháo gì” ?

SỬA HIẾN PHÁP LÀM GÌ?

- Chuyển qua chuyện sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì dự trù Bản Dự thảo này sẽ đem ra hỏi ý dân từ ngày 02/01 đến 31/3/2013. Nhưng khả năng “dân chủ hoá” chế độ qua việc sửa đổi Hiến pháp đã bị ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội giết chết khi ông bảo : “Thứ tự một số điều khoản khác trong Hiến pháp có thể thay đổi, riêng vị trí của "điều 4" vẫn phải được giữ nguyên.” (ViệtnamNet, 6/11/2012)

Điều 4 mới sẽ khẳng định : "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".

Điều 4 cũ của Hiến pháp 1992 viết : “ Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

So sánh 2 Điều thì vai trò “lãnh đạo” tuyệt đối của đảng CSVN không thay đổi, trong khi nhiều người Việt Nam từng trông đợi Việt Nam sẽ có một nhà nước dân chủ, bầu cử tự do với bản Hiến pháp mới.

Những người Việt Nam này sẽ bất bình hơn khi họ thấy ông Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Nguyên Cát của Học viện Quốc phòng dám bịa đặt trên Báo Quân đội Nhân dân ngày 16/12/2012 rằng : “Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được thể chế hóa tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 và cần tiếp tục được khẳng định trong sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này, đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam….Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được quy định tại Điều 4, Hiến pháp năm 1992 là hoàn toàn chính đáng, cần tiếp tục được khẳng định trong nội dung sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này.”

Căn cứ vào đâu mà ông Cát dám nói như đanh đóng cốt như thế ?

Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ bỏ phiếu bầu đảng CSVN vào vị trí lãnh đạo, ngược lại đảng CSVN đã “tự phong, tự chức” rồi bắt dân phải nghe, phải chấp nhận và làm theo!

Người Việt Nam nào cũng biết như thế và cả thế giới đều biết đảng CSVN chưa bao giờ được dân bỏ phiếu cho quyền lãnh đạo. Đảng của ông Đại tá Cát cũng chưa dám “trưng cầu dân ý” xem dân có muốn đảng cai trị họ không, thế mà ông vẫn ngang nhiên khuyến cáo : “ Chúng ta cần thống nhất cao, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và toàn xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 cần được tiếp tục hiến định trong sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này.”

Như vậy thì sửa Hiến pháp làm gì cho phí phạm công lao và tiền bạc của dân ?

Quốc hội của nhà nước CSVN đã chứng minh “vô cảm” và lạnh cảm” với nhiều chuyện bức thiết của dân, nhưng “vô duyên” và “tội cho Tổ quốc” nhất là họ đã không dám có phản ứng quyết liệt với những hành động xâm lấn biển đảo Việt Nam của Trung Cộng.

Không những thế, nhiều Đại biểu Quốc hội của các Tỉnh, Thành ven biển và vùng đất chiến lược như ở Tây Nguyên và dọc biên giới Trung-Việt đã “về hùa” hay “bất động”trước sự bành trướng của Trung Cộng trong dự án khai thác Bauxite, thuê mướn đất trồng cây kỹ nghệ và xây dựng các khu du lịch, ăn chơi ở các địa điểm chiến lược có nguy cơ đến an ninh !

BÊNH TÂU XÂM LƯỢC

- Sau cùng là chuyện Trung Cộng đang đe dọa chiếm hết biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông và đó đây đã xuất hiện những con người có hành động “cõng rắn cắn gà nhà” hay tư tưởng “nội xâm”.

Tuy lãnh đạo thì luôn luôn nói “kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” nhưng ai ở Việt Nam cũng biết tổ quốc đang lâm nguy trước đe dọa không khoan nhượng của Trung Cộng đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biền Đông.

Vậy tại sao đảng và nhà nước lại không đứng về phía dân để chống các hành động ngang ngược của Trung Cộng đối với ngư dân và bảo đảm quyền công dân chống âm mưu bành trướng xâm lăng của Bắc Kinh ?

Từ hai năm qua, trong khi lực lượng Công an đã đàn áp dã man và rất thô bạo đối với người dân biểu tình chống Trung Cộng từ Sài Gòn ra Hà Nội thì Ban Tuyên giáo Trung ương lại ra lệnh cho các báo đài xuyên tạc những hành động ái quốc và về hùa với các viên chức đảng ra sức chống phá quyền biểu tình của người dân.

Chẳng những thế, điển hình như ông Nguyễn Thế Kỷ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo còn hù họa báo chí trong cuộc họp giao ban ngày 11/12/2012 khi ông ta cố tình bẻ cong chuyện 2 tầu đánh cá Trung Cộng chủ mưu “cắt cáp” tầu thăm dò địa chấn Bình Minh 2 của Tổng công ty dầu khí Việt Nam thành chuyện chẳng may “làm đứt cáp”.

Tại sao ông Nguyễn Thế Kỷ lại ngang ngược đứng về phe Trung Cộng như thế thì không ai trong đảng, kể cả Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh, dám đứng ra giải thích.

Người thứ nhì có hành động “thân Trung Cộng và nhớ ơn Trung Cộng” ra mặt là Đại tá Trần Đăng Thanh khi ông ta giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học, theo Basamnews phổ biến hôm 19-12-2012.

Ông này ru ngủ các giáo chức Đại học rằng : “Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên….”

“… Điều thứ hai không được mất đó là môi trường hòa bình, thứ hai và thứ nhất lại mâu thuẫn với nhau cho nên xin thưa với các đồng chí không được mất chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình. Trong tình hình hiện nay phải giữ được môi trường hòa bình. Để xảy ra chiến tranh, xin thưa với các đồng chí vất vả lắm.

Tinh thần bạc nhược, quy đầu thần phục ngọai bang của Đại tá Trần Đăng Thanh còn đáng khinh hơn khi ông ta lên lớp : “Tôi xin thưa với các đồng chí mặc dù chân họ đá nhưng ta phải biết ta tránh. Cho nên cái không được mất thứ hai là môi trường hòa bình. Cái không được mất thứ ba đó là mối tình đoàn kết nhân dân hai nước. Nói điều này thì có người bĩu môi, có người chưa đồng tình. Nhưng thôi xin thưa với các đồng chí, lịch sử giao cho dân tộc chúng ta phải sống bên cạnh cái nước ta bảo họ tư tưởng nước lớn, không phải tư tưởng, họ là nước lớn thật sự. Nói tư tưởng thế nào được, họ là nước lớn thật sự. Dân số của họ là 1 tỷ 354 triệu người dân, ta có 87 triệu, họ là nước lớn thật sự, cứ bảo tư tưởng nước lớn, họ nước lớn ,không phải tư tưởng, thật sự! Trong chiều dài lịch sử trên dưới 20 lần họ xâm lược chúng ta cơ mà. Các đồng chí học [lớp] “Đối tượng 2?, tôi còn mời các đồng chí xem chiến tranh tháng 2 năm 79 thế nào. Các thầy còn được xem cụ thể hình ảnh, diễn biến ra sao vì hồi tôi còn trong Viện còn nhiều thông tin, mà được cung cấp đầy đủ, cho nên tôi phải nói rõ với các thầy như vậy. Cho nên ta không phải như con thuyền, ta không phải là một căn hộ, không thích ở Mỹ Đình thì sang Linh Đàm, không thích Linh Đàm thì về Trung Hòa Nhân Chính, không phải thích ở sông Hồng thì ra sông Mã mà ở. Xin thưa, lịch sử giao chúng ta như vậy, nhớ lời dặn của các cụ ngày xưa: “Thứ nhất cận thân, thứ nhì cận lân”, “Vắng anh em xa mua láng giềng gần”, rồi “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Vắng anh em xa có láng giềng gần”. Ta phải chấp nhận.

Còn đối với Mỹ thì sao, ông này mánh mung : “Đối với Mỷ, ông này cảnh giác : “Thứ hai, với Mỹ. Xin thưa với các đồng chí trong giáo dục đặc biệt là phòng sinh viên và đoàn thanh niên các đồng chí nhớ người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả. Phải nói rõ luôn. Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện “thả con săn sắt, bắt con cá rô”. Họ chưa bao giờ tốt thật sự với chúng ta, tội ác của họ trời không dung, đất không tha.”

Như vậy, có nên coi những miệng lưỡi Nguyễn Thế Kỷ và Trần Đăng Thanh thuộc hàng ngũ những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà” như lời cảnh giác hôm 2/9/2012 của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang chăng, hay nên gọi họ là những “kẻ nội thù” rất đáng “đưa ra giữa chợ” cho mọi người nhìn mặt ?

LẤY PHIẾU-BỎ PHIẾU TÍN NHIỆM

- Sau cùng là chuyện “lấy phiếu tín nhiệm” và “bỏ phiếu tín nhiệm” đối với 49 chức danh hàng đầu của Nhà nước sẽ được Quốc hội thực hiện vào tháng 5/2013.

Theo tin trong nước thì các chức vụ được bỏ phiếu gồm :”Chủ tịch nước, phó chủ tịch nước; chủ tịch và các phó chủ tịch QH, chủ tịch Hội đồng dân tộc, chủ nhiệm các ủy ban của QH, các thành viên khác của UBTVQH; Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; chánh án TAND Tối cao, viện trưởng VKSND Tối cao, tổng Kiểm toán Nhà nước.

Còn HĐND lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với: Chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy viên thường trực và trưởng các ban của HĐND; chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên của UBND.” (Báo Pháp Luật TpHCM, 22/11/2012)

Việc làm này sẽ diễn ra theo ba mức độ: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp”.

Vẫn theo báo Pháp Luật TpHCM thì : “Người giữ chức vụ có quá 50% đại biểu QH, HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên 2/3 đại biểu QH, HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc hai năm liên tiếp có quá 50% đại biểu QH, HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” thì UBTVQH, Thường trực HĐND sẽ trình QH, HĐND bỏ phiếu tín nhiệm.

Khi tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm, người có quá 50% đại biểu QH, HĐND bỏ phiếu “không tín nhiệm” thì sẽ bị QH, HĐND xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức.”

Theo Điều 11 của Nghị quyết của Quốc hội thì tiến trình “bỏ phiếu tín nhiệm” diễn tiến như sau:

1. QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn trong các trường hợp:

a) UBTVQH đề nghị;

b) Có kiến nghị bằng văn bản của ít nhất 20% tổng số đại biểu QH;

c) Có kiến nghị của Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban của QH;

d) Người được lấy phiếu tín nhiệm có trên 2/3 tổng số đại biểu QH đánh giá “tín nhiệm thấp”;

đ) Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu QH đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tiếp.

2. HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu trong các trường hợp:

a) Có kiến nghị bằng văn bản của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu HĐND;

b) Có kiến nghị của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp;

c) Người được lấy phiếu tín nhiệm có trên 2/3 tổng số đại biểu HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp”;

d) Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tiếp.

Với thủ tục rườm ra và quanh co qua nhiều giai đọan như thế thì việc muốn lọai một viên chức ra khỏi chức vụ không dễ dàng gì cho nên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã cảnh giác hãy coi chừng chuyện “chạy phiếu” tại Quốc Hội.

Như vậy thì nếu căn cứ vào kết qủa của những việc đảng CSVN đã hòan tất trong năm 2012 kể từ Nghị quyết 4 thì có còn gì để gọi cho văn hoá hơn là “trò múa rối” khi cả nước bước vào năm mới 2013?

Phạm Trần

Nhựt: Nhứt Quyết Giữ Đảo


 

 

Nhựt: Nhứt Quyết Giữ Đảo

 

 Vi Anh

 

Thế nước, lòng dân Nhựt đã rõ ràng: Nhựt nhứt quyết bảo vệ đảo bất cứ giá nào, một tấc đất không nhường Trung Cộng, dù phải núi xương sông máu để giữ gìn. Thực vậy, bằng lá phiếu đa số tuyệt đối dồn cho Đảng Tự do, Dân chủ - PLD của Ô. Shinzo Abe và hai đảng bảo thủ kiên minh, trên phương diện chủ quyền quốc gia, người dân Nhựt đã bày tỏ lập trường rõ rệt đất nước không thể và không bao giờ là một đề thương lượng và ủy quyền cho chánh phủ mới bảo vệ đảo Senkhaku với bất cứ giá nào.

Đảng Tự do, Dân chủ sau Đệ Nhị Thế Chiến đã cùng người dân Nhựt biến đau khổ, tang thương và tủi nhục của một dân tộc chưa biết đầu hàng là cái gì, trong nửa thế kỷ đã đưa nước Nhựt thành một đệ nhị siêu cường kinh tế. Gần đây sau ba năm đối lập, Đảng Dân chủ Tự do trở lại cầm quyền qua cuộc bầu cử được người dân Nhựt ủng hộ, thắng với đa số tuyệt đối. Đảng Dân chủ Tự do chiếm được ít nhất 294 ghế dân biểu trên tổng số 480 dân biểu ở Hạ Viện. Đa số này có thể trở thành áp đảo hơn 2/3 Hạ Viện vì đảng Công Minh, Tân Komeito, đồng minh với Đảng Dân chủ Tự do cũng chiếm được cả chục ghế. Và đảng Phục Hưng, một đảng chính trị do ông Shinto Ishahara, cựu đô trưởng Tokyo và ông Toru Hashimoto, thị trưởng Osaka thành lập từ Đảng Dân chủ Tự do tách ra, cách nay vài tháng, chiếm được 54 ghế - cũng là cánh hữu, bảo thủ với tinh thần quốc gia rất cao, cùng nguồn gốc với Đảng Dân chủ Tự do.

Với đa số cơ hữu và liên minh thân cận có tính áp đảo đó, mọi dự luật, quyết định, hành vi chánh phủ của cánh Bảo Thủ, của Thủ Tướng Shinzo Abe, nhứt là những vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia sẽ được Quốc Hội ủng hộ và thông qua dễ dàng. Ngay khi Thượng Viện phủ quyết giao hoàn về Hạ Viện thì Hạ Viện cũng đủ túc số để tái biểu quyết thông qua trở thành luật để Thủ Tướng thi hành.

Và Ô. Shinzo Abe chắc chắn sẽ là Thủ Tướng của Nhụt những ngày sắp tới với một lập trường quốc gia dân tộc kiên định, với một dĩ vãng gắn bó sâu sắc với niềm tin dân tộc. Ngay trong cuộc họp báo đầu tiên sau khi đắc cử, ngày 17/12/2012, Ông tuyên bố khẳng khái là không đàm phán với Trung Quốc về chủ quyền Senkaku. Người Lãnh đạo Đảng Tự do-Dân chủ - PLD nhấn mạnh: «Quần đảo Senkaku là một phần lãnh thổ Nhật Bản. Nhật Bản sở hữu và kiểm soát các đảo này chiếu theo luật pháp quốc tế. Đó là điều không thể đàm phán». Nhật Bản «không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ quần đảo Senkaku và vùng biển của chúng ta». Trước đó Ông cũng từng nói Nhật Bản sở hữu và hiện đang nắm quyền kiểm soát quần đảo Senkaku và không có lý do gì để thương nghị vào lúc này.“ Trung Quốc phản đối việc các đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Nhật Bản. Mục tiêu của chúng tôi là phải chấm dứt sự đòi hỏi này.”

TC phản ứng liền. Ngày 17/12/2012, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố «rất lo ngại» về ban lãnh đạo mới của Nhật Bản và cũng khẳng định, quần đảo Điếu Ngư/Senkaku là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Theo giới phân tích cho biết, Ông Shinzo Abe nổi tiếng là một chính trị gia rất quan tâm đến vấn đề lãnh thổ, chủ quyền, nhậy cảm với những ý tưởng dân tộc chủ nghĩa. Xuất thân từ một gia đình vô cùng gắn bó với vận mạng nước Nhựt. Ông ngoại từng là Thủ Tướng, thân phụ từng là ngoại trưởng, và chính Ông cũng từng là thủ tướng Nhựt. Là một người mới 58 tuổi, nhưng đã từng để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử phục hồi thế lực và danh dự nước Nhựt. Ông là người ủng hộ quyết liệt việc sửa đổi Hiến pháp chủ hòa do Mỹ áp đặt từ thời sau Thế Chiến 2. Sửa hiến pháp Nhựt không có quân đội, không có Bộ Quốc Phòng mà chỉ có Lực lượng phòng vệ, Bộ Phòng Vệ Dân sự thành một nước Nhựt có Quân đội Nhật Bản và Bộ Quốc Phòng để phát triển bộ máy quân sự, chánh qui hoá quân đội Nhựt.

Trong cuộc tranh cử, ông Abe kích thích lòng nhiệt huyết bảo vễ quốc gia dân tộc, giang sơn gấm vóc, nhấn mạnh chủ nghĩa quốc gia qua việc phát triển một quân đội mạnh hơn. Ông còn cho biết đảng Dân chủ Tự do ủng hộ việc quốc hữu hoá và có thể xây các toà nhà trên các đảo Senkhaku, một hành động chắc chắn sẽ khiêu khích Trung Quốc.

Trước một thông điệp quá rõ ràng qua lá phiếu đa số tuyệt đối của nhân dân Nhựt, trước một chánh quyền do cánh bảo thủ, thầm nhuần tinh thần quốc gia dân tộc và một thủ tướng bảo thủ cứng rắn và cương quyết bảo vệ chủ quyền, bờ cõi bất cứ giá nào như TT Shinzo Abe, TC tỏ ra hết sức lo ngại, nhưng tỏ ra kẻ cả khuyến cáo, khuyên răn, vừa nhéo vừa xoa. Tân Hoa Xã, tiếng nói của Đảng Nhà Nước CS Trung Quốc bình luận, chia rẽ chánh quyền với nhân dân Nhựt. Nói nếu Nhựt thực hiện ý muốn của nhân dân và đảng phái muốn đối phó cứng rắn với Trung Quốc thì sẽ tai hại cho quan hệ của Tokyo với các nước láng giềng, làm tăng thêm nguy cơ chính trị và quân sự hóa trong khu vực. Và Tân Hoa xã còn tỏ ra kẻ cả nói Bắc Kinh có lời khuyên phe thắng cử Nhật Bản hãy phát triển xây dựng một chính sách ôn hoà, thực tế và lâu dài, cho phép làm dịu quan hệ của Nhật Bản với các quốc gia lân bang.

Nhìn Nhựt mà buồn tủi, đau khổ cho số phận nước nhà Việt Nam dưới chế độ cai trị độc tài đảng trị toàn diện của CSVN. Nhựt ít bị TC lấn chiếm biển đảo hơn VN. Bản đồ lưỡi bò trên thông hành TC không có liếm đảo Senkhaku của Nhựt. Thế mà nhân dân Nhựt thay đổi chánh phủ để đối phó cương quyết và hữu hiệu hơn với TC.

Còn ở VN Đảng Nhà Nước CSVN cai trị Miền Bắc trên nửa thế kỷ, Miền Nam một phần ba thế kỷ. Đất, đảo, và biển VN bị TC xâm lấn dài dài. Ngư dân VN bị TC bắn, bắt giết hàng trăm. Mà Đảng Nhà Nước CSVN ngồi đó co tay, bất động, trừ những lời tuyên bố chủ quyền sáo mòn, vô hiệu quả. Còn người dân VN nào bày tỏ lòng yêu nước, chống xâm lăng thì Đảng Nhà Nước CSVN trừng trị thẳng tay, một cách “cực kỳ nghiêm khắc” theo lịnh “định hướng dư luận” mà quan thầy TC đã phán./.

 

__._,_.___

CHÍNH SÁCH BÁ QUYỀN ĐẠI HÁN


 

 

BẮC CỰ BÁ QUYỀN ĐÔNG HÒA PHI MÃ


CHÍNH SÁCH BÁ  QUYỀN ĐẠI HÁN

 

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Mới đây, các học giả trong Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ đã phê phán chính sách bá quyền của Trung Quốc là Chính Sách Phát Xít Cổ Điển. (Bejiing Embraces Classical Fascism)

Thay vì tiếp thu chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng theo sự mong đợi của mọi người, giới lãnh đạo Trung Quốc càng ngày càng trở nên giáo điều và bảo thủ. Cũng như tại Ý Đại Lợi, 50 năm sau Cách Mạng Phát Xít, Mussolini đã chết nhưng Nhà Nước Ý vẫn giữ chế độ độc tài và chủ yếu vẫn đàn áp chính trị. Để biện minh cho chế độ, họ thường xuyên nêu lên quan hệ về sự vinh quang cổ xưa của “Dân Tộc Ý Vĩ Đại”. Từ thế kỷ thứ nhất Đế Quốc La Mã đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng Biển Địa Trung Hải chạy từ Tây Âu (Tây Ban Nha) qua Tây Á (Thổ Nhĩ Kỳ). Họ gọi đó là biển lịch sử hay Biển Của Chúng Tôi (Mare Nostrum, Our Sea).

Ngày nay, phỏng theo Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển Ý, Bắc Kinh cũng đề xướng “Dân Tộc Hán Vĩ Đại” nhằm phục hồi Đế Quốc Đại Hán. Họ gọi Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà giới truyền thông gọi là Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn) là Biển Lịch Sử chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á.

Với “Tứ Hiện Đại Hóa” Trung Quốc đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng về kinh tế và lãnh thổ. Đồng thời tăng cường sức mạnh quân sự để hy vọng có ngày đủ phương tiện lọai trừ hay ngăn cản sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Trong khi chờ đợi, họ phóng kim ngân thu nhân tâm, vận dụng truyển thông để tranh thủ cảm tình và sự thán phục của các quốc gia trên thế giới. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, Trung Quốc sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với Thế Giới Dân Chủ. Họ kỳ vọng rằng, với sự quyết tâm, phát triển kinh tế và quân sự, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái Bình Dương.

Chủ trương cố hữu của Bắc Kinh được quy định như sau: Những lãnh thổ trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa nay phải trả về cho (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man. Đó là nhận định của Tiến Sĩ Lo Chi-Kin từ Hồng Kông trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986. (Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes, Routledge London, 1989).

Trong Chiến Tranh Biên Giới Ấn-Hoa năm 1962 Trung Quốc đòi chủ quyền vùng biên giới Ấn Độ rộng 90 ngàn cây số vuông thuộc tiểu bang Arunachal Pradesh, phía Đông Bắc Bhutan và Bangladesh.

Giáo Sư C. P. Fitzerald cũng quan niệm như Tiến Sĩ Lo Chi-Kin:

“It is the belief of the Chinese that territory once won for civilization must not be given back to barbarism. Therefore territory which was once Chinese must forever remain so, and, if lost, must be recovered at the first opportunity”. C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Foreign Relations, 1963.

Chính Sách Bá Quyền được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ và lời tuyên bố của Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe các Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Hồng Kông, Macao, cùng những đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Theo Mao Trạch Đông: “sau khi đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh võ trang, các đế quốc đã thôn tính nhiều nước phụ dung của Trung Quốc. Nhật Bản chiếm Triều Tiên, Đài Loan, các đảo Ryukyu, Bành Hồ, và Port Arthur; Anh Quốc chiếm Miến Điện, Bhutan, Nepal và Hồng Kông; Pháp chiếm “An Nam”, và ngay cả một quốc gia vô nghĩa như Bồ Đào Nha cũng chiếm Macao”.

(In defeating China in war, the imperial states have taken away many Chinese dependent states and a part of her territories. Japan took away Korea, Taiwan, the Ryukyu Islands, the Pescadores and Port Arthur; Britain seized Burma, Bhutan, Nepal and Hongkong; France occupied “Annam”; and even an insignificant country like Portugal took Macao).

Nhận định nói trên của họ Mao đã yểm trợ cho chính sách thổ địa của Trung Hoa với quan niệm cực đoan cho rằng, về phương diện lịch sử và văn hóa, bất cứ lãnh thổ nào trước kia thuộc ảnh hưởng Trung Quốc hiện bị các đế quốc (Tây Phương) xâm chiếm, nay phải giao hoàn cho Trung Quốc.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị lấn chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam toàn thể lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N., (một năm trước khi Lưu Bang Hán Cao Tổ thiết lập Nhà Tây Hán năm 206 Trước C.N.) Nước Nam Việt bao gồm vùng trung nguyên Trung Quốc rộng lớn với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Việt Nam. Năm 181 Trước C. N., sau khi đánh thắng quân Tây Hán tại quận Trường Sa, Triệu Vũ Vương xưng đế hiệu là Nam Việt Hoàng Đế, ngang hàng với Hán Cao Tổ tại miền Bắc. Năm 157 Hán Văn Đế sai Lục Giả đưa quốc thư khuyến dụ Triệu Vũ Đế từ bỏ đế hiệu với lời cam kết sẽ để Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị vùng trung nguyên Trung Quốc từ Ngũ Lĩnh đến bờ biển Việt Nam. Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã phản bội lời cam kết của các tổ phụ và tiên vương nhà Tây Hán như Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế. Và đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa khác biệt với các dân tộc du mục miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (Had Nan Yueh remained independent, it is very possible a separate culture would have arisen in the south, and the Chinese might never have established their influence in the valley of West River. C. P. Fitzgerald: China, A Short Cultural History, Oxford University Press 1953, p.184).

Điều nghịch lý là, dầu quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, Trung Quốc không bao giờ dám công khai đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.

(Ironically, despite most of the existing studies having found in favour of China’s position over the islands, it appears that China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration. Chi-Kin Lo. Ibid).

Ngày nay chúng ta thách thức Trung Quốc công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài, hòa giải hay tham vấn theo thủ tục quốc tế (international litigation, arbitration, mediation or judicial consultation).

Giáo Sư Fairbank tại Đại Học Harvard và Giáo Sư Fitzgerald tại Đại Học Oxford cho rằng Trung Quốc vẫn chủ trương duy trì một trật tự thế giới nhằm tái lập vai trò bá chủ truyền thống của họ. Quá trình lịch sử của Trung Quốc đã ảnh hưởng quyết định đến chính sách đối ngoại hiện nay của Bắc Kinh. Họ chỉ giảo hoạt nương theo trào lưu tiến hóa lịch sử để duy trì địa vị và uy thế, bất kể những mục tiêu tinh thần của Liên Hiệp Quốc như bình đẳng, hợp tác và hữu nghị giữa các quốc gia hội viên trên thế giới. (C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Their Place in the World: Oxford University Press 1964: 68-72. J. K. Fairbank, The Chinese World Order, Harvard University Press, 1968 and China’s World Order, Encounter, December 1968:14-20).

Hiện nay, tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn và coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau Thế Chiến II, nhất là từ khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển tại Montego Bay, Jamaica ngày 10-12-1982. Công ước này đã được phê chuẩn để có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

 

Vấn Đề Hoàng Sa Trường Sa Theo Công Pháp Quốc Tế

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải được hưởng quy chế Thềm Lục Địa 200 hải lý (370km) để thăm dò và khai thác dầu khí. Đây là chủ quyền chuyên biệt (sovereign exclusive right), không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị (occupation, exploration or assertion of right). Mọi sự tự tiện chiếm cứ của ngoại bang dầu có võ trang hay không đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực (các Điều 77 và 81).

Về mặt địa lý, tại quần đảo Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý, và đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy quần đảo Hoàng Sa nằm trong Thềm Lục Địa 200 hải lý của Việt Nam.

Về mặt địa chất, các chuyên gia quốc tế như Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempf, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc và vẽ bản đồ các hải đảo và đáy biển, đã lập phúc trình kết luận rằng: “Về mặt địa chất, các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam”. (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Về địa hình đáy biển Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp lục địa Việt Nam.

Vì đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền kéo dài ra ngoài biển nên chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển, Việt Nam có triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải lý (370km) thành Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng có thể đến 350 hải lý (650km).

Trong khi đó từ Hoàng Sa về lục địa Trung Hoa có một rãnh biển sâu tới 2,300m. Như vậy về mặt địa chất và địa hình đáy biển, Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Trong trường hợp này Trung Hoa không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng. (Extended Continental Shelf). (Bản Phúc Trình về Hoàng Sa của Tiến Sĩ Krempf lập trong hai năm 1925-1927 hiện được lưu trữ tại Văn Khố Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris).

Tại Trường Sa cũng vậy, tại Bãi Thanh Long Tứ Chính, nơi khai thác dầu khí, độ sâu chỉ tới 400m, và tại đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Như vậy về mặt địa chất và địa hình đáy biển, cũng như Hoàng Sa, các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Theo quan điểm của các Luật Sư Covington và Burling trong Bản Tường Trình nay 19- 6-1995 gửi Chính Phủ Việt Nam, quần đảo Trường Sa có triển vọng được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng đến 350 hải lý.

Trong khi đó từ Trường Sa về bờ biển Quảng Đông có một rãnh biển sâu tới 4,550m. Như vậy các đảo Trường Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Và Trung Quốc không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lý. Dầu sao, trong mọi trường hợp, khoảng cách từ Hoa Lục tới đảo Trường Sa là 750 hải lý (quá xa tầm 350 hải lý Thềm Lục Địa Mở Rông nếu có).

Hơn nữa, về mặt địa lý, Bãi Thanh Long Tứ Chính và đảo Trường Sa chỉ cách lục địa Việt Nam từ 150 đến 220 hải lý. Trong khi đó quần đảo Trường Sa cách lục địa Trung Hoa từ 550 đến 800 hải lý nên không nằm trong thềm lục địa Trung Hoa.

Ngày 14-7-1995 nhân danh Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam tại California Luật Sư Nguyễn Hữu Thống đã gửi văn thư cho 7 vị nguyên thủ quốc gia trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) yêu cầu các quốc gia duyên hải Biển Đông Nam Á đưa vụ tranh chấp ra trước Tòa Án Liên Hiệp Quốc về Luật Biển hay Tòa Án Quốc Tế The Hague để phân định chủ quyền các hải đảo và các vùng hải phận của các quốc gia duyên hải. Đồng thời đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á. Vì Biển Hoa Nam có thể được giải thích sai lầm là biển của nước Trung Hoa về phía nam.

Trong Bản Tường Trình nạp tại Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc ngày 11- 5-2009, Chính Phủ Bắc Kinh cố tình đề cập đến hải phận trên bản đồ Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn mà họ gọi là Biển Lịch Sử. Chứ không vẽ Thềm Lục Địa Mở Rộng theo các tiêu chuẩn luật định về khoa học và kỹ thuật như Quy Chế Liên Hiệp Quốc đòi hỏi. Do đó Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa đã bác bỏ không cứu xét đơn thỉnh nguyện năm 2009 của Bắc Kinh.

Lưỡi Rồng Trung Quốc

 

Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò) chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á. Nó nằm sát bờ biển các quốc gia duyên hải, chỉ cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, và cách Phi Luật Tân và Mã Lai 25 hải lý. Như vậy nó tước đoạt ít nhất 160 hải lý của Thềm Lục Địa Việt Nam, 170 hải lý của Thềm Lục Địa Nam Dương, và 175 hải lý của các Thềm Lục Địa Phi Luật Tân và Mã Lai. Đây hiển nhiên là sự vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển dành chủ quyền chuyên biệt cho các quốc gia duyên hải như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương được hưởng tối thiểu 200 hải lý Thềm Lục Địa Pháp Lý để thăm dò và khai thác dầu khí.

Theo Học Giả Mark J. Valencia tại Viện Hải Học Đông Tây Hawaii (East-West Institute) yêu sách của Trung Quốc về Biển Lịch Sử không được Luật Pháp và Tòa Án chấp nhận. Ngày nay càng ngày dư luận quốc tế càng phê phán và chế giễu Lưỡi Rồng Trung Quốc là khôi hài và lố bịch (China’s claim is being increasingly criticized and even ridiculed: China and the South China Sea Disputes, Mark J. Valencia, Oxford University Press. October 1995).

Mặc dầu vậy, từ 1955, để phục hồi Chủ Nghĩa Bá Quyền, Bắc Kinh lại nêu lên thuyết Biển Lịch Sử để đòi chủ quyền lãnh thổ tại vùng hải phận và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh Lưỡi Bò Trung Quốc rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa. Họ cho đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”.

Về điểm này chúng ta nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh rằng: Trong thế kỷ này và dưới vòm trời này, không có điều gì, việc gì, hay vấn đề gì là bất khả tranh nghị! Về mặt tinh thần, văn hóa và đạo lý, Trung Quốc không thể nói một đàng làm một nẻo. Họ phải tôn trọng danh dự quốc gia và chữ ký của họ trong các Công Ước Quốc Tế. Họ phải chấp nhận công khai hóa vụ tranh chấp và phải đưa ra trước thanh thiên bạch nhật những tài liệu và quan điểm cho biết tại sao và căn cứ vào đâu mà đòi tước đoạt chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia Đông Nam Á tại các thềm lục địa như đã quy định trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đã ký kết tham gia với tư cách một trong Ngũ Cường hội viên thường trực Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết? Nếu không đưa ra sự giải thích hợp lý và các cơ sở pháp lý thì Trung Quốc vẫn chỉ là kẻ sử dụng Luật Rừng Xanh theo chủ trương Mạnh Được Yếu Thua và Cá Lớn Nuốt Cá Bé. Để tước đoạt 4/5 Thềm Lục Địa Pháp Lý của Việt Nam, đồng thời tước đoạt 7/8 Thềm Lục Địa Pháp Lý của Phi Luật Tân và Mã Lai.

Hơn nữa, chiếu các Điều 77 và 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, chủ quyền của các quốc gia duyên hải tại Thềm Lục Địa có tính tuyệt đối và chuyên biệt. Bất cứ sự xâm phạm nào của ngoại bang dầu là xâm chiếm võ trang hay không võ trang cũng đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực. Cũng như việc Nhật Bản đã chiếm cứ bất hợp pháp các hải đảo và hải phận tại Hoàng Sa và Trường Sa thời Thế Chiến II từ 1938 đến 1945.

 

Chắc hẳn Trung Quốc cũng hay biết rằng Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 là một văn kiện chính sử mà 159 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đã ký kết nên có nghĩa vụ phải tôn trọng và thực thi.

Trung Quốc không thể tự coi mình là một ngoại lệ bằng cách ban hành Luật Biển Quốc Nội năm 1992 (Domestic Law of the Sea) để mở rộng đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ (Territorial Sea),Vùng Tiếp Cận (Contiguous Zone) và hải phận, và coi Lưỡi Bò Trung Quốc là “biên thùy chiến lược” của đảo Hải Nam. Tuy nhiên biên thùy này cách lục địa Trung Hoa cả ngàn cây số nên không thể coi là biên thùy cho một hải đảo hay một lục địa.

Chiếu nguyên tắc “các hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng” (Rule Pacta Sunt Servanda), Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (Vienna Convention on the Law of Treaties 1969) quy định như sau: “Các hiệp ước quốc tế có hiệu lực chấp hành buộc các quốc gia kết ước phải ngay tình tuân thủ”. Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế (The United Nations International Law Commission) coi đây là “một nguyên tắc căn bản về luật hiệp ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong công pháp quốc tế”.

Chiếu nguyên tắc về giá trị thượng tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật Quốc Nội (Rule of Supremacy of International Law), các quốc gia kết ước phải thực sự thi hành những quyến hạn và nghĩa vụ ghi trong các hiệp ước hay công ước quốc tế. Họ không thể viện dẫn luật quốc nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ ghi trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết hay tham gia.

Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. Sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, 10 năm sau, năm 1992, Bắc Kinh ban hành Luật Quốc Gia về Biển mở rộng đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ, Vùng Tiếp Cận và hải phận để xâm phạm chủ quyền chuyên biệt tại các Thềm Lục Địa của Việt Nam, Mã Lai và Phi Luật Tân.

Ngoài ra, như đã trình bày, ranh giới Lưỡi Bò Trung Quốc tại Biển Nam Hoa không thể coi là biên thùy chiến lược của đảo Hải Nam hay của Hoa Lục. Vì, theo định nghĩa, biên thùy phải nằm sát hải đảo hay đất liền.

Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, về hải phận và hải đảo, về mặt tố tụng, các quốc gia đương tụng phải, trước hết, tuân hành những phương thức điều giải ôn hòa như hòa giải, thương nghị hay trọng tài trước khi nội vụ được thụ lý bởi các tòa án quốc tế.

Ngoài Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, còn có rất nhiều tài liệu lịch sử rút ra từ chính sử Trung Quốc theo đó chủ quyền của Việt Nam tại các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa đã được thừa nhận bởi các quốc gia trên thế giới kể cả Trung Quốc.

 

Trung Quốc Khước Từ Chủ Quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa trong Tuyên Cáo Cairo 1943

 

Trong khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, năm 1943, ba cường quốc đồng minh đại diện bởi Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt, Thủ Tướng Anh Churchill và Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã hội nghị tại Cairo (Ai Cập), và đã ký Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 trong đó có đoạn như sau:

“Đối tượng của các quốc gia đồng minh là tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các lãnh thổ và hải đảo tại Thái Bình Dương mà Nhật đã cưỡng chiếm từ khi khởi sự Thế Chiến I. Tất cả các lãnh thổ và hải đảo mà Nhật Bản đã chiếm đoạt của nhân dân Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ phải giao hoàn cho Trung Hoa Dân Quốc”. Điều đáng lưu ý là, tại Hội Nghị Cairo Tổng Thống Tưởng Giới Thạch không đòi Hoàng Sa và Trường Sa. Và như vậy đã khước từ chủ quyền tại hai quần đảo này.

(U. N. Treaty Series, American Policy 1950-1955).

Theo công pháp quốc tế Tuyên Cáo Cairo 1943 là một hiệp ước quốc tế tạo nên những nghĩa vụ quốc tế áp dụng cho các quốc gia liên hệ. Nó có hiệu lực cưỡng hành đối với Trung Quốc, dầu là Trung Hoa Dân Quốc hay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là quốc gia kế thừa chủ quyền. Đặc biệt là, trong hiện vụ, ngày 4-12-1950, Chu Ân Lai, lúc này là ngoại trưởng, cũng đã tuyên bố tán thành Bản Tuyên Cáo Cairo 1943 là văn kiện lịch sử quốc tế mà Hoa Kỳ, Anh Quốc và Trung Quốc đã ký kết để làm căn bản cho Hòa Ước với Nhật Bản (Hòa Ước San Francisco ngày 8-9-1951). (Chou En Lai’s Statement on the Peace Treaty with Japan. People’s China, 12-16-1950).

 

Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951 Thừa Nhận Chủ Quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Năm 1951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị để ký Hòa Ước Cựu Kim Sơn ngày 8-9-1951. Mục đích để chấm dứt tình trạng chiến tranh, phục hồi và tái thiết Nhật Bản nhằm xây dựng hòa bình thế giới trong tinh thần hòa giải, hợp tác và hữu nghị theo tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và phỏng theo Kế Hoạch Marshall được thi hành từ 1947 để tái thiết Âu Châu.

Năm 1949 Đảng Cộng Sản Trung Quốc cướp chính quyền bằng võ trang tại Hoa Lục. Vì vậy, chiếu Chủ Thuyết Stimson ban hành năm 1931 trong vụ Mãn Châu Quốc, Chính Phủ Bắc Kinh không được các Quốc Gia Đồng Minh Tây Phương thừa nhận.

Trong khi đó, ngày 8-3-1949, Pháp ký với Quốc Gia Việt Nam Hiệp Định Elysee để trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Ngày 23- 4-1949, chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ thuộc địa để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ đó Việt Nam có tư cách pháp lý để đứng ra bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Với tư cách này Việt Nam được mời tham dự Hội Nghị San Francisco 1951.

Ngày 12-7-1951 Ban Tổ Chức Hội Nghị San Francisco phổ biến bản Dự Thảo Hòa Ước trong đó Điều 2 về Lãnh Thổ (Territory) đề cập đến những vấn đề chủ yếu như sau:

- Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ [để giao hoàn cho Trung Quốc].

- Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các quần đảo Hoàng SaTrường Sa [để giao hoàn cho Việt Nam].

Đây là một sự thật lịch sử và một quyết định hợp lý.

Ngày 5-9-1951, trong phiên Khoáng Đại thứ 5, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đệ trình Tu Chính Án yêu cầu Hội Nghị trao Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) cho Trung Quốc. Tuy nhiên Tu Chính Án này đã bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và 1 phiếu trắng.

Ngày 7-9-1951, trong phiên Khoáng Đại thứ 7, Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và không gặp sự phản kháng nào của 50 quốc gia tham dự Hội Nghị (kể cả Liên Sô).

Với sự công bố chủ quyền của Việt Nam về Hoàng Sa Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc tham dự Hội Nghị San Francisco 1951, chúng ta khẳng định rằng: Từ 1951 các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới thừa nhận thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, chứ không thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Ba năm sau Hội Nghị San Francisco 1951, Hội Nghị Geneva 1954 một lần nữa đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Hiệp Định Geneva 1954 Minh Thị Xác Nhận các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Chủ Quyền Lãnh Thổ của Việt Nam


 

Tháng 7-1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Geneva được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ Cường Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc). Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 một lần nữa, đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thật vậy:

a). Điều 4 Hiệp Định Geneva 1954 quy định như sau:

Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam (Vĩ Tuyến 17) kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển.

“Lực lượng Liên Hiệp Pháp (gồm có Quốc Gia Việt Nam, Pháp và đồng minh) phải rút khỏi tất cả các hải đảo tại phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17).

“Quân đội Nhân Dân Việt Nam (Bắc Việt) phải rút khỏi tất cả các hải đảo phía Nam giới tuyến” (Vĩ Tuyến 17) nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 7, từ Quảng Trị xuống Nam Cà Mau).

Do đó chiếu Hiệp Định Geneva 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa vì tọa lạc về phía nam Vĩ Tuyến 17. (Từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 7: Quảng Trị-Nam Cà Mâu). (Từ 1955 Quốc Gia Việt Nam thay đổi chính thể và lấy quốc hiệu là Việt Nam Cộng Hòa).

Vì Bắc Việt không có chủ quyền lãnh thổ từ Vĩ Tuyến 17 vào Nam, (nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) nên Chính Phủ Hà Nội không có tư cách sở hữu chủ để chuyển nhượng vùng hải phận và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa cho bất cứ quốc gia đệ tam nào, kể cả Trung Quốc và nhất là Trung Quốc. Hậu quả Công Hàm Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 không có giá trị và không có hiệu lực pháp lý.

b). Hơn nữa chiếu Điều 24 Hiệp Định Geneva 1954 Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa: “Hiệp định này áp dụng cho tất cả các lực lượng vũ trang của đôi bên. Lực lượng vũ trang của mỗi bên sẽ phải tôn trọng lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của bên kia và không có hành động nào chống phá hay phong tỏa (bên kia), danh từ lãnh thổ bao gồm cả hải phận và không phận”.

Căn cứ vào những tài liệu lịch sử nói trên, Trung Quốc đã ý thức sự yếu kém của họ về cả ba mặt pháp lý, địa lý và lịch sử. Do đó họ không bao giờ dám công khai thảo luận về vấn đề tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải. Họ thường tránh né và cho đó là một vấn đề bất khả tranh nghị. Lý do là vì họ không có tài liệu hay lý lẽ gì để đưa ra tranh nghị công khai dưới thanh thiên bạch nhật trong tinh thần chính đại quang minh.

Tất cả lý lẽ và lập trường của Trung Quốc chỉ thu gọn trong câu: “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc”. Cách đây 2000 năm, trong thế kỷ thứ nhất, Đế Quốc La Mã cũng đã từng tuyên bố “Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử của Chúng Tôi”. Theo các luật gia và chuyên viên hải học trên thế giới, thuyết Biển Lịch Sử của Đế Quốc La Mã và Đế Quốc Đại Hán đã lỗi thời và lạc hậu.

Kể từ 1982, vấn đề Biển Lịch Sử đã được giải quyết chung thẩm bởi Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển:

“Tòa Án Quốc Tế The Hague định nghĩa “Biển Lịch Sử là Nội Hải, nghĩa là vùng biển tọa lạc trên đất liền về phía bên trong đường cơ sở (ranh giới) của Biển Lãnh Thổ. Theo Tòa Án Quốc Tế: “Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo (như Phi Luật Tân hay Nhật Bản), Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. (The International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal water” (Fisherys cases UK vs. Norway, 1951, I. C. J. 116, 130); “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal water of the State” (Art. 8 LOS Convention 1982).

Vì vậy Biển Nam Hoa chỉ được coi là ngoại hải, chạy từ bờ biển Trung Hoa đến bờ biển Nam Dương, và rộng tới 2000 cây số. Lẽ dĩ nhiên nó không phải là Biển Lịch Sử hay Thềm Lục Địa của Trung Hoa.

 

Ba Mươi Năm Sau: Đổi Mới hay Chiến Thuật Giai Đoạn?

 

Một vấn đề thời sự đáng lưu ý là Thứ Sáu tuần qua 14-12-2012 Trung Quốc đệ nạp Liên Hiệp Quốc hồ sơ đăng ký chủ quyền tại Đông Trung Quốc Hải (biển Hoa Đông) nhân vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo Điếu Ngư (Diaoyu) hay Senkaku tiếp giáp Okinawa của Nhật Bản.

Trong vụ này Bắc Kinh viện dẫn Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển đòi chủ quyền lãnh thổ Điếu Ngư vì cho rằng đảo này tọa lạc trong Thềm Lục Địa 200 hải lý tại Biển Hoa Đông. Điểm đặc biệt là trong suốt thời gian 3 thập niên (từ tháng 12-1982 là ngày Trung Quốc ký Công Ước đến tháng 12-2012 là ngày đăng ký chủ quyền hải đảo) chưa bao giờ Trung Quốc thừa nhận, tôn trọng hay thi hành Công Ước. Kể cả trong hồ sơ nạp Liên Hiệp Quốc hồi tháng 5-2009 để tường trình về Thềm Lục Địa Địa Chất (Geological Continental Shelf) hay Thềm Lục Địa Mở Rộng (Extended Continental Sh0elf), Bắc Kinh đã lầm lẫn Thềm Lục Địa tính theo các tiêu chuẩn về khoa học kỹ thuật (chỉ rộng từ 370 đến 650 cây số) với Hải Phận vẽ theo Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn rộng tới hai ngàn cây số, từ bờ biển Quảng Đông đến các bờ biển Borneo, Sarawak và Palawan.

Với sự chấp chính của Tập Cận Bình, tự nhận là đại diện cho phe đổi mới, đại chúng hóa và hiện đại hóa, những người am tường sách lược Cộng Sản vẫn hoài nghi không biết Bắc Kinh có thực sự đổi mới hay không. Vì đây rất có thể chỉ là một chiến thuật giai đoạn nhằm tranh thủ nhân tâm về đối ngoại và thỏa mãn tự ái dân tộc về đối nội. Điểm rõ nét nhất là hiện nay Trung Quốc muốn phát động mặt trận pháp lý như một mục tiêu lạc hướng nhằm xoa dịu những bất mãn của quần chúng và những khó khăn nan giải của chế độ. Như Mao Trạch Đông đã từng đưa ra khẩu hiệu giả tạo “Giải Phóng Đài Loan!” sau những hậu quả tai hại của Chiến Dịch Bước Nhẩy Vọt với trên 30 triệu nông dân bị chết oan trong những trận đói nhân tạo từ cuối thập niên 1950 do tham vọng điên khùng của họ Mao.

 

Chính Quyền Hà Nội Phải Làm Gì?

 

Đây là một cơ hội thuận tiện cho Nhà Cầm Quyền Hà Nội vận dụng thủ tục đăng ký, trọng tài hay tố tụng để đòi Bắc Kinh phải tuân hành Điều 76 Luật Biển quy định các quốc gia duyên hải như Việt Nam có chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu tại Thềm Lục Địa Việt Nam, tối thiểu 200 hải lý Thềm Lục Địa Pháp Lý (trùng điệp với Vùng Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá EZZ: Exclusive Economic Zone). Ngoài ra còn có Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng từ 200 đến 350 hải lý. Theo Công Pháp Quốc Tế, từ năm 1925, với các phúc trình của Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempf, đến năm 1995 của các Luật Sư Covington và Burling (tháng 6-1995), của Học Giả Valencia (tháng 10-1995) và của người viết bài này (tháng 7-1995), miền đáy biển Hoàng Sa Trường Sa có rất nhiều triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa cho hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng. Trong trường hợp này toàn thể các hải đảo tại Hoàng Sa và phần lớn vùng biển Trường Sa đều thuộc Chủ Quyền Tuyệt Đối và Đặc Quyền Chuyên Hữu của Việt Nam, dầu không còn chiếm cứ một số hải đảo.

Chiếu các Điều 76, 77 và 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, và Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc bất cứ sự chiếm cứ võ trang nào của ngoại bang tại Thềm Lục Địa đều vô giá trị và vô hiệu lực. Như sự chiếm cứ của Nhật Bản tại các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thời Thế Chiến II. Từ tháng 4-1956 đến tháng 1-1974, và từ tháng 3-1988 đến nay, tất cả những sự chiếm cứ của Hải Quân Trung Quốc tại Hòang Sa Trường Sa đều do bạo động võ trang nên không được thủ đắc chủ quyền chiếu Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

 

Kết luận

Trong trường hợp Bắc Kinh yêu cầu Liên Hiệp Quốc áp dụng Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cho vụ tranh chấp tại các đảo Điếu Ngư trong Biển Đông Trung Quốc thì họ cũng phải tôn trọng và áp dụng Điều 76 Luật Biển cho các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông Nam Á.

 

Và Như Vậy Là Công Lý.

 

Vấn đề là hiện nay các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có còn nhất điểm lương tâm đứng lên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia?

Hay trái lại họ chỉ là những tay sai khiếp nhược chịu cúi đầu khom lưng cam tâm làm chư hầu cho bọn Bành Trướng Bá Quyền Phương Bắc. Để được vinh thân phì gia và bị mang tiếng xấu đến muôn đời (di xú vạn niên).

Quốc dân Việt Nam nóng lòng chờ đợi thái độ và hành động của Đảng Cộng Sản.

Thời gian cấp bách không cho phép họ chậm trễ nữa!

Dầu sao cũng hy vọng rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho họ đái công chuộc tội.

 

Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG

Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền

Trung tuần tháng 12-2012

Những bức ảnh thu hút hàng nghìn người, gây xôn xao trên mạng facebook


 
Những bức ảnh thu hút hàng nghìn người, gây xôn xao trên mạng facebook -
(GDVN) -Có những nỗi đau không bao giờ có thể xóa nhòa, tình yêu thương giữa con người là vô hạn...chia sẻ, giúp đỡ và đồng cảm với nhau...Đó là những bức ảnh đã gây được sự thu hút hàng nghìn người trên trang mạng xã hội.

Đây là hình ảnh tại trang trại Mengcheng, làng wangjixiang ở thành phố Bozhou, tỉnh An Huy, người nông dân tên Ge Xinping có nuôi một chú heo bị dị tật bẩm sinh, lúc mới sinh ra chú heo này chỉ có hai chân trước và lão nông đã kiên trì huấn luyện chú heo để có thể đi lại bằng hai chân trước…Điều này cho chúng ta thấy, không có vấn đề gì là không thể chịu đựng nổi trong cuộc sống, phải mạnh mẽ mới tồn tại



Cha là ai, mẹ là ai… để em bơ vơ giữa dòng đời, lưng gầy cọng một đứa em, Hỡi ai, ai biết e ngã lối nào...…Bức ảnh đã khiến hàng nghìn người phải rơi lệ thương xót cho cho đứa bé tội nghiệp.



Sự hi sinh của người mẹ là quá lớn. Mẹ đã hi sinh sắc đẹp, những hạnh phúc của riêng mình để có thể mang lại cho chúng ta 1cuộc sống tốt nhất có thể...Dù cuộc sống có giàu hay nghèo, có mẹ ở bên đã là 1điều hạnh phúc tuyệt vời....Ai còn mẹ, xin đừng làm mẹ buồn!


Liên tục xuất hiện trên các trang mạng xã hội, hình ảnh đã trở nên quá quen thuộc với mọi người trong thời gian qua. Nhưng vẫn được đông đảo cư dân mạng truyền tay nhau , kêu gọi sự giúp đỡ của mọi người để em mong chóng thoát khỏi căn bệnh quái ác. Bức ảnh thu hút hơn 150 nghìn lượt like và bình luận.


Bức ảnh cảm động về sự sẻ chia, giúp đỡ của con người trong xã hội như một bức tranh bình dị mà đầy ý nghĩa về tình yêu thương giữa con người. Người đàn ông đã mất đi một đôi chân nhưng vẫn chia những đồng xu xủa mình cho người ăn xin tội nghiệp bên đường. “ Sống đẹp là sống vì người khác chứ không chỉ sống vì bản thân mình”.



Đó là những hình ảnh xúc động của Lâm Thị Hồng Nhung tại kiên giang. Chị bị cụt hai tay khi vừa mới sinh ra, 23 năm qua mọi sinh hoạt trong cuộc sống chị phải tự mình lo liệu . Giờ đây khó khăn lại càng tăng lên khi đứa con bé bỏng của chị chào đời. Bức ảnh đã thu hút hơn 10.000like, 220 lượt bình luận và 100 lượt chia sẻ của mọi người.



Thêm một bức ảnh gợi cho ta nhớ đến câu chuyện của chú chó Grace ở Mỹ, khiến người qua đường cảm động rơi nước mắt khi bất chấp nguy bảo vệ bạn mình nhiều giờ liền trên xa lộ. Để thấy được tình yêu thương không bao giờ là giới hạn với bất cứ thứ gì trên đời, vậy mà con người vẫn có thể vô tâm với nhau.



Bạn đã gặp cảnh này bao giờ chưa? Một hình ảnh gây xúc động khác làm xôn xao cộng đồng mạng facebook là người phụ nữ tốt bụng không ngại ngần giúp đỡ ông cụ đáng thương trên đường phố.


Bất kể khó khăn như thế nào chú chó sẽ luôn là con vật trung thành nhất, người bạn tốt nhất của ông chủ nó.



Vượt qua mặc cảm em đến trường, hết lòng năn nỉ xin học vì trường không nhận học sinh khuyết tật.Chân em chai sần vì tập viết, người em đầy thương tích vì tập xe bị bạn bè trêu là khác thường nhưng em vẫn học tốt. Cuộc sống là thế ! Không ai có thể ngăn được sức mạnh đầy nghị lực của em



Tuy cụ già tàn tật và phải đi ăn xin, nhưng vãn sẵn sàng chia bớt một phần cơm của mình cho người khác. Còn có những người chân tay lành lặn nhưng đứng trơ ra nhìn. Dường như những con người đồng cảnh ngộ sẽ dễ đồng cảm với nhau hơn.


Người mẹ già còm cõi chờ con nhưng các con của mẹ lần lượt ra đi để lại mẹ một mình cô đơn trong căn nhà hoang sơ. Ấn sau giọt nước mắt của mẹ là nỗi đau nuốt ngược vào trong, là sự hy sinh vĩ đại nhất mà thầm lặng nhất..Chỉ sau vài giờ đồng hồ bức hình đã gây xúc động cho người đọc, thu hút gần 10 nghìn like và hơn 500 lượt bình luận


 


Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link