Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, December 22, 2012

VIỆT CỘNG: THỪA SAI CỦA TRUNG CỘNG


 

VIỆT CỘNG: THỪA SAI CỦA TRUNG CỘNG

 

Nguyễn văn Canh

12 tháng 2, 07

 

Thừa sai được mô tả là kẻ đóng vai trò thi hành mệnh lệnh của một ông chủ, không khác gì một tên bầy tôi gíup việc trong một gia đình, làm những công việc theo lệnh chủ nhân sai khiến, nhằm phục vụ quyền lợi của chủ nhân thuê mướn Trong trường hợp này, khi gọi Đảng Cộng Sản Việt Nam ( VC) là thừa sai của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (TC), thì vị trí của VC giống như hình ảnh này.. Tuy nhiên, có điều khác là người ta không thấy mặt ông chủ ngoại bang xuất hiện công khai, ngồi ở vị trí trực tiếp cai trị trên đất Việt nam như quan Thái thú thời xưa.

 

Được Trung Cộng giúp đỡ và đưa vào ngôi vị một chính quyền theo chế độ độc tài toàn trị. Hồ chí Minh và VC thay mặt ông chủ là ngoại bang xâm lăng theo chủ nghĩa bá quyền để cai trị dân của mình.Với quyền hành tuyệt đối và vô giói hạn, VC dùng quân đội và cảnh sát thẳng tay ngược đãi dân mình bằng các phương thức do quan thầy đưa ra. Nếu so với những gì mà các triều đại Trung hoa hay thực dân Pháp trước đây khi đô hộ, ta có thể nói rằng các biện pháp mà VC thi hành vượt quá mức tưởng tượng của con người, nghĩa là ngoại bang trước đây cai trị không có những hành vi dã man đến mức như vậy.

 

Bài này sẽ trả lời hai câu hỏi: Trung Cộng giúp Hồ vào ngôi vị thừa sai như thế nào, và Thừa sai thi hành mệnh lệnh thay cho quan Thầy Trung Cộng ra sao?

 

I. TC giúp Hồ và Đồng Đảng vào ngôi vị thừa sai.

 

GS Khương Trai ( Qiang Zhai) trong cuốn " China and the Vietnam War, 1950- 1975" do Đại học North Carolina University xuất bản năm 2000 có đề cập đến vai trò của cố vấn TC trong cuộc chiến chống Pháp ở Việt nam. Trong 2 chương, Tác giả có đề cập tới các chi tiết liên quan đến việc Hồ chí Minh yêu cầu Mao viện trợ về quân sự và lãnh đạo chính trị

 

a) lãnh đạo và viện trợ quân sự.

 

TC cung cấp quân viện và chỉ huy quân đội VC giúp VC chiếm chính quyền:

 

Tháng Tư năm 1950, Hồ chí Minh đề nghị TC gửi chuyên viên quân sự đến Việt nam với tư cách là cố vấn ở Đại Bản Doanh hay Bộ Tổng Tư Lệnh của Việt Minh và ở cấp sư đoàn, và với tư cách chỉ huy ở trung đoàn và tiểu đoàn. TC không nhận làm chỉ huy ở cấp dưới.

 

Ngày 17 tháng 4, năm 1950, quân ủy Trung Ương Trung Cộng ra lệnh thành lập nhóm cố vấn quân sự Trung quốc. Nhóm này gồm 79 cố vấn và một số phụ tá. Từ tháng 4 đến tháng 9, TC gửi cho Việt Minh số lượng lớn viện trợ quân sự và phi quân sự, gồm 14,000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo và 300 bazookas, cùng đạn duợc, thuốc men, và quần áo, và 2800 tấn thực phẩm.

 

Tháng Tám 1950, Lã quí Ba là người đứng đầu một phái đoàn cố vấn chính trị sang Việt nam.

 

Bên cạnh việc yêu cầu TC gửi viện trợ và gửi nhóm cố vấn quân sự đến Việt nam, Hồ chí Minh cũng đề nghị gửi sang một cố vấn quân sự cao cấp để điều phối chiến dịch biên giới. TC cử vị tướng nổi danh Trần Canh (1903-1961). Trần Canh đến Việt nam ngày 7 tháng 7,50.

 

Vai trò chỉ đạo cuộc chiến của Trần Canh

 

1. Huy động phụ nữ vào vị trí chiến đấu như Mao đã làm.Trần Canh viết trong hồi ký rằng y đã phát hiện ra việc Việt Minh bỏ qua công tác huy động phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và nói điều này với bộ máy lãnh đạo của Hồ. Trần Canh nói rằng TC đã áp dụng học thuyết 'chiến tranh nhân dân' của Mao. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Quốc Dân Đảng, Mao đã thành công vận động phụ nữ vào chiến tranh.

 

2. Ngày 22 tháng 7, 50, Trần Canh đã đưa ra kế hoạch 'công đồn đả viện', 'đánh chiếm các đồn bót hẻo lánh' và ' hủy diệt các lực lượng cứu viện' của Pháp. 4 ngày sau, Quân Ủy TC chấp thuận kế hoạch này. Trần Canh áp dụng chiến thuật này để đánh chiếm thị xã Cao Bằng: Việt Minh tấn công một số đồn bót gần Cao Bằng, và tập trung lực lượng phục kích tiêu diệt 3 tiểu đoàn viện binh Pháp từ Lạng sơn đi lên. Chiếm được Cao Bằng làm tình hình vùng Đông Bắc và Bắc Việt nam thay dổi.

 

3) Ngày 11 tháng 10 năm 1950, Trần Canh đưa ra các biện pháp cải tiến lực lượng Việt minh, gồm a) thăng thưởng cán bộ, như chúc mừng chiến thắng, lựa chọn và tặng thưởng các huân chương anh hùng.; b) đối xử với tù binh, gồm cả yêu cầu họ viết thư cho gia đình, bạn bè làm lung lay tinh thần đối phương, chiêu mộ tù binh người Việt và thả người Pháp và Maroc sau khi họ đã được cải tạo.

 

4) Đầu năm 1951, TC đưa ra kế hoạch tăng hiệu năng cho cơ cấu lãnh đạo quân sự của họ Hồ, giúp Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Chính Trị và Tổng Cục Hậu Cần cùng các sư đoàn giảm biên chế.

 

5) Các cố vấn TC ở cấp sư đòan mở các lớp huấn luyện cho cán bộ Việt Minh. Phương pháp giáo dục ý thức hệ mà các cố vấn Trung Cộng đưa vào Việt nam có tên gọi là 'chỉnh huấn'. Phương pháp Maoist này nhấn mạnh rằng tầng lớp ưu tú hãy tự rèn luyện để bồi dưỡng chính trị và đạo đức.

 

6) Ngoài ra, vào năm 1954, người chỉ huy tấn công Điện Biên Phủ là Vị quốc Thanh, với 3 sư đoàn tham chiến của TC, xây một con đượng từ Mông Tự cách biên giới Việt Hoa chừng 30 cây số để chuyên chở quân trang quân cụ của Trung Cộng cho trận chiến này. Võ nguyên Giáp được cơ quan tuyên truyền của VC và Trung Cộng thổi lên làm 'anh hùng Điện Biên' mà thôi.

 

b) Lãnh đạo chính trị.

 

Lã quí Ba lãnh đạo về chính trị: Cả kế hoạch xây dựng bộ máy nhà nước do cố vấn chính trị Lã quí Ba chỉ đạo, và làm các luật lệ, các chính sách liên quan đến tài chính, thuế khóa, quản lý, báo chí, phát thanh, đối xử với các nhóm thiểu số. Kế hoạch này được thực hiện từ năm 1951.

 

Tóm lại, Trung Cộng đã đóng góp vào việc đưa Hồ và đồng bọn vào vị trí chính quyền tại Viêt nam, rồi củng cố chính quyền VC cho thật vững chắc, tiêu diệt hết mọi mầm mống chống đối để làm tay sai cho chúng (TC) về sau..

 

II. Thừa sai thi hành chính sách của ngoai bang.

 

Tôi chỉ xét một vài chính sách lớn trong đó VC đóng vai trò thái thú người bản xứ, thực hiện các âm mưu của ngoại bang từ giữa thập niên 1950 tới nay.

 

a) Các âm mưu/hành động xóa bỏ căn cước của dân tộc Việt hay bán linh hồn cho TC. Sau khi ở hang Pắc Bó về, họ Hồ du nhập ngay ý thức Mác Lê và Mao vào Việt nam. Các cán bộ Đảng, Đảng viên được học tập tư tưởng Mao trạch Đông ( ngoài Mác, Lê). Các cán bộ có nhiệm vụ cưỡng ép dân chúng thực thi ý tưởng ấy. Những suy nghĩ trái với tư tưởng Mao bị cấm đoán. Nếu có ai hành động trái với tư tưởng ấy bị loại trừ hay đi cải tạo. Thí dụ là chương trình thực thi Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt trong thời gian từ 1953 đến 1956.

 

Chính sách hợp tác hóa nông nghiệp gồm tổ đổi công, hợp tác xã cấp thấp, rồi cấp cao, với phương thức bình công chấm điểm của các đội sản xuất. Lề lối sinh hoạt và suy nghĩ trong trí não mỗi người dược uốn nắn dập theo khuôn mẫu TC. Về văn hóa văn học, VC có Nhân Văn Giai Phẩm theo mẫu Trăm Hoa Đua Nở của Trung Cộng để tiêu diệt các mầm mống tư tưởng dân tộc trong nhóm văn nghệ sĩ trí thức Việt nam, ngõ hầu thống nhất hóa với tư tưởng Mao.

 

Ngay cả danh từ của Trung Cộng dùng cũng được du nhập vào Việt nam. Nào là "Chính Huấn, Rèn Quân, Chỉnh Cán, Học tập cải tạo, bài phong phản đế, đấu tố, bình bầu công điểm, địa chủ, cố nông …" được nhắc đến hàng ngày trong dân gian, các từ ngữ TC cũng được du nhập vào các tầng lớp xã hộ để dân chúng quen với lối sống , suy nghĩ của người Trung Hoa.. Sau khi chiếm được Bắc Việt, bài hát Đông Phương Hồng được Đảng viên, Đoàn viên các tổ chức quần chúng và nhiều tầng lớp trong xã hội phải thuộc lòng. Các điệu múa hát, được gọi là "múa hòa bình", "son đố mì" được dạy và phổ bến khắp nông thôn Bắc Việt vào thời gian này..

 

Ngày nay, TC đẻ ra 'kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa', đặt ra tiêu mốc cho bang giao giữa Trung Cộng và VC là 'láng giềng hữu nghị, hợp tác lâu dài, hướng tới tương lai'. Lãnh đạo VC cũng nhắc nguyên văn.

 

Ngoài ra, họ Hồ và các lãnh đạo VC còn dùng cả các hình ảnh của Trung Cộng để áp đặt ảnh hưởng của bọn bá quyền ngoại bang vào óc, vào tiềm thức người dân Việt. Một thí dụ là hình ảnh của 'lãnh tụ Mao' được treo trong các phòng họp của chính quyền, của Đảng và trong các huổi lễ lớn, hay các buổi họp ở các nơi công cộng và tôn kính Mao như một anh hùng của dân tộc Việt, ngay cả lúc Mao còn sống. Huy hiệu Mao với cờ Trung Cộng được phổ biến khắp nơi trên đất Bắc sau năm 1954.

 

b) Tàn sát dân Việt.

 

Những gì họ Hồ và lãnh đạo VC thực hiện qua các buổi đấu tố trong cuộc CCRD ở Bắc Việt từ 1953 và đặc biệt là trong những năm 1955 và 1956 với vai trò của các cố vấn Trung Cộng có hiện diện và đi sát với các đoàn CCRD tại khắp Bắc Việt để trực tiếp chỉ đạo và kiểm soát các cán bộ VC khi thi hành công tác này là thí dụ rõ rệt nhất. Điệu này vạch rõ vai trò của tư tưởng Mao trong đời sống trong dân chúng. Biết bao nhiêu người bị liên lụy là nạn nhân của chính sách ấy. Họ bị qui kết là địa chủ để bị giết hay bi đi cải tạo.

 

Con số nạn nhân là là 5% dân số Bắc Việt vào lúc đó. Mà dân số ấy là 14 triệu người. Trong số này có 40,000 đã là đảng viên và còn sống sau khi chiến tranh chấm dứt ( tôi không nói tới những người đã chết và vợ con của họ cũng là nạn nhân của chính sách này), dù chính họ đã đóng góp một phần thân thể, tài sản, mồ hôi, nước mắt v.v. chiến đấu chống Pháp để dành độc lập cho dân tộc. Sau khi thắng được giặc Pháp, Hồ thanh trừng những người ấy.

 

Người ta có nhắc nhiều đến vai trò của cán bộ Trung Cộng trong các vụ thanh trừng dã man, một cách công khai trong khi thi hành chính sách CCRD một địa chủ nổi tiếng là giàu có, dù đã bí mật nuôi dưỡng lãnh đạo hàng đầu của Đảng, kể cả chính Hồ chí Minh trong thời gian Pháp còn cai trị. Người ấy đã đóng góp cả sản nghiệp của mình cho Đảng từ thời gain đấu tranh bí mật này. Đó là bà Nguyễn thị Năm.

 

Các phương pháp đấu tố của VC áp dụng là phương pháp người ta thấy ở Trung Cộng trước đây. Họ Hồ và lãnh đạo VC gửi Hồ viết Thắng bí mật sang Trung Cộng học tập phương pháp ấy. Khi về VN, Thắng điều khiển trường huấn luyện cán bộ CCRD ở miền rừng núi Cao Bắc Lạng để có cán bộ thực thi công tác này. Cố vấn Trung Cộng thực hiện tư tưởng Mao trên đất Việt và quyết định thay họ Hồ và đồng bọn để những suy nghĩ của Mao thực hiện ở VN.

 

Điều nguy hiểm là ngọai bang dùng thái thú người bản xứ để giết bản dân một các tàn bạo mà không ai có thể chê trách ngoại bang được. Các thái thú người ngoại quốc trước kia như thực dân Pháp không dám làm như vậy. Pháp chỉ dám chém đầu một số nhà ái quốc của ta nổi lên chống lại dành độc lập cho dân tộc, như Nguyễn thái Học và 12 đồng chí của ông mà thôi. Còn lại những nhà ái quốc khác thì bị đi an trí ở nơi xa như Côn Đảo.

 

Thái thú Tàu hồi xa xưa chỉ dám bắt dân bản địa đi xuống biển mò ngọc trai, lên rừng kiếm sừng tê giác. Nếu có giết thì chúng chỉ dám chém đầu những người Việt yêu nước nổi lên chống lại chúng như Thi Sách ở kỷ nguyên đầu của Công nguyên. Sách về lịch sử của ta , cũng như của Tàu không thấy ghi dấu vết những tàn sát man dợ và lan tràn như VC đã làm. Một điều tệ hại hơn nữa là Hồ đã làm việc này nhân danh dân tộc, vì dân tộc và vì độc lập cho dân tộc.

 

Thâm độc thay âm mưu của ngoai bang trong kỷ nguyên hiện tại! Đau đớn thay, dân tộc Việt lại có những con dân như Hồ chí Minh và đồng đảng. Phải chăng, VC được ví như "ốc mượn hồn", nghĩa là bề ngoài thí chúng là người Việt, nhưng thực chất thì chúng là người Hán. Người Hán thì ai trong chúng ta đều biết là một dân tộc với mưu đồ bành trướng lãnh thổ, và tàn sát các dân tộc khác, kể cả mưu đồ đồng hóa dân bản xứ đề thôn tính các quốc gia kế cận, và sát nhập vào "trung tâm của vũ trụ" là Trung Hoa.

 

Cái tinh thần Hán đó của Hồ chí Minh và đồng bọn trái hẳn vời tinh thần truyền thống của dân tộc Việt. Đó là tinh thần hòa giải. Sau khi đánh thắng được giặc ngoại xâm, các vua trước đây không bao giờ trả thù những người đi theo giặc, và còn tạo cơ hội cho những người đó có đóng góp sức mình cho cộng đồng dân tộc. Vua nhà Trần trong lần chống quân Nguyên lần thú nhất còn cho đốt tráp tài liệu trong đó có thư của một số quan lại tư thông với giặc Nguyên. Vua Lê Lợi vào Thăng Long cũng không lùng bắt các công thần triều đại cũ, hay những người chống lại triều đình mới. Vua Quang Trung đánh xong quân Thanh cũng không hề trả thù ai. Ngài còn trọng dụng những nhân tài Bắc hà theo triều Lê.

 

Không có một người nào lại giết 'thần dân' của mình, nhất là giết những người đã cộng tác với mình, cùng chiến đấu với mình để bảo vệ bờ cõi sau khi đất nước thanh bình. Trái lại, Hồ và các lãnh đạo đã thay thế Thái thú Tàu trong nhiệm vụ tiêu diệt, kể cả Hán hóa dân Việt. Ngoài ra, Hồ và tập đoàn VC còn dâng hiến đất đai của cha ông ta để lại, tiếp tay cho Trung Hoa bành trướng lãnh thổ vào Việt nam như được trình bày trong đoạn kế tiếp dưới đây.

 

c) Sang nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho ngoại bang.

 

Sau đây là hành vi của Hồ và đồng đảng có liên hệ đến việc chuyển nhượng lãnh thổ trên đất liền và lãnh hải của dân tộc Việt cho ngoại bang.

 

1. Công hàm của Thủ tướng Việt cộng vào 14 tháng 9 năm 1958 về Biển Đông.

 

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chu ân lai, thủ tướng Trung Cộng ra một bản tuyên bố các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển kế cận là thuộc quyền sở hữu của Trung Hoa. 10 ngày sau, là ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm văn Đồng, nhân danh Thủ tướng nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa gửi cho Chu ân lai một công hàm xác nhận chủ quyền của Trung Hoa trên vùng quần đảo này. Một điều lưu ý rằng trong thời gian này vùng biển Đông được hưởng hoà bình và ổn định, và VC và Trung Cộng không có một tranh chấp nào.

 

Hai bên giao hảo với nhau tốt đẹp, nhất là Hồ và đồng đảng vừa mối chiếm được Bắc Việt từ năm 1954, vì thế người ta không biết rõ lý do của họ Hồ trong việc dâng hiến này.

 

Có một giải thích cho rằng Trung Cộng đã viện trợ cho Hồ để đánh nhau với Pháp, nay phải sang nhượng biển Đông để gạt nợ. Có một giải thích khác thì nói rằng Hồ thấy rằng sau khi thắng được một nửa nước qua hiệp định Geneve, thấy rằng các nước xã hội chủ nghĩa đã bành tướng mạnh và chế độ cộng sản đã gần kề, chủ nghĩa đại đồng sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, nên việc chuyển nhượng toàn vùng biển Đông cho Trung Cộng là việc làm cần thiết để lấy lòng tin của Mao, giúp Hồ thôn tình Miền Nam sau này.

 

2. Trung Cộng chiếm Hoàng Sa:

 

Vào nam 1956, khi người Pháp rút khỏi Việt nam, thừa thời cơ có khoảng trống về quân sự trong vùng Biển Đông, Trung Cộng mang hải quân sang chiếm vùng đảo phía Đông là vủng Tuyên Đức của Hoàng sa. Lúc đó quân đội quốc gia Việt nam mới được thành lập, chưa có khả năng về hải quân để trấn giữ. Trong khi đó, Hồ chí Minh ở Hà nội giử yên lặng, một loại yên lặng mặc thị là đồng ý. Không một lời phản kháng hành vi của Trung Cộng dùng võ lực chiếm vùng này.

 

Đến tháng 1- 1974, cũng có một khoảng trống quyền lực khác là quân đội Mỹ rút khỏi VN, Trung Cộng mang hải quân sang chiếm nốt khu vực phía Tây của quần đảo. Đó là vùng Nguyêt Thiềm. Việt nam Cộng Hòa mang hải quân ra chống trả. Ta mất một chiến hạm. Trung cộng có một chiến hạm bị thương. Vì khu vực này ở xa căn cứ không quân Đà nẵng, không quân VNCH không có khả năng hành quân lâu dài trong vùng để hỗ trợ cho hải quân và bảo vệ các đảo này, nên Trung Cộng chiếm nốt quần đảo ấy. Trong khi đó, VC vẫn giữ một thái độ im lặng.

 

Cho đến nay, Trung Cộng đã xây hồ nước ngọt, doanh trại quân sự, có phi trường cho phi cơ cánh liền lên xuống, có quân đồn trú trên đảo và sử dụng Hoàng Sa làm căn tứ tiền phương hướng xuống phía Nam. Ngoài ra, Trung Cộng còn xây dựng trung tâm du lịch trên đảo.

 

3. Tình trạng Trường Sa.

 

Năm 1988, Trung Cộng mang hải quân xuống Trường Sa, đánh chiếm một số đảo. VC cũng đưa hải quân ra chống trả. Tuy nhiên tàu của VC là tầu cũ và bị tàu của Trung Cộng đánh chìm. Vào lúc đó, Trung Cộng chiếm khoảng 6 đảo. Cũng cần để ý rằng vào lúc này VC dám kháng cự là vì Liên Bang Sô Viết đang yểm trợ VC trong mưu đồ tiến chiếm Cao Miên, rồi đi tới Thái Lan. Vì thế, VC dám tham chiến, chống trả TC. Đến năm 1992, Trung Cộng chiếm cả thảy là 8 đảo. Xem lại bản đồ mới nhất, thì Trung Cộng đã chiếm 20 đảo và đặt mốc đánh dấu chủ quyền trên đảo Đa lạc.

 

Vào tháng 12 năm 2005, có một buổi họp giữa hai bên tại Bắc Kinh, VC đồng ý khai thác dầu khí chung với Trung Cộng trong vùng Trường Sa. Sau đó, Nông đức Mạnh, Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt nam đi Bắc Kinh để thực hiện âm mưu này. Tháng 1/2007, Nguyễn tấn Dũng, Thủ tướng VC loan báo rằng công ti dần khí của 2 quốc gia bên bắt đầu thăm dò dầu khí chung.

 

Như vậy, hợp tác tìm dò và khai thác chung với TC có nghĩa là nhượng một ½ chủ quyền cho TC. Việc chiếm đóng toàn vùng Biển Đông không còn bao xa.

 

4. Chuyển nhượng vô thường một phần lãnh thổ trên đất liền và Vịnh Bắc Việt cho ngoại bang. VC âm thầm ký Hiệp ước với TC để phân định biên giới vào 30 tháng 12 năm 1999 và 6 tháng sau Quốc Hội VC cũng vội vã và âm thầm phê chuẩn Hiệp ước ấy. Rồi ngày 25 tháng 12, năm 2000, VC ký hai hiệp ước khác với TC là hiệp ước phân định vùng Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Nghề Cá chung và đến năm 2003, Quốc Hội VC phê chuẩn các hiệp ước này.

 

A. Hiệp ước phân định biên giới ký ngày 30 tháng 12 năm 1999. Đây là hiệp ước vẽ lại đường danh biên giới giữa VN và Trung Hoa. Với hiệp ước này, VC đã sang nhượng vô thường một số đất cho TC. Diện tích bị mất là bao nhiêu? Không ai biết rõ số cây số vuông bị mất, vì Bản đồ vẽ đường ranh biên giới đã bị 2 bên dấu kín. Tuy nhiên qua sự tìm tòi, người ta biết được những vùng sau đây đã đuợc chuyển nhượng cho TC:

 

1. Tại Hà Giang: Mất 5 dãy núi thuộc huyện Yên Minh và Vị Xuyên là: 1250, 1545, 1509, 772 và 233. Dãy 1509 có tên tiếng Việt là núi Đất, nằm trong phạm vi xã Thanh Thủy, Vị Xuyên. Dãy này cao 1,422 thước với khoảng 20 cao địa nằm về phía Đông. Dãy này kiểm soát toàn vùng trong đó có con đường từ Trung Hoa vào Việt nam. Dãy này đã lọt vào Trung Hoa và TC đã đổi tên thành Lão Sơn. Một dãy núi khác là dãy 1250, có tên .là Núi Bắc thuộc huyện Yên Minh và cũng đã lọt vào lãnh thổ Trung hoa, và nay TC đã đổi thành Giải Âm Sơn.

 

2. Lạng Sơn: Có 2 vùng đất nay thuộc TC. Hai vùng này này nằm hai bên quốc lộ số 1, giáp danh giới Trung Hoa, gần ải Nam Quan. Vùng thứ nhất ở phía phải của Quốc lộ số 1 là 2 dãy 820 và 636 thuộc xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định. Và vùng đất phía trái là khu vực Bình Độ 400 thuộc huyện Cao Lộc. Vùng này nằm về phía Nam cột môc số 26 của Hiệp Ước Thiên Tân.

 

B. Hiệp Ước phân chia vùng Vịnh Bắc Việt và Đánh Cá Chung.

 

1. Phân chia Vịnh. Toàn vùng Vịnh Bắc Việt có một diện tích là 123,700 km2. Dựa theo Hiệp Ước Thiên Tân, Việt nam được chia một diện tích là 63% hay 77, 931 km2. Trung Hoa có 27% hay 35, 769km2. Nay VC và TC thỏa thuận với nhau một tỉ lệ mới: Việt nam còn 66,789km2 hay 54%, và Trung Hoa được 56,902 km2 hay 46%. Một đường ranh mới cũng theo hướng Bắc Nam, chạy lượn vòng theo bờ biển Việt nam và đảo Hải nam được vẽ để chia vùng, thay thế đường màu đỏ do Hiệp ước Thiên Tân qui định.

 

Đường ranh ấy chạy tử đảo Trà Cổ xuống đảo Cồn Cỏ, Vĩnh Linh thuộc Quảng Bình.

 

Việt nam mất 11,000km2.

 

2. Hiệp ước nghề cá.

 

Đây là hiệp ước đánh cá chung giữa TC và VC.

 

Hiệp ước đánh cá chung là hiệp ước thứ 2 đi song song với Hiệp ước phân chia Vịnh.

 

Hiệp Ước đánh cá chia Vịnh làm 2 vùng: vùng Nam vĩ tuyến 20, gồm 35,000 km2. Mỗi bên góp vào 30.5 hải lý. Như vậy, nếu tình từ đường ranh mới ở giữa vịnh vào trong đất liền thì phía VN chỉ còn 12.5 hải lý (hay nếu tính từ bờ biển Việt nam trở ra). Nói khác đi, Việt nam chỉ cò chủ quyền hợp pháp trong phạm vi 12.5 hải lý mà thôi. Hiệp ước này có hiệu lực là 12 năm và được gia hạn là 3 năm.

 

Ngoài ra, còn một vùng nữa, nhỏ hơn, gọi là vùng quá độ. Vùng này ở phía Bắc đảo Bạch Long Vĩ. Hợp tác đánh cá trong vùng này có hiệu lực là 4 năm.

 

Cá bắt được sẽ chia đôi.

 

VC không phổ biến Hiệp ước này, nên không ai biết thể thức họp tác như thế nào, và cũng không thấy tàu đánh cá chung của hai bên họat động ra sao. Tuy nhiên vào ngày 8 tháng 1, 2005 vừa qua, có xảy ra vụ tàu tuần cảnh hải quân của TC, bắn và giết 8 ngư phủ Việt nam, quê ở Thanh Hóa vì lý do mà TC nói rằng đã xâm phạm hải phận TC. Nhờ vụ này mà ta có thể tìm biết một ít chi tiết về cái mà VC gọi là Hiệp ước nghề cá, và biết thêm về phạm vi chủ quyền thực sự của VN trên vùng Vịnh.

 

Ông Nguyễn phi Phường, một ngư dân sống sót trong cuộc thảm sát ngư dân Việt ấy cho biết: các thuyền đánh cá của ngư dân Việt là thuyền gỗ, hành nghề tại một địa điểm nằm về phía Tây của đường ranh ( mới) vào khoảng 12 cây số. Bất thình lình có các tầu chiến xuất hiện và họ hạ cờ TC xuống, rồi tiến vào vây xung quanh thuyền đánh cá của ngư dân Việt, rồi họ nổ súng. Các thuyền của ngư dân Việt bị đạn, và không có cách nào thóat được, và toàn thể ngư dân bị giết. Ông Phường ở xa, nên chạy thoát, nhưng bi tàu hải quân TC đuổi theo và bắn vào thuyền của ông Phường hàng trăm mũi đạn. TC đuổi theo thuyền của ông Phường vào tới tận bờ biển Thanh Hoa, rồi mới rút lui.

 

Vì có biến cố này, ngư dân Thanh Hóa cho biết thêm một số chi tiết về phạm vi quyền hạn của VC trên vùng Vịnh và hợp tác đánh cá chung. Ngư dân muốn đánh cá trong phạm vi lãnh hải của Việt nam, phải có giấy phép của chính quyền VC. Phần lớn ngư dân không xin được giấy phép vì một mặt lệ phí cấp giấy phép cho ngư dân quá cao và họ không có tiến để nộp; mặt khác không dễ gì có được giấy phép. Do đó, ngư dân hành nghề trong lãnh hải của VN bị coi là đánh cá bất hợp pháp. Được hỏi là nếu không có giấy phép thì ai trừng phạt và trừng phạt như thê nào? Ngư dân Thanh hóa cho biết rằng khi ngư dân TC bắt gặp ngư dân Việt nam hoạt động dù trong phạm vi lãnh hải Việtnam do hiệp ước mới phân định, thường hỏi gấy phép. Nếu không xuất trình được giấy phép, thì ngư dân TC "trấn lột" hết cá, nghĩa là tịch thu hết cá. Như vậy phần lãnh hải trong vùng Vịnh nay chỉ còn thực sự sở hữu của VN là 12.5 hải lý mà thôi. Tóm lại, ngư dân VN chỉ còn quyền hành nghề hợp pháp trong vòng 12.5 hải lý.

 

Đầu năm 2006, VC đã thỏa hiệp để cho hải quân TC chính thức tuần tra trong Vịnh Bắc Việt trong một chương trình là tuần tra chung trong vùng vịnh. Theo đà này đây là khởi đầu cho việc hành sử chủ quyền của TC theo quốc tế công pháp, nghĩa là trong tương lai TC sẽ viện dẫn hoạt động này, làm điều kiện để chiếm hết Vịnh Bắc Việt.

 

Tóm lại, Hồ và Đảng Cộng sản Việt nam thực sự trở thành công cụ của TC trong mưu đồ biến dân Việt và đất nước Việt trở thành một một bộ phận của Trung Hoa. Với các diễn biến trình bày ở trên, trong vòng nửa thế kỷ qua, Thái thú người Việt của Tàu là Hồ chí Minh đã đem biết bao tang tóc cho dân Việt và một phần lãnh thổ, lãnh hải Việt nam dâng hiến cho Trung Hoa. Và trong trường kỳ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, lãnh thổ Việt nam sẽ là một phần của Trung Hoa, và sẽ còn là công cụ đóng góp vào sự bành trướng của Trung Hoa xuống phía Nam../.

 

NGUYỄN VĂN CANH

AI THẮNG AI TRONG CUỘC HIẾN TRANH QUỐC- CỘNG TẠI VIỆT NAM (1954-1975) ?


 

AI THẮNG AI TRONG CUỘC HIẾN TRANH QUỐC- CỘNG TẠI VIỆT NAM (1954-1975) ?

Thiện Ý

Chúng tôi chưa có cuốn “Bên Thắng Trận” của nhà văn Việt cộng HuyĐức để đọc nên không biết nội dung cuốn sách viết gì mà đã được nhiều bậc thức giả Việt quốc có tiếng tăm ở hải ngoại khen ngợi hết lời và quảng bá như một cuốn sách bán chậy nhất hiện nay. (best Seller)

Tuy nhiên căn cứ vào tụa đề cuốn sách “Bên Thắng Trận” và qua một vài bài viết khen, chê đọc được trên mạng internet, cho thấy tác giả cuốn sách nói về “Bên Thắng Trận” trong cuộc chiến tranh Quốc –Cộng hôm qua tại Việt Nam.(1954-1975) chính là Việt cộng. Có thật thế không?

Trong khi chưa đọc và chưa có điều kiện nhận định về nội dung cuốn “Bên Thắng Trận”, chúng tôi xin gửi lại một số bài viết trong quá khứ để trả lời cho vấnđề được đặt ra:”Ai Thắng Ai trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng vừa qua?”.

Sau đây là bài trích đoạn trong tập “Tài liệu Nghiên Cứu Lý Luận: VIỆT NAM TRONG THẾ CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ MỚI” Phát hành lần đầu 1995, tái bản lần 2 năm 2005 tại Hoa Kỳ.

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN:

VIỆT NAM TRONG

THẾ CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ MỚI

Thiện Ý

LTS. Luật sư Tạ Văn Tài, Tiến sĩ Chính trị học,nguyên Giáo sư các Đại học Luật Khoa Việt Nam, hiện là giảng sư và phụ khảo ngjiên cứu dạy tại Harvard Law, Hoa Kỳ. Trong bài giới thiệu tác phẩm đã nhận xét về tập tài liệu nghiên cứu lý luận của Thiện Ý, với 4 đặc điểm:- Nhận định chuẩn xác về thời cuộc – Những tiên liệu đi trước thời đại – Những đề nghị thực tiễn của một người yêu nước trên lập trường dân tộc – Và một phương pháp luận vững chắc và rất biện chứng.

Ðể thấy sự chân xác của những nhậnđịnh này, kể từ báo số 1/2007, Luật pháp & Ðời sống sẽ trích đăng trong nhiều kỳ liên tiếp tài liệu nghiên cứu lý luận này để cống hiến độc giả.

PHẦN III

VIỆT NAM TRONG THẾCHIẾNLƯỢC QUỐC TẾ MỚI.

CHƯƠNG I: VIỆT NAM TỪ CHỦNGHĨA THỰC DÂN CŨ ÐẾN

CHỦ NGHĨATHỰC DÂN MỚI

CHƯƠNG II: CHIẾN TRANH VIỆT NAM KẾT THÚC MANG Ý NGHĨA GÌ?

Ai cũng biết là cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trên 20 năm (1954-1975) và đã kết thúc tính đến 30 tháng tư năm nay là đúng 20 năm (1954-1995). Như vậy là thấm thóat thời gian chiến tranh và hòa bình trên đất nuớc ta đã gần tương đương nhau.

Dân tộc Việt Nam đã được gì, mất gì trong những thời khoảng chiến tranh và hòa bình ấy, hẳn ai cũng có thể nhẩm tính được.Ðã có biết bao sự kiện biến đổi thăng trầm trên quê huơng đất nước và dân tộc Việt Nam trong hòa bình. Chiều hướng biến đổi chung là các bên thù địch tham chiến hôm qua, hôm nay đều như có nỗ lực đẩy lùi quá khứ, muốn mau chóng quên đi chiến tranh, hận thù để cùng hướng đến một tương lai tươi sáng và tốtđẹp cho dân tộc.

Các bên cựu thù là người Việt Nam, từngđược ngọai bang xử dụng như những công cụ chiến lược một thời, nay đa số như đồng ý là cần “hòa giải và hòa hợp dân tộc”theo đúng ý nghĩa của cụm từ này. Vấn đề bất đồng chỉ còn là phương thức thực hiện “hòa giải và hòa hợp dân tộc”thế nào cho hợp tình hợp lý, để các bên có thể chấp nhận được, hầu sớm đi đến thống nhất được tòan lực quốc gia để cùng hướng về tương lai tươi sáng cho dân tộc.

Các bên cựu thù ngọai bang, thì nayđều tỏ ra có thực tâm muốn tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cựu thù bản xứxích lại gần nhau và sẵn sàng giúp Việt Nam xây dựng dân chủ, phát triển đất nứơc đến phú cường. (Vì yêu cầu của một thế chiến lược quốc tế mới và vì quyền lợi thiết thân của chính họ).

Thành ra, càng ngày người ta có vẻ dễ dàng đồng ý được với nhau về ý nghĩa lịch sửcủa chiến tranh Việt Nam và sự kết thúc của cuộc chiến này. Một ý nghĩa trung thực phù hợp với tính khách quan của lịch sử.

Thật vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, chế độ công cụ Hà Nội được đóng vai trò thắng trận đã đưa ra ba ý nghĩa về cuộc chiến tranh Việt Nam và sự kết thúc của nó. Chúng ta hãy nhận định về ba “ý nghĩa lịch sử” này, để thấy được sự chuyển biến nhận thức của các bên tham chiến theo thời gian, những người Việt Nam cộng sản cũng như những người Việt Nam không cộng sản.

I/- Có phải đó là “Cuộc Chiến Tranh Yêu Nước, Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc và Bảo Vệ Tổ Quốc Tiêu Biểu và Vĩ Ðại Nhất Ở NứơcTa” (3) không?

Cần phân định rạch ròi cuộc chiến đánhđuổi thực dân Pháp cho đến năm 1954, hòan tòan khác với cuộc chiến tranh do chế độ công cụ Hà Nội phát động từ năm 1954 đến 1975 về mục tiêu và ý nghĩa.

Mọi người có thể đồng ý với những người Việt Nam cộng sản về ý ngghĩa của cuộc chiến tranh trước, đúng thực là “Cuộc Chiến Tranh Yêu Nước, Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc và Bảo Vệ Tổ Quốc”. Vì cuộc chiến này đã kết thúc gần một trăm năm nô lệ thực dân Pháp, sau một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam. Còn cuộc chiến tranh sau, do Cộng sản Bắc Việt phát động và tiến hành nhằm đến lúc này thì ai cũng phải hiểu đó là “Cuộc chiến tranh lợi dụng lòng yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam, xô đẩy dân tộc vào vòng cương tỏa của chủnghĩa thực dân mới”.

Nói cách khác, một cuộc chiến mà các bên Việt Namđã bị xử dụng như những công cụ thực hiện chiến lược quốc tế của các đế quốc mới. Nghĩa là một cuộc chiến tranh ý thức hệ do các cường quốc đế quốc chủ mưu và thủ lợi, đã xử dụng hai công cụ bản xứ để thực hiện cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, biến đất nước ta thành bãi chiến trường, nhân dân ta là đối tượng tiêu thụ vũ khí và thửnghiệm các phương tiện giết người hiện đại.

II/- Có phải đó là “Bản Anh Hùng Ca Vĩ Ðại Nhất Trong Lịch Sử Hàng Ngàn Năm Dựng Nước Và Giữ Nước của Dân Tộc “(4) không?

Không.

Phải khẳng định là không. Vì đây là hệquả tất nhiên của ý nghĩa thứ nhất. Bởi một khi người ta đã đồng ý được với nhau rằng cuộc chiến tranh vừa qua không phải là “Cuộc Chiến Tranh Yêu Nước, Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc. . .” thì tất nhiên việc tiến hành và kết thúc cuộc hiến tranh ấy không thể là “Bản Anh Hùng Ca Vĩ Ðại Nhất Trong Lịch Sử Hàng NGàn Năm Dựng Nước Và Giữ Nước của Dân Tộc”. Vả chăng chỉ có thể coi cuộc chiến tranh này, do công cụ cộng sản Hà nội khởi động, tiến hành và kết thúc “thắng lợi” như thế, là“Bản anh hùng ca vĩ đại nhất của các cá nhân và tập đòan làm tay sai cho ngọai bang trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”.

Vì rằng quả thực cá nhân Ông Hồ và tậpđòan cộng sản Việt Nam đã thực hiện xuất sắc các ý đồ chiến lược của đế quốc Liên Xô, vì lợi ích cho lịch sử bành trướng của tân Ðế Quốc Ðỏ Liên Xô, hòan tòan xa lạ và đi ngược lại với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Vĩ đại nhất vì trong lịch sử làm tay sai, làm công cụ thực hiện ýđồ cho ngọai bang, không có cá nhân và tập đòan nào thực hiện “Nghĩa vụ quốc tế cao cả” (!) xuất sắc hơn Ông Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam.

III/- Cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế có phải là “Thắng Lợi Của Phe Xã Hội Chủ Nghĩa” đối với “Phe Tư Bản ChủNghĩa” (5) hay không?

Không.

Lại vẫn phải khẳng định là không. Trướcđây có thể là hầu hết những người Việt Nam cộng sản không đồng ý với sự khẳng định này. Nhưng ngày nay, dù muốn dù không, đa số người Việt Nam cộng sản cũng như không cộng sản phải thừa nhận sự thật này: Vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế,các cường quốc đếquốc mới chủ động đưa cuộc hiến tranh Việt Nam đi đến kết thúc vào ngày 30-4-1975; và do đó, chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế không thể là thắng lợi của phe này đối với phe kia.

Nhớ lại, sau ngày 30-4-1975, những người Việt Nam cộng sản đã tỏ ra kiêu hãnh và tự hào rằng cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc đã là một đại thắng cho họ, vì đã làm được công việc “đẩy lùi trận địa của chủ nghĩa đế quốc, mở rộng trận địa cho chủ nghĩa xã hội, đảo lộn được chiến lược tòan cầu của đế quốc Mỹ…”(6).

Thế nhưng đến nay, dù không nói ra, thực tế và các tài liệu mật của các phe tham chiến dần dần được giải mật, đã “giác ngộ và phản tỉnh” những người Việt nam Cộng sản, giúp họ hiểu rằng, chính “đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế” đã tiêu diệt được trận địa chủ nghĩa xã hội, chủ động dập tắt cuộc hiến tranh Việt Nam nói riêng, chiến tranh Ðông Dương và các cuộc chiến tranh cục bộ khác trên thế giới nói chung, là do yêu cầu của một thế chiến lược quốc tế mới, là nỗ lực chung của các cường quốc nhằm thiết lập “một nền trật tự quốc tế mới” hay là “Một hệ thống kinh tế thế giới mới”.

Vì sao những người Việt Nam Cộng sản “Giác ngộ và phản tỉnh” được như vậy?-Chính là do các sự kiện thực tế diễn ra trong quá trình 20 năm qua.

Thật vậy, khởi đầu quá trình thời gian, ngay khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, đã có một số người Việt nam cộng sản có trình độ nhận thức lưu ý đến sựkết thúc chiến tranh không được bình thường. Trong thâm tâm những người Việt Nam Cộng sản này đã có những suy nghĩ cùng chiều với một số đông người Việt Nam không cộng sản có tâm hồn lạc quan và tầm nhìn chiến lược. Suy nghĩ rằng: Nếu việc kết thúc chiến tranh Việt Nam quả là một thắng lợi của “phe xã hội chủ nghĩa” thì tình hình Việt Nam phải biến chuyển khác hơn thực tế kể từ sau ngày 30-4-1975. Thực tế logique phải là phe xã hội chủnghĩa , cụ thể là các cường quốc cộng sản hàng đầu như Liên Xô, Trung Quốc, phải tìm mọi cách và dồn mọi nỗ lực chi viện tối đa cho chế độ cộng sản Việt Nam vượt qua những khó khăn hậu chiến, tạo điều kiện cho Việt Nam phát triểnđến cường thịnh. Ðể làm gì? – Ðểphát huy thắng lợi Việt Nam nhằm lôi kéo, mời chào các nước nghèo đói, chậm tiến trong vùng, rằng hãy noi gương Việt Nam, lao vào “một cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng dân tộc. . .”để đạt mục tiêu lật đổ các chính quyền tư sản, xóa bỏ “các chế độ người bóc lột người” đểthay thế bằng các chế độ “Xã hội chủ nghĩa”; Rằng hãy theo gương Việt Nam, để trong “Chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng” sẽ được trợ giúp tối đa vũ khí, lương thực để đánh thắng các “chính quyền phản động”; và sau chiến tranh cũng sẽ được Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác viện trợ ồ ạt, vô điều kiện trong tinh thần “quốc tế vô sản”, để cùng nhau thực hiện cuộc cách mạng vô sản trên tòan thếgiới, xây dựng “một xã hội xã hội chủ nghĩa” tại mỗi nước, tiến tới xã hội viên mãn tòan cầu “thiên đường Cộng sản” trong viễn tưởng!

Thế nhưng thực tế trên đã không xẩy ra mà chỉ thấy các hiện tượng trái chiều.

Người ta thấy Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, dường như chờ đợi một cái gì đó khác hơn. Tất cả như chỉ đứng nhìn và để mặc cho Cộng sản Việt Nam loay hoay tự giải quyết các khó khăn mọi mặt, khó khăn cũ cũng như khó khăn mới đẻ ra sau chiến tranh.

Trong những năm đầu, vào thời điểm mà mâu thẫn Nga-Hoa đã đến thời kỳ quyết liệt, đẩy Việt Nam vào thế phải chọn lựa dứt khóat: Theo Nga hay theo Tầu cộng. Trong khi chờ đợi sự lựa chọn dứt khóat này, cả hai đế quốc Ðỏ Nga-Tầu đều không có hành động chi viện tích cực nào như đã từng hào hiệp đưa vũ khí, lương thực và các phương tiện giết người hiện đại cho cộng sản Việt Nam làm “Chiến tranh cách mạng, chiến tranh Giải phóng”. Ðến khi chẳng đặng đừng cộng sản Việt Nam bó buộc phải chọn lựa, đã chọn “Mocow là tổ quốc xã hội chủnghĩa” duy nhất của mình, lập tức Trung cộng khởi động gây khó khăn thêm nữa cho Cộng sản Việt Nam.

Hành động cụ thể đầu tiên là đòi nợkhẩn cấp, rút hết chuyên gia về nước, bỏ dở các công trình đang xây dựng. . . Ðể trả món nợ trong chiến tranh này, cộng sản Việt Namđã vơ vét luá gạo, vàng bạc quý kim, tài nguyên đất nước, cùng với “chiến lợi phẩm” lấy được ở Miền Nam của “Mỹ-Ngụy”, đem trả nợ cho Trung Cộng.

Hậu quả thấy được là nhân dân cả nước trong thời gian này đã phải ăn bo bo, bột mì, đôn ngô khoai sắn. . . Ðã vậy, như chưa hả giận và như để trừng phạt kẻ phản bội “tham phú phụ bần”, Trung cộng đã xử dụng công cụ mới của mình ở Cam-Bốt (chế độ Pol Pot) tiến hành các họat động quấy phá quân sự (như đánh chiếm vài đảo nhỏ gần bờ biển phía cực Nam của Việt Nam, tấn công Tây Ninh và một số tỉnh biên giới phía Nam của Việt Nam). Các họat động quân sự này của công cụ Pol Pot, sau đó người ta hiểu được ý đồ thực sự của Trung Cộng chỉ là gài thế cho cộng sản Việt Nam ngã sấp mặt và sa lầy lâu dài tại Cam-Bốt, là gián tiếp kéo Liên Xô vào cuộc và gây thêm gánh nặng cho Liên Xô…

Bằng sự quấy phá, khiêu khích quân sự, rõ ràng là Trung Quốc đã đẩy cộng sản Việt Nam vào thế phải kéo quân vào Cam Bốt tháng 1 năm 1979. Cộng sản Việt Nam như bị ngã sấp mặt vào Cam Bốt. Vì khi hùng hổ kéo đại binh vào đất Chùa Tháp, quân đội CSVN chỉ gặp sức kháng cự lẻtẻ, yếu ớt, tiến quân như vào chỗ không người. Ðến khi vào đến Pnom Penh thì quân Khmer Ðỏ đã rút hết tự bao giờ.

Chiếmđược Cam Bốt một cách dễ dàng như thế không phải là chuyện bình thường. Chiếm được Cam Bốt mà không rút quân về được là hậu quả tất nhiên của hiện tượng không bình thường,tức là đã rơi vào thế sa lầy theo trận đồ đối phương chủ động bầy ra.

Người ta tự hỏi, tại sao Trung Cộng không nhẩy vào cứu nguy cho Pol Pot, điều mà Trung Cộng có thể làm được và thừa sức làm như đã từng làm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên trước đây (1950 -1953). Ðó chính là điều bất thường đểtạo ra trận đồ buộc Cộng sản Hà Nội phải sa vào vậy.

Như mọi người đều biết, sau khi chiếm được Cam Bốt, Cộng sản Việt Nam đã dựng lên chính quyền tay sai Heng Samring với chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Kampuchia, như để hợp pháp hóa hành động xâm lăng quân sựcủa mình. Thế nhưng hành động quân sự này vẫn bị cả thế giới lên án là xâm lược. Chế độ CSVN bị cô lập trên trường quốc tế sau hành động xâm lược bất đắc dĩ này. Hoa Kỳ trước đó đã trừng phạt Việt Nam bằng chính sách cấm vận, nay lại có cơ hội kéo thêm được nhiều nước tham gia cấm vận, bao vây kinh tế, cô lập chính trị, gây thêm nhiều khó khăn cho chế độ CSVN.

Trong khi đó, vì phải tiếp tục chiếm giữ để bảo vệ chế độ công cụ do mình dựng lên ởCam Bốt, quân cộng sản Việt Nam đã phải đương đầu với một cuộc chiến tranh du kích với Khmer Ðỏ. Một cuộc chiến mà thực tế đã làm tiêu hao nhiều sinh lực chế độ CSVN. Trong hàng chục năm bị chôn chân vào chiến trường Cam Bốt, Cộng sản Việt Nam đã tiêu phí nhiều tài nguyên đất nước và sinh mệnh của hàng trăm ngàn thanh niên Việt Nam cho cái gọi là “nghĩa vụ quốc tế cao cả” (!?!).

Nhưng dù khéo tuyên truyền, che đậy cách mấy, chế độ CSVN vẫn không tránh khỏi sự căm phẫn, bất bình trong mọi tầng lớp nhân dân. Ðó là chưa kể những di hại nghiêm trọng, lâu dài hơn về mặt kinh tế, xã hội. Trước mắt, đất nước đã nghèo nay càng nghèo hơn vì cuộc chiến tranh này và đó cũng là nguyên nhân làm phân hóa sâu sắc hàng ngũ lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN.Ðã vậy, Trung cộng còn bồi thêm những đòn trừng phạt quân sự,tiến quân vượt biện giới vào các tỉnh phía Bắc, tàn phá nặng nề những cơ sở quân sự, kinh tế. . .gọi là để “dạy cho Việt Nam một bài học”(Tuyên bố của Ðặng Tiểu Bình).

Ai cũng thấy, đây là một hành động ngạo mạn, có tính bá quyền của Trung Cộng. Thế mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa thống thuộc Liên Xô chỉ phản ứng yếu ớt, lên án chiếu lệ, để mặc cho CSVN rơi vào thế phải tự đương đầu. Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ nghĩa anh emđã có thái độ như thế, thì không trách được thái độ thờ ơ của các quốc gia không cộng sản, trước hành động ngang ngược của một nước lớn, vi phạm chủ quyền của nước láng giềng nhỏ, chà đạp lên công pháp quốc tế..

Ðiềuđáng lưu ý là ngay cả tổ chức Liên Hiệp Quốc lúc đó cũng chỉ lên án nhẹ nhàng, mà không dám đưa ra một nghị quyết mạnh mẽ nào buộc Trung Cộng phải rút quân xâm lược ngay lâp tức, tương tự như những nghị quyết về các sự tranh chấp tại Trung Ðông.

Vì rằng Trung Quốc và Việt Nam đều là hai nước hội viên Liên Hiệp Quốc. Ðáng lý ra cơ quan này có quyền làm như vậy và có bổn phận phải làm như vậy. Thành ra sự kiện này phần nào đã cảnh giác cả những người Việt Nam cộng sản cũng như không cộng sản. Trong thâm tâm ai cũng cảm thấy có cái gì không được bình đẳng trong quan hệ quốc tế; không phải chỉ cảm thấy mà còn thấy được thực tế duờng như các cường quốc đế quốc thường tự cho mình có cái quyền làm ra luật pháp quốc t ế , đểáp dụng cho các nước nhược tiểu, còn chính họ không có nghĩa vụ tuân hành.

Vì vậy không mấy ai ngạc nhiên khi Trung Cộng hành động ngang ngược, đem quân tiến chiếm quần đảo Trường Sa của Việt nam (1974), trước sự thờ ơ của Liên Hiệp Quốc, với sự lên tiến chiếu lệ ,như kêu gọi các bên tự chế, với lời khuyên can các bên tranh chấp nên giải quyết thông qua thương lượng, hòa bình.

Tựu chung cung cách xử sự của Trung quốc đối với một chính quyền, một chế độ mà trong quá khứ từng được coi là “đồng chí, anh em”, được ví von như “răng với môi, môi hở thì răng lạnh”,“tình hữu nghị Việt – Trung” từngđược tuyên xưng “đời đời bền chặt”. . . đã khởi động từ lâu một quá trình “giác ngô” hay “phản tỉnh” trong hàng ngũ những người cộng sản Việt Nam. Ðồng thời, cuộc chiến tranh Việt Nam nói riêng và chiến tranh Ðông Dương nói chung, đã đi đến kết thúc với một tốcđộ chóng mặt , khác thường (sự sụp đổnhanh chóng của các chế độ cực hữu, sau khi quân đội tháo chậy mà không kịp chiến đấu, theo nhịp độ rút quân nhanh hơn tôc độ tiên quân của đối phương,điều mà Ðại TướngViệt Cộng Văn Tiến Dũng cho là quân đội của ông ta đã tiến quân như “chẻ tre”, và tình hình chính trị mập mờ, tranh tối tranh sáng vào những tháng cuối năm 1974, đầu năm 1975. . .) đã cho thêm dữ kiện để người Việt Nam (cộng sản giác ngộ cũng như không cộng sản) hòai nghi về ý nghĩa “thắng lợi lịch sử” của cuộc chiến tranh mà chế độ Cộng sản Việt nam đưa ra khoa trương.

Nay thì thực tế ngày càng cho thêm dữkiện đầy đủ để mọi người Việt nam có thể đi đến thống nhất nhận định:

- Rằng cuộc chiến tranh Việt Nam thực chất chỉ là cuộc chiến tranh ý thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa) do các cường quốc đế quốc phát động và tiến hành trên đất nước Việt Nam, thông qua các cá nhân, tập đòan bản xứ làm công cụ tri tình (Hồ Chí minh và đảng Cộng sản Việt Nam) hay ngay tình bị ngoại bang xử dụng nhưcông cụ(Ngô Ðình Diệm và các đảng phái quốc gia), xô đẩy nhân dân Việt nam vào một cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn;

- Rằng hậu quả bi thảm của cuộc chiến tranh này đất nước và dân tộc Việt Nam phải gánh chịu, sau khi ý đồ chiến lược trong vùng của các cường quốc đế quốc đã đạt được thông qua cuộc chiến.

Và vì vậy, cuộc chiến tranh Việt nam kết thúc như thế, không phải là thắng lợi của phe này đối với phe kia, mà chỉ là vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực mà thôi.

(Còn Tiếp)

Thiện ý

( Trích: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới. Ấn hành lần đầu 1995 và tái bản năm 2005 tại Hoa Kỳ)

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link