Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, December 24, 2012

Việt Nam 2012: Những lãnh đạo múa rối

Việt Nam 2012: Những lãnh đạo múa rối
 


THỨ HAI, NGÀY 24 THÁNG MƯỜI HAI NĂM 2012


Việt Nam 2012: Những lãnh đạo múa rối



VRNs (24.12.2012) -Washington DC, USA - Quan tâm hàng đầu trong năm 2013  của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đặt trọng tâm vào việc sửa đổi Hiến pháp và lấy phiếu tín nhiệm 49 chức danh hàng đầu của Nhà nước, trong đó có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng nếu căn cứ vào những việc làm và lời nói của lãnh đạo trong năm 2012 thì chuyện của năm 2013 cũng chỉ là trò chơi múa rối trước mắt người dân trong khi hiểm họa mất sạch tài nguyên ở Biển Đông vào tay Trung Cộng đã rõ hơn bao giờ hết.

Sau đây là những bằng chứng:

- Tại  Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã đưa ra Nghị Quyết ngày 31/12/2011 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Đảng viết : “ Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.”

Đảng còn  nhìn nhận:“ Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”

Vậy bây giờ Nghị quyết 4 đã tròn 1 năm mà đảng đã làm nên cơm cháo gì chưa ?

Tất nhiên là chưa và sẽ “chưa mãi” bởi vì sau khi Bộ Chính trị và Ban Bí thư gồm 18 người,14 trong Bộ Chính trị và 4  của Ban Bí thư (Ban Bí thư có 10 người nhưng 6 người cũng đồng thời là Ủy viên  Bộ Chính trị ) làm gương họp hành kiểm điểm cá nhân và tập thể trong 21 ngày rồi “đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét có hình thức kỷ luật khiển trách về trách nhiệm chính trị đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị”.

Nhưng, theo Thông báo kết luận của Hội nghị Trung ương 6 ngày 16/10/2012 : “ Sau khi thảo luận, cân nhắc nhiều mặt, Ban Chấp hành Trung ương đã bỏ phiếu quyết định không kỷ luật Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị.”

Thế là màn kịch chấm dứt, sân khấu hạ màn để đào kép vừa dâm chết Nghị quyết 4 tẩy xóa hóa trang, rửa tay vấy máu cho ra người thật.

Nhưng tại sao sau bao nhiều lỗi lầm gây tai họa cho dân cho nước từ năm này qua năm khác, năm sau cao hơn năm trước,  mà chỉ nhận về “trách nhiệm chính trị” ?

Những cái chết oan, tức tưởi giữa vùng biển của Tổ quốc của bao nhiêu ngư dân trong tay quân thù Trung Cộng ở Biển Đông; bao nhiều trăm ngàn tỷ bạc tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân lao động đã bị tiêu tan ở Vinashin và Vinalines không phải là “trách nhiệm chính trị” mà là những tội ác cần phải bị xét xử.

Rồi những tiếng than, tiếng khóc chống bất công, đòi công bằng và máu đã đổ trên những cánh đồng, thửa đất của hàng trăm ngàn nông dân ở khắp nước, tiêu biểu như ở Tiên Lãng, Văn Giang và Vụ Bản đâu chỉ là “trách nhiệm chính trị” ?

Vì vậy, những gì Hội nghị Trung ương 6 đã làm như “xin nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân và cố gắng sẽ làm hết sức mình để từng bước khắc phục”  có nghĩa lý gì không, hay chỉ là hành động chạy tội, lấp liếm bao che cho nhau để cùng hưởng lợi của Ban Chấp hành Trung ương đảng và từ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuống cho đến anh cán bộ quèn cấp xã, phường ?

Vậy thì ông Nguyễn Phú Trọng  cần phải đọc lại lời nói của mình trong Diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 4 xem có còn gía trị gì không hay ông đã “bốc đồng” nói cho dân nghe  sướng lỗ tai ?

Ông nói : “ Sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu làm trước; tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài; tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tệ hại.”

Trung ương của ông đã làm trước, nhưng không  gương mẫu mà đã làm gương mù cho đảng viên nên  từ sau Hội nghị 6, Tỉnh, Thành nào cũng chỉ biết vươn cổ ra “nhận lỗi” cho huề vốn !

Trong Diễn văn bế mạc Hội nghị 4, ông Trọng còn  đánh lừa dân khi ông nói để cho mọi người tưởng ông đã thật lòng quyết chí ra tay làm sạch đảng. Ông  ra lệnh : “Mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác, trung thực, đánh giá mình cho thật khách quan. Tập trung kiểm điểm trên các vấn đề trách nhiệm đối với công việc, đối với đơn vị; phẩm chất cá nhân của mình về các mặt : nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, quan hệ với quần chúng… Thấy rõ ưu điểm để phát huy, nhận ra khuyết điểm để sửa chữa, coi trọng sự giáo dục, sự giúp đỡ chân thành của đồng chí, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, “trị bệnh cứu người”. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng.” 

Sẽ có đảng viên rất thích thú khi đọc lại những lời này vì chính Tổng Bí thư  đã dạy họ nói dối, hay “nói mà không làm” như trong suốt 13 năm đảng đã không làm theo Nghị quyết 6 (lần 2) “ Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay  dười thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu khóa VIII.

Đây cũng chính là lý do tại sao đã có chuyện “nước đổ đầu vịt” mà ông Trọng đã vô tình, hay cố ý nói ra trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 4. Ông  bảo : “ Cần nghiêm túc phân tích thật sâu sắc những nguyên nhân chủ quan, chỉ ra những căn bệnh gốc rễ, như: do không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, mang nặng chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội thực dụng; buông lỏng các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng; quan liêu, xa dân, thiếu gắn bó mật thiết với nhân dân; việc tổ chức thực hiện nghị quyết không đến nơi đến chốn, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm. Đặc biệt, có một câu hỏi lớn, rất day dứt, trăn trở lâu nay cần được trả lời cặn kẽ là: Vì sao công tác xây dựng Đảng được Trung ương rất coi trọng, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị rất đúng, rất hay, nhiều cuộc vận động sâu rộng, nhưng kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu? Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng? Vướng mắc chính là ở chỗ nào? Đề nghị Trung ương đi sâu phân tích, mổ xẻ, chỉ ra đúng căn nguyên để có biện pháp chữa trị hữu hiệu.”

 

THAM NHŨNG MUÔN NĂM

- Bây giờ đến chuyện phòng , chống tham nhũng thì chuyện “dài không có đọan kết” này đã được chuyển từ tay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trưởng Ban chỉ đạo, phòng chống Tham nhũng (từ 1977) sang tay Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng từ sau Hội nghị Trung ương 5.

Đảng không nói ra lý do tại sao ông Dũng đã bị tước quyền, nhưng ai cũng biết ông ta chính là Ủy viên Bộ Chính trị đã bị Bộ Chính trị và Ban Bí thư đề nghị bị kỷ luật và đã được Ban Chấp hành Trung ương đảng tha tội trong kỳ họp thứ 6.

Nhưng tại sao chuyện phòng, chống Tham Nhũng theo Luật đã có từ năm 2005 và nhiều Nghị quyết tiếp theo mà vẫn không đi đến đâu?

Lý do thì nhiều nhưng chỉ cần nêu ra vài tỷ dụ như quyền Giám sát và Kiểm sát của Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc đã không được thi hành nên những kẻ tham nhũng cứ tự do “hành nghề” trong tất cả mọi cơ quan, tổ chức và ngành của nhà nước, nhất là ngành công an, thuế vụ, ngân hàng và qủan lý đất đai thì tha hồ làm ăn không ai dám đụng tới.

Tại sao vậy ? Bởi vì đảng nắm tất cả mọi việc mà người của đảng lại nắm cả Quốc hội, Mặt trận Tổ Quốc và trong tất cả các cơ quan, kể cả Báo chí nên tham nhũng là chuyện do đảng tạo ra và được đảng bảo vệ nên không sao giải quyết được.

Chuyện này đã được Hội nghị Trung ương  5 (Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí), chứng minh : “ Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành , nhất là trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý ngân sách; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; công tác cán bộ; quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp…, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.” 

Lý do ? Đây là lời giải thích của Hội nghị 5 : “Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém nêu trên là: Không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa thực hiện tốt trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí . 

Vai trò của nhiều chi bộ, tổ chức cơ sở đảng còn mờ nhạt; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành, kể cả cấp Trung ương, chưa nêu gương về đạo đức, lối sống, giảm sút sức chiến đấu và thiếu kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí . Cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế – xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập; một số quy định thiếu nhất quán, thiếu chặt chẽ, vẫn còn tình trạng “xin – cho”. Tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng chưa đủ mạnh, có mặt chưa hợp lý.” 

Ngoài ra vì đảng không đồng ý để cho một cơ quan “độc lập” với đảng, với Chính phủ và Quốc hội lo chuyện bài trừ tham nhũng nên việc chuyển quyền từ tay ông Nguyễn Tấn Dũng sang tay ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng giống như chuyện “đánh bùn sang ao”, hay nói cách dân dã là “vừa đá bóng vừa thổi còi” thì còn trông mong gì ?

Tỷ dụ như chuyện “Kê khai tài sản” của cán bộ, đảng viên các cấp lãnh đạo và trong các ngành có cơ hội “hái ra tiền” như Hải Quan, Đất đai, Thuế khoá, Công an-Cảnh sát v.v… cũng đã thành chuyện “nước lã ao bèo” từ khuya rồi, nhưng các cấp lãnh đạo, kể cả ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng chỉ biết nói cũng “cần sự đóng góp ý kiến của nhân dân để đạt hiệu quả thực chất”, khi ông tiếp xúc với cử tri Quân 1, Sài Gòn, ngày 15-12-012, thì còn “cơm cháo gì” ?

 

SỬA HIẾN PHÁP LÀM GÌ ?

-Chuyển qua chuyện sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì dự trù Bản Dự thảo này sẽ đem  ra hỏi ý dân từ ngày 02/01 đến 31/3/2013. Nhưng khả năng “dân chủ hoá” chế độ qua việc sửa đổi Hiến pháp đã bị ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội giết chết khi ông bảo: “Thứ tự một số điều khoản khác trong Hiến pháp có thể thay đổi, riêng vị trí của “điều 4″ vẫn phải được giữ nguyên.”(ViệtnamNet, 6/11/2012)

Điều 4 mới sẽ khẳng định : “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Điều 4 cũ của Hiến pháp 1992  viết :  “ Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

So sánh 2 Điều thì vai trò “lãnh đạo” tuyệt đối  của đảng CSVN không thay đổi, trong khi nhiều người Việt Nam từng trông đợi Việt Nam sẽ có một nhà nước dân chủ, bầu cử tự do với bản Hiến pháp mới.

Những người Việt Nam này sẽ bất bình hơn khi họ thấy ông Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Nguyên Cát của Học viện Quốc phòng dám bịa đặt trên Báo Quân đội Nhân dân ngày 16/12/2012 rằng : “Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được thể chế hóa tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 và cần tiếp tục được khẳng định trong sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này, đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam….Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được quy định tại Điều 4, Hiến pháp năm 1992 là hoàn toàn chính đáng, cần tiếp tục được khẳng định trong nội dung sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này.”

Căn cứ vào đâu mà ông Cát dám nói như đanh đóng cốt như thế ?

Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ bỏ phiếu bầu đảng CSVN vào vị trí lãnh đạo, ngược lại đảng CSVN đã “tự phong, tự chức” rồi bắt dân phải nghe, phải chấp nhận và làm theo!

Người Việt Nam nào cũng biết như thế và cả thế giới đều biết đảng CSVN chưa bao giờ được dân bỏ phiếu cho quyền lãnh đạo. Đảng của ông Đại tá Cát cũng chưa dám “trưng cầu dân ý” xem dân có muốn đảng cai trị họ không, thế mà ông vẫn ngang nhiên khuyến cáo: “Chúng ta cần thống nhất cao, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và toàn xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 cần được tiếp tục hiến định trong sửa đổi, bổ sung hiến pháp lần này.” 

Như vậy thì sửa Hiến pháp làm gì cho phí phạm công lao và tiền bạc của dân ?

Quốc hội của nhà nước CSVN đã chứng minh “vô cảm” và lạnh cảm” với nhiều chuyện bức thiết của dân, nhưng “vô duyên” và “tội cho Tổ quốc” nhất  là họ đã không dám có phản ứng quyết liệt với những hành động xâm lấn biển đảo Việt Nam của Trung Cộng.

Không những thế, nhiều Đại biểu Quốc hội của các Tỉnh, Thành ven biển và vùng đất chiến lược như ở Tây Nguyên và dọc biên giới Trung-Việt đã “về hùa” hay “bất động”trước sự bành trướng của Trung Cộng trong dự án khai thác Bauxite, thuê mướn đất trồng cây kỹ nghệ và xây dựng các khu du lịch, ăn chơi ở các địa điểm chiến lược có nguy cơ đến an ninh !

 

BÊNH TÂU XÂM LƯỢC

- Sau cùng là chuyện Trung Cộng đang đe dọa chiếm hết biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông và đó đây đã xuất hiện những con người có hành động “cõng rắn cắn gà nhà” hay tư tưởng “nội xâm”.

Tuy lãnh đạo thì luôn luôn nói “kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” nhưng ai ở Việt Nam  cũng biết tổ quốc đang lâm nguy trước đe dọa không khoan nhượng của Trung Cộng đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biền Đông.
Vậy tại sao  đảng và nhà nước lại không đứng về phía dân để chống các hành động ngang ngược của Trung Cộng đối với ngư dân và bảo đảm quyền công dân chống âm mưu bành trướng xâm lăng của Bắc Kinh ?

Từ hai năm qua, trong khi lực lượng Công an đã đàn áp dã man và rất thô bạo đối với người dân biểu tình chống Trung Cộng từ Sài Gòn ra Hà Nội thì Ban Tuyên giáo Trung ương lại ra lệnh cho các báo đài xuyên tạc những hành động ái quốc và  về hùa với các viên chức đảng ra sức chống phá quyền biểu tình của người dân.

Chẳng những thế, điển hình như ông Nguyễn Thế Kỷ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo còn  hù họa báo chí trong cuộc họp giao ban ngày 11/12/2012 khi ông ta cố tình bẻ cong chuyện 2 tầu đánh cá Trung Cộng chủ mưu “cắt cáp” tầu thăm dò địa chấn Bình Minh 2  của Tổng công ty dầu khí Việt Nam thành chuyện chẳng may “làm đứt cáp”.

Tại sao ông Nguyễn Thế Kỷ lại ngang ngược đứng về phe Trung Cộng như thế thì  không ai trong đảng, kể cả Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh, dám đứng ra giải thích.

Người thứ nhì có hành động “thân Trung Cộng và nhớ ơn Trung Cộng” ra mặt là Đại tá Trần Đăng Thanh khi ông ta giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học, theo Basamnews phổ biến hôm 19-12-2012.

Ông này ru ngủ các giáo chức Đại học rằng : “Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ,  nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên….”

“… Điều thứ hai không được mất đó là môi trường hòa bình, thứ hai và thứ nhất lại mâu thuẫn với nhau cho nên xin thưa với các đồng chí không được mất chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình. Trong tình hình hiện nay phải giữ được môi trường hòa bình. Để xảy ra chiến tranh, xin thưa với các đồng chí vất vả lắm.

Tinh thần bạc nhược, quy đầu thần phục ngọai bang của Đại tá Trần Đăng Thanh còn đáng khinh hơn khi ông ta lên lớp : “Tôi xin thưa với các đồng chí mặc dù chân họ đá nhưng ta phải biết ta tránh. Cho nên cái không được mất thứ hai là môi trường hòa bình. Cái không được mất thứ ba đó là mối tình đoàn kết nhân dân hai nước. Nói điều này thì có người bĩu môi, có người chưa đồng tình. Nhưng thôi xin thưa với các đồng chí, lịch sử giao cho dân tộc chúng ta phải sống bên cạnh cái nước ta bảo họ tư tưởng nước lớn, không phải tư tưởng, họ là nước lớn thật sự. Nói tư tưởng thế nào được, họ là nước lớn thật sự. Dân số của họ là 1 tỷ 354 triệu người dân, ta có 87 triệu, họ là nước lớn thật sự, cứ bảo tư tưởng nước lớn, họ nước lớn ,không phải tư tưởng, thật sự! Trong chiều dài lịch sử trên dưới 20 lần họ xâm lược chúng ta cơ mà. Các đồng chí  học [lớp] “Đối tượng 2″, tôi còn mời các đồng chí xem chiến tranh tháng 2 năm 79 thế nào. Các thầy còn được xem cụ thể hình ảnh, diễn biến ra sao vì hồi tôi còn trong Viện còn nhiều thông tin, mà được cung cấp đầy đủ, cho nên tôi phải nói rõ với các thầy như vậy. Cho nên ta không phải như  con thuyền, ta không phải là một căn hộ, không thích ở Mỹ Đình thì sang Linh Đàm, không thích Linh Đàm thì về Trung Hòa Nhân Chính, không phải thích ở sông Hồng thì ra sông Mã mà ở. Xin thưa, lịch sử giao chúng ta như vậy, nhớ lời dặn của các cụ ngày xưa: “Thứ nhất cận thân, thứ nhì cận lân”“Vắng anh em xa mua láng giềng gần”, rồi “Bán anh em xa mua láng giềng gần”“Vắng anh em xa có láng giềng gần”. Ta phải chấp nhận.

Còn đối với Mỹ thì sao, ông này mánh mung : “Đối với Mỷ, ông này cảnh giác : “Thứ hai, với Mỹ. Xin thưa với các đồng chí trong giáo dục đặc biệt là phòng sinh viên và đoàn thanh niên các đồng chí nhớ người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả. Phải nói rõ luôn. Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện “thả con săn sắt, bắt con cá rô”. Họ chưa bao giờ tốt thật sự với chúng ta, tội ác của họ trời không dung, đất không tha.”

Như vậy, có nên coi những miệng lưỡi Nguyễn Thế Kỷ và Trần Đăng Thanh thuộc hàng ngũ những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà” như lời cảnh giác hôm 2/9/2012 của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang chăng, hay nên gọi họ là những “kẻ nội thù” rất đáng “đưa ra giữa chợ” cho mọi người nhìn mặt ?

 

LẤY PHIẾU-BỎ PHIẾU TÍN NHIỆM ?

- Sau cùng là chuyện “lấy phiếu tín nhiệm” và “bỏ phiếu tín nhiệm” đối với 49 chức danh hàng đầu của Nhà nước sẽ được Quốc hội thực hiện vào tháng 5/2013.

Theo tin trong nước thì các chức vụ được bỏ phiếu gồm :”Chủ tịch nước, phó chủ tịch nước; chủ tịch và các phó chủ tịch QH, chủ tịch Hội đồng dân tộc, chủ nhiệm các ủy ban của QH, các thành viên khác của UBTVQH; Thủ tướng, các phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; chánh án TAND Tối cao, viện trưởng VKSND Tối cao, tổng Kiểm toán Nhà nước.

Còn HĐND lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với: Chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy viên thường trực và trưởng các ban của HĐND; chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên của UBND.” (Báo Pháp Luật TpHCM, 22/11/2012)

Việc làm này sẽ diễn ra  theo ba mức độ: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp”.

Vẫn theo báo Pháp Luật TpHCM thì : “Người giữ chức vụ có quá 50% đại biểu QH, HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên 2/3 đại biểu QH, HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc hai năm liên tiếp có quá 50% đại biểu QH, HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” thì UBTVQH, Thường trực HĐND sẽ trình QH, HĐND bỏ phiếu tín nhiệm.

Khi tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm, người có quá 50% đại biểu QH, HĐND bỏ phiếu “không tín nhiệm” thì sẽ bị QH, HĐND xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức.”

 

Theo Điều 11 của Nghị quyết của Quốc hội thì tiến trình “bỏ phiếu tín nhiệm” diễn tiến như sau:

1. QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn trong các trường hợp:

a) UBTVQH đề nghị;

b) Có kiến nghị bằng văn bản của ít nhất 20% tổng số đại biểu QH;

c) Có kiến nghị của Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban của QH;

d) Người được lấy phiếu tín nhiệm có trên 2/3 tổng số đại biểu QH đánh giá “tín nhiệm thấp”;

đ) Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu QH đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tiếp.

2. HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu trong các trường hợp:

a) Có kiến nghị bằng văn bản của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu HĐND;

b) Có kiến nghị của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp;

c) Người được lấy phiếu tín nhiệm có trên 2/3 tổng số đại biểu HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp”;

d) Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tiếp.

Với thủ tục rườm ra và quanh co qua nhiều giai đọan như thế thì việc muốn lọai một viên chức ra khỏi chức vụ không dễ dàng gì cho nên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã cảnh giác hãy coi chừng  chuyện “chạy phiếu” tại Quốc Hội.

Như vậy thì nếu căn cứ vào kết qủa của những việc đảng CSVN đã hòan tất trong năm 2012 kể từ Nghị quyết 4  thì có còn gì để gọi cho văn hoá hơn là “trò múa rối”  khi cả nước bước vào năm mới 2013  ?



 

 

 


__._,_.___

Trung Quốc thời Tập Cận Bình: Tiếp tục lấn lướt láng giềng


 


THỨ HAI, NGÀY 24 THÁNG MƯỜI HAI NĂM 2012


Trung Quốc thời Tập Cận Bình: Tiếp tục lấn lướt láng giềng



 


Biểu tình tại Hà Nội chống các hành động xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông, ngày 09/12/2012.
REUTERS/Stringer (hình bên)

Lê Phước_RFI

Kể từ khi ông Tập Cận Bình tiếp chức vị Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc, thế giới cũng đã hiểu được phần nào đường lối sắp tới của ông qua những biểu hiện đầu tiên trong các lĩnh vực đối nội và đối ngoại.

Tuần san Le Nouvel Observateur đăng bài nhận định của chuyên gia René Backmann về chủ đề này với dòng tựa đáng chú ý : «Ông Tập và căng thẳng trên biển Trung Hoa ».
Hồi tháng rồi, khi được bầu làm Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc tại đại hội lần thứ 18 của đảng này, tân Tổng bí thư Tập Cận Bình đã cam kết sẽ : thay đổi trong đối nội và tiếp tục chính sách của người đi trước trong đối ngoại.

Sau đó, trong chuyến công cán đầu tiên ngoài thủ đô Bắc Kinh, ông đã chọn đặc khu kinh tế Thâm Quyến, biểu tượng mở cửa kinh tế và chính trị của Trung Quốc. Ông cũng đã tỏ quyết tâm loại trừ những khuyết tật của hệ thống khiến lòng dân căm phẫn bấy lâu nay bằng việc phát động chiến dịch chống tham nhũng. Đặc biệt tại tỉnh Tứ Xuyên có nhiều quan chức của đảng và của chính quyền đã bị bắt. Tác giả bài viết nhận định, ông Tập Cận Bình có vẻ đã giữ đúng lời hứa trên phương diện đối nội.

Còn trên phương diện đối ngoại thì sao ? Ông Tập Cận Bình có tiếp tục chính sách « lấy thịt đè người » đối với các nước láng giềng hay không ? Theo tác giả thì có lẽ là : có !

Minh chứng đầu tiên, đó là việc Trung Quốc đánh dấu buổi đầu thời Tập Cận Bình bằng việc đáp thành công chiến đấu cơ trên chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, chiếc tàu sân bay duy nhất của Trung Quốc tính đến hiện tại. Cùng với việc đó, các cơ quan truyền thông chính thức của Trung Quốc cũng đã rầm rộ đưa tin theo kiểu « quảng cáo » về sự kiện này.

Tiếp đó là việc Trung Quốc cho máy bay tuần tra xâm phạm vùng hải phận đang được Nhật Bản kiểm soát và đang trong tranh chấp giữa Nhật và Trung Quốc. Tác giả nhấn mạnh, hành động « có tính toán » này và việc quảng cáo rầm rộ cho sự kiện đáp máy bay nói trên đã cho thấy tham vọng khu vực của Trung Quốc sẽ không thay đổi dưới thời Tập Cận Bình.

Trung Quốc hung hăng, đẩy các nước láng giềng về phía Hoa Kỳ

Tác giả nhắc lại, Trung Quốc vốn có tranh chấp lãnh thổ trên các vùng biển tiếp giáp nước này với nhiều quốc gia láng giềng, và việc tranh chấp này đã và đang khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, đẩy các nước vào cuộc chạy đua võ trang. Tranh chấp này theo tác giả đã vượt tầm vóc khu vực. Trong bối cảnh đó, đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc là Bắc Triều Tiên lại làm cho tình hình thêm phức tạp khi vừa tiến hành phóng vệ tinh mà các nước nghi ngờ là thử tên lửa đạn đạo tầm xa.

Trong mớ bòng bong đó, tại Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama lại vừa tái cử nhiệm kỳ 2 và tuyên bố tiếp tục tăng cường chính sách hướng về vùng Châu Á -Thái Bình Dương của Mỹ. Hoa Kỳ đã và đang tăng cường các thỏa thuận về kinh tế và chiến lược với các nước láng giềng của Trung Quốc, những nước mà bị chính phủ Bắc Kinh lấn lướt đã mở rộng vòng tay đón Hoa Kỳ trở lại. Hoa Kỳ cũng vừa cho củng cố sự hiện diện tại Úc và Singapore,  thêm vào số quân 320.000 người đang đóng ở vùng Thái Bình Dương.

 

 

 

Khủng hoảng kinh tế :Kinh tế Thị Trường Xã hội


 

Lun Bàn Kinh Tế Cui Năm 2012 :

Khủng hoảng kinh tế :

Phần II:

Kinh tế Thị Trường Xã hội



 

 

Phan Văn Song, TS
December 22, 2012
0

Luận Bàn Kinh Tế Cuối Năm
Với khủng hoảng Kinh tế, nền kinh tế Tư bản tân tự do đã thất bại: Kinh tế Thị trường Xã hội?
Con đường để giải quyết? «Liên Hiệp (Âu châu) dành mọi nỗ lực để xây dựng lâu dài một Âu châu .. trên một nền Kinh tế Thị trường Xã hội … »* Hiến Ước Âu châu 1 : 3

Khủng hoảng kinh tế

Phần II

Kinh tế Thị Trường Xã hội

 

1. Một chủ thuyết mới?

 

Nếu quan niệm Kinh tế thị trường Xã hội vẫn chưa có một tương lai rõ ràng cũng vì trong quá khứ, quan niệm ấy cũng thiếu một lịch sử trong sáng. Từ ngữ nầy là một sự vá víu không vững vàng giữa những quan điểm khác nhau. Người đầu tiên đưa từ ngữ ấy vào chánh trường đã sử dụng như một khẩu hiệu tranh cử.
 
 Đó là ông Thủ tướng Đức, Tiến sĩ Ludwig Erhard. Vào những năm ’50, ông được xem như là người cha đẻ của phép «mầu nhiệm (kinh tế) Đức», ông cũng là vị kinh tế gia lỗi lạc, giáo sư của Đại học Fribourg với lý thuyết «ordo libéralismus», một lý thuyết kinh tế, mô tả một nền kinh tế tuy được gọi là « tự do » nhưng được ông đóng khung trong những « luật lệ chặc chẽ ».
 
Để tranh cử, và để chống lại những đôi thủ thuộc Đảng Xã hội đang đòi hỏi nới rộng những quyền hạn và vai trò kiểm soát của Nhà Nước dể sửa sai những kết quả của một chế độ kinh tế « Tư bản tự do» bằng những luật «công bằng xã hộỉ », ông bèn dùng một xảo thuật nghề nghiệp : Từ ngữ « xã hội » được ngay Ngài Thủ tướng, giáo sư kinh tế đại tài xữ dụng để chận đứng những đòn lý luận của các đối thủ của ông. Và ông chứng minh rằng « không gì xã hội bằng kinh tế thị trường ! » và ông ráp ngay Kinh tế thị trường với tĩnh từ Xã hội.
 
Nếu thoạt đầu chỉ là một khẩu hiệu tranh cử, với tài nghệ của ông, từ ngữ nầy biến thành một ý thức hệ, một quan niệm kinh tế, một trường phái kinh tế. Với những bài nhận định, phân tích khoa học để tạo một sự tin tưởng rộng rãi trong dân chúng, từ ngữ nầy đã biến thành một chủ thuyết.

«Không nên nói như vậy, vì đây là một sự nhầm lẫn khổng lồ» Tiến sĩ Friedrich Von Hayek (1899 -1992), giải Nobel kinh tế 1974, vị trưởng tràng của trường phái Áo, của những trí thức gia thuộc phái « tự do chủ nghĩa » toàn thế giới, phải thốt lên câu nói nầy, để răng dạy anh chàng đàn em, anh học trò Ludwig Erhard đã dám mó tay mở cái nồi « luyện linh đơn », « cái hộp của Pandore » (hộp bửu bối). Và mặc dù Ngài Tiến sĩ Thủ tướng giáo sư kinh tế cố đưa ra những bài đính chánh, những lời hối hận, mọi việc đã trễ rồi : Con tàu « Kinh tế thị trường xã hộỉ » đã có một đời sống độc lập, trôi theo những giòng tư tưởng chánh trị như một con thuyền không bến.

Chủ thuyết nầy đã phá vỡ nền kinh tế thị trường tự do và đánh bại « nhóm tự do » ở Đức.

Vậy thì:

 

2. Chủ thuyết Kinh tế thị trường xã hội nói gì?

 

Nền Kinh tế nầy theo lý thuyết, phải là một nền kinh tế thị trường tự do, nghĩa là bị ảnh hưởng và phát triển theo nhịp của luật Cung/Cầu của thị trường. Nhưng nó phải được kiểm soát, bổ sung, sửa sai bởi Nhà Nước, để san bằng sai biệt xã hội giai cấp, tạo công bằng xã hội, tạo sự liên đới bổ sung giữa những giai cấp, thành phần xã hội.

Khi được định nghĩa như vậy, chủ thuyết nầy được nhóm « dân chủ xã hội » Âu châu, và đặc biệt Đức, làm vũ khí tuyên truyền ngay. Họ xữ dụng như « con đường thứ ba », đi giữa hai làn quá khích « kinh tế thị trường tự do » và « kinh tế chỉ đạo ».
 
Con đường kinh tế thứ ba nầy biến thành « con đường ngoại giao thứ ba » khi các nhà lãnh đạo Âu châu sử dụng nó để đứng giữa « Tư bản Tự do chủ nghĩa » Huê kỳ vả khối « Cộng đồng chủ nghĩa Đỏ » Liên Sô.
 
Và cuối cùng vào đầu thế kỷ thứ XXI lại được tất cả những ai, có lý hay không có lý, xữ dụng để lánh xa Huê kỳ, với G.W. Bush, nhóm Tân Bảo thủ và các đồng minh, được nhận diện đó là « trường phái anglo – saxon tân tự do» một cách miệt thị và đầy kỳ thị chủng tộc tánh. Một trường phái bị nguyền rủa là một trường phái kinh tế thị trường hổn loạn, vô tồ chức, rừng rú.

Nhưng hiện nay với sự khủng hoảng của Thế giới và sự khủng hoảng của Liên Âu. Trường phái nào thực sự «Xã hội»?

- Thị trường tự do để tạo sự giàu có và phát triển trước, sau đó để tổ chức Xã hội?
- Hay Tư do và Xã hội song song với một sự phát triển đồng bộ, mặc dù có chậm hơn?

(Nước Anh phái Tự do với Tổng sản lượng/ đầu người 27 000 US$, Chỉ số phát triển 2,8%, Chỉ số thất nghiệp 5% ; so sánh với nước Pháp, phái Tự do Xã hội : TSL/Ng 24 000 US$, Pt 1%, thất nghiệp 10%)

 

3. Công Bằng Xã hội là gì?

 

Cái khó khăn là làm sao cắt nghĩa được “công bằng xã hội”. Ai cũng mơ có công bằng xã hội, từ thuở khai thiên lập địa, nhà lãnh đạo quần chúng nào, nhà tiên tri nào cũng nói đến “công bằng xã hội”.
 
Ai mà không có một giấc mơ có một xã hội công bằng hơn, có một nền công lý trong sáng hơn để mỗi người đều có một chổ đứng, một địa vị xứng đáng với nhân phẩm của mình, và có cùng một cơ hội và những điều kiện chung để hưởng mọi phát triển khoa học kỷ thuật ?
 
Nhưng đó là một khái niệm trừu tượng, khó khăn nhiều khi dẫn đến những bài giải hoàn toàn trái ngược nhau.

Thoạt tiên, quan niệm của Aristote (-384 / -322) chia công lý thành hai loại: công lý chỉnh lưu và công lý phân phối (justice commutative et justice distributive). Một loại là mỗi ngưòi chỉ nhận những gì mỗi chúng ta đem, lại nghĩa là “công lý được hưởng theo công đức”. Loại thứ hai “công lý được trả theo nhu cầu”, nghĩa là tùy theo mỗi hoàn cảnh, mỗi người được hưởng phần công lý đó.
 
 Ai đúng ai sai ? thế nào là công bằng ?
 
Aristote và sau đó Thomas d’Aquin (Saint) (1228 – 1274) trả lời rằng tùy trường hợp, tùy điều kiện của khế ước cá nhơn hay cộng đồng. Trong một văn kiện khế ước, không nên làm thiệt thòi lẫn nhau, mỗi việc phải được trả giá đúng mức.
 
 Nhưng trong một công đồng, cũng như trong một gia đình chúng ta cũng dễ hiểu là mỗi người chỉ nhận một phần tối thiểu đúng với phần do lượng ước cá nhơn.

Sai lầm to! Vì tât cả những nỗ lực để đem lại những chia sẻ công bằng đều vô vọng.
 
Triết lý gia nỗi tiếng John Rawls, sau những năm nghiên cứu, đi đến kết luận: công bằng xã hội chỉ thực hiện được “khi nào người ta ban phát tối đa cho những người thiệt thòi nhứt (có ít nhứt), nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng chung ở mức độ cao nhứt cho toàn thể mọi người” .
 
 John Rawls nhận thấy rằng lấy của người nầy để chia cho kẻ khác không phải là cách làm, vì không có phát triển, và sau cùng tất cả đều nghèo khó lần lượt. Những ý thức hệ san bằng cách biệt trong xã hội đều bị phá sản ở mọi nơi, mọi người bình đẳng là một tư tưởng không tưởng.
 
Chúng ta phải biết tổ chức lại cuộc phân chia, một cách khôn khéo, để sự san bằng có thể được chấp nhận ở mọi người. Nhưng đâu là mức “tối thiểu” (hay là cái “tối đa” của những người có “tối thiểu”).Không ai trả lời được, cả John Rawls, cả nhà giải thưởng Nobel kinh tế 1998 Amartya Sen (1933 – ), người đã từng bỏ công nghiên cứu, chưa ai tính được một bài giải vừa lòng cả mọi người – “kẻ nhận vẫn cảm thấy chưa đủ – kể cho thấy đã quá thừa rồi”(Thật là tâm trạng: “cho cũng nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”).

Frederich Von Hayek đề nghị một cái nhìn khác. Có vẽ hợp tình hợp lý hơn, có vẽ “công bằng“ hơn. Ông đề nghị lựa chọn giữa “công bằng trong kết quả” hay “công bằng trong thủ tục”. Bởi làm sao đo lường được kết quả? (giữa những san bằng do trao đổi, bù trừ).
 
Chúng ta thử nhin vào một khía cạnh khác: thủ tục: bằng cách gì, chúng ta đánh giá? Trong phương pháp nầy, chúng ta không còn đánh giá con số người nghèo với con số người giàu để đo lường được sự bất công hay mất thăng bằng của một xã hội.
 
 Chúng ta phải đo lường bằng những thủ tục gì để nói đó là người giàu (hoặc người nghèo) ?
 
 Trong một xã hội mà một luật rừng được áp dụng, kẻ thắng là kẻ có sức mạnh, kẻ giàu là kẻ cầm quyền, tịch thu, cướp giựt, tham nhũng, xã hội đó đương nhiên là một xã hội kém công bằng.
 
Tài sản, sự giàu có của các nhà độc tài, của một nhóm mafia, băng đảng, bạn bè, đoàn thể, đảng viên không phải là những sự giàu có trong lương thiện, trong công bằng xã hội. Vậy thì:

 

4.Kinh tế Thị Trường, làm giàu trong “công bằng”?

 

  • Làm kinh doanh qua kinh tế thị trường có phải là cách làm ăn lương thiện, làm giàu trong công bằng ?
  • Có kẻ cho rằng làm ăn theo kinh tế thị trường là một cách làm ăn có tính cách bóc lột, lợi dụng.
  • Cũng có người bảo rằng làm ăn theo kinh tế thị trường là chuyện không thể không làm được, bất khả kháng, cái đường phải đi bắt buộc.

Nhóm thứ nhứt nói rằng kinh tế thị trường do dân nhà giàu bóc lột dân nghèo để càng ngày càng giàu hơn. Liên hệ không cân bằng giữa “sức lao động” và “của cải”.
 
Quan hệ bất công nầy do nhiều nguyên nhơn tạo thành. Đệ tử của Marx nói đấy là do của tính cách “tư hữu”của “Tiền Vốn” (Tư bản) Vì là quan niệm “đầu tiên” của đầu tư là “tiền đâu”, Tiền Vốn, hay Chủ Vốn đóng một vai trò tối ưu trong tiến trình sản xuất. Sự mầt cân bằng giữa “kẻ có vốn – có tiền bỏ vốn bỏ tiền” và những “kẻ không có gì cả”, ngoài “sức lao động”.
 
 Người bỏ vốn, chủ nhơn, với thế thượng phong của tiến bạc, bóc lột kẻ làm công trả lương không tương xứng với sức sản xuất thực sự. Sự cách biệt, gọi là lợi nhuận, chủ nhơn hưởng trọn.

Ngày nay, với một nhản quan tiên tiến hơn, vài nhà kinh tế gia đưa ra thuyết chủ nhơn tài sản là chủ nhơn của thông tin, hay chủ nhơn của sự hiểu biết.Một khế ước giữa một kẻ “biết” và một kẻ “không biết” dỉ nhiên là bất bình đẳng.
 
Sự “bất bình đẳng” trong khế ước ấy là khỏi đầu của mọi sự bóc lột. Bất bình đằng, bất công giữa ngưòi bán “biết” và người mua “không biết”, tay thợ nhà nghề “biết” và anh “tay mơ”, bạn hàng “không biết”, anh chủ nhà cho thuê nhà “biết” và anh đi thuê nhà “không biết”..và dỉ nhiên đó không gì khác hơn là quan hệ bất bình đẳng giữa anh chủ nhơn “biết” và anh công nhơn” không biết” (trở lại thuyết mác –xít).Kinh doanh, thị trường là một sự “bất công” kẻ bán gạt người mua. Kinh tế thị trường là một sự lừa gạt kẻ giàu lầy của kể nghèo.

Làm gì có chuyện đó! các đệ tử của trường phái thị trường tự do nhao nhao phản đối. Theo họ, khế ước là một trao đổi bổ sung luởng lợi. Kẻ chín phân người tám lạng. Mỗi người sẽ tìm trong đối thủ mình một đối tượng để trao đổi những dị biệt bổ sung cho nhau.Nếu ta phân tích các trao đổi tự nguyện, chúng ta sẽ thấy sự bổ sung của những dự tính rất chủ quan về quyền lợi trong sự lưạ chọn.
 
 Hãy nghĩ tới chuyện trao đổi giữa anh mù và anh què (“anh là cặp chơn của tôi và tôi là cặp mằt của anh”, và anh què được anh mù cỏng đi chơi) Frédéric Bastiat (1801 -1850) cho rằng thị trường là nơi trao đổi mà mọi người đều có lợi.
 
 Và Tư sản không phải là nguồn của sự bóc lột mà là phương tiện giúp chúng ta để chúng ta gặt hái những thành quả có thể trao đổi với những sáng tạo của những tư sản khác. Như vậy Tư sản là công bằng, Tư sản giúp chúng ta sáng tạo, đó là một sự ích lợi.
 
Vì sáng tạo sử dụng cho nhu cầu của kẻ khác. Ngày nay ta thường nói khế uớc thương mại phải là khế ước lưởng lợi, là synallagmatique, hay Win-Win.

Thị trường là một sự cưỡng bách, đầy sức sống.Thị trường buộc chúng ta mỗi người phải suy nghĩ để làm sao có những sáng tạo để phục vụ nhu cầu của kẻ khác, và cũng sẳn sàng tiếp nhận những sáng tạo của kẻ khác.
 
Và nếu chúng ta nhận địng rõ ràng rằng sự “Giàu có” “của cải”, “tài sản” không phải là một “lô hàng hóa chất đống một cách vô hiệu lực” , mà là những “sáng tạo” để phục vụ “nhu cầu” của công đồng, thì “Thị trường” là nơi có “công bằng” xã hội.

 

5. Làm sao xóa đói giảm nghèo

 

Biết rằng thị trường là công bằng, và chúng ta đã nhận định vậy, chúng ta làm sao quên được những hệ quả của nó, chúng ta làm sao không thấy những người vì bất tài hay vì không may bị thị trường bỏ quên hay đặt bên lề của một xã hội do lợi nhuận tạo thành ?Vì vậy quan niệm kinh tế thị trường xã hội mới được nghĩ tới: quan niệm nầy đề nghị những kết quả của thị trường phải được “kiểm soát” “dung hòa” “sửa saỉ”. Dung hòa sửa sai là những quan niệm rất “kinh tế chỉ đạo”, nhưng ở đây được sử dụng để tổ chức một kinh tế, để kiểm soát một thị trường, để tránh sự bất công trên thị trường lao động. Nhà cầm quyền phải lãnh phần chỉ đạo ấy. Nhà làm luật phải tiên liệu một khuôn khổ luật lệ để tạo ra những khế ước quy định những liên hệ khế ước cộng đồng nghề nghiệp (conventions collectives) tránh những khế uớc cá nhơn (contrats individuels).
 
Người ta vẫn ngại những sự cạnh tranh vô tổ chức. Nhà cầm quyền phải có bổn phận tạo một sự cạnh tranh công bằng. Không nên có những xí nghiệp quá lớn, độc tôn, độc quyền giữ một quyền “sanh sát” đối với thị trường lao đông. Không nên có nhửng thị trường “phá giá sức lao đông” (dumping salarial) phá giá bằng những thuế xã hội (dumping sur taxes sociales) phá giá bằng những biện pháp thuế vụ (dumping fiscal).
 
Khu vực nào gặp khó khăn? (ở Pháp Nông nghiệp, hay kỷ nghệ May mặc) chúng ta hãy giúp đở nâng đở bằng trợ cấp, bắng giúp đở, bằng tái cấu tạo ( restructuration) bằng sáng kiến kỹ thuật, v..v.
 
 Tái phố trí, cân bằng, kiểm soát để điều hòa thị trường chưa đủ, nhà cầm quyển phải biết phân phối lại tài sản: bằng thuế vụ nhà cầm quyền gọt dủa bớt những tài sản lớn (Đánh thuế những nhà giàu: Impôt sur la fortune) để trợ cấp nhà nghèo.

Thế nhưng sau 50 năm, sự bất công vẫn còn và chương trình Tư bản Xã hội vẫn chưa đạt được mục đích, trái lại còn được xem thất bại. Ngày nay mẫu Tư bản tự do kiểu “Anh Mỹ” (anglo-saxon) đang được xem là thực dụng hơn. Tại sao?
 
Có lẽ những biện pháp được các nhà cầm quyền lựa chọn để “điều hòa thị trường” không thích hợp: vì lẽ các nhà chánh trị và các chuyên gia đã chọn sai vấn đề, họ xữ dụng lý thuyết và quản lý những tài sản và vốn liếng không phải của họ (cha chung không ai khóc).

Những nhà quản trị Cộng sản cũng đã sai vì lẽ ấy! Họ làm những sơ đồ, quy hoạch cho nhiều năm, kế hoạch ngũ niên, kế hoạch ba năm vân ..vân.
 
Họ quên rằng đồi sống kinh tế, chợ búa, thị trường là một quan niệm hằng ngày: chợ nhóm hằng ngày, theo dõi hằng ngày, tiên liệu..
 
Trong quan niệm kinh tế thị trưòng quan niệm cạnh tranh là quan niệm mở, chỉ có khách hàng là quan trọng. Luật thị trường là luật cung /cầu. Kinh tế thị trường là đấu tranh trong cái Cung, qua cái Cầu.

Quan niệm phân phối tài sản do Nhà nước kiểm soát rất bị hạn chế: ngưòi có của không thụ động chờ cho Nhà nước lấy thuế thương mãi của họ. Họ sẽ bỏ rơi Nhà nước, bằng cách hoặc hạn chế nghiệp vụ, bớt lợi tức, bớt thuế, hoặc bỏ ra đi, đầu tư ở nước khác.
 
Ngày nay ở Pháp, lợi tức gia đình không còn là lợi tức của sản xuất (revenu d’activité) nữa. Rất nhiều gia đình sống với lợi tức do công đồng giúp đở, đó là lợi tức liên đới (revenu de solidarité).
Mục đích Xã hội đã giết chết Kinh tế.

Vậy thì làm sao dung hòa được Kinh tế và Xã hội ?

 

6. Tiến bộ xã hôi: phát triển kinh tế và tinh thần tương ái

 

Và chúng ta trở lại với Ludwig Erhard, với quan niệm “Kinh tế thị trường xã hội”. Khi một chế độ kinh tế được đặt trên nền tảng có một khế ước tự do, có một sự tư do kinh doanh và có một nền tài sản tư hữu, chế độ ấy sẽ đem lại sự tiến bộ xã hội và sự trách nhiệm liên đới xã hội.

Phân tích kỹ qua thống kê chúng ta sẽ thấy nền kinh tế tự do và sự tiến bộ xã hội được cột chặt với nhau một cách tự nhiên. Kinh tế thị trường tự do đem lại sáng kiến, đó là điều tất yếu.
 
 Sáng kiến đem lại tiến bộ vế mặt kỹ thuật, tạo những nhu cầu mới với những phương tiện mới. Không gian kinh tê do kỹ thuật mới sẽ tạo những sự bổ sung mới. Sự cạnh tranh là một động cơ để đoạt thành tích.

Thống kê cũng đo lường được là những quốc gia nghèo thường là những quốc gia thiếu tự do, với mức tăng trưởng kém.
 
Trong một quốc gia giàu, sự cách biệt giàu nghèo sẽ dần dần được xóa bỏ rất nhanh. Bực thang giai cấp không còn một vấn đề nữa. Mặc dù người giàu và người nghèo vẫn còn, nhưng ý niệm ấy phải được suy diễn trong phạm vi của thế giới quốc gia ấy.
 
Làn ranh nghèo (seuil de pauvreté) ở Huê kỳ khác lằn ranh nghèo ở Bangla desh.
 
Chúng ta phải phân tích xem, những thế hệ nghèo có cha truyền con nối hay người giàu hôm nay là con người nghèo đời trước. Sự tiến bộ xã hội là chiếc bánh ga – tô càng ngày cảng phồng to để chia xẻ cho mọi người.

 

7. Tinh Thần tương ái còn đấy không?

 

Thị trường đem lại giàu có. Giàu có không ban phát đều cho mọi người. Nhưng bằng những đường giây khác nhau, bằng những phương tiện khác nhau, của cải qua ngõ liên đới xã hội cũng phân phối đến tay kẻ nghèo. “Lòng từ bi”, “lòng trắc ẩn” thủ cựu của thế giới Huê kỳ qua những nhà thờ nhắc nhở chúng ta một quan niệm tư nhiên của mọi tổ chức xã hội: đó là đạo đức, đó là luân lý: kẻ dư ăn dư mặc phải biết lo cho kẻ nghèo khó.
 
Trong một thế giới giàu có, nhiều tổ chức, nhiều hội đoàn, nhiều hội thiện nguyện lo cho những người nghèo khó. Ở Huê kỳ những hội từ thiện mọc lên như nấm.
 
 Ở Pháp cũng thế. Nhà cầm quyền có thể giúp đở bằng những biện pháp thuế khóa để khuyến khích lòng từ thiện của những người có của. Đó cũng là một cách gọt bớt sự cách biệt giàu nghèo, và cân bằng xã hội.

Thế giới Anh Mỹ, anglo-saxon, thực tiễn hơn, với văn hóa “tin lành” , cộng đồng được giải thoát rất sớm khỏi những ảnh hưởng chuyên chế, độc tài nên dễ có những tổ chức thiện nguyện lo việc xã hội.
 
Trái lại trong các quốc gia của thế giới âu châu cũ, với nhựng tập tục “Nhà nước chăm sóc” nhà nước lo cả, những đoàn thể thiện nguyện tự do tư nhơn không làm việc bằng những nhà thờ, vì nhà thờ cũng là một loại nhà nước.

Vì vậy quan niệm “kinh tế thị trường xã hội” mặc dù đã được xữ dụng từ trên 50 năm nay ở Pháp ngày nay đã đi đến cái hạn chế của nó. Ngày mai cho Âu châu mở rộng chắc chắn một nền kinh tế kiểu “Anh Mỹ ” sẽ đem ra ứng dụng. Nó thực tiển hơn.
 
Nhưng nó cũng cần phải có một thời gian huấn luyện để quan niệm dân chủ và quan niệm trách nhiệm được học nằm lòng trong quần chúng.
 
Các nước cựu Đông âu chắc gì hiểu biết dân chủ đúng mức và ý thức trách nhiệm rõ ràng như Anh quốc hay Huê kỳ không ?
 
Đạo đức, trách nhiệm, chia sẻ, tương ái có đủ bao bọc cho một chương trình xã hội đầy tương ái ?

Bài nầy xin đóng góp một vài suy nghĩ cho những người làm kinh tế, làm việc xã hội. Người Việt trong nước hay ở hải ngoại thường mơ làm một cái gì cho Việt Nam. Mỗi giấc mơ đều bị hạn chế, bởi thực tế.

Việt Nam có truyền thống “lá lành đùm lá rách”. Làng xã từ ngàn xưa có chế độ cấp ruộng đất cho những người nghèo khó để họ tự sanh sống. phải chăng điều nầy mang ý nghĩa như chế độ “An Sinh Xã hội” ngày nay?

Thiết tha mong những người Việt Nam ái quốc có trách nhiệm lãnh đạo đất nước hôm nay, hay ngày mai sẽ có khả năng tìm được con đường có Tự do, Dân chủ để Phát triển xã hội.

Hồi Nhơn Sơn, 2009
Hiệu đính cuối năm 2012

Phan Văn Song

*So sánh nầy trước khủng hoảng.

Tham Khảo:

 

  • Michel Albert : Capitalisme contre Capitalisme, coll Points, ed du Seuil, Paris 1998
  • Michel Albert : Une nouvelle Économie sociale de Marché ? Futuribles, 2003, n° 287
  • Friedrich A von Hayek : Droit Législation et Liberté, tome 2, Les Illusions de la justice sociale, P.U.F. Paris 1981
  • Michael Novak : Une Éthique économique, Les valeurs de l’économie de marché. Ed le Cerf La Boëtie 1987
  • John Rawls : Une théorie de justice coll Livre de Poche, Hachette 1997 ;
  • www.libres.org : Dossier : Justice sociale, université d’été 1991
  • www.forumslions.net L’Europe de l’esprit et du cœur (n°544), Reconstruire les solidarités(n°549), Droits de propriété, devoirs de propriété (n°557)

 

 

Featured Post

Lisa Pham Vlog -19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link