Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, December 26, 2012

Bà Cát Hạnh Long Nguyễn Thị Năm và ông Hồ chí Minh


 

 

Bà Cát Hạnh Long Nguyễn Thị Năm và ông Hồ chí Minh

 

 
 
Ông Hòang Tùng, nguyên Tổng Biên Tập báo Nhân Dân (1954-1982), vừa qua đời tại Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2010. Trên một số diễn đàn mạng đã đăng lại bài viết “Những kỉ niệm về Bác Hồ”.    
 
Trong bài viết này ông đã nhắc đến việc xử bắn bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm. Người viết có may mắn tìm được một tài liệu về vụ xử bắn này để viết bài “Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất” đăng trên một số diễn đàn vài năm về trước (2007). Bài viết này có vài hiệu đính xin được phổ biến lại để bạn đọc xa gần nắm rõ hơn về vụ án này.
 
Cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) tại miền Bắc Việt Nam là sự kiện có một không hai trong lịch sử Việt Nam .    
 
Sự kiện này đã dẫn đến việc tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động phải ra các quyết định sau: ngưng chức Tổng Bí thư của Trường Chinh, khai trừ Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương khỏi Bộ Chính trị và loại Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương.
 
 Sau nhiều năm bị che đậy, các tài liệu, các bài viết, các hồi ký, các tác phẩm văn học… được phổ biến trong thời gian gần đây giúp chúng ta biết thêm sự thật về cuộc cải cách ruộng đất này.
 
Tuy vậy trong năm mười năm qua vai trò của Hồ Chí Minh trong CCRĐ vẫn được đặt ra với nhiều câu hỏi. Có thật ông chỉ theo lệnh của Stalin và Mao Trạch Đông?
 
Có thật ông chỉ là thiểu số không đủ quyền lực để ảnh hưởng đến các cố vấn Trung Quốc?
 
 Có phải ông chỉ muốn tiến hành giảm tô?
 
 Có phải ông đã khóc khi biết được các tội ác do CCRĐ gây ra?…
 
Các câu hỏi này càng lúc lại càng trở nên cấp thiết khi Đảng Cộng sản (ĐCS) không ngừng tạo những huyền thoại về Hồ Chí Minh.
 
Vừa rồi Bộ Chính trị lại ban hành Chỉ Thị số 06-CT/TW “yêu cầu toàn dân học tập để nhận thức về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của lý tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
 
Những công việc này chỉ làm xa dần con người thực của ông.
 
Những tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh đã hiểu rất rõ nguyện vọng “người cày có ruộng” của nông dân Việt Nam .
 
Khi còn ở Pháp ông có viết một số bài lên án việc chiếm hữu đất đai của thực dân Pháp.
 
Trong thời gian hoạt động tại Trung Hoa, ông tiếp nhận và để tâm nghiên cứu cách mạng thổ địa tại đây.
 
Nó vừa là một phương tiện đấu tranh giai cấp, vừa để xây dựng chuyên chế vô sản. Trong một lá thư gởi các lãnh đạo Quốc tế Nông dân đề ngày 8/2/1928, ông viết: “Tôi tranh thủ thời gian viết ‘những ký ức của tôi’ về phong trào nông dân, chủ yếu là phong trào Hải Lục Phong, nơi có các xô-viết nông dân. Người ‘anh hùng’ trong ‘những ký ức của tôi’ chính là đồng chí Bành Bái, cựu Dân uỷ nông nghiệp của Xô-viết Quảng Châu và hiện là lãnh tụ của nông dân cách mạng.” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 265).
 
 Năm 1953 tại Hội nghị nông hội và dân vận toàn quốc, ông lại nhắc đến: “… đồng chí Bành Bái ở Trung Quốc, gia đình đồng chí là đại địa chủ, đại phong kiến, nhưng đồng chí ấy đã tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh rất quyết liệt chống địa chủ phong kiến” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 357).
 
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Cương lĩnh của đảng này là lấy việc chống đế quốc, chống phong kiến và địa chủ, giành ruộng đất về cho nông dân làm sách lược hàng đầu.
 
Sách lược 2 của ĐCS ghi rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và phải dựa vững vào hạng dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 297).
 
Chương trình hành động thì hướng đến việc: “Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 299).
 
Các văn kiện thành lập ĐCSVN đều do Hồ Chí Minh, đại diện Quốc tế Cộng sản, soạn ra.
 
Ít tháng sau, ĐCS đã sách động nông dân nổi dậy ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Khẩu hiệu “trí – phú – địa – hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” được dùng làm tiêu đề cho cuộc đấu tranh mới – đấu tranh triệt tiêu giai cấp địa chủ và phong kiến. Cuộc nổi dậy đã bị Pháp đàn áp dã man. Từ đó, chia rẽ giữa các các tầng lớp nông dân ngày một trầm trọng hơn.
 
Năm 1945, khi nắm được chính quyền, một mặt Hồ Chí Minh và ĐCS phải lo đối đầu với Pháp, mặt khác vì đa số các đảng viên và cán bộ đều xuất thân từ các gia đình địa chủ hay phú nông, việc phát động cách mạng thổ địa đã không thể tiến hành ngay.
 
Mãi đến năm 1949, khi ĐCS Trung Hoa đã chiếm gần xong lục địa, cửa hậu cần mới đang được khai thông. Việt Minh bắt đầu nhận được những viện trợ từ Quốc tế Cộng sản, nhất là từ ĐCS Trung Hoa.
 
 Chiến trường Việt Nam ngày một thuận lợi hơn cho lực lượng Việt Minh. Khi ấy Hồ Chí Minh và ĐCS mới nghĩ đến việc tiến hành CCRĐ, mở đầu bằng việc giảm tô cho nông dân. Ngày 14/7/1949, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 78 SL quy định chủ đất phải giảm địa tô 25 phần trăm so với mức trước năm 1945.
 
Ngày 25/1/1953, tại Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động, Hồ Chí Minh chủ toạ, đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đấu tranh chống giai cấp địa chủ phong kiến, tiến đến CCRĐ.
 
Ngay sau đó, ngày 5/2/1953, tại Hội nghị nông hội và dân vận toàn quốc, Hồ Chí Minh đã vấn an các đảng viên và cán bộ tham dự như sau: “Địa chủ cũng có đôi người làm cách mạng, nước ta như các nước khác, ta cũng có vài đồng chí, đại địa chủ mà làm cách mạng, hồi bí mật có bao nhiêu tiền của giúp cho Đảng hết, cam tâm chịu tù đày.
 
Họ tuy là người trong giai cấp địa chủ nhưng lập trường và tư tưởng đã đứng về phe vô sản, là người của giai cấp công nhân” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 357).
 
Ngày 12/4/1953 Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 150 SL về Cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động chia lại cho nông dân nghèo.
Ngày 14/11/1953, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương và Hội nghị toàn quốc của Đảng Lao động đã quyết định tiến hành CCRĐ.
 
Trong báo cáo trước Quốc hội khoá I kỳ họp lần thứ ba, ông Hồ đã phát biểu “Phương châm của cải cách ruộng đất là: phóng tay phát động quần chúng nông dân” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509).
 
Ông Nguyễn Văn Trấn, nguyên Đại biểu Quốc hội khoá I, đại diện Sài Gòn Chợ Lớn, giải thích “phóng tay” nghiã là “cứ việc làm mạnh thả cửa” (Nguyễn Văn Trấn, trang 266).
 
Ông Nguyễn Minh Cần giải thích “là làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, cho dù quá trớn, quá tả cũng không đáng sợ”. Ông còn cho biết: “Ông Hồ đã dùng hình ảnh dễ hiểu: khi uốn thanh tre cong cho nó thẳng ra, phải uốn quá đi một tí và giữ lâu lâu, rồi thả tay ra thì nó mới thẳng được”. Ông Nguyễn Văn Trấn than rằng “Trời ơi! Đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó bật lại giết chết bao nhiêu vạn sinh linh.” (Nguyễn Văn Trấn, trang 266).
 
Cũng trong báo cáo trước Quốc hội này, Hồ Chí Minh đã ra chỉ tiêu: “Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5 phần trăm dân số, mà chúng và thực dân chiếm hết 7 phần 10 ruộng đất…” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509). Chính chỉ tiêu này đã: “… giết chết bao nhiêu vạn sinh linh”. (Nguyễn Văn Trấn, trang 266).
 
Trong thời gian tiến hành giảm tô tiến đến CCRĐ, sáu xã tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên đã được chọn làm thí điểm. Người đầu tiên bị mang ra xử bắn là bà Nguyễn Thị Năm. Bà còn được gọi là bà Cát Hanh Long (xem Nguyễn Minh Cần). Bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng các lãnh đạo cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản… trong thời gian ĐCS còn hoạt động bí mật.
 
Trong “Tuần lễ vàng” bà đã đóng góp cho Việt Minh 100 lạng vàng. Hai con trai bà, ông Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước 1945. Khi CCRĐ được phát động, ông Nguyễn Công đang làm chính uỷ trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội phó bộ đội thông tin.
 
 
Trong Hồi ký Làm người rất khó, làm người xã hội chủ nghĩa khó hơn, nguyên Phó thủ tướng CHXHCN Việt Nam, ông Đoàn Duy Thành cho biết việc bà Năm bị bắn đã làm xôn xao dư luận.
 
Ông cho rằng việc làm này có 3 điều làm sai chính sách là: (1) Địa chủ kháng chiến được chiếu cố; (2) Địa chủ kiêm công thương được chiếu cố; (3) Địa chủ hiến ruộng được chiếu cố. Và một điều sai đạo lý là “… bắn một địa chủ là nữ, không phải là cường hào gian ác sẽ trái đạo lý thông thường của người Việt Nam “.
 
 Ông viết tiếp: “Sau này khi sửa sai CCRĐ xong, tôi được nghe nhiều cán bộ cao cấp nói lại: ‘Khi chuẩn bị bắn Nguyễn Thị Năm, Bác Hồ đã can thiệp và nói đại ý: ‘Chẳng lẽ CCRĐ không tìm được một tên địa chủ, cường hào gian ác là nam giới mà mở đầu đã phải bắn một phụ nữ địa chủ hay sao?’ Nhưng cán bộ thừa hành báo cáo là đã hỏi cố vấn Trung Quốc và được trả lời là: ‘Hổ đực hay hổ cái, đều ăn thịt người cả!’. Thế là đem hành hình Nguyễn Thị Năm!”
 
Trong hồi ký Những kỷ niệm về Bác Hồ, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân, ông Hoàng Tùng cho biết: “Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính trị Bác nói: ‘Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào một người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng, người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ là đánh bằng một cành hoa.’ Sau cố vấn Trung Quốc là Lê Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: ‘Tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải.’ Và họ cứ thế làm”.
 
Trong hồi ký Mặt thật, nguyên Phó tổng biên tập báo Nhân Dân, nhà báo Thành Tín (Bùi Tín) đã kể rằng theo lập luận của đội CCRĐ thì “Việc con mụ Năm đã làm chỉ là giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại.
 
Bản chất của giai cấp địa chủ là rất ngoan cố xảo quyệt và tàn bạo, chúng không từ thủ đoạn nào để chống phá cách mạng. Nông dân phải luôn luôn sáng suốt dù chúng giở thủ đoạn nào.” Thành Tín cũng viết “Ông Hoàng Quốc Việt kể lại rằng hồi ấy ông chạy về Hà Nội, báo cáo việc hệ trọng này với ông Hồ Chí Minh.
 
Ông Hồ chăm chú nghe rồi phát biểu: ‘Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.’
 
Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này”. Thành Tín viết tiếp: “Thế nhưng không có gì động theo hướng đó cả! Bởi vì người ta mượn cớ đã quá chậm.
 
Các phóng viên báo chí, các nhà văn hạ phóng tham gia cải cách đã viết sẵn bài tố cáo, lên án, kết tội bà Năm rồi”.
 
Qua Thành Tín ta cũng biết được suy nghĩ của Hoàng Quốc Việt: “Đến Bác Hồ biết là không đúng cũng không dám nói với họ… ‘Họ’ là các ông con trời đặc phái viên của Mao”. Thành Tín nhận xét: “Trước hết Hồ Chí Minh có lỗi lớn.
 
 Thà rằng không biết gì về chuyện này; và dù không biết, là chủ tịch nước, chủ tịch Đảng ông cũng phải chịu phần trách nhiệm. Huống hồ gì ông đã biết rõ cụ thể, ông nhận định là bà Năm bị xử trí oan, thế mà ông giữ im lặng, ông không can thiệp. Đây là thái độ vô trách nhiệm.
 
 Ông không can thiệp thì ai có thể can thiệp? Ông để mặc cho nước ông bị một số kẻ nước ngoài (cố vấn Tàu) lũng đoạn, lộng hành. Trên thực tế ông đã từ nhiệm vị trí trách nhiệm của mình”.
 
Trong hồi ký Giọt nước trong biển cả, ông Hoàng Văn Hoan đã cho rằng Ủy ban CCRĐ “… tự cho phép các đội CCRĐ được bắn vào địa chủ gian ác để nâng cao khí thế nông dân. Việc bắn địa chủ mở đầu từ Thái Nguyên, sau lan tràn đi nhiều nơi, coi là một phương pháp tốt, để nâng cao uy thế của nông dân.” Ông nêu ra điều 36 của luật CCRĐ quy định: “Đối với kẻ phạm pháp thì xét xử theo pháp luật, nghiêm cấm việc bắt bớ và giết chóc trái phép, đánh đập hoặc dùng mọi thứ nhục hình khác”. Ông cũng đã viết: “Tham dự xong Hội nghị Trung ương về CCRĐ, tôi lại trở ra Bắc Kinh. Thủ tướng Chu Ân Lai được biết tin và rất quan tâm về vấn đề sai lầm trong CCRĐ, khi gặp tôi liền hỏi: Việc sai lầm trong CCRĐ có liên quan gì đến các đồng chí cố vấn Trung Quốc hay không?
 
Tôi trả lời: Kinh nghiệm CCRĐ của Trung Quốc là rất tốt. Ủy ban CCRĐ ở Việt Nam phạm sai lầm, như coi thành phần địa chủ lên quá nhiều, đánh vào thành phần phú nông và trung nông, đánh vào những người chỉ có một ít ruộng đất nhưng nguồn thu nhập chính là những nghề nghiệp khác, đánh vào những địa chủ kháng chiến, địa chủ có công với cách mạng, đặt biệt là đánh tràn lan vào các cơ sở Đảng, thì đó là sai lầm của Ủy ban CCRĐ Việt Nam, chứ không phải là sai lầm của các cố vấn Trung Quốc”.
   
Ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó chủ tịch Hà Nội, đã hết sức ưu tư về việc “những người lãnh đạo cộng sản trong Bộ Chính trị và đứng đầu chính phủ đã từng được bà che giấu, nuôi ăn, tặng vàng, nay đang làm Chủ tịch nước, Tổng Bí thư, Ủy viên ban chấp hành, Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã lạnh lùng chuẩn y một bản án tử hình như vậy! Phát súng đầu tiên của CCRĐ nổ vào đầu của một người phụ nữ yêu nước đã từng giúp đỡ cho những người cộng sản! Phát súng đó tự nó đã nói lên nhiều điều về các lãnh tụ cộng sản! Nó báo trước những tai hoạ khôn lường cho toàn dân tộc!”.
 
Nhà văn Vũ Thư Hiên nhận xét một cách dứt khoát: “Câu chuyện về Hồ Chí Minh trong thâm tâm chống lại chủ trương Cải cách ruộng đất, bực bội vì việc mở màn bằng việc bắn một người đàn bà, như một số người bào chữa cho ông là một chuyện tầm phào. Một lệnh ông Hồ ban ra không phải là chỉ cứu được bà Nguyễn Thị Năm, nó còn cứu hằng ngàn người bị giết oan trong cả Cải cách ruộng đất lẫn Chỉnh đốn tổ chức do Lê Văn Lương song song tiến hành. Ông không cứu ai cho tới khi những sai lầm tích tụ lại thành cái nhọt bọc. Lúc cái nhọt bọc vỡ ra ông mới tỉnh cơn mê. Nhưng đã muộn” .
 
Vũ Thư Hiên còn cho biết ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên thư ký riêng của Hồ Chí Minh, đã nói thẳng với ông Hồ: “Máu đồng bào, đồng chí đã đổ mà Bác vẫn còn ngồi yên được à? Chúng ta tuy không có học, chúng ta dốt, chúng ta phải vừa làm vừa học xây dựng chính quyền, vì dốt nát chúng ta mắc mọi sai lầm, nhưng chúng ta không có quyền để tay chúng ta nhuốm máu đồng bào đồng chí”. Cũng qua Vũ Thư Hiên ta biết được ông Vũ Đình Huỳnh đã “… khẳng định người chịu trách nhiệm chính là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải là Trường Chinh. Trường Chinh chỉ là con dê tế thần cho ông Hồ”.
 
Điểm qua những hồi ký, suy nghĩ, ưu tư kể trên, ta thấy được vụ án Nguyễn Thị Năm nói riêng và CCRĐ nói chung còn rất nhiều uẩn khúc. Những uẩn khúc này không phải chỉ liên quan đến các nạn nhân hay gia đình nạn nhân CCRĐ.
 
Nó còn in đậm nét trong tâm trí của những người đã một thời tin vào chủ nghĩa cộng sản, vào lý tưởng cộng sản, vào sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và ĐCS, trong đó có người từng trực tiếp tham gia CCRĐ. Những uẩn khúc này cần phải được làm sáng tỏ.
 
Trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C.B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bài “Địa chủ ác ghê”. Bài viết này đã được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 và phổ biến lại trong tập liệu này. Đúng như nhà báo Thành Tín cho biết, “các phóng viên báo chí các nhà văn hạ phóng tham gia cải cách đã viết sẵn bài tố cáo, lên án, kết tội bà Năm rồi”. Nhân tiện người viết xin được đăng toàn bài để bạn đọc có thể cùng suy ngẫm:
 
 
Địa chủ ác ghê
Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:
 
Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
Giết chết 14 nông dân.

Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng.
 
Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.

Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp.
 
Thí dụ:
Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.
Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ.
 
Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là:

Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng,
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!
(21-7-1953)
 
Vì bài báo gọi bà Nguyễn Thị Năm là Cát-hanh-Long nên người viết theo đó mà gọi. Có người còn gọi bà là bà Cát Thanh Long hay bà Cát Thành Long, không biết danh hiệu nào là đúng?
 
Nhà báo Thành tín cũng viết: “Một số nông dân chất phác ngây thơ, kể rằng bà Năm rất tốt, nhân từ, hay đi chùa, làm việc thiện, có nhiều cán bộ chiến sĩ là con nuôi của bà, bà có công với kháng chiến, nên xếp là địa chủ kháng chiến”. Nhóm từ “mấy tên lâu la” được dùng trong bài báo nêu trên có lẽ để kết tội các nông dân hiền hoà, chất phác đã không chịu đấu tố bà Năm và hai người con của bà.
 
Báo Nhân Dân là cơ quan tuyên truyền của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, bài báo phải được duyệt xét kỹ của Trung ương Đảng trước khi cho phổ biến. Khi đọc bài báo này, người viết cảm nhận một điều là bố cục, hình thức và văn phong của bài viết rất tương tự với bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, phần lên án thực dân Pháp.
 
Tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất ghi rõ tên tác giả các bài viết trong đó là C.B. – đây là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh. Chỉ riêng trong tập 6 (từ 1-1951 đến 7-1954) của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội in năm 1989, người viết đã đếm được tất cả 15 bài viết của Hồ Chí Minh ký tên là C.B.
 
Không thấy bài viết này được nhắc đến trong bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập. Tuy nhiên trong Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 5 trang 418 ghi rõ: “Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Địa chủ phản động ác ghê, ký bút danh Đ. X. đăng trên báo Cứu Quốc, số 2459 (ngày 2/11/1953), tố cáo tội ác của một số địa chủ phản động đã cấu kết với thực dân và bù nhìn để phản dân, phản nước, mưu phá hoại chính sách ruộng đất của Chính phủ.
 
 Chúng là bọn ‘mặt người dạ thú’ và tội ác của chúng là ‘tuyệt vô nhân đạo’.” Có thể bài viết của ông Hồ trên báo Nhân Dân đã được đăng lại trên báo Cứu Quốc với một bút hiệu khác.
 
Khi đọc bản thảo bài viết này, ông Nguyễn Minh Cần nhớ lại năm 1953 ông đã được đọc bài “Địa chủ ác ghê” từ nội san Cải cách ruộng đất được phổ biến trong nội bộ Đảng Lao động và các cán bộ CCRĐ.
 
Ông Hoàng Văn Chí có viết trong khoá chỉnh huấn trung ương nhằm đả thông tư tưởng đảng viên và cán bộ làm công tác CCRĐ, Hồ Chí Minh đã ví von: “đế quốc là con hổ mà địa chủ là bụi rậm để cho hổ núp. Vì vậy muốn đuổi hổ phải phá cho kỳ hết bụi rậm.” (Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, Chương 12, trang 90).
 
Khác với các vụ xử tử trong CCRĐ sau này, Hoàng Tùng xác nhận Bộ Chính trị đã họp và quyết định về vụ xử bắn bà Năm. Ông Nguyễn Minh Cần nói rõ hơn: “bà đã bị quy là địa chủ cường hà ác bá, bị đoàn CCRĐ xử án tử hình, Ủy ban CCRĐ Trung ương duyệt y và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chuẩn y”. Theo người viết, ít nhất có 7 lý do để bà Năm được chọn làm thí điểm đầu tiên cho cuộc phóng tay phát động quần chúng CCRĐ:
 
- Thứ nhất, phương châm chính trong CCRĐ là “thà giết lầm 10 người vô tội, còn hơn để thoát một kẻ thù”. CCRĐ là một cuộc đấu tranh giai cấp giữa bần cố nông và địa chủ (nông dân có ruộng). Do đó địa chủ không thể được lọt lưới, được bỏ sót. Bà Năm lại có đến 2,789 mẫu đất (Thanh Cần, trang 3), là một đại địa chủ.
- Thứ nhì, phát súng đầu tiên bắn vào một phụ nữ để xác định CCRĐ là một cuộc đấu tranh giai cấp và trong đấu tranh giai cấp không phân biệt địa chủ phong kiến là phụ nữ hay đàn ông, già hay trẻ…

- Thứ ba, như Hồ Chí Minh thường tuyên bố “toàn dân kháng chiến”, địa chủ đã chấp nhận ở lại vùng kháng chiến, đương nhiên là chấp nhận theo, đóng góp, tham gia kháng chiến.
 
 Xử bắn bà, và những địa chủ trong vùng kháng chiến, là để phủ nhận công lao đóng góp của thành phần này. Nay đã có Quốc tế Cộng sản, có giai cấp công nông, khẩu hiệu “toàn dân kháng chiến” không còn cần thiết nữa.

- Thứ tư, bắn bà Năm là dấu hiệu cho phép trừng phạt tất cả những người có ruộng đất, có tài sản, có ảnh hưởng kinh tế chính trị trong và ngoài Đảng Lao động Việt Nam. Theo ông Đoàn Duy Thành, bà Năm là địa chủ đã hiến ruộng cho chính quyền kháng chiến.

- Thứ năm, ảnh hưởng kinh tế và chính trị của bà, và của các địa chủ khác, cần phải được thủ tiêu để mở đường xây dựng chế độ chuyên chế toàn trị.
- Thứ sáu, xử bắn bà Năm, và giai cấp địa chủ, là nhằm sách động nông dân thực thi sách lược “chia để trị”.

- Thứ bẩy, xử bắn bà Năm và tiêu diệt giai cấp địa chủ là nhằm nâng cao quyền lực của Hồ Chí Minh và ĐCS. Nguyễn Văn Trấn đã viết: “Các đoàn CCRĐ đã rút kinh nghiệm về cách đem phạm nhân đi bắn, và đã cho lệnh bắn sau lưng kẻ thọ hình. Vì kinh nghiệm cho thấy, đem trói nó vào nọc trụ để bắn thì nó sẽ la to Hồ Chí Minh muôn năm, Đảng Lao động muôn năm” (Nguyễn Văn Trấn, trang 270). Vũ Thư Hiên cũng nhắc đến việc có người đã tự tử để lại bức thư tuyệt mệnh: “Oan cho tôi lắm, cụ Hồ ơi.
 
Tôi trung thành với cụ với Đảng. Tôi không phản bội, Hồ Chí Minh muôn năm!” (Vũ Thư Hiên, chương 1).

 
Chính vì những lý do trên mà Hồ Chí Minh mới đích thân viết bài trên báo Nhân Dân đấu tố bà Năm.
 
Trong một lá thư, đề ngày 18/8/1956, gởi đến “đồng bào nông thôn” nhân dịp CCRĐ căn bản đã hoàn thành, Hồ Chí Minh xác định CCRĐ là “một thắng lợi vô cùng to lớn” và “có thắng lợi này là nhờ Đảng và Chính phủ ta có chính sách đúng đắn”.
 
 Ông viết tiếp: “Cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp chống phong kiến, một cuộc cách mạng long trời lở đất, quyết liệt gay go.
 
Lại vì kẻ địch phá hoại điên cuồng; vì một số cán bộ ta chưa nắm vững chính sách, chưa thực đi đúng đường lối quần chúng; vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc, cho nên khi CCRĐ đã xảy ra những khuyết điểm sai lầm” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 507). Riêng việc “kẻ địch phá hoại điên cuồng” đã được ông giải thích như sau: “Như con giun không biết nhảy, khi ta giẫm lên nó, nó cũng giãy trước khi chết. Giai cấp địa chủ cũng thế.” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 358).
 
Vài năm sau, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ĐCSVN, 6/1/1960, Hồ Chí Minh lại gắn liền cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc CCRĐ, ông tuyên bố: “Buổi đầu kháng chiến, Đảng vẫn tiếp tục thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức. Nhưng đến lúc kháng chiến đã phát triển mạnh, cần phải bồi dưỡng hơn nữa lực lượng nhân dân, chủ yếu là nông dân thì Đảng đã cương quyết phát động quần chúng cải cách ruộng đất hoàn thành thực hiện người cày có ruộng. Nhờ chính sách đúng đắn này, lực lượng kháng chiến ngày càng mạnh thêm và đã liên tục thu được nhiều thắng lợi” (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, trang 596).
 
Hồ Chí Minh đã hiểu rõ nguyện vọng của dân tộc là độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc, của người nông dân là người cày có ruộng … Trong điều 12, Hiến pháp 1946, còn được gọi là “Hiến pháp Cụ Hồ” vì ông là trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, đã xác định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. CCRĐ chẳng những vi hiến, nó còn là một tội ác với số nạn nhân chưa thể hay không bao giờ có thể tính được.
 
 Hồ Chí Minh đã lợi dụng các khao khát, các ước vọng của người dân để xây dựng quyền lực cho ông và cho ĐCS Việt Nam.
 
CCRĐ không phải chỉ tàn sát những thường dân vô tội. Nó còn phá hoại những truyền thống tốt đẹp, phá hoại đạo lý luân thường, phá hoại tâm linh văn hoá của dân tộc Việt Nam (xin xem Nguyễn Minh Cần). Quả lời ông Vũ Đình Huỳnh “…
 
khẳng định người chịu trách nhiệm chính là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải là Trường Chinh. Trường Chinh chỉ là con dê tế thần cho ông Hồ” là hoàn toàn chính xác.
 
Bài viết này mong làm sáng tỏ, làm minh bạch một phần của quá khứ, không phải để gợi lại hận thù, mà để xây dựng con đường đi tới tránh xa những tội ác mà người đi trước như Hồ Chí Minh đã mắc phải.
 
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
5/7/2010
 
Tài liệu tham khảo
C.B., Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất, Báo Nhân Dân, 1955
Đoàn Duy Thành, Làm người rất khó, làm người xã hội chủ nghĩa khó hơn
Hoàng Tùng, Những kỷ niệm về Bác Hồ, Điện thơ Câu lạc bộ Dân Chủ
Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, Bản dịch của Mạc Định,
Nhà xuất bản Chân Trời Mới, Sài Gòn, 1964 Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả Thanh Cần, Tội ác bóc lột địa tô của giai cấp địa chủ,
Nhà xuất bản Sự Thật, 1955 Thành Tín, Mặt thật Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội, Văn Nghệ California, USA, 1997 Nguyễn Minh Cần, Xin đừng quên tội ác! … Nửa thế kỷ trước, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI MIỀN BẮC1949-1956, tập 2, Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam, trang 67-86.

Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995 Hồ Chí Minh Toàn tập, Viện Mác Lê Nin, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1989
 
   Phụ lục Ảnh chụp bài viết “Địa chủ ác ghê” từ nguồn: C.B., Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất, báo Nhân Dân, 1955

 
       

“BÊN THẮNG CUỘC” DƯỚI CÁI NHÌN CỦA BÊN THUA CUỘC ( BÀI I )


“BÊN THẮNG CUỘC” DƯỚI CÁI NHÌN CỦA BÊN THUA CUỘC ( BÀI I )
 

“BÊN THẮNG CUỘC” DƯỚI CÁI NHÌN CỦA BÊN THUA CUỘC ( BÀI 2 )


http://vulep.blogspot.com.au/2012/12/bai-2-ben-thang-cuoc-duoi-mat-cua-ben.html


 ĐẶNG VĂN NHÂM

HUY ĐỨC: SẢN PHẨM CỦA CHÍNH SÁCH ” TRỒNG NGƯỜI” !

Huy Đức, tác giả quyển sách điện tử (eBooks) ” BÊN THẮNG CUỘC”, đúng  là một thứ sản phẩm của chiến dịch ”trồng người” do tập đoàn lãnh đạo CSVN gieo giống từ lúc còn chui rúc trong hang Pắc Pó.


Quyển ”BÊN THẮNG CUỘC” do hệ phát hành eBooks, Amazon. Kindle phổ  biến. Số trang rất khiêm nhường (191 trang), nhưng vẫn được tác giả chia ra 2 phần, gồm chung tất cả là 11 chương , xếp theo thứ tự thời gian và diễn biến của sự việc,khởi đầu kể từ khi quân xâm lăng CSBV đánh chiếm miền Nam, làm chủ Sài Gòn ngày 30.4.75, cho đến sau cuộc xâm lăng Căm Bu Chia khởi từ đầu tháng giêng năm 1979.


Nhưng chỉ hơn một tháng sau, giữa lúc quân CSVN đang lún sâu trong lãnh thổ Campuchia, thì ngày 17.2.1979, quân Trung Cộng đã đánh tràn vào 3 tỉnh địa đầu của miền Bắc VN gồm: Lao Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn….

 Trong số 11 chương ấy, tôi chỉ đặc biệt quan tâm đến các chương sau  đây , vì nó liên cật ruột với trên 25 triệu người miền Nam, mà sau  ngày 30.4.75 đã trở nên một thứ dân bị trị của quân xâm lăng miền Bắc:
Chương I, đoạn viết về 2 tướng của VNCH là : phản tướng kiêm hàng tướng nằm vùng cho CSBV Dương Văn Minh và tướng nằm vùng Ng. Hữu  Hạnh.
Chương II, kể những hành động của bọn CSBV ”giải phóng miền Nam” với chính sách học tập cải tạo ngụy quân , ngụy quyền v.v…
Chương III, kể chuyện bọn CSBV đánh tư sản mại bản, chiến dịch đổi tiền kiểu ăn cướp hợp pháp, và cưỡng bách dân chúng đi vùng kinh tế mới để chiếm ngon lành toàn bộ nhà cửa , đồ đạc, tài sản của mọi tầng lớp dân chúng, dù họ không liên hệ gì đến chiến tranh…
Chương VI, kể chuyện dân chúng miền Nam ùn ùn kéo nhau ra biển vượt biên tìm tự do, dù phải chết trên biển cả. Chương VII, gọi là ” gải phóng ” , đốt sách.
Chương VIII, kể chuyện Lê Duẫn gạt bỏ thành phần thứ 3, thống nhất VN, và ”Bắc kỳ hóa” toàn dân Nam kỳ dưới ách thống
trị của dân miền Bắc.

 Tôi biết, trước tôi đã có một số ít người ở hải ngoại đọc quyển sách
này rồi và đã có phát biểu quan điểm trên các diễn đàn công luận. Tựu trung, ý kiến của quí vị ấy gồm 2 loại khá rõ rệt:
- Nức nở khen ngợi tác phẩm ”Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức như một tác phẩm có giá trị lịch sử đều là những kẻ gốc văn nô Cộng Sản đang ở trong nước hoặc đám ” khỉ đỏ đít ” trong báo Người Việt. ở Bolsa, Cali.
- Còn lại , tuyệt đại đa số độc giả hải ngoại đều nổi giận và phản bác mạnh mẽ bằng những ngôn từ cứng rắn khi đã nhận ra ấn dấu ”tuyên truyền sai sự thực” đúng mẫu mực giáo điều CS..

 CƯỠNG HIẾP DANH TỪ
Riêng tôi, chỉ cần nhìn qua bìa sách, in đen trắng với hình chụp một
chùm loa phóng thanh cổ lỗ sĩ treo chơ vơ trên ngọn cột đèn điện
khẳng khiu lập tức cũng đã nhận ra ngay thực chất của loại sách tuyên truyền chính trị kiểu rẻ tiền này.

Thực vậy, khi vừa đọc thử vài chương , tôi đã bị lợm giọng ngay vì mùi xú uế trong sách đó đã xông lên nồng nực.
Đọc kỹ quyển” BÊN THẮNG CUỘC, từ trang đầu đến trang cuối, dù là người vô tư cực độ, ai cũng phải nhận ra ngay Huy Đức cũng giống hệt như tên ”Cộng Con” Vũ Quí Hạo Nhiên, trong báo Người Việt, đã có giọng lưỡi tuyên truyền hạ cấp kiểu cán bộ phường khóm, xã ấp, với những lập luận rập khuôn theo công thức, bài bản giáo điều CS cũ rích.

Cả 2 kẻ này đều dùng danh từ ”GIẢI PHÓNG” (sic!) để che đậy cho hành vi xâm lăng dã man,tàn bạo miền Nam năm 1975 của quân thổ phỉ CSBV. Cả 2 cũng đều gọi quân cán chính miền Nam là ” ngụy quân , ngụy quyền ” (sic!) và những ai đã kịp thời thoát khỏi ” thiên Đường ” (sic!) CSVN , ra hải ngoại sống đời tự do, no ấm với nhân phẩm đàng hoàng sự đều là ”bọn ngoan cố” !

 Nếu trên báo Người Việt ở Bolsa, số ra ngày Chủ Nhật mùng 8 tháng 7, tên ” Cộng Con” Vũ Quí Hạo Nhiên đã bóp méo toàn bộ sự thật cuộc xâm lăng của đoàn quân thổ phỉ CSBV bằng câu nguyên văn :”…Kỷ niệm ngày chiến thắng 30-4 liền kề với ngày quốc tế lao động ngày 1-5 làm cho niềm vui của chúng ta được nhân lên gấp bội. Cả dân tộc vui mừng, tự hào, tất cả những người lao động vui mừng, tự hào… điều đơn giản, tối thiểu là chỉ có đội quân xâm lược Mỹ và bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ là thất thủ, là mất miền Nam, mất Sài Gòn…” , thì trong quyển ”BÊN THẮNG CUỘC”, nơi chương II , tiểu đề ” cải tạo”,Huy Đức cũng viết
với luận điệu tương tự, và thủ thuật tuyên truyền sai sự thật trắng
trợn cũng y hệt như tên Vũ Qúi Hạo Nhiên.

 Tóm lại, về hành động bôi bác lịch sử dân tộc và chửi bới người quốc gia miền Nam, người đọc có thể nhận thấy tác giả Huy Đức đã tỏ ra khôn khéo, tế nhị hơn tên Cộng Con Vũ Qúi Hạo Nhiên khá nhiều. Vì cả đầu óc lẫn ngoại dạng của tên này đều phản ánh rõ nét ” mặt nạc đóm dầy…vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, lông nách một nạm , trà tàu một hơi”!

 Tóm lại , vì 2 kẻ này đều gốc Vẹm , nên chỉ biết hót soen soét như một con chim sắt trong tiểu truyện ( nattergalen/ nightingale) của đại văn hào Đan Quốc , H.C. Andersen, bất cần đến nội dung và sự thật. Vì thế nơi đây, đối với Huy Đức và nội dung tác phẩm ” BÊN THẮNG CUỘC” của hắn, chúng ta cần phản bác đến nơi đến chốn cho đến khi sự thật lịch sử của dân tộc phải bị lòi ra trước ánh sáng công luận trong quần chúng VN và cả quốc tế.

Nay đã đến lúc chúng ta không thể để cho bọn CS vô luân trong nước tiếp tục thủ đắc độc quyền ” sự thật giả mạo” của chúng trên các lãnh vực truyền thông.

 Trước tiên hơn hết, theo tôi, chúng ta cần phải đặt vấn đề chính danh cho một số ngôn từ của CSVN mà chúng vẫn thường dùng hằng ngày kể từ sau 30.4.75 cho đến tận bây giờ ( 12. 2012). Thí dụ: GIẢI PHÓNG, CÁCH MẠNG, YÊU NƯỚC, NHÂN ĐẠO, HÒA BÌNH, TỰ DO, DÂN CHỦ…

 Như mọi người đều biết, trong chiều dài cuộc chiến Quốc –Cộng, từ 1945 đến tận ngày nay , bọn CSVN đã lạm dụng danh từ bừa bãi, để lường gạt quần chúng VN mà đại đa số trình độ văn hóa, kiến thức còn quá thấp kém.

 Một số thí dụ cụ thể bất khả kháng biện, khi chúng áp đặt một chế độ độc tài toàn trị trên cả nước, thì chúng rêu rao là DÂN CHỦ, khi chúng dùng guồng máy công an đoồng như ruồi và tàn ác, vô nhân đạo nhất thế giới để cùm kẹp toàn thể quần chúng, và tới tận
từng bữa ăn, giấc ngủ, chí đến sinh hoạt cá nhân riêng tư của vợ chồng thì chúng cho là TỰ DO. Khi chúng hành động bán nước dâng biển đảo cho lũ Tàu Phù , thì chúng cho là YÊU NƯỚC.

Khi chúng ngầm giết người hàng loạt , từ hàng trăm ngàn, đến hàng triệu dân vô tội trong bóng tối, kể cả sau năm 1975, khi chúng giam cầm cho đến chết dở sống dở hàng trăm ngàn quân dân, cán chính VNCH và khi chúng đầy đọa toàn thể dân chúng vô tội miền Nam vào những khi ” kinh tế mới” để tiện bề cướp đoạt nhà cửa, tài sản, ruộng nương trêncả nước, thì chúng tự mệnh danh lòng NHÂN ĐẠO.

Trước năm 1975, khi chúng đặt bom và phóng hỏa tiễn bất kể ngày đêm vào những thành phố đông dân cư thì chúng phô trương phét lác là YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH. Khi chúng phá nát gia sản văn hóa, thuần phong mỹ tục đã do tổ tiên dân tộc tạo nên từ thời mới khai quốc lập dân thì chúng tự hào là người CÁCH MẠNG hành động CÁCH MẠNG.

Năm 1975, khi chúng kéo đoàn quân thổ phỉ đang sống dở chết dở
vì đã phải sống thiếu thốn,đói khát quá lâu năm vào Nam xâm lăng , cướp bóc công khai, trắng trợn từ cây kim sợi chỉ cho đến nhà cửa, xe cộ, vợ con của người miền Nam một cách vô cùng tàn bạo, dã man , cổ kim chưa từng xảy tra trên quả địa cầu này, thì chúng dùng danh từ vô cùng mỹ miều, êm đẹp là GIẢI PHÓNG!

Tất cả những sự thật của lịch sử kể trên không một ai, dù giàu tưởng tượng đến đâu cũng không sao bịa ra được .Tất cả những sự thật bi thương ấy đã do toàn thể dân tộc miền Nam ghi lại bằng những câu thuộc loại văn chương bình dân như thành ngữ, ca dao hay truyện tiếu lâm … cho dễ nhớ và dễ truyền khẩu đến ngàn đời con cháu sau này vẫn không quên.

Đó chính là một quyển chính sử, thuộc loại ”histoire vécue” của
dân tộc miền Nam đã ghi khắc sâu đậm tận đáy con tim của từng người, mà bọn CSBV không thể nào kiểm soát và không bao giờ xóa bỏ được. Bộ sử truyền khẩu này, tôi đã cất công sưu tầm và tích lũy được khá nhiều, nội dung liên quan đến từng giai đoạn, từng chính sách xâm lăng của tập đoàn lãnh đạo CSVN, bây giờ tôi sẽ lần lượt công bố luôn trong loạt bài , nhan đề ” BÊN THUA CUỘC” này mong đóng góp phần nào tư liệu cho các sử gia hậu sinh.

Tôi thiển nghĩ nó sẽ có giá trị rung động lòng người và thấm vào tận mỗi gốc chân lông trên cơ thể con người. Trong khi đó, ngược lại, quyển ” BÊN THẮNG CUỘC”của Huy Đức chỉ gồm toàn những sự kiện ngụy tao hay những sự thật nửa vời, xuyên qua
những câu phỏng vấn cò mồi một số nhà văn, nhà báo tép riu, nhân
chứng vô danh tiểu tốt, hay những tiết lộ tuyên truyền sặc mùi gian
ác của mấy tên lãnh tụ CS khát máu miền Bắc như Lê Duẫn, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Phạm Hùng, Ng. Văn Linh, Trường Chinh v.v…

 Theo tôi, những sự thật lịch sử đã được toàn thể dân chúng miền Nam đóng góp và gói ghém kín đáo trong kho tàng văn chương bình dân. Nay , sau hơn nửa thế kỷ chiến tranh Quốc –Cộng dai dẳng, máu đã chảy thành sông , xương đã chất cao thành núi, nó đã theo chiều dài của thời gian mà lắng xuống tận đáy tâm can của mỗi con người VN từng là chứng nhân thời cuộc hay là nạn nhân trực tiếp của quân thổ phỉ CSBV, ví chẳng khác nào như lớp bùn đen lâu ngày đọng dưới đáy hồ. Bây giờ, bỗng nhiên Huy Đức đã dùng quyền ” BEN THẮNG CUỘC”của hắn như một chiếc gậy
thọc sâu xuống đáy hồ khiến cho mặt nước bị giao động, gợn sóng, sủi tăm và bốc lên mùi sú uế nồng nực, vô cùng khó ngửi.

 NỬA SỰ THẬT KHÔNG PHẢI LÀ SỰ THẬT!

 Sau khi quyển ” BÊN THẮNG CUỘC” của Huy Đức vừa được phổ biến trước công luận, theo thói quen truyền thống của bọn CSVN từ hồi còn mang danh Việt Minh, hoạt động trong hang ổ vùng thượng du BV, ngay lập tức, có bọn đánh trống ếch hùa theo, ca ngợi, cho rằng quyển sách này chứa đựng nhiều ”sự thật” có giá trị lịch sử, mà tập đoàn lãnh đạo CS trong nước ngày nay nên xem…

 Đọc những giòng chữ ấy, đã được bọn đồng lõa phát tán rộng rãi cả trên mạng BBC Vietnamese và trên một số trang nhà trong nước.Ở hải ngoại có lẽ duy nhất chỉ có báo Người Việt , ở Bolsa, do nhóm ” khỉ đỏ đít ” hùa theo tán tụng, khiến tôi không khỏi buồn cười. Vì bọn này, do ngu dốt hay tri tình đồng lõa với Huy Đức, muốn dùng phân nửa sự thật làm ” SỰ THẬT” để lường gạt dư luận thêm một lần nữa.

 Như mọi người trong chúng ta, kể cả trong nước lẫn hải ngoại, đều biết một sự thực đích thực có thể thấy và nắm bắt được là từ năm 1945 đến nay (2012) tội ác dã man đối với dân tộc và đất nước của tập đoàn lãnh đạo CSVN đã chất cao ngất ngưởng có thể sánh tới đỉnh ngọn núi Hi Mã Lạp Sơn. Bây giờ dù cho ông Tề Thiên Đại Thánh hiện hình xuống thế gian, dùng cạn hết nước biển của cả Ngũ Đại Dương trên quả địa cầu này vẫn không đủ để rửa sạch, thì huống chi vài chương sách tuyên truyền bọt bèo, thô thiển trong quyển sách” Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức.

 Trong quyển ” bên thắng cuộc” tôi thấy có một vài chỗ , tác giả Huy Đức đã tỏ ra can đảm hơn tên Cộng Con Vũ Quí Hạo Nhiên trong báo Người Việt. Nhưng, anh ta vẫnchuyên dùng thủ đoạn cũ mèm của bọn CS chuyên chính là bóp mép sự thật để nói lên sự thật giả mạo. Trước một sự thật có nhiều mặt (pans) của lịch sử , tác giả ” bên thắng cuộc” chỉ lấy cái vỏ bề ngoài của sự thật ấy, dùng làm thứ mỹ phẩm để tô điểm , sơn phết, tuyên truyền cho dung nhan cùa bầy ác quỉ Dạ Xoa vốn xuất thân từ hang Pắc Pó.

Còn lại phần lớn sự thật đích thực nằm bên trong, vốn chứa đầy nhung nhúc dòi bọ, tanh hôi, thối khắm, thì anh ta làm ngơ,
không đếm xỉa đến.

 Sau đây là những sự thực của lịch sử trong cuộc chiến Quốc –Cộng đã bị nhà văn CS gia nô Huy Đức móc mất ruột, chỉ còn lại cái vỏ diêm dúa, lòe loẹt, mong manh như những đồ hàng mã!
Trong quyển” BÊN THẮNG CUỘC”, nơi chương II, tiểu mục ” ngụy quyền ” (pos.1594, 8%, trong eBooks.Amazon.Kindle.fire), có một đoạn Huy Đức đã lùi về dĩ vãng khá xa, đến tận 1954, khi bộ đội CSBV mới rời bỏ rừng núi kéo vào thủ đô Hà Nội, tiếp thu chính quyền do quân Pháp trao lại , theo hiệp định Genève 1954.

Trong đoạn văn ngắn ngủi đầy gian trá ấy, Huy Đức đã viết nguyên văn như sau:
• -” Theo ông Nguyễn Văn Trấn , ủy viên thường vụ Trung ương cục: ”Khi tiếp quản miền Bắc, cụ Hồ cho lưu dụng hầu hết các viên chức trong bộ máy hành chánh cũ và bảo lưu mức lương cũ còn cao hơn cả lương chúng tôi. Cụ Hồ còn bảo đảm tính kế thừa nhà nước bằng cách công nhận hiệu lực tiếp tục của một số sắc luật có từ thời Pháp. Công việc xây dựng chính quyền mới, vì thế không nặng như khi chúng tôi làm ở Sài gòn”.

 Thưa quí vị độc giả đồng bào thân thương, sau khi đọc hết đoạn văn ngắn này của Huy Đức , quí vị nhận thấy thế nào và có nhớ ra nó thuộc sự kiện nào và đã diễn ra trong thời điểm nào của lịch sử dân tộc hay không?

 -Thưa, đoạn văn này Huy Đức đã kể lại chính sách ” LƯU DỤNG CÁC VIÊN CHỨC HÀNH CHÁNH CỦA CHẾ ĐỘ Quốc Gia VN Ở MIỀN BẮC SAU THÁNG 10.1954” do Hồ Chí Minh khởi xướng. Viết như trên, người đọc nào không am tường lịch sử cận đại, chắc chắn sẽ lầm tưởng ngay chính sách ” LƯU DỤNG ” ấy của tên cáo gìa Hồ Li Tinh, một đại tội đồ dân tộc, sau khi
chết, đã bị lâu la đồng bọn móc ruột, lột da, nhồi trấu , cho nằm phơi mặt suốt ngày đêm giữa quảng trường Ba Đình, Hà Nội, là do lòng ”nhân đạo” (sic!) của hắn đối với người đồng chủng !

 Viết như thế, Huy Đức đã không ngờ rằng trong trời đất này, bây giờ, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua với hằng hà sa số biến thiên của thời
cuộc chiến tranh mà một kẻ thuộc loại nhân chứng đã từng biết rõ mặt trái của sự thật ấy bây giờ hãy còn sống lưu vong ở hải ngoại.

Hơn thế, 15 năm trước đây, hắn đã viết sách, viết báo kể rõ thực chất của thủ đoạn ” LƯU DỤNG ” cực kỳ gian ác, đã êm thắm thủ tiêu gọn trên một trăm ngàn nhân mạng đồng bào miền Bắc của Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSBV.

 NHẮC LẠI MỘT SỐ THỜI ĐIỂM ĐÃ XẢY RA NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG

 Vì đọan văn trên của Huy Đức đã kể lại không minh bạch, không đầy đủ sự thực về một biến cố quan trọng vô cùng phức tạp, đầy mờ ám đã do tên cáo già Hồ Chí Minh chủ xướng, nhắm mục đích h lừa gạt các giới nhân viên hành chánh của chính quyền Quốc Gia VN, ngay khi hiệp định Genève 1954 vừa ban hành. Vì thời gian xảy biến cố đẫm máu ấy đã quá xa, lâu trên nửa thế kỷ rồi, nên không mấy ai biết đến hay còn nhớ tới cách rõ ràng tường tận.

Nên nơi đây, để các giới độc giả đồng bào thân thương, đa số đều ra đời sau năm 1954, khi đất nước mới bị phân chia, tôi mạn phép được tóm lược các điểm chính ” pricipaux évènements”, theo trật tự thời gian như sau:

 -Ngày 28.2.1946, quân Tàu phù rút khỏi miền Bắc VN, quân viễn chính Pháp theo chân quân đội Anh-Ấn đến Sài Gòn lập đầu cầu tái chiếm Đông Dương.

 -Ngày 29.12..46, quân CS Việt Minh kéo ra chiến khu. Chiến tranh tiếp tục kéo dài.Quân Pháp bắt đầu dựng lại chế độ cai trị trên toàn lãnh thổ VN

-Ngày 2.7.49, Bảo Đại được Pháp cho phép nhân danh quốc trưởng , đứng ra thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Chính phủ đầu tiên , do ông Ng. Phan long làm thủ tướng, ra đời ngáy8.1.50,chính phủ kế tiếp do Trần Văn Hữu thành lập lần thứ nhất , ngày 6.5.50, lần thứ nhì ngày 20.2.51, lần thứ 3, ngày 8.3.52,chính phủ Ng. Văn Tâm lần 1, ngày6.6.52, lần thứ nhì ngày 8.1.53, rồi đến chính phủ Bửu Lộc, ngày 11.1.54.Cuối cùng là chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập ngày 6.7.54, tức khoảng 2 tháng sau khi Điiện Biên Phủ bị thất thủ.

 - Ngày 7.5.54, Điện Biên Phủ thất thủ , rơi vào tay quân CSVN.
- Ngày 9.7.1954, thường dân Pháp rời khỏi Hà Nội.
- Ngày 20.7.54, thỏa hiệp Genève hoàn tất. ( nên biết: Hội nghị Genève khai mạc từ ngày 25.4.54)
-Ngày 9.10 54, quân CSBV từ rừng núi vào Hà Nội tiếp thu chính quyền từ tay quân Pháp trao lại.

 Theo các biến cố nêu trên, chắc quí bạn đọc đã biết rõ: kể từ ngày
2.7. 49 đến tháng 10 năm 1954, nước VN đã có một chính phủ quốc gia do người VN thành lập và cai trị trên toàn quốc gồm đủ 3 miền: Nam, Trung,Bắc. Tổng số nhân viên hành chánh các cấp của chính phủ VN thời bấy giờ là bao nhiêu người , tôi không có phương tiện tra cứu , nên không biết rõ.

 Đến 20.7.54, khi hiệp định Genève ký kết xong, nước VN đã bị phân chia làm 2 miền: Miền Bắc,kể từ vĩ tuyến 17 trở lên đến ải Nam Quan thuộc quyền thống trị của chế độ CSVN. Miền Nam, kể từ vĩ tuyến 17 xuống đến tận mũi Cà Mau, do chính phủ Quốc Gia dưới quyền lãnh đạo cùa quốc trưởng Bảo Đại. Ngoài ra, hiệp định này còn qui định một thời gian 3 tháng giao thương , để cho dân chúng 2 bên trên cả nước được tự do đi lại, và tùy tiện chọn lựa chế độ. Sau thời hạn 3 tháng ấy,khi bức màn tre của quân CSBV đã đóng sập xuống rồi, mọi di chuyển , đổi vùng cư ngụ đều bị cấm chỉ.

 CHÍNH SÁCH LƯU DỤNG VÀ CHIẾN DỊCH” CHỈ ĐỊNH CƯ TRÚ” CỦA CÁO HỒ!

 Theo Lucien Bodard, một nhà báo, kiêm nhà văn nổi danh thế giới của Pháp, đã viết trong tác phẩm ”La Guerre d’Indochine”, dầy 1168 trang, do nhà x.b Gallimard ấn hành năm 1963, ngày 9.10.1954 quân CSBV đã từ các vùng rừng núi kéo về thủ đô để tiếp thu Hà Nội, do quân viễn chinh Pháp trao lại.

Nhưng , vẫn theo Lucien Bodard, cả tuần lễ sau ngày tiếp thu Hà Nội bọn Hồ Chí Minh , Võ Nguyên Giáp cùng đám lâu la đầu sỏ CSVN vẫn còn trốn biệt tăm, chưa dám thò đầu, lộ diện trước quần chúng…Cuối cùng , sau một tuần lễ, khi tình hình thủ đô đã trở nên hoàn toàn yên tĩnh, mấy tên trùm CS này mới xuật hiện, tuyên bố thành lập chính phủ và đích thân Hồ Chí Minh lên tiếng kêu gọi các giới viên chức chánh phủ Quốc Gia VN đã và đang làm việc ở miền Bắc, kể từ vĩ tuyến 17 ra đến biên giới miền Bắc, giáp ranh Trung Quốc, xin đừng di cư vào Nam, hãy cứ ở lại miền Bắc, tiếp tục phục vụ quê hương và dân tộc theo chức vụ cũ.

Chính phủ cách mạng cam kết sẽ thực thi nghiêm túc chính sách” lưu dụng mọi nhân viên hành chánh các cấp.

Ai chịu ở lại giúp chính quyền sẽ được giữ nguyên chức vụ cũ và chính quyền cũng bảo đảm sẽ duy trì qui chế lương bổng hàng tháng như trước kia dưới thời chính phủ quốc gia!”

 Nghe lời kêu gọi đường mật ấy của Hồ Chí Minh, nhiều viên chức hành chánh, ngây thơ , dại dột đã siêu lòng, quyết định ở lại miền Bắc để tiếp tục phục vụ quê hương. Những người này thầm nghĩ , dù ở lại làm việc ở miền Bắc dưới chế độ Việt Minh hay di chuyển vào Nam thì cũng vẫn là phục vụ quê hương. Nhất là những người vốn sinh trưởng từ nhỏ đến lớn ở miền Bắc nay đã có gia đình cha mẹ, vợ con, thân tộc lâu đời tại địa phương , không mấy ai muốn di cư vào Nam lập lại cuộc đời mới nơi xa lạ. Ngoại trừ những người vốn gốc miền Nam ( kể từ Quảng Trị đến mũi Cà Mau) đã được quân đội Pháp hay chính phủ Quốc Gia VN bổ nhiệm ra Bắc phục vụ theo nhu cầu.

 Đến đây, một câu hỏi tất nhiên phải được nêu lên để cùng nhau tìm ra âm mựu thâm độc , dã man của tập đoàng CSBV lưu manh. Câu hỏi như sau:” Tại sao lúc đó Hồ Chí Minh lại đích thân khẩn khoản, ân cần, ngọt ngào dụ dỗ cho kỳ được các tầng lớp cán bộ hành chính quốc gia ở lại miền Bắc để làm gì?

 Xin thưa: để bọn ” NHAQUÉS” ( ChỮ “ NHAQUÉ “ của người Pháp dùng để chỉ bọn VMCS, gốc quê mùa, dốt nát). có cơ hội được học nghề ” cạo giấy” , ” sáng cắp ô đi tối cắp về”! [ Theo Lucien Bodard viết trong tiểu mục ” À la conquête des Nhaqués” trong sách ” La Guerre d’Indochine” ].

 Vẫn theo Lucien Bodard, vì lúc bấy giờ tuyệt đại đa số cán bộ VMCS ở chiến khu về đều xuất thân giai cấp “ nhà quê” bần cố nông , tam tứ đại, và thuộc loại chính gốc ” ngu như lợn”.Cả đời bọn này chỉ biết bắn giết dã man như loài dã thú và chưa bao giờ được bước chân đến một cửa văn phòng hành chánh nào, chưa từng nhìn thấy mặt mũi cái bàn giấy nó ra làm sao và thế nào gọi là công văn v.v…

 Khi thời gian 3 tháng giao thương theo qui định của hiệp ước Genève 1954 đã chấm dứt, dân chúng 2 miền không được qua lại nữa.Tức là lúc bức màn tre đã buông xuống rồi, và khi đó bọn “NHAQUÉS VMCS” cũng đã tiếp thu được một số vốn hiểu biết tổng quát về quản lý hành chánh rồi, tập đoàn lãnh đạo CSBV mới bắt đầu thò nanh, nhe vuốt ra đối với đám nhân viên hành chính quốc gia được lưu dụng.

 Trước hết, trong thời gian đầu tiên, bọn CSBV đã tỏ ra dễ thương, nói năng ôn hòa, dịu ngọt và giữ đúng lời cam kết của Hồ Chí Minh.Chúng vẫn để cho các nhân viên hành chính quốc gia thuộc dạng lưu dụng mỗi ngày đến sở làm việc như thường lệ. Thấy thế ai cũng tin tưởng , càng tỏ ra vô cùng hồ hởi phấn khởi, cố sức làm việc chăm chỉ với năng xuất gấp đôi, gấp ba khi trước.

Cuối tháng đầu tiên họ vẫn được phát lương đầy đủ như thời các chính phủ quốc gia. Ít lâu sau, khi bọn cán bộ đã học hỏi hết được ngón nghề cai trị và các thủ tục hành chánh rồi, CS bắt đầu cho bọn nhân viên hành chính QG dạng lưu dụng được “ ngồi chơi xơi nước”. Nghĩa là hằng ngày chẳng phải làm gì cả, nhưng vẫn cứ phải đến sở ngồi im một chỗ cho đến hết giờ. Tan sở ra về!

 Ngày xưa, dưới chế độ QG, người công chức đau ốm còn được quyền xin nghỉ vài ngày chữa bịnh. Đến lúc này dù cho bệnh nhân đau nặng gần chết, vợ con cũng phải cố sức cáng đến sở cho ngồi im như tượng gỗ ở một chỗ đó ! Tuy bị “ngồi chơi sơi nước” đau đớn như thế, bọn CSBV còn chưa thỏa ác tính. Chúng giở thêm trò chơi khăm, cuối tháng vẫn tiếp tục phát đủ lương như thường.
Trong trường hợp này, các giới nhân viên hành chính QG được lưu dụng tự nhiên cảm thấy ngại ngùng, ngầm sợ hãi đến rợn người.

Cuối cùng, chẳng ai bảo ai, họ đành cam phận đói rách, vợ con nheo nhóc, tự động làm đơn nộp cho các quan lớn CS trong rừng mới về thành thi , xin được “ miễn “ lãnh lương , hay nói khéo hơn là : ”cúng hết số tiền lương ấy vào công quỹ để xây dựng đất nước trong thời kỳ còn khó khăn v.v...

 Như thế, nào đã được yên! Một năm sau, 1955, đùng một cái bọn CSBV tung ra chiến dịch “ CHỈ ĐỊNH CƯ TRÚ”, ra lịnh: tất cả mọi thành phần quân, cán chính QG ở lại miền Bắc đều phải nhất tề tập trung đến nơi cư trú mới do đảng và nhà nước chỉ định. Sau đó CSBV liền dùng võ lực áp tải từng đòan người tay không, lũ lượt lên các vùng rừng núi hoang vu Việt Bắc, nơi thâm sơn cùng cốc, đầy thú dữ, sơn lam chướng khí và nước độc, để tự dựng chòi lên tạm trú và tự lực cánh sinh!

 Chỉ trong vòng một năm, từ 1955 đến 1956, quân CSBV đã dùng chiến dịch “ CHỈ ĐỊNH CƯ TRÚ” (y hệt chính sách “ KINH TẾ MỚI” sau năm 1975 ở miền Nam) để tiêu diệt êm thắm, gọn gàng, không để lại trên mặt đất này bất cứ một chút dấu vết nào của hàng trăm ngàn con người VN ngây thơ , khời dại, dám tin vào lời đường mật ngot ngào của bọn CS vô luân, vô đạo nghĩa !

 Bây giờ, tôi tin chắc ở hải ngọai cũng như trong nước , chẳng còn mấy ai nhớ đến cái tội ác lừa đảo giết người không cần súng đạn, gươm dáo này của CSVN. Vì thế, tôi cần phải đặc biệt lưu tâm mọi người: Đừng vội quên bọn cầm quyền CSBV hiện nay vốn mang trong huyết quản giòng máu đại gian đại ác, song bên ngoài, luôn luôn đội lốt nhân nghĩa, cách mạng, nói năng ngọt sớt, song chúng trở mặt giết chúng ta bất ngờ lúc nào ta không thể biết!

 • [ PHỤ CHÚ: Tại sao tôi biết tường tận thủ đoạn lường gạt dã man này của bọn CSBV ? Vì ông nội tôi có một người em trai, theo cách xưng hô của người Hà Nội xưa, tôi phải gọi là ” Ông Trẻ”.

Ông Trẻ tôi vốn là nhân viên sở Hỏa Xa Đông Dương, làm việc tại ga Hàng Cỏ, nhà riêng ở Khâm Thiên, trong khu hồ Văn Chương. Năm 1954,ông đã nhẹ dạ cả tin vào lời kêu gọi của bọn CSVN, không chịu di cư vào Nam, nên cả gia đình của Ông Trẻ tôi, gồm bà vợ và người con trai độc nhất tên Đình( tôi gọi bằng chú) đã bị chết mất xác trong vụ ” CHỈ ĐỊNH CƯ TRÚ” ấy !].

 *GHI CHÚ QUAN TRỌNG: Đoạn văn tố giác tội ác của tên đại tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh và đồng bọn lãnh đạo đảng CSVN trên đây, tôi đã viết từ năm 1979. Bây giờ, nhân đọc” Bên Thắng Cuộc” , tôi trích lục lại để đối chiếu và chứng minh thói ác gian dối, cắt sén sự thật lịch sử của cây bút CS Huy Đức. Đoạn văn này nằm nơi phần mở đầu của quyển I trong bộ sách ”HẬU TRƯỜNG CHÍNH TRỊ MIỀN NAM ” (1945-1975) dầy 3 tập,dài trên 2 ngàn trang, đã xuất bản và phát hành từ năm 1979.

Bạn nào muốn kiểm chứng xin tìm đọc nơi trang 25-52.

 ( còn tiếp nhiều kỳ)

KỲ SAU: BÀI 2.- SỰ THẬT BÊN TRONG VỤ ĐẤU TỐ VÔ CÙNG DÃ MAN BÀ CÁT HANH LONG VÀ CỤ NGUYỄN KHẮC NIÊM PHẢI TỰ TỬ VÌ KHÔNG CHỊU NHỤC!

 ĐẶNG VĂN NHÂM

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link