Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, December 30, 2012

45 NĂM HUẾ THẢM SÁT MẬU THÂN 1968


 
Play all
 
  1. Trả Lại Sự Thật 2 1/5: 45 NĂM BIẾN CỐ ĐAU THƯƠNG TẠI HUẾ MẬU THÂN 1968 (39:12)
  2. Trả Lại Sự Thật 2 2/5: 45 NĂM BIẾN CỐ ĐAU THƯƠNG TẠI HUẾ MẬU THÂN 1968 (44:58)
Public 
 
NHỮNG BUỔI THẢO LUẬN TRỰC TIẾP (LIVE BROADCAST) THEO LỊCH TRÌNH MỖI THỨ BẢY LÚC 3 GIỜ CHIỀU CALI (TỨC MỖI CHỦ NHẬT 6 GIỜ SÁNG VIỆT NAM) NHƯ SAU:
 
 
III. PHỐI TRÍ LỰC LƯỢNG ĐỊCH VÀ PHỐI TRÍ LỰC LƯỢNG QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ ĐỒNG MINH PHÒNG THỦ HUẾ. (29.12.12)
 
IV. KẾT QUẢ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TRẬN MẬU THÂN HUẾ. (5.1.13)
 
V. ỦY BAN TRUY TỐ TỘI ÁC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN. (12.1.13)
 
 ĐẶC BIỆT XIN KÍNH MỜI QUÝ ĐỒNG BÀO KHẮP NƠI THAM GIA NHỮNG BUỔI THẢO LUẬN TRỰC TIẾP QUA MỘT TRONG CÁC PHƯƠNG TIỆN SAU FACEBOOK.COM/UY.BAN, UBTTTADCSVN.BLOGSPOT.COM, USTREAM.TV/CHANNEL/UBTTTADCSVN, HOẶC ĐIỆN THOẠI VÀO SỐ 626-257-1057.
 
Đính kèm phần Slideshow bao gồm chứng cứ và tài liệu đã được dùng trong Buổi Họp Báo ngày 13/10/2012. Audio Quảng Độ và Võ Văn Ái sỉ nhục VNCH và kích động chia rẽ ở các trang 40, 42, và 48.

Đệ I VNCH 1955-1963

Đệ II VNCH 1964-1975

Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm

Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm
Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan (1-2-1930 14-7-1998)
Yểm Trợ Quỹ Pháp Lý Truy Tố Cộng Sản Việt Nam
      

Biến Động Miền Trung

(Những Bí Mật Chưa Được Tiết Lộ Giai Đoạn 1966- 1968- 1972)

$30.00

·         HUẾ Thảm Sát Mậu Thân

$30.00
PayPal Acceptance Mark

Monday, December 3, 2012

TỨ TRỤ TRONG TRIỀU ĐÌNH GHPGVNTN LÀ BỐN TÊN CỘNG SẢN (Update)

12/03/2012 UBTTTADCSVN

THÍCH TRÍ QUANG - THÍCH MINH CHÂU

THÍCH ĐÔN HẬU - THÍCH THIỆN SIÊU
___________________________
LIFE Magazine - April 22, 1966 (6) - Monk Triumvirate Calling the Turn. /Thích Trí Quang, Thích Hộ Giác... thách thức sẽ tiếp tục kích động tín đồ biểu tình.
 
THÍCH TRÍ QUANG
 
Thích Trí Quang sanh năm 1922, tại làng Diêm Điền, thị xã Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình. Vì là nơi nghèo khổ truyền kiếp, nên dân làng Diêm Điền có tính bảo thủ, rất cực đoan, và hết sức quá khích. Thượng tọa (TT) Trí Quang đã xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ và Trí Quang là người anh cả của 3 người em trai. Thuở nhỏ, TT Trí Quang đã được cha mẹ đặt tên cho là Phạm Văn Bồng. Phạm Văn Bồng và người em kế đã phải sớm nương thân cửa Phật để kiếm miếng ăn, họ qui y với Hòa Thượng Phổ Minh, trụ trì ở Đồng Đình.
 
Về sau bốn anh em nhà họ Phạm đã được Hòa Thượng Phổ Minh dùng bốn chữ: Quang, Minh, Chính, Đại, để cải danh cho. Vì thế Phạm Văn Bồng đã cải danh thành Phạm Quang, sau trở thành Thích Trí Quang. Còn ba người em tên là: Phạm Minh, Phạm Chánh, và Phạm Đại.
 
Nhờ nương thân nơi cửa Phật, nên hai anh em Phạm Quang (Trí Quang) và Phạm Minh đã được học hành chút đỉnh, khoảng lớp Ba tiểu học. Còn hai em là Phạm Chánh và Phạm Đại đều chịu cảnh thất học. Phạm Minh đã sớm rời bỏ lớp áo tu hành, tham gia kháng chiến. Nhờ có chút đỉnh chữ nghĩa nên Phạm Minh đã được phục vụ trong Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Xã tại địa phương. Còn hai người em, tên Phạm Chánh và Phạm Đại thì xung vào Bộ Đội.
 
Chẳng bao lâu sau, Phạm Chánh được kháng chiến quân phong làm Tiểu Đội Trưởng Dân Quân Du Kích. Nhưng đến ngày 4.6.1947, Phạm Chánh đã bị lính Pháp phục kích bắn chết tại Đức Phổ, thuộc phía Tây thành phố Đồng Hới. Lúc bấy giờ Phạm Chánh mới 21 tuổi. Còn người em út tên Phạm Đại làm điều dưỡng viên trong Bộ Đội CSBV vẫn còn sống cho đến năm 1954, khi chia cắt đất nước.

 
TRÍ QUANG BỊ BẮT
 
Ở Đồng Hới, thuở ấy ai cũng biết Hòa thượng (HT) Phổ Minh là một vị cao tăng, đức độ. Ngài đã có gia đình rồi mới đi tu. Nhưng ngài chỉ thông thạo Hán Văn, và biết chút đỉnh chữ Quốc Ngữ, chớ không am tường Tây học.
 
Khoảng năm 1934, bác sĩ Lê Đình Thám đã cùng với Thượng Tọa Thích Mật Thể lập ra trường An Nam Phật Học ở Huế, nhắm mục đích đào tạo tăng sĩ.
 
Năm 1942, lúc đó Trí Quang vừa tròn 20 tuổi, đã được tuyển vào học tại trường này, và thọ giáo với Hòa Thượng Thích Trí Độ, giám đốc trường. Năm sau, 1943, Trí Quang tốt nghiệp khóa Phật Học Trung Cấp.
 
Hòa Thượng Thích Trí Độ đã gia nhập đảng CSVN từ năm 1941, lúc đảng này còn hoạt động trong bóng tối. Đến năm 1945, sau khi Việt Minh (VM) cướp chánh quyền, HT Thích Trí Độ được CSVN cử giữ chức chủ tịch trung ương Giáo Hội Phật Giáo Cứu Quốc (PGCQ). Vì thế HT Trí Độ đã kéo một số tăng sĩ theo CS, trong đó có Thích Thiện Minh, làm chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Trị...
 
 Về phần Trí Quang, khi CSVM tuyên bố “toàn quốc kháng chiến”, và ra lịnh cho quần chúng phải tản cư khỏi các đô thị lớn như: Hà Nội, Huế và Sài Gòn v.v... vào khoảng cuối năm 1946, Trí Quang trở về Diêm Điền, để giữ chức chủ tịch Ủy Ban PGCQ tỉnh Quảng Bình.
 
Đến năm 1947, Trí Quang hoạt động cùng một tổ với hai cán bộ nội thành của CSVM, tên Nguyễn Toại (còn gọi là Toại Béo), ở Đồng Đình, và Nguyễn Tịch ở Đồng Phú.
 
Chẳng bao lâu sau, cũng trong năm 1947, Trí Quang, Toại Béo, và Nguyễn Tịch đều bị Phòng Nhì Pháp theo dõi bắt trọn ổ. Lần này, Trí Quang và Nguyễn Tịch đã bị giam ở Trạm Thiên Văn Tam Tòa. Ít lâu sau Trí Quang cũng đã được Pháp trả tự do.
 
Nhưng sau khi được trả tự do ít lâu, Trí Quang lại bị Phòng Nhì của Tây bắt lần nữa, vì tội vẫn còn tiếp tục hoạt động bí mật và duy trì liên lạc với các cán bộ CSVM. Sau một thời gian bị giam, Trí Quang đã được một viên chức bảo hộ của Pháp ở Huế bảo lãnh.
 
Lần này Trí Quang đã phải làm tờ cam kết không hoạt động cho CSVM nữa. Sở dĩ Trí Quang được viên chức bảo hộ Pháp đứng ra bảo lãnh là do đức Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, thân mẫu của Vua Bảo Đại, đã nghe lời xin của An Nam Phật Học mà đứng ra yêu cầu chính quyền Pháp tha cho Trí Quang.
 
Sau lần phóng thích thứ nhì, Trí Quang liền vào Huế, trụ trì ở chùa Từ Đàm. Từ đó, bề ngoài Trí Quang làm ra vẻ chỉ chăm lo Phật sự, nhưng bên trong vẫn tiếp tục hoạt động ngấm ngầm cho CSVM.
Theo hồ sơ của sở Mật Thám Pháp còn để lại tại Trung Tâm Văn Khố Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế thì Thích Trí Quang gia nhập đảng Cộng Sản vào năm 1949.
 
Theo Tố Hữu, Ủy Viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, cánh tay mặt của Hồ tặc Hồ Chí Minh thì chính Tố Hữu là người đứng ra làm lễ và chấp nhận cho Trí Quang tuyên thệ vào đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1949 tại mật Khu Lương Miêu Dương Hòa thuộc Tỉnh Thừa Thiên.

 
TRÍ QUANG VỚI PHONG TRÀO HÒA BÌNH
Khoảng năm 1953, CSVM mở chiến dịch vận động Phong Trào Hòa Bình trong nước và hải ngoại để áp lực Pháp phải ngưng chiến ở Đông Dương. Vì thế Ủy Ban Bảo Vệ Hòa Bình được CS lập ra, do HT Thích Trí Độ lãnh đạo. Ở miền Nam, Trí Quang đã hoạt động tích cực để ủng hộ ủy ban này. Đến năm 1954, sau Hiệp Định Genève, luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở Sài Gòn cũng thành lập “Phong Trào Hòa Bình” để yểm trợ cho đường lối chánh trị của Cộng Sản Bắc Việt(CSBV). Ở Huế, lúc bấy giờ Trí Quang đang làm hội trưởng Hội Việt Nam Phật Học, cũng hưởng ứng lời kêu gọi của CSBV, thành lập một Phong Trào Hòa Bình tương tợ như của LS Nguyễn Hữu Thọ. Nhân sự nòng cốt của Phong Trào Hòa Bình ở Huế, do Trí Quang thành lập, ngay từ giây phút đầu tiên đã gồm toàn cán bộ CS nằm vùng thuộc chi bộ Thuận Hóa của bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ngoài ra, còn có sự tham gia của một số trí thức miền Trung như: Nguyễn Cao Thăng, bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, ông Nguyễn Văn Đẳng v.v...
Ngày 29.8.1954, Phong Trào Hòa Bình (PTHB) đã tổ chức lễ ra mắt tại Sài Gòn, và phổ biến tuyên cáo 2 điểm:
Yêu cầu quân Pháp rút khỏi miền Nam, và phải tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định Genève. Gần một tháng sau, ngày 21.9.1954, Phong Trào Hòa Bình tổ chức một cuộc biểu tình khá lớn tại Sài Gòn đòi chánh phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm phải trả những người Bắc di cư về lại miền Bắc và tổ chức hiệp thương, rồi tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc.
 
Trước tình thế đó, bắt buộc chánh phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm phải tỏ thái độ. Ngày 7.11.1954, chánh phủ ra lịnh bắt giam tất cả những nhân vật trí thức đã tham gia hoạt động trong phong trào này. Ở Sài Gòn, LS Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang, giáo sư Phạm Huy Thông, Kha Văn Dưỡng, cùng với một số ký giả như Nguyễn Bảo Hóa, Trần Chi Lăng... đều bị bắt.
Ở Huế, Thích Trí Quang, Nguyễn Cao Thăng, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Dương Kỵ, Phạm Văn Huyến v.v...cũng không thoát khỏi mạng lưới an ninh. Nhưng, ở miền Trung, ông Ngô Đình Cẩn đã dùng lời ngon ngọt, đem tiền bạc, địa vị và lợi lộc ra chiêu dụ Trí Quang và đồng bọn. Ông Cẩn tin chắc rằng: với những tài liệu cụ thể của Phòng Nhì Pháp, chứng minh rõ ràng Trí Quang đã từng hoạt động ngấm ngầm cho CS từ lâu, hiện đang nằm trong tay ông, thì Trí Quang sẽ không đời nào dám cựa quậy, hay sanh lòng phản trắc nữa.
 
Đến ngày 9. 2.1955, chánh phủ Ngô Đình Diệm đã ra lịnh tống xuất 26 nhân vật đầu xỏ của Phong Trào Hòa Bình ra Hải Phòng, trao cho CSBV. Nhưng trong số đó đã không có Trí Quang, không có Lê Khắc Quyến, Nguyễn Cao Thăng, và Nguyễn Văn Đẳng... Chẳng bao lâu sau, Lê Khắc Quyến đã được ông Ngô Đình Cẩn trọng đãi, làm y sĩ riêng cho thân mẫu của Ngô Đình Cẩn, lại còn được bổ nhiệm làm khoa trưởng Đại Học Y Khoa, Viện Đại Học Huế, giám đốc bịnh viện trung ương Huế. Nguyễn Cao Thăng được làm chủ nhân ông công ty bào chế thuốc tây OPV, Nguyễn Văn Đẳng, từ ngạch Thừa Phái được chuyển ngạch sang Tham Sự Hành Chánh, rồi được bổ nhiệm đi giữ chức tỉnh trưởng. Từ năm 1955 đến 1963, Nguyễn Văn Đẳng đã được bổ làm tỉnh trưởng Thừa Thiên, kiêm thị trưởng Huế.
 
Riêng Trí Quang thì được ông Cẩn bỏ tiền ra giúp đỡ trùng tu lại chùa Từ Đàm cho thêm phần khang trang. Nên biết chùa Từ Đàm đã xây nên từ năm 1703, thời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu. Khởi đầu chùa này mang tên “Ấn Tôn Tự”. Đến đời vua Thiệu Trị (1841- 1847) chùa đổi tên là Từ Đàm (3 chữ “Ấn Tôn Tự” bị coi như phạm húy). Vì là một ngôi cổ tự, xây cất bằng những vật liệu thô sơ, nên đến thời Bảo Đại chùa Từ Đàm đã bắt đầu bị hư mục.
 
Bởi thế trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1963, đồng bào miền Trung, nhất là dân Huế, không còn ai lấy làmlạ khi thấy thỉnh thoảng ông Cẩn đã đến chùa Từ Đàm ăn cơm chay với TT Trí Quang. Ngoài ra ông Cẩn còn tích cực yểm trợ cho các hoạt động Phật Giáo của Trí Quang, ở chùa Từ Đàm, tô điểm thêm hào quang và làm tăng thêm uy tín cho Trí Quang.
 
Ông Cẩn đinh ninh rằng: với hồ sơ của Phòng Nhì Pháp trong tay cộng thêm sự giúp đỡ tiền bạc dồi dào, chắc chắn ông đã nắm gọn được cả phần hồn lẫn phần xác của Trí Quang. Nhưng ông Cẩn đã sai lầm hoàn toàn. Con rắn CS dù đã lột da bao nhiêu lần, nó vẫn là con rắn.
Ông Ngô Đình Cẩn đã chơi trò “nuôi ong tay áo”, vì thế mà ông Cẩn và cả gia đình ông ta đã bị Trí Quang tàn sát, đồng thời kéo theo cả sự sụp đổ của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa.

 
TRÍ QUANG VÀ ĐỆ I VNCH
Cho đến nay ai cũng biết Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị quân đội, theo lệnh của Mỹ, làm đảo chánh. Ngược lại, nếu bấy giờ Mỹ chưa muốn lật đổ Diệm thì dù cho Trí Quang, Thiện Minh và nhóm Phật Giáo đấu tranh miền Trung có mọc thêm ba đầu sáu tay cũng không làm nên chuyện. Ngày nay Quảng Độ Nói năm 1963 Phật Giáo đã làm một ‘cuộc Xuống Đường không tiền khoáng hậu’ để lật đổ một chính thể ‘ngoại bang’, thật là láo khoét. Thực chất Trí Quang chỉ là một tu sĩ Phật Giáo có một trình độ học vấn rất đơn sơ của bậc tiểu học, với một mớ chữ Hán giới hạn đủ để đọc kinh sách. Trí Quang không có trình độ Hán học của một nhà Nho,và cũng không có chút hiểu biết gì về Tây học. Ngoài tiếng mẹ đẻ, Trí Quang không nói được một ngoại ngữ nào, dù là Anh hay Pháp ngữ. Bởi thế, ta thấy đi đâu Trí Quang cũng phải dắt theo Đại Đức Thích Nhật Thiện, như một bí thư kiêm thông dịch viên. Với căn bản đó, nên tầm hiểu biết của Trí Quang rất hạn hẹp.
 
Theo hồ sơ của Phòng Nhì Pháp, người ta được biết, Võ Đình Cường vốn là một đảng viên CS thâm niên. Cường đã được kết nạp vào đảng từ năm 1943, cùng một lượt với TT Thích Minh Châu, về sau Minh Châu đã trở nên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Võ Đình Cường đã được CS chỉ định công tác tuyên vận trong giới Phật Giáo miền Trung. Suốt trong thời gian từ 1947 cho đến 1965, Võ Đình Cường đã bị bắt giam vì tội hoạt động cho CS nhiều lần, nhưng đều được Trí Quang bảo lãnh, xin trả tự do. Kể từ cuối năm 1963, tựa vào thế lực Phật Giáo đấu tranh miền Trung đang trên đà thắng lợi, Võ Đình Cường đã ra mặt hoạt động công khai, không còn e ngại gì mạng lưới an ninh của chế độ đệ nhị CH miền Nam.
 
Sau năm 1975, Võ Đình Cường đã được đảng CSVN cử làm dân biểu quốc hội, kiêm tổng biên tập tạp chí Giác Ngộ, cơ quan tuyên vận chánh thức của lực lượng Phật Giáo thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng CSVN. Trụ sở tạp chí Giác Ngộ đặt ở số 85 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố Sài Gòn.
 
Theo dõi, quan sát kỹ lưỡng cuộc đấu tranh từ khởi đầu, 5.1963, cho đến ngày miền Nam mất vào tay Cộng Sản Việt Nam, 30.4.1975, người ta nhận ra các phương thức xách động quần chúng đô thị đấu tranh kiểu Cộng Sản đã được Trí Quang và nhóm Phật Giáo đấu tranh miền Trung đem ra áp dụng triệt để. Trí Quang và Phật giáo miền Trung đã đẻ ra một tổ chức chánh trị hoạt động song hành lấy tên là “HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC” và nhóm “LẬP TRƯỜNG”, sặc mùi Cộng Sản, do toàn cán bộ CS nằm vùng đứng ra lãnh đạo như: Lê Khắc Quyến, chủ tịch chi bộ Thuận Hóa, Lê Tuyên, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Ngọc Bang, Cao Huy Thuần, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Lê Văn Hảo (hiện đang ở Pháp)...
 
Vì cái tên “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” sặc sụa mùi CS và lộ liễu quá, khó thu hút được các thành phần khác, nên chỉ một thời gian ngắn sau, Trí Quang ra lịnh cho cải danh là “LỰC LƯỢNG TRANH THỦ CÁCH MẠNG”. Đây chỉ là trò “bình mới rượu cũ”, một thủ đoạn chánh trị quen thuộc của CS, chẳng khác nào như đảng Cộng Sản Việt Nam cải danh thành đảng Lao Động vậy!
 
Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng, hậu thân của Hội Đồng Dân Nhân Cứu Quốc, ra đời với sự tham gia bí mật của nhiều cán bộ cao cấp CSBV, nhắm mục tiêu thừa thắng xông lên, mượn danh nghĩa nhân dân bị độc tài gia đình trị áp bức nổi dậy, cướp chánh quyền miền Nam bằng bạo lực chánh trị. Nếu mục tiêu lớn, toàn quốc không đạt được, Trí Quang sẽ tiến tới kế hoạch thỏa hiệp với một số tướng lãnh gốc miền Trung, tranh đấu đòi “MIỀN TRUNG TỰ TRỊ”, làm cho chế độ miền Nam bị tê liệt. Trong thời gian kể từ sau ngày 1.11.1963 trở đi, Trí Quang tuy khoác áo tu hành, nhưng thực ra là một lãnh chúa quyền khuynh thiên hạ, các tướng lãnh cầm quyền đều kiêng dè, nể mặt. Điều này ai cũng đã thấy biết. Đặc biệt nhất là Tướng Dương Văn Minh.

 
TRÍ QUANG DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
Hiện nay Thích Trí Quang hãy còn sống ở Việt Nam. Nhưng từ 1975 cho đến bây giờ, không ai nghe nói đến một hoạt động nào, hay một lời tuyên bố nào của Trí Quang.
Theo bài báo “CON ĐƯỜNG KHÚC KHỈU” của Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ cao cấp đặc trách Ban Tôn Giáo Vận đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, kể lại những thành tích của ông ta trong thời gian còn hoạt động bí mật thì sau ngày 30.4.1975, Trí Quang đã bị CSVN liệt vào thành phần “CIA CHIẾN LƯỢC”.
 
Đỗ Trung Hiếu đã gia nhập đảng CSVN từ năm 1956, và là một cán bộ nằm vùng, hoạt động trong khối Phật Giáo ở miền Nam, đặc trách theo dõi các cuộc đấu tranh của Phật Giáo từ năm 1963. Vì thế Hiếu đã quen biết rất nhiều tăng sĩ thế lực thuộc cả hai phe Ấn Quang của Thích Trí Quang và Việt Nam Quốc Tự của HT Thích Tâm Châu. Đỗ Trung Hiếu kể, khi được lịnh vận động khối Phật Giáo để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), (tức tổ chức Phật Giáo Quốc Doanh), ông ta đã trình bày vai trò quan trọng không thể thiếu của Trí Quang với các thượng cấp chỉ huy trực tiếp là Trần Bạch Đằng và Xuân Thủy. Lúc bấy giờ Xuân Thủy đang giữ chức Bí Thư Trung Ương Đảng, kiêm trưởng ban Dân Vận Trung Ương, còn Trần Bạch Đằng làm Phó Trưởng Ban.
 
Khi nghe Đỗ Trung Hiếu nói về vai trò cần thiết của Trí Quang trong tổ chức GHPGVN, Trần Bạch Đằng đã gạt phắt đi, và không đồng ý cho Trí Quang tham dự vào tổ chức này. Vì theo nhận xét của Trần Bạch Đằng thì Trí Quang thuộc loại “CIA CHIẾN LƯỢC”, không thể nào dùng được nữa.
 
Ít lâu sau Nguyễn Văn Linh thay thế Xuân Thủy lên làm Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương, cũng hoàn toàn đồng ý với Trần Bạch Đằng, cho rằng Trí Quang là người không thể xài được nữa.
 
Kết quả, ngày 4.11.1981, đại hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN (quốc doanh) gồm có sự tham gia của phe Ấn Quang, tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, đã bầu ra một Hội Đồng Trị Sự như sau: chủ tịch HT Thích Trí Thủ, phó chủ tịch HT Thích Trí Tịnh, còn HT Thích Đôn Hậu làm phó Pháp Chủ kiêm Giám Luật của Hội Đồng Chứng Minh... Như vậy, bạn đọc đã thấy rõ, trong suốt cuộc chiến Quốc- Cộng ở VN, dù cho Trí Quang đã lập nên được rất nhiều công trạng lớn với CSVN, nhưng Trí Quang đã bị các đồng chí của hắn phát hiện Trí Quang là một CIA chiến lược vì vậy mà con đường hoạn lộ của hắn trong đảng Cộng Sản Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị tắc nghẽn. Bản chất vốn là tên hèn hạ, khiếp nhược, nên chắc chắn rằng sau tháng 4.1975 và cho đến khí hắn về 9 tầng địa ngục hắn sẽ mãi mãi âm thầm ngậm miệng.
 
THƯỢNG TỌA THÍCH MINH CHÂU VIỆN TRƯỞNG VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH KIÊM VIỆN TRƯỞNG HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT TẠI SÀIGÒN (CHÍNH LÀ ĐINH VĂN NAM MỘT CÁN BỘ CAO CẤP CỦA CỘNG SẢN HÀ NỘI)
 
Thích Minh Châu trong một
"chuyến công tác" tại
Triều Tiên (daidoanket.vn)
Thích Minh Châu (giữa)
 
 
 
Thích Minh Châu, một cán bộ cao cấp của Cộng Sản Hà Nội nằm vùng trong Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã qua đời hôm 1.9.2012 tại Sài Gòn, hưởng thọ 94 tuổi.
Năm 1964, Thích Minh Châu đã được GHPGVNTN can thiệp bằng mọi giá để buộc Tướng Nguyễn Khánh phải cho ông từ Ấn Độ về Sài Gòn làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và ông đã từng giữ chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục trong Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang cho đến sau năm 1975.
 
QUÊ QUÁN
Ở Việt Nam, ít ai biết đến hành tung của Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam… vì ông giấu rất kỹ. Hòa Thượng Thích Minh Châu có tên thật là Đinh Văn Nam, sinh ngày 20.10.1918.
Tài liệu VNCH ghi ông sinh ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Gia đình Hòa Thượng Minh Châu thuộc dòng dõi khoa bảng. Thân phụ ông là cụ Đinh Văn Chấp, Tiến sĩ Hán học của nhà Nguyễn, thân mẫu là bà Lê Thị Đạt.
Ông là con thứ 3 của gia đình có 8 con, theo thứ tự như sau: Đinh Văn Kinh là con trưởng, đến Đinh Văn Quang, Đinh Văn Nam (tức Hòa Thượng Minh Châu), Đinh Văn Linh, Đinh Văn Phong, Đinh Thị Kim Hoài, Đinh Thị Kim Thai và Đinh Thị Khang.
Trong năm 1940, Đinh Văm Nam đã lập gia đình với cô Lê Thị Bé. Đinh Văn Nam ở với vợ là Lê Thị Bé được 3 năm, sinh được hai người con, một trai và một gái. Người con trai đầu lòng tên là Đinh Văn Sương. Người con gái tên là Đinh thị Phương.
Năm 1943, Đinh Văn Nam vào Huế và xin làm thừa phái (thư ký) cho tòa Khâm Sứ của Pháp ở Huế. Từ đó ông rất ít khi về Nghệ An thăm vợ con.
Theo hồ sơ của mật thám Pháp để lại, Hòa Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc Trường An Nam Phật Học ở Huế gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1941, còn Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường gia nhập đảng Cộng Sản năm 1943.
Bác sĩ Lê Đình Thám đã phân công cho Võ Đình Cường hoạt động trong giới Phật tử, còn Đinh Văn Nam hoạt động trong giới tăng sĩ.
PGVNTN ĐƯA CÁN BỘ CỘNG SẢN CAO CẤP ĐINH VĂN NAM TỨC THÍCH MINH CHÂU VÀO HOẠT ĐỘNG TẠI SÀIGÒN.
Năm 1964, khi GHPGVNTN mới được thành lập, Viện Hoá Đạo của Giáo Hội này đã viết văn thư xin chính phủ Nguyễn Khánh cho Thượng Tọa Thích Minh Châu ở Ấn Độ được về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh sắp được thành lập. Tướng Nguyễn Khánh yêu cầu cơ quan an ninh sưu tra lý lịch.
Cơ quan an ninh đã sưu tra hồ sơ và tìm thấy Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường đã vào Đảng Cộng Sản năm 1943. Đinh Văn Nam có vợ và hai con đang ở miền Bắc.
Cơ quan an ninh liền liên lạc với Tòa Đại Diện VNCH ở Ấn Độ và xin cho biết trong thời gian ở Ấn Độ, Thích Minh Châu đã sinh hoạt như thế nào. Tòa Đại Diện cho biết trong thời gian ở Ấn Độ, Thích Minh Châu đã hoạt động cho Hà Nội. Tòa Đại Diện đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự kiện này.
 
Bằng chứng thứ nhất:
Năm 1952, Trung Quốc đã mở Hội Nghị Hòa Bình Châu Á và Thái Bình Dương ở Bắc Kinh. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gởi một phái đoàn tới tham dự. Phái đoàn do Luật sư Nguyễn Mạnh Tường làm trưởng đoàn. Thích Minh Châu từ Ấn Độ đã lén qua Bắc Kinh tham gia phái đoàn. Sau hội nghị, phái đoàn đã đưa ra một bản tuyên bố trong đó có đoạn như sau: “Nhân dân thế giới đều đồng tình, đòi quân đội ngoại quốc xâm lược phải rút ra khỏi 3 nước Việt, Miên, Lào, 3 nước Việt, Miên, Lào độc lập hoàn toàn và thực sự.”

 
Bằng chứng thứ hai:
Ngày 10.2.1958 Hồ Chính Minh qua Ấn Độ vận động thống nhất Việt Nam, đòi tổng tuyển cử. Công việc tiếp đón đều do Thích Minh Châu phụ trách. Hà Nội có cho ông Nguyễn Di Niên đi theo làm thông dịch. Nhưng khi đến Ấn Độ, Thích Minh Châu là thông dịch viên chính của Hồ Chí Minh. Tòa Đại DiệnVNCH có gởi về một tấm hình Thích Minh Châu chụp chung với Hồ Chí Minh tại Red Fort ở thủ đô Delhi, trong một cuộc mít-tinh do Thích Minh Châu tổ chức.
Tướng Nguyễn Khánh đã thông báo các tài liệu này cho Viện Hóa Đạo biết và nói rằng chính phủ rất tiếc không thể cho Thích Minh Châu trở về Việt Nam được, vì ông đang hoạt động cho Việt Cộng ở Ấn Độ.
Vốn tự coi mình là một tổ chức quyền lực tối cao, sống trên và ngoài luật pháp quốc gia, GHPGVNTN liền gởi cho Tướng Nguyễn Khánh một văn thư nói rằng ngoài Thích Minh Châu ra, hiện tại không tăng sĩ Phật Giáo nào có đủ khả năng làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, vậy xin cứ để cho Thích Minh Châu về, Giáo Hội bảo đảm sẽ không cho Thích Minh Châu hoạt động cho Việt Cộng nữa.
Thích Trí Quang còn đe dọa rằng nếu Tướng Nguyễn Khánh không đáp ứng nhu cầu chính đáng của Phật Giáo, Phật Giáo bị bắt buộc phải hành động.
 
ĐỆ TAM TĂNG THỐNG THÍCH ĐÔN HẬU
Thích Đôn Hậu khi đi Mông Cổ
tuyên truyền chống VNCH năm 1969,
Việt Cộng Tôn Thất Dương Tiềm
(phía sau) tháp tùng (vietbao.vn)
 
- Pháp danh Trừng Nguyên, hiệu Đôn Hậu, thuộc đời thứ 8 phái thiền Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần. Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1905 tức ngày Mười Ba tháng Giêng năm Ất Tỵ. Sinh quán tại làng Xuân An, Tổng An Đồn, phủ Triệu Phong Tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là Diệp Văn Kỷ làm nghề lương y, mẹ là Nguyễn Thị Cựu, bà mất năm Diệp Trương Thuần mới có 9 tuổi.
- Xuất gia vào năm 19 tuổi, vào ngày 19 tháng 6 năm 1923 tức năm Quý Hợi, Chùa Tây Thiên và nhận sư Tâm Tịnh trù trì chùa Tây Thiên làm Sư Phụ. Chùa Tây Thiên nằm về phía tây nam thành phố Huế thuộc quận Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên.
- 1945, thay thế bác sĩ Lê Đình Thám giữ chức Chánh Hội Trưởng Hội An Nam Phật Học Thừa Thiên và, cũng trong năm nầy, nhận chức Trù trì Quốc tự Linh Mụ.
- 1946, giữ chức Chủ Tịch Phật Giáo Liên Hiệp Trung Bộ.
- 1947, bị sở Mật Thám Pháp tại Huế bắt giữ vì can tội hoạt động cho Việt Minh Cộng Sản. Đức Đoan Huy Hoàng Thái hậu tức Đức Từ Cung thân mẫu vua Bảo Đại đứng ra bảo lãnh nên được Mật Thám Pháp trả tự do.
- 1963, thực hiện chỉ thị của Cộng Sản Hà Nội (theo lời khai của Thành Ủy Viên thành ủy Việt Cộng Hoàng Kim Loan bị Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế bắt vào mùa hè năm 1972) , lãnh đạo quần chúng tham gia vào cuộc nổi loạn lật đổ nền Đệ I Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm.
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Thích Đôn Hậu được cử làm Chánh Đại Điện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh (miền Trung).
Tháng 1 năm 1968, Thích Đôn Hậu được Cộng Sản Hà Nội mời tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Tháng 1 Mậu Thân 1968, Thích Đôn Hậu là Phó Chủ Tịch Liên Minh Các Lực Lượng Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam. Đây là một lực lượng chính trị thứ 2 vừa được Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh thành lập trước Tết Mậu Thân 1968 chỉ có mấy ngày. Lực Lượng Chính trị thứ nhất là Mặt Trận Giải Phong Miền Nam. Liên Minh các Lực Lượng Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam là lực lượng chủ lực chính trong vụ tàn sát 5327 thường dân vô tội và bắt đi mất tích 1200 người trong những ngày Tết Mậu Thân tại Huế. Sau đó Thích Đôn Hậu cùng với một số nhân vật chủ yếu trong tổ chức nầy thoát ly ra Bắc. Trong suốt 8 năm, từ 1.1968- 30.4.1975 bọn chúng là khách quý của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam (Lê văn Hảo trả lời cuộc phỏng vấn của ký giả Nguyễn An đài RFI Pháp quốc). Cũng trong thời gian nầy bọn chúng thực hiện những cuộc thăm viếng ngoại giao tuyên truyền cho chính phủ Cộng Sản Hà Nội tại các nước Cộng Sản như Trung cộng, Mông Cổ, Nga Sô v.v…
Tháng 6 năm 1968, Thích Đôn Hậu là Ủy Viên Hội Đồng Cố Vấn Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
-1970, công du Nga sô, Trung Cộng; 1971, công du Mông Cổ Tất cả các lần công du nầy không ngoài mục đích tuyên truyền cho Cộng Sản Việt Nam về cuộc chiến xâm lăng miền Nam mà bọn chúng cho là chính nghĩa.
-1975, cố vấn cho Ban chỉ Đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội PGVNTN.
-1976, Đại Biểu Quốc Hội Khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
-1976, Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Đây là một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trở lại Huế sau ngày 30.4.1975 và những năm cuối đời, Thích Đôn Hậu quay trở lại chống đối chính phủ Cộng Sản Việt Nam chẳng phải hối hận, vì lầm đường theo Cộng Sản mà sát hại dân Huế vào Mậu Thân 1968. Y chống lại bọn Cộng Sản chỉ vì bị chúng vắt chanh bỏ vỏ, ngay cả một chút cơm thừa canh cặn bọn chúng cũng không bố thí cho ông ta.
Giả thử rằng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông Thích Đôn Hậu được bọn Cộng Sản Việt Nam tâng bốc đưa vào ghế Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam, chức cao quyền trọng v.v… thì sẽ không bao giờ có chuyện “Ngài chống Cộng Sản quyết liệt” như luận điệu truyên truyền của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Hải Ngoại của Thích Viên Lý và Võ văn Ái, có phải vậy không hai “Ngài” Viên Lý và Võ văn Ái?
Thích Đôn Hậu tạ thế ngày 23 tháng 4 năm 1992 tại Chùa Linh Mụ, Huế.
 
THÍCH THIỆN SIÊU TRÙ TRÌ CHÙA TỪ ĐÀM, HUẾ
Thích Thiện Siêu
 
Pháp danh Tâm Phật, hiệu Thiện Siêu, tục danh Võ Trọng Tường, sinh ngày Mười Lăm tháng Bảy năm Tân Dậu tức năm 1921, chánh quán làng Thần Phù, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên.
Xuất gia năm 14 tuổi tức năm 1935 tại chùa Quan Thánh tức là Chùa Ông phía sau Chùa Diệu Đế thuộc Quận II thị xã Huế. Sư Phụ là Thầy Mật Khế. Sau đó chuyển lên tu tại Chùa Trúc Lâm thuộc xã Thủy Xuân, Quận Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên. Khi được thành lập, do Thích Trí Độ và cư sĩ Lê Đình Thám, Hội An Nam Phật Học mở trường đào tạo tăng ni. Thích Thiện Siêu được tuyển vào học trường nầy. Trường nầy được đặt tại Chùa Bảo Quốc, ngay dưới dốc Nam Giao gần chùa Từ Đàm.
Theo khuyến dụ của Thích Trí Độ và cư sĩ Lê Đình Thám, Thích Thiện Siêu gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1944.
-1947, được cử làm Trù Trì Chùa Từ Đàm, Huế.
-1962, giữ chức hội Trưởng Hội Phật Học Thừa Thiên.
-1963, là một trong những thành phần lãnh đạo chủ chốt của phong trào tranh đấu Phật Giáo tham gia cuộc phản loạn lật đổ nền Đệ I Việt Nam Cộng Hòa và sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Thích Thiện Siêu nằm trong Chi Bộ Đảng Cộng Sản Thuận Hóa tại Huế của Bác sĩ Lê Khắc Quyến. Y hoạt động trong Tổ Trí Thức Vận và Tôn Giáo Vận nội thành gồm có Bác Sĩ Hoàng Bá, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư Nguyễn Đóa, Giáo sư Nguyễn Tuân, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế Đoàn Công Lập (từ 7.1966- 2.1968). Tổ chức trí thức vận và tôn giáo vận nầy có hai trạm giao liên (gặp gỡ, tiếp xúc). Trạm thứ nhất là phòng mạch của bác sĩ Hoàng Bá ở ngay đường Phan Chu Trinh thuộc Quận III thị xã Huế gần cầu Nam Giao. Trạm thứ hai là Chùa Trúc Lâm thuộc xã Thủy Xuân quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
-1964, giữ chức Phó Đại Diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Miền Vạn Hạnh.
Sau 1963-1966, chùa Từ Đàm của Thích Thiện Siêu là cơ quan đầu não chỉ huy cuộc biến động chính trị. Đây là Trung Tâm Quyền Lực, là Dinh Quốc Phụ của Thích Trí Quang.
Tết Mậu Thân 1968, chùa Từ Đàm là nơi đặt Bộ Chỉ Huy An Ninh của mặt Trận Huế. Nơi đây là trung tâm thẩm vấn, tra khảo, và xử bắn tù nhân, những Quân Cán Chính VNCH mà Việt Cộng đã bắt giữ trong thời gian bọn chúng chiếm Huế.
Tháng 5.1972, Mùa Hè Đỏ Lửa, tổ chức trí vận nầy đã bị Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên phá vở và một số cán bộ nội thành nầy đã bị bắt giữ.
-1981, Thích Thiện Siêu công du hội nghị Hòa Bình tại Moscow.
-1985, Thiện Siêu được Cộng Sản Việt Nam đề cử làm Trưởng Phái đoàn Phật Giáo Việt Nam công du hai nước Mông Cổ và Nga.
Từ 4.1987, Thiện Siêu được bầu vào đại biểu Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam liên tiếp 3 khóa: Khóa 8, khóa 9, và khóa 10.
-1989, làm Trưởng phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tham dự hội nghị Hòa Bình Á Châu tổ chức tại Mông Cổ.
-1994, làm Trưởng Phái Đoàn công du Ấn Độ.
-1995, làm Thành viên của Phái Đoàn Quốc Hội Việt Nam do chủ tịch CS Nông Đức Mạnh dẫn đầu đi thăm một số nước Đông Âu và Nghị Viện Âu Châu.
-1999, làm Trưởng Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam công du Trung Cộng.
-2000, nhận lãnh Huân Chương Độc Lập hạng II do đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trao tặng.
Tạ thế ngày 3 tháng 10 năm 2001 tại Chùa Từ Đàm, Huế, thọ 81 tuổi.

Kết luận: Trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng, lợi dụng sự tôn trọng tự do và nhân quyền của của chính phủ VNCH, cộng sản đã cài cấy quá nhiều cán bộ nằm vùng nội tuyến trên các mặt trận quân sự và an ninh chính trị. Về mặt chính trị, cộng sản sử dụng 3 mũi tấn công, một là tôn giáo vận, hai là trí thức vận, ba là quần chúng vận. Ba mũi tấn công này nhằm mục đích tạo nên một bộ mặt xã hội xáo trộn toàn diện về chính trị, trong đó dân chúng Miền Nam chống chính phủ VNCH. Từ đó, bọn cộng sản mới có thể dối gạt dân chúng Hoa Kỳ rằng dân Miền Nam thích cộng sản, và từ đó mới có thể đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ nhằm tiến tới việc áp lực chính quyền Hoa Kỳ bỏ cuộc, tức là chấm dứt viện trợ cho Miền Nam Việt Nam, trong lúc đó thì Hà Nội luôn được bảo đảm nguồn viện trợ dồi dào của khối cộng sản đặc biệt là Trung Cộng. Có như vậy cộng sản sẽ dứt điểm được Miền Nam.
Để công bằng trong vấn đề phán xét, hãy điểm lại thành quả của ba chiến lược chính trị nói trên.
Trong ba mũi nhọn chính trị này, mũi nhọn quần chúng Việt Cộng đã hoàn toàn thất bại, cộng sản đã không thể nào quyến dụ dân chúng Miền Nam đi theo cộng sản.
Mũi nhọn thứ hai là trí thức vận, một số người được chính phủ VNCH tạo điều kiện cho ăn học, kể cả du học và có đời sống cao hơn hơn người dân trung bình tại Miền Nam rất nhiều, nhưng thay vì dùng sở học đó để giúp dân giúp nước chống lại cộng sản thì bọn trí thức vận này lại đi theo giặc cộng, phản dân hại nước, chẳng hạn Lê Văn Hảo, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Trần Ngọc Liễn, Tôn Nữ Thị Ninh, Nguyễn Hữu Thái, Trịnh Công Sơn, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Hoàng Văn Giàu, Ngô Kha, Phạm Thị Xuân Quế v.v. Tuy nhiên mũi nhọn trí thức vận này cũng không làm nên cơm cháo gì, cũng không sách động được ai ngoài chính bọn chúng với nhau đăng đàn diễn thuyết chống chính phủ VNCH với nhau mà thôi.
Mũi nhọn thứ ba Tôn Giáo Vận, đây thực sự là thứ vũ khí vô cùng oan khiên, đã giúp cộng sản thành công trong chiến lược gây dựng và phát động tinh thần phản chiến trong công luận Hoa Kỳ. Nói một cách ngắn gọn, cộng sản đã thành công khi sử dụng những tên cán bộ đầu trọc tổ chức biểu tình bị thiêu bàn thờ Phật xuống đường kêu gào Phật Giáo bị đàn áp.
Tiêu biểu trong nhóm này là Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Minh Châu, Thích Thiện Siêu và sau đó là Thích Hộ Giác, Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Thích Thiện Minh, Thích Thiện Hoa v.v. Dùng những tên cộng sản cho cạo trọc đầu để sách động quần chúng quả thật hữu hiệu gấp trăm lần Trí Thức Vận và Quần Chúng Vận.
Những chiêu bài mà GHPGVNTN đã gán cho chính quyền VNCH như sau: Độc Tài Gia Đình Trị, Đàn Áp Phật Giáo, Độc Tài Quân Phiệt.
Thế nào gọi là độc tài? Khi tổng thống được bầu chọn thì ông đương nhiên là tổng tư lệnh quân đội, và quân đội phải phục tùng lệnh của ông, do đó ông có toàn quyền bổ nhiệm tất cả những người mà ông nghĩ rằng tốt cho việc điều hành đất nước, để lèo lái đất nước theo một hướng mà người tổng thống muốn. Đó là nguyên tắc lãnh đạo và điều hành đất nước, cớ sao lại gọi là độc tài quân phiệt? cớ sao lại cho là độc tài gia đình trị đàn áp đối lập? Chẳng lẽ bầu tổng thống lên rồi để cho PGVNTN hay các đảng phái chính trị khác tự động chia ghế trong chính phủ và quyết định chính sách quốc gia hay sao? Nếu như vậy, thì đây là thứ “chính phủ hội đồng”, có nghĩa một tập hợp mà ai muốn làm gì thì làm, như vậy đó là lãnh đạo hay phá hoại? Thưa thứ lãnh đạo hội đồng đó chính là “hội đồng phá hoại” không hơn không kém. Điển hình của loại chính phủ này đó là sáu chính phủ trong hai năm 1964-1966 sau khi TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, bao gồm Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Phan Khắc Sữu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát. Dân chủ không phải là thứ hổ lốn muốn làm gì thì làm của các ông bà đối lập thời kỳ 1954-1963, trong khi Tổng Thống được dân bầu ra thì phải chấp nhận sự đòi hỏi của đảng phái và của quý vị. Khi không được chia ghế thì chụp mũ là độc tài gia đình trị. Quả thật, đó là thứ suy nghĩ ngu xuẩn của một thế hệ chính trị gia và các đảng phái chính trị bát nháo dưới thời lập quốc của chính phủ TT Ngô Đình Diệm. Tư tưởng này đã bị cộng sản lợi dụng và kích động qua phong trào Phật Giáo Tranh Đấu một cách hữu hiệu, đưa đến tiêu diệt quan hệ lãnh đạo quốc gia, trong lúc kẻ thù cộng sản nắm chặt quan hệ lãnh đạo trong tay, toàn bộ Miền Bắc phải đi theo một hướng, răm rắp tuân theo mọi chỉ thị của Đảng hy sinh chống Mỹ. Kẻ nào có tư tưởng chống đối là lập tức bị thanh trừng và mất mạng. Cứ so sánh hai sức mạnh lãnh đạo của hai miền Nam Bắc để thấy rằng hơn ai hết chính nhóm Phật Giáo Tranh Đấu của GHPGVNTN là kẻ phá hoại hàng đầu chính quyền Miền Nam qua phong trào Phật Giáo Tranh Đấu và phong trào Bàn Thờ Phật Xuống Đường và hàng loạt các hoạt động chính trị khác cho đến tận ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Kết tội TT Ngô Đình Diệm là đàn áp Phật Giáo trong lúc ông đã hết lòng giúp đỡ phát triễn Phật Giáo, cho thành lập hội Phật Học này hội Phật Giáo kia và cho xây thêm trên 2000 ngôi chùa! Điểm lại tình hình phát triễn tôn giáo nói chung dưới thời TT Ngô Đình Diệm, thì thấy chỉ có Phật Giáo là được ưu đãi nhất, thế nhưng bọn cộng sản và đám thầy chùa Phật Tử cộng sản vẫn lập đi lập lại ông đàn áp Phật Giáo, vì sao? vì đó là bổn phận của bọn cộng sản đầu trọc đối với Hồ Chí Minh. Kết quả của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu là TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết, đất nước không có lãnh đạo giỏi, trở thành miếng mồi ngon cho cộng sản, một đối thủ có quan hệ lãnh đạo quá mạnh vì độc tài khát máu thực sự. Chín năm sau ngày TT Ngô Đình Diệm qua đời, bọn cộng sản và những bọn thầy tu cộng sản tiếp tục quậy phá tình hình chính trị Miền Nam.
Hãy đọc những gì ông Thích Quảng Độ đã đăng báo New York Times ngày 18 tháng 2 năm 1967:
“Nhân dân miền Nam muốn chiến tranh chấm dứt. Hầu hết không phải Việt cộng nhưng nếu không chấm dứt thì họ sẽ tham gia vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Chính quyền Nam Việt Nam hiện nay không phải là chính quyền của chúng tôi và không đại diện cho nhân dân chúng tôi. Nó được Mỹ áp đặt lên chúng tôi và được điều khiển bởi những tên lính đánh thuê cho Pháp chống lại nhân dân Việt Nam trước 1954. Nếu chúng tôi được bầu cử tự do, chính quyền này không tồn tại một ngày. Chúng tôi muốn tự chúng tôi giải quyết vấn đề Việt Nam của chúng tôi bằng cách điều đình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt cũng như sự rút quân của Mỹ” (*).

 
Tháng 10 năm 1974, trả lời phỏng vấn của AP Thích Quảng Độ nói: “Nếu Thiệu không chịu xuống thì Ấn Quang sẽ kéo Thiệu xuống” (**).
Cuối cùng Ấn Quang đã kéo Thiệu xuống được, Ấn Quang giao đất nước lại cho Dương Văn Minh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tôn Giáo Vận mà Bác và Đảng giao phó.
 
GHPGVNTN tức Ấn Quang còn có chối không làm cộng sản nữa không?
Danh sách của cơ quan USMACV đã điểm danh những tên tuổi phá hoại như sau:
 
1) Thích Trí Quang.
2) Thích Huyền Quang.
3) Thích Thiện Hoa.
4) Thích Pháp Trí.
5) Thích Pháp Siêu.
6) Thích Trí Thủ.
7) Thích Thanh Vân.
8) Thích Minh Châu.
9) Thích Hộ Giác.
10) Thích Đôn Hậu.
11) Thích Thiện Minh.
12) Thích Nhất Hạnh.
Danh sách của USMACV này còn rất thiếu, nhưng có lẽ cũng đủ làm bằng chứng cho Người Việt Quốc Gia hiểu sâu bản chất của những kẻ già mồm vừa ăn cướp vừa la làng, đã phá hoại chính quyền VNCH cho tan nát, nay mở miệng chống cộng, đó chính là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
 
Liên Thành
Edited by Khối Kỹ Thuật UBTTTADCSVN
 
11/14/2012 UBTTTADCSVN 10 comments
** Thích Nhất Hạnh, Cao Ngọc Phượng, Thích Trí Quang, và THÍCH QUẢNG ĐỘ đăng 3 bài báo phản chiến trên tờ New York Times trong cùng ngày 9 tháng 4 năm 1967. Chúng cắt máu Việt Nam Cộng Hòa bằng những ngôn từ phản phúc rằng Việt Nam Cộng Hòa không hợp pháp và không nên tồn tại. (Bấm vào hình bên dưới để mở lớn, xem mục số 4.)
 

** Ảnh phóng to một trong ba bài báo ghi rõ hai lãnh đạo cao cấp nhất của Ấn Quang là Cộng sản Trí QuangQuảng Độ đồng ký tên trong bản tin rằng chúng không chấp nhận chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Ở mục số 2: "nhân dân miền Nam muốn chiến tranh chấm dứt. Hầu hết không phải Việt cộng nhưng nếu không chấm dứt thì họ sẽ tham gia vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam."

Ở mục số 4: "chính quyền Nam Việt Nam hiện nay không phải là chính quyền của chúng tôi và không đại diện cho nhân dân chúng tôi. Nó được Mỹ áp đặt lên chúng tôi và được điều khiển bởi những tên lính đánh thuê cho Pháp chống lại nhân dân Việt Nam trước 1954. Nếu chúng tôi được bầu cử tự do, chính quyền này không tồn tại một ngày. Chúng tôi muốn tự chúng tôi giải quyết vấn đề Việt Nam của chúng tôi bằng cách điều đình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt cũng như sự rút quân của Mỹ.
"

 
 
Phần sau lá thư ký tên Thích Trí Quang, Thích Quảng Độ viết: chúng tôi không chấp nhận cuộc chiến tranh đang xảy ra mà trong đó có sự hiện diện của các quân đội nước ngoài và quân đội bị ảnh hưởng bởi ngoại bang.
 
Posted in:

0 comments:

Post a Comment

Search
TwitterFacebookFavorites

Thành Phần Việt Gian Phá Hoại ĐỆ I và ĐỆ II VNCH

Thành Phần Việt Gian Phá Hoại ĐỆ I và ĐỆ II VNCH
Việt gian CS Thích Trí Quang

Thích Quảng Độ biểu tình cho cái gọi là đòi tự do tôn giáo năm 1963. Ảnh Queme.net. Thich Quang Do speaks at a rally for the socalled religious freedom in Saigon, 1963

VGCS biểu tình chống chính phủ VNCH

Thích Nhất Hạnh, Thích Huyền Quang, Võ Văn Ái, Thích Thiện Siêu, Thích Chánh Lạc, Thích Giác Đức,...

Thích Đôn Hậu khi đi Mông Cổ tuyên truyền chống VNCH năm 1969, Việt cộng Tôn Thất Dương Tiềm (phía sau) tháp tùng. Ảnh vietbao.vn

Thích Đôn Hậu Nguyễn Hữu Thọ bà Tuần Chi

Hình chụp năm 1976 tại chùa Thiên Mụ: Thích Đôn Hậu, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Thống nhất Dân tộc của MTDTGPMN vui vẻ trò chuyện với TBT Lê Duẩn (trái) và TTL Võ Nguyên Giáp (phải) - Ảnh VNExpress
Powered by Blogger.

Labels

Mậu Thân 68/ Hue Massacre 1968

TRUNG TÂM ĐIỀU HỢP TRUNG ƯƠNG

  • P.O. Box 6147, Fullerton, CA 92834
  • Điện thoại: 626-257-1057
  • Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com or huemauthan1968@gmail.com
 
 
 


 
       

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng







Trang Orange vừa tổng kết những câu chuyện lạ năm 2012 qua chùm ảnh đặc biệt theo từng tháng.

Dưới đây là những câu chuyện lạ đặc sắc nhất của mỗi tháng trong năm được trang Orange tổng hợp:

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Giêng: Một nông dân Trung Quốc phàn nàn rằng một con khỉ cưỡi trên lưng một chú dê đã lẻn vào mảnh đất của ông để ăn rau.
Ông Ye She sống ở tỉnh Quảng Đông cho biết "cặp đôi khỉ - dê" này đã lén vào khu vườn của mình hàng ngày và ăn các loại cây trồng.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Hai: Chủ sở hữu của chiếc xe Porsche đã bị mắc kẹt trong bê tông ướt sau khi cố tình đi vào làn đường đã có cảnh báo ở San Francisco.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Ba: Câu chuyện leo ra khỏi quan tài sau 6 ngày "chết" của một bà cụ 95 tuổi người Trung Quốc khiến mọi người đều phải kinh ngạc.
Trước ngày tang lễ, hàng xóm đã phát hoảng khi thấy quan tài trống rỗng và họ tìm thấy cụ bà trong nhà bếp khi đang tự nấu ăn cho mình.

Chuyện lạ 2012
 qua từng tháng

Tháng Tư: Trên đường phố Romania, những người đi đường được phen mãn nhãn vì cô gái trẻ khỏa thân đang vi vu giữa phố.
Tuy nhiên, khi nhìn thấy cô gái không mảnh vải trên người, cảnh sát giao thông chỉ được phạt vì lỗi không đội mũ bảo hiểm.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Năm: Các bác sỹ Ấn Độ đã tiến hành phẫu thuật khẩn cấp để lấy một con cá còn sống ra khỏi phổi một bé trai 12 tuổi.
Cậu bé Anil Barrela đã nuốt một con cá dài 9 cm khi đi chơi cùng bạn bè trên bờ sông. Cậu thường nuốt cá sống nhưng không may lần này con cá chui vào phổi trái.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Sáu: Một nghệ sỹ Hà Lan đã đặt xác con mèo Orville gắn bó với ông bao năm lên một chiếc trực thăng điều khiển và gọi đó Orvillecopter.
Ông coi đây là cách tưởng nhớ con vật thân thiết.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Bảy: Một đội ngũ 18 nhân viên cảnh sát được cử đến để giải cứu người phụ nữ chết đuối từ một con sông Trung Quốc.
Tuy nhiên, khi vớt lên, đó chỉ là một búp bê tình dục. Trước đó, họ đã làm việc rất cố gắng trong suốt 40 phút.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Tám: Moira Johnston, 29 tuổi, người Mỹ, đã đi bộ quanh thành phố New York trong tình trạng ngực trần để đấu tranh cho quyền bình đẳng giới.
Cô trở thành một nhà tuyên truyền theo cách để ngực trần sau khi cô bị cấm cửa tại một phòng tập yoga vì bán nude trong lớp học.
Moira phàn nàn, tại sao đàn ông lại có thể làm vậy, trong khi phụ nữ lại không.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Chín: Bà mẹ Tan Chaoyun ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã quyết định cho cạo tóc 4 cậu con trai sinh tư của mình theo số thứ tự từ 1 đến 4 để dễ phân biệt.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Mười: Một sinh viên Brazil bán đấu giá trinh tiết với mức giá 490.000 bảng Anh. Cô gái 20 tuổi tuyên bố sẽ sử dụng một phần số tiền này để xây nhà cho người nghèo.

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Mười Một: Một công ty Mỹ đã chế tạo ra một thỏi kẹo hình rồng dài tới 8 feet (244 cm), nặng 27lb (hơn 12,2 kg).

Chuyện lạ 2012 qua từng tháng

Tháng Mười Hai: Anh Tomas Paczkowski, 32 tuổi, đến từ Ba Lan, muốn cố gắng gây ấn tượng với cô vợ Lila bằng cách làm việc nhà.
Tuy nhiên, anh đã vô tình ủi mặt mình vì nghĩ đó là một chiếc điện thoại.


__._,_.___

Tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình


 

Tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình
Trúc Giang
1* Ai giết Trung tướng Nguyễn Bình?


Ngày 29-9-1951, Trung tướng Nguyễn Bình cùng đoàn tùy tùng 22 người trên đường ra Bắc theo lịnh của Trung Ương, đã bị toán lính Miên do một trung úy người Pháp chỉ huy, phục kích tấn công, và Nguyễn Bình bị tử thương tại làng Srépok, huyện Se San, tỉnh Stung Streng, Cam Bốt.
Sự thật rõ ràng là Nguyễn Bình bị Tây bắn chết, nhưng sau đó, Nam Bộ lại lan truyền câu hỏi “Ai giết Nguyễn Bình?”. Câu hỏi được truyền miệng trong bộ đội miền Nam và trong dân gian, từ đó, xuất hiện những bài viết về bí mật cái chết của Nguyễn Bình, “một tướng lãnh được xem như tài ba lỗi lạc, tận trung với Đảng, hết lòng yêu nước, được Tổ quốc ghi công và dân tộc sùng bái”. Thế nhưng, những bài viết tựa đề: “Ai giết Nguyễn Bình”, “Tôi giết Nguyễn Bình”, “Những bí ẩn về cái chết của Nguyễn Bình” trực tiếp hoặc gián tiếp ám chỉ chính đảng CSVN là thủ phạm đã giết đồng chí của mình. Một số bài viết mang tính tuyên truyền, thanh minh thanh nga cho đảng, nhưng tất cả đều xoay quanh cái chết của Nguyễn Bình.

Không có tài liệu nào chính thức nêu bằng chứng cụ thể, vì nó nằm trong những âm mưu của Đảng mà những người liên hệ, tuy còn sống cũng không dám hé răng.

2* Việt Cộng công nhận Nguyễn Bình là một đảng viên trung kiên yêu nước

Tháng 12 năm 1945, nhận thấy Nam Bộ có nhiều đơn vị kháng chiến không chịu nhận lịnh của Cộng Sản, nên Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam để “thống nhất các lực lượng vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”, những ai đầu phục thì thu nhận rồi tìm cách ám sát sau, dưới những lý do “hy sinh” hoặc “tử trận”. Nguyễn Bình được phong chức Khu trưởng Khu 7, miền Đông Nam Bộ. Hồ Chí Minh nói: “Bác trao miền Nam cho chú đó”.

Ngày 25-1-1948, Nguyễn Bình được phong chức Trung tướng, là trung tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân. Trong đợt phong chức nầy, Võ Nguyên Giáp là Đại tướng và 9 người khác như Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiếu Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Nguyễn Bình là trung tướng đầu tiên, có nghĩa là Võ Nguyên Giáp từ đâu nhảy ngang vào chức Đại tướng và cũng có thể Nguyễn Bình cũng nhảy ngang vào chức Trung tướng.

Ngày 21-3-1949, Hồ Chí Minh ký Sắc lịnh số 18-SL, cử trung tướng Nguyễn Bình làm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, lãnh đạo lực lượng vũ trang miền Nam chống Pháp.

Sau nầy, Thượng tướng Trần Văn Trà đánh giá: “Nguyễn Bình là người Cộng Sản trung kiên, một tướng lãnh quả cảm, nghĩa hiệp và tài thao lược. Công lao mãi mãi sáng ngời trên đài Tổ Quốc Ghi Công”.

GS Trần Văn Giàu, nguyên là Bí thư Xứ Ủy Nam Kỳ cho biết: “Đó là một vị tướng có tâm và tài trí của Nam Bộ”.

Ngày 21-1-2000, QĐ số 52/BQP/QĐ cho thành lập đoàn công tác đi Campuchia tìm hài cốt Nguyễn Bình. Và ngày 26-2-2000, hài cốt Nguyễn Bình được mang về VN, làm tang lễ theo lễ nghi một tướng lãnh. Được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang” và huân chương Hồ Chí Minh.

Một tướng tài trung với đảng, một lòng yêu nước như thế thì tại sao phải bị khai trừ, thủ tiêu? Dư luận cũng thắc mắc tại sao phải chờ tới 49 năm, khi có nhiều người nhắc nhở, đề nghị thì đảng mới cho đi tìm hài cốt, và tại sao không tặng huân chương và danh hiệu anh hùng ngay sau khi bị Tây bắn chết?

3* Trung Ương gọi Nguyễn Bình ra Bắc

3.1. Nguyễn Bình lo lắng bất thường

Vào tháng 5 năm 1951, Nguyễn Bình nhận được một bức thơ vắn tắt của Võ Nguyên Giáp nguyên văn như sau: “Đồng chí thân mến, Đồng chí sẽ được một toán hộ tống 30 người gồm nhân viên tùy tùng và bảo vệ. Tôi tin rằng đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ nầy. Đồng chí sẽ đi đường rừng băng qua các tỉnh Kompong Chàm, Kratié, Stung Streng.”

“Những người trong văn phòng anh ba Bình không hiểu lý do triệu hồi một viên tướng mà chính bác Hồ đã từng giao Nam Bộ trong những ngày “ngàn cân treo sợi tóc” (“Bác trao miền Nam cho chú đó”)

“Hai Giỏi, thư ký cũng là người bảo vệ, thấy anh Ba đăm chiêu, nghĩ ngợi, có vẻ lo lắng bất thường, trước lệnh của Trung Ương”.

3.2. Dường như có linh tính báo trước

Dường như có linh tính báo trước chuyến đi nầy may ít rủi nhiều, là một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời, tuy Nguyễn Bình không nói ra, nhưng những người chung quanh nghĩ như thế.

Nguyễn Bình lo lắng “việc ra Bắc” vì chính ông trước đây cũng đã ký những lịnh “đi Bắc” để đưa những đồng chí thân yêu lên đường đi vào cửa tử, đến bên kia thế giới.
Trung tướng Nguyễn Bình khoác binh phục, đang ngồi trên lưng ngựa
Trước khi lên đường, Nguyễn Bình (NB) đã viết thơ “tạm biệt” cho các bạn đã từng sống chết với nhau trên chiến trường.

“Anh Ba nhớ đến người bạn đã chết như luật sư Lê Đình Chi, chẳng may bị máy bay bắn chết. Anh không quên luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, người đã giúp anh đột nhập Sài Gòn năm 1946. “Ông Vĩnh đã yêu cầu mình cho một tiểu đội hộ tống về nhà tổ phụ ở Trung Lương (Mỷ Tho) đào 200 lượng vàng để làm công quỹ nuôi quân trong lúc cạn tiền”. Anh Ba soạn một số ảnh chụp chung với ông Vĩnh trong buổi lễ tấn phong trung tướng ở bờ kinh Dương Văn Dương, dán vào album nhỏ, gọi là lưu niệm chia tay. Ngoài ra, anh cũng viết thơ 5, 6 trang từ giã ông Lâm Thái Hoà, phụ trách pháo binh, bày tỏ nỗi lòng của người ra đi không còn hy vọng gặp lại. Tất nhiên là không quên Tám Nghệ, người có tài vừa đánh giặc vừa làm thơ.

Anh Ba yêu cầu Trung Ương cho khu trưởng Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghê) cùng đi về Việt Bắc, nhưng đề nghị đó không được chấp thuận.

Anh Ba kiểm điểm lại tất cả những việc làm, từ thành tích, chiến công đến những va chạm với mọi người, với cấp trên.

Nguyễn Bình nhớ lại Hoàng Thọ.

“Vụ Hoàng Thọ, mình đã quá nuông chiều cậu nầy. Nuông chiều vì một lẽ: nó là thằng em út đồng hương Hải Phòng, có nhiều điểm giống mình, anh hùng hảo hán, trung thực, ăn nói ngay thẳng. Khi Hoàng Thọ bất mãn bỏ tiểu đoàn 303 thì mình nhận được lịnh trên phải đưa nó ra Trung Ương để báo cáo. Mình biết “ra TW” là con đường chết, là một bản án tử hình đối với những đồng chí có nhiều uy tín và chiến công trong đơn vị. Mình hết sức khổ tâm. Nó đã nhiều lần cứu mình thoát chết, không có Hoàng Thọ, thì mình đã mồ xanh cỏ từ lâu. Tuy biết rằng đó là hạ sách, nhưng lịnh trên khó cãi, và mình cũng phải tránh tội bao che cho đàn em làm bậy. Mình phải ký giấy đi đường và cho lộ phí.”

4* Vụ Hoàng Thọ

4.1. Sự khủng bố của Việt Minh

Trong thời buổi loạn lạc, các tay anh chị giang hồ lấy câu “tứ hải giai huynh đệ” kéo bè kết đảng, nổi lên xưng hùng xưng bá, mỗi nhóm một cõi bách hại dân lành. Họ tự cho mình là nghĩa hiệp sống bằng dao búa, giải quyết tranh chấp theo luật giang hồ. Đứng bến, đâm thuê chém mướn, dân đen có chút tiền của, ngày đêm nơm nớp lo sợ bọn đạo tặc, cướp ngày đó…

Lúc bấy giờ Việt Minh nổi lên, thu phục bọn giang hồ dao búa làm tay chân. Những kẻ cướp của giết người ngày hôm trước, thì bỗng nhiên, ngày hôm sau thay hình đổi dạng trở thành bộ đội kháng chiến, như những tướng cướp Bảy Viễn, Ba Dương, Mười Trí, Nguyễn Phương Thảo là em kết nghĩa của nhà văn tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Nguyễn Phương Thảo sau trở thành Trung tướng Nguyễn Bình, tư lệnh lực lượng võ trang chống Pháp Nam Bộ.

Thủ đoạn của Việt Minh là, một mặt tuyên truyền mị dân, một mặt khủng bố trấn áp làm cho dân khiếp sợ mà phải phục tùng. Thành phần Việt Minh (VM) ban đầu rất phức tạp, người đàng hoàng thì ít, mà kẻ lưu manh thì nhiều. Thủ đoạn đó được các tay giang hồ dao búa thực hiện bằng cách chụp mũ “Việt gian, Phản động”. Hai cái tội nầy chỉ có con đường chết, và nhiều người dân chết tức tưởi, chết oan chết ức, chỉ vì chủ trương khủng bố dằn mặt để tạo uy thế, và sự vâng lời. Thế rồi, vào những đêm tối trời, một đám người mã tấu, đến gõ cửa, bịt mắt dắt đi. Người phải giết thì chặt đầu, cắt cổ, mổ bụng dồn trấu, cho đi mò tôm, bên cạnh xác chết có một bản án hày tội việt gian, phản động. Người cần phải thả để tuyên truyền thì cho học tập chính trị vài ngày rồi thả về để tuyên truyền và chứng minh VM sáng suốt, không giết lầm người.

Chính sách dùng “bạo lực cách mạng” và vừa đánh vừa xoa, bao giờ cũng thành công đối với đám dân ngu khu đen, mua gánh bán bưng, chân lấm tay bùn ở nông thôn.

Người dân ở Tây Ninh mà nghe đến tên Hoàng Thọ thì sợ xanh mặt, đối diện, thì rụng rời tay chân, kẻ yếu bóng vía thì són đái ra quần.

4.2. Về Hoàng Thọ

Hoàng Thọ là tay anh chị thủ lãnh băng đảng cảng Hải Phòng, dáng người vạm vỡ, vai u thịt bắp, râu quai nón. Nhà nghèo, nên từ nhỏ phải vào nương tựa cửa Phật để có hai bữa ăn. Nhà sư thấy thương thằng bé siêng năng nhanh nhẹn, nên dạy võ nghệ để sau nầy dễ bề kiếm ăn. Năm 17 tuổi, Thọ cởi trần gánh nước, trên ngực lún phún một chùm lông. Thấy vậy, nhà sư im lặng quay đi, và từ đó chỉ dạy gõ mõ tụng kinh. Thọ nản lòng, cuốn gói từ biệt nhà chùa. Nhà sư lẩm bẩm: ‘râu rìa lông ngực là tôi phản thần”.

4.3. Thủ lãnh bọn đầu gấu cảng Hải Phòng

Thọ vào đời, xông xáo múa võ sinh nhai. Trên giang hồ Hải Phòng, Thọ nổi tiếng là tay tàn độc. Một lần, đụng độ với gã thủ lãnh bến tàu tên Luân Mặt Ngựa. Thọ hạ độc thủ. Đối thủ bị gãy chân nằm dài dưới đất, nhưng vẫn giữ phong độ thủ lãnh, giương mắt trừng trừng nhìn Thọ, có vẻ không phục hoặc hứa hẹn sẽ trả thù. Thọ đứng nhìn một hồi rồi lên tiếng: “Mẹ kiếp! Dứt điểm mầy luôn để trừ hậu hoạ”. Nói xong, Thọ quỳ xuống, giương thẳng cánh tay với thế song chỉ đoạt ngọc châu, dùng 2 ngón tay phóng mạnh vào ổ mắt của Luân Mặt Ngựa. Cặp tròng lòi ra, máu me ướt cả mặt. Thọ lấy tay chụp, ném mạnh xuống đất, rồi dùng chân chà đạp. Thọ dạng chân ra, vạch quần đái vào mặt người bại trận, trước sự chứng kiến của đám đàn em đang mặt mày tái mét, im thin thít, bất động.

Thọ thản nhiên bỏ đi. Và mấy ngày sau trở lại, nghiễm nhiên là thủ lãnh bọn đầu gấu của cảng Hải Phòng.

Khi Nhật đảo chánh Pháp, tàu Nhật cặp bến Hải Phòng. Trước sự hùng mạnh của đạo quân Thiên Hoàng, băng đảng tan rã, phân tán tứ phương.

Chớp lấy cơ hội, Hoàng Thọ xin vào hải quân Nhật, được dạy làm thợ điện.

Ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, tàu Nhật rút lui. Hoàng Thọ thu thập đám đàn em, quay lại nghề cũ, với cái tên mới là Thọ Mạch Lô (Tiếng Pháp Matelot là lính thủy).

Khi Việt Minh cướp chính quyền, Thọ theo đoàn quân Cứu Quốc. Từ đó, trôi giạt vào Nam, làm tay chân của tướng Nguyễn Bình.

4.4. Hung thần của Cao Đài tỉnh Tây Ninh

Cả tỉnh Tây Ninh, ai nghe đến danh Hoàng Thọ cũng đều e dè khiếp sợ. Địa bàn hoạt động của Thọ là hai quận Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng, và mục tiêu là những chức sắc Cao Đài, những người làm việc cho Pháp và những kẻ bị kết tội Việt gian, phản động.

Người chết dưới tay của Hoàng Thọ đếm không xuể. Hành tung của Thọ vô cùng bí ẩn, thoáng hiện, thoáng biến khó lường.

Trong thời loạn lạc, bóng đêm là thế giới của ma quỷ và tội ác. Khi mặt trời vừa tắt, Thọ nương theo khí âm trở về, xuất hiện dưới một bóng dáng oai hùng lẫm liệt. Hông trái với gươm dài, hông phải súng ngắn, trang bị theo cấp chỉ huy của quân đội xứ Phù Tang. Gươm ra khỏi vỏ là phải có máu. Thọ xuất hiện như tử thần, đi đến đâu là có đổ máu đến đó. Giết người trong chớp mắt mà không nháy mắt.

Cắt cổ, chặt đầu, mổ bụng dồn trấu và cho đi mò tôm là sở trường thiện nghệ của Hoàng Thọ và của Việt Minh, trong khi thi hành mệnh lệnh của Nguyễn Bình và Trần Văn Giàu (bí thư xứ ủy Nam Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ)

Khúc sông Vàm Cỏ Đông chảy qua 2 quận Trảng Bàng và Gò Dầu Hạ, là mồ chôn những nạn nhân của Việt Minh và nạn nhân của bọn thực dân Pháp.

Người dân sống hai bên bờ sông, cứ vài ngày thì thấy một “thây ma chết sình” gọi là “chà chổng” nổi lình bình trên mặt nước.

Nhìn vào vết tích của thi thể thì biết ngay thủ phạm là ai, VM hay là Tây sát hại. Tây thì trói thúc ké, đưa ra cầu Vên Vên, bắn xong hất xác xuống sông. Việt Minh thì không phí đạn, cắt cổ hay đập đầu.

Việt Minh đã tấn công vào Tòa Thánh Tây Ninh, lực lượng bảo vệ do Trịnh Minh Thế chỉ huy, bị thất bại, nên một trung đội VM đã hạ sát đàn bà, trẻ em tại các nhà dân cách Tòa Thánh 100m.

4.5. Trận đánh cuối cùng kết thúc cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Thọ

Hoàng Thọ còn có biệt tài đánh trận. Nổi tiếng gan lì, từng gây tổn thất lớn lao cho bọn thực dân Pháp. Hoàng Thọ được trung tướng Nguyễn Bình phong chức Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn ba lẻ ba (303), thuộc khu 7, miền Đông.

Tiểu xảo phô trương lực lượng

Vào đêm tối trời. Thọ cho quân di chuyển chung quanh làng. Cũng bao nhiêu quân đó mà cứ tiếp tục đi vòng quanh làng từ đầu hôm đến sáng. Từ đầu trên xóm dưới, chó sủa suốt đêm, kết hợp với tuyên truyền, dân chúng tin rằng “Đạo quân ông Thọ” lên tới hàng ngàn người.

Trận đánh cuối cùng

Hoàng Thọ mê chuyện Tàu, khoái nhân vật Hạng Võ, chủ trương quân cần tinh, không cần đông, hành quân thần tốc, dàn quân theo thế tử chiến, phía trước là địch quân, phía sau là chướng ngại vật không còn đường rút lui, như sông ngòi chẳng hạn, buộc binh sĩ chỉ có con đường là “cầm gươm ôm súng xông tới”, tìm chiến thắng và sự sống trong cái chết.

Tiểu đoàn ba lẻ ba thường phục kích các đoàn công voa tiếp tế của Pháp theo chiến thuật như thế, và đã đạt được thắng lợi, thu hoạch được nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng. Nhiều lần lập được công lớn. Nguyễn Bình hài lòng và thương mến.

Trong đời cầm binh, Thọ chỉ thất bại có một lần duy nhất, và cũng là báo hiệu chấm dứt cuộc đời của Hoàng Thọ.

Theo chiến thuật cũ, Thọ đưa quân về Vên Vên Trà Võ, phục kích đoàn xe tiếp tế của Pháp.

Nửa đêm, quân của tiểu đoàn ba lẻ ba đào hố cá nhân, ngụy trang độn thổ. Phía sau là sông Vàm Cỏ Đông, phía trước, bên kia con lộ là rừng cao su bạt ngàn, chạy về tới Cầu Khởi, tiếp giáp với chiến khu Bời Lời.

Lúc 10 giờ sáng. Ba chiếc ôtô blindé (xe bọc sắt) mở đường vừa qua khỏi, thì đoàn công voa trờ tới. Thọ chờ cho cả đoàn xe lọt trọn vào ổ phục kích, liền nổ súng khai hỏa. Quân lính từ hố cá nhân tràn lên, giáo mác, súng mút cà tông (Mousqueton: súng trường, còn gọi là “quảnh tầm sào”, vì dài như cây sào) xung phong ào ạt, khí thế mãnh liệt như chẽ tre. Nhiều xe bị cháy, nhiều chiếc lật xuống bên kia lề đường. Quân tiểu đoàn 303 làm chủ tình thế.

Bỗng nhiên, từ trong rừng cao su trước mặt, bọn lính Lê Dương xuất hiện, tấn công mãnh liệt, vũ khí tự động như mi trai dết, tôm song (Thompson), đã đè bẹp giáo mác và “quảnh tầm sào” bắn từng phát một với hộp đạn 5 viên.

Tiểu đoàn Hoàng Thọ thất thế, không có đường rút lui, mà phía trước là hoả lực mạnh mẽ của Lê Dương, nên phải đánh cận chiến. Cảnh hỗn loạn xảy ra. Đội hình tan rã, hệ thống chỉ huy không còn, mạnh ai nấy đánh và tìm đường thoát thân. Tiếng la hét, súng liên thanh nổ dòn, những cây thịt ngã xuống. Trong cảnh hỗn loạn, không ai thấy Hoàng Thọ đâu nữa.

Mưu mô, xảo trí và nhanh nhẹn như con sóc, không ai biết Hoàng Thọ thoát thân bằng cách nào. Chuồn về mật khu Bời Lời, kiểm điểm quân số, thì dưới tay Hoàng Thọ chỉ còn lại hơn 30 mạng, và gần 120 bỏ xác tại chiến trường.

“Thói quen trong chiến thuật” đại kỵ đối với người cầm binh, không biết Hoàng Thọ có hiểu ra cái lý lẽ đó không? Chỉ có một bài bản, xử dụng tới lui, xào qua, nấu lại, thì “đi đêm có ngày gặp ma”.

4.6. Hoàng Thọ giết đảng viên Năm Chiếu

Sau thất bại chua cay, Hoàng Thọ nghi ngờ có gián điệp nằm vùng làm nội tuyến. Người mà Hoàng Thọ chiếu tướng là Lê Minh Chiếu, tự Năm Chiếu.

Năm Chiếu là tay chân thân tín của Nguyễn Bình hoạt động nội thành, thường ra vào mật khu để báo cáo và nhận chỉ thị.

Hoàng Thọ cho người phục kích bắt Năm Chiếu trên đường trở về thành, đem đến cái lều hoang giữa rẫy bắp ở ven rừng.

Thọ mình trần, ngồi trên chõng tre dõng dạc hỏi tội Năm Chiếu. Năm Chiếu mặc đồ đen, khăn rằn quấn cổ, mặt không hể đổi sắc:

- Loạn rồi! ông biết tôi là ai không mà dám nói thế?- Mầy là thằng điềm chỉ cho Tây.- Ông không đủ tư cách để nói câu đó! Năm Chiếu cười mỉa.

- Tao đập đầu mầy như đập một con chó phản bội, Thọ gầm lên. Nói xong, Thọ ra lệnh trói Năm Chiếu lại và dẫn đi.

Năm Chiếu quay lại nói: “Anh em có mặt ở đây xin báo cáo việc nầy lên đồng chí Nguyễn Bình”. Hoàng Thọ xô Năm Chiếu chúi nhủi về phía trước và nói: “Nguyễn Bình không cứu nổi mầy đâu”. Thọ dẫn Năm Chiếu đến cái giếng lạn ven rừng, đưa khúc gỗ đập mạnh vào ót và đạp xác xuống giếng.

Khi Hoàng Thọ trở lại lều, có người nói: “Năm Chiếu là đảng viên đó”. Thọ vung tay bất cần: “Đảng cái con buồi tao!”

Ít lâu sau đó, Hoàng Thọ được gọi về gặp Nguyễn Bình.

- Sao giết Năm Chiếu? Nguyễn Bình hỏi.- Hắn là gián điệp cho Tây.- Hồ đồ! Năm Chiếu là người của Đảng, chú dám tự tiện ra tay, không cần chỉ thị cấp trên. Chú đương là đối tượng được đề nghị kết nạp, nhưng vô kỷ luật không còn xứng đáng nữa!.

Thọ quen thói du côn, coi trời bằng vung, không biết sợ là gì: “Thọ nầy đi kháng chiến vì dân vì nước, không cần Đảng. Đảng chỉ là bọn bè phái bênh vực cho nhau”. Lời vừa ra khỏi miệng, Thọ biết đã lỡ lời.

Nguyễn Bình cười nhạt, đuổi Thọ ra ngoài chờ chỉ thị.

Hoàng Thọ được chỉ thị ra Trung Ương nhận công tác mới. Con cáo tinh ranh biết được đường ra Bắc là đường không có điểm đến, đó là con đường chỉ có cửa tử, mà Thọ cũng đã nhiều lần đẩy người khác trên con đường đó vào cõi chết.

Nhớ lại vụ Kiều Đắc Thắng, một hung thần đã từng thi hành những bản án “Việt Gian”, Phản Động” mà Trần Văn Giàu và Nguyễn Bình kết tội. Kiều Đắc Thắng đã ám sát ông Phan Văn Hùm tại quê của ông là Bún, Lái Thiêu vào tháng 10 năm 1945. Về sau, thấy Thắng quyền hành quá lớn, muốn vượt qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn) nên Nguyễn Bình đã gởi Kiều Đức Thắng “ra gặp bác Hồ”. Kiều Đắc Thắng được đổi tên là Vũ Tùy Nhàn, rồi người bị giết trên đường đi là Vũ Tùy Nhàn nên không gây xôn xao trong ba quân.

Thọ rời kháng chiến, đi biệt tích, xem như cái tên Hoàng Thọ không còn tồn tại trên đời nầy nữa.

Một năm sau.

Có một người khách từ miền Bắc đến Mỹ An. Khách nói năng hoạt bác, sành đời. Khách mở một quán lá bên đường, ven bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, làm kế sinh nhai. Người dân Đồng Tháp Mười gọi chủ quán là ông Bắc Kỳ.

Một năm sau nữa.

Có một người khách lỡ đường, ghé quán ông Bắc Kỳ xin trọ qua đêm. Trời chiều. Con kinh chạy dài hai bên bờ dừa nước mênh mông vắng lặng. Chủ khách nói chuyện tâm đắc bên ly rượu nồng.

Khách nhận xét chủ quán, ông có phong cách của người chỉ huy quân sự, ăn nói lớp lang, rành mạch, dứt khoát rõ ràng, đâu ra đó.

Ông Bắc Kỳ cười, đáp: “Lấy hình tướng để xét thực tướng là cái sai nhất của người đời”.

Ông khách đáp: “Ở đời, thực giả lẫn lộn nhau, qua cái giả để nhận ra cái thật, qua hiện tượng để nhận ra bản chất”.

Nửa đêm hôm ấy, ông Bắc Kỳ chủ quán bị bắt đem đến kinh 12, Đồng Tháp Mười. Ông khách nửa đùa nửa thật: “Năm Chiếu ở Suối vàng gởi lời thăm Hoàng Thọ và nhắn xuống dưới chơi.”

- Mầy là ai? Ông Bắc Kỳ hỏi.- Tôi là bạn của Năm Chiến, được chỉ thị của đồng chí Nguyễn Bình đi tìm Hoàng Thọ bấy lâu nay.

Biết cuộc đời chấm dứt, Hoàng Thọ lớn tiếng chửi Đảng, tàu xà lúp chở không hết.

Thọ bị đập đầu ngã xuống đất, cơ thể co giật như thằn lằn đứt đuôi, địt tèn tẹt, cứt già cứt non bắn ra ướt cả đáy quần.

Ông khách cho lịnh phá nát khuôn mặt Hoàng Thọ để không còn ai nhận ra được danh tánh, và Đảng đã đứng ngoài việc thanh toán cựu công thần nầy.

Chuyến đi nầy thật sự không còn Hoàng Thọ trên đời nầy nữa. Nợ máu phải trả bằng máu.

5* Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bình

5.1. Tóm tắt tiểu sử

Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1906 tại xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Năm 11 tuổi về ở với người anh cả làm công chức ở Hải Phòng. Năm 17 tuổi thôi học năm thứ hai trung học, sau đó làm thủy thủ trên chiếc tàu Pélican của hảng Messagenés Maritimes chạy tuyến Sài Gòn-Marseille (Pháp). Sau đó, bỏ tàu, về sống ở Khánh Hội.

5.2. Kết nghĩa anh em với tướng cướp Sơn Vương

Phương Thảo có máu giang hồ, thích phiêu lưu mạo hiểm nên kết nghĩa anh em với nhà văn-tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Tham gia vụ cướp tiền của tên Tây René Gaillard, phó giám đốc đồn điền cao su Mimot, Cam Bốt, giáp ranh với Tây Ninh, thu được số tiền 50 ngàn đồng. Phương Thảo mở tiệm giặt ủi Thảo Sơn ở ĐaKao. Sau vụ cướp, Sơn Vương bị đi tù Côn Đảo.

5.2. Nguyễn Phương Thảo gia nhập Việt Nam Quốc Dân đảng

Phương Thảo kết bạn với nhà báo Trần Huy Liệu và được Liệu móc nối vào Việt Nam Quốc Dân đảng. Sau vụ khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái, VNQDĐ bị phân tán. Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo bị bắt, án tù 5 năm, đày đi Côn Đảo. Trong tù, Trần Huy Liệu được tù CS móc nối nên có khuynh hướng CS. Vì thế, tù VNQDĐ lên án tử hình và cắt cổ, nhưng Trần Huy Liệu thoát chết. Phương Thảo bị móc một mắt bằng bàn chải đánh răng mài nhọn. “Bị mất con mắt trái bởi đồng đảng, nhưng Phương Thảo như sáng ra, nhận thấy việc tham gia VNQDĐ là sai lầm, chủ nghĩa tam dân chỉ là lý thuyết suông”.

Từ đó, kinh nghiệm sống dựa trên nguyên tắc “Đánh lưỡi 7 lần trước khi nói”, “động não 7 lần trước khi quyết định tham gia đảng chính trị”. Vì thế, sau khi mãn tù về Hải Phòng, Phương Thảo đã từ chối đề nghị của Trần Huy Liệu, quyết không vào đảng Cộng Sản.

5.3. Nguyễn Bình lập căn cứ chống Pháp

Năm 1936, khi mãn hạn tù, bị trục xuất về nguyên quán Hải Phòng, Phương Thảo tuyên bố ly khai VNQDĐ, đổi tên thành Nguyễn Bình và cũng quyết định không vào đảng CSVN. Nguyễn Bình lập căn cứ Đông Triều chống Pháp, uy thế gia tăng. Theo Việt Minh sau cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 12 năm 1945, Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam Bộ.

Năm 1948 được kết nạp vào đảng CSVN. Ngày 29-9-1951, bị Tây phục kích giết chết trên đường ra Việt Bắc.

6* Những trang nhật ký cuối cùng

Ngày 26-7-1951, khi được lịnh ra Bắc, Nguyễn Bình cùng 22 nhân viên khởi hành từ Tân Uyên qua Cam Bốt để ra Bắc. Nhật ký của Nguyễn Bình viết:

“Đi từ Sốcky đến Suối Đá, rồi từ đó đi Tà Nốt, tôi phải nằm trên xe bò vì bịnh ngày càng nặng. Bác sĩ ở Cam Bốt cho biết, phải tạm nghỉ 2 tháng nếu không muốn ngã quỵ trên đường đi. Tôi nghĩ, phải nghỉ 2 tháng, rồi đến 3 tháng mùa mưa nữa mới tới TW ở Việt Bắc thì không thể được, vì một năm không hoạt động trong tình hình kháng chiến ác liệt, nên tôi quyết định ra đi. 80% đoàn bị sốt rét, 4 chiếc xe bò chở không hết. Gạo sắp hết. Giữa đường xe bò bị gãy trục là một điềm xấu.

Ngày 21-9-1951, tất cả đều bịnh, tôi phải vào bếp nấu cơm cho cả đoàn. Hai trinh sát viên đi liên lạc có thể đã bị bắt cho nên các đồng chí ở Nackor đã không hay biết gì đến chúng tôi.

Ngày 23 tháng 9, tôi quyết định thay đổi lộ trình để tránh gặp địch. Ngày 24, không còn gì ăn. Ngày 25, 26, 27 anh em câu được vài con cá đem nấu canh me.

Ngày 29-9-1951, sáng ra, cho người đi mua khoai sắn nhưng không có.”

Trưa ngày 29-9-1951, trung tướng Nguyễn Bình bị phục kích và hy sinh. Nhật ký chấm dứt.

8* Tại sao Cộng Sản giết Nguyễn Bình

Đây là một âm mưu giết hại “công thần” cho nên được xếp vào loại tuyệt mật.

8.1. Phái đoàn Nam Bộ ra Bắc báo cáo tình hình

Năm 1948, một phái đoàn Nam Bộ do Trần Văn Trà hướng dẫn ra Bắc báo cáo tình hình kháng chiến Nam Bộ. Nguyễn Bình cử người thân tín là Lương Văn Nho tháp tùng, và căn dặn, sau khi báo cáo phải xin phép về miền Nam liền. Thế nhưng, khi Nho xin phép, thì Võ Nguyên Giáp yêu cầu ở lại làm bản “đánh giá công tác vận động giang hồ tham gia kháng chiến”. Bản đánh giá được xem như bằng chứng mà Nguyễn Bình đã xử dụng đám lưu manh, đầu trộm đuôi cướp vào cuộc kháng chiến và đã phá hoại uy tín của Đảng, tạo lý do khai trừ.

Sau khi viết xong bản đánh giá, Lương Văn Nho cũng không được về Nam Bộ, mà được cử đi học ở Liên Xô.

8.2. Thành lập lực lượng chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ

Thay ngựa giữa dòng

Sau khi nghe Trần Văn Trà báo cáo tình hình, thì đảng thành lập ban chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ do Lê Đức Thọ lãnh đạo với sự tham dự của tướng Lê Hiếu Mai, Minh Đạo và đầy đủ thành phần các ban bệ như tình báo, chính trị, các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ… Lực lượng chỉ đạo nầy vào Nam thay thế Nguyễn Bình.

Đồng thời, Nguyễn Bình được triệu hồi ra Bắc. Nói cụ thể là loại trừ Nguyễn Bình, là người đã hết vai trò xử dụng. Thay ngựa giữa dòng.

8.3. Giả thuyết về những biện pháp loại trừ Nguyễn Bình

- Có ý kiến cho rằng Hồ Chí Minh chỉ muốn đưa Nguyễn Bình ra Bắc còn sống, nghĩa là không chận giết dọc đường.

- Cũng có ý kiến cho rằng Trung Ương đã mật báo cho Tây biết lộ trình của Nguyễn Bình để mượn dao giết người, ném đá giấu tay.

- Một ý kiến khác cho rằng Mao Trạch Đông yêu cầu Hồ Chí Minh cải tổ đảng, loại trừ những thành phần trước kia là đảng viên các đảng chính trị khác, như Nguyễn Bình đã từng là đảng viên VNQDĐ, lý do nầy không vững, vì Trần Huy Liệu trước kia cũng là đảng viên VNQDĐ, nhưng không bị khai trừ.

Nói chung, Nguyễn Bình đã chết dưới tay của đảng CSVN.
Nguyễn Bình bị thủ tiêu trong nội bộ rồi cũng lập mộ bia để đánh lận con đen
9* KếtNguyễn Bình đã giết đồng đội của mình là Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Kiều Đắc Thắng và tới phiên hắn, cũng bị các đồng chí Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp diệt trừ. Đó là điển hình của tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình.

Và đó cũng là truyền thống của các đảng Cộng Sản thế giới. Đứng đầu là Staline của đảng Cộng Sản ở Nga. Người mà Tố Hữu của đảng Cộng Sản VN ca ngợi và noi gương:

“Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xích Ta Lin bất diệt!” (Tố Hữu)

Chỉ trong 2 năm 1937 và 1938, Staline đã cho xử bắn 1,548,367 người, tính ra trung bình có 1,000 người bị giết mỗi ngày.

14 trong 15 đồng chí Bolshevik (trừ Staline ra) bị xử bắn và thủ tiêu.

3 trong 5 nguyên soái bị tử hình. 3 trong 5 Tổng tư lịnh QĐ bị tử hình. 10 Phó tư lịnh bị tử hình. 57 trong 85 tư lịnh quân đoàn bị tử hình. 110 trong 195 tư lịnh sư đoàn bị tử hình.

Ở Trung Cộng, Mao Trạch Đông đã giết những đồng chí thân cận nhất của hắn, như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu…

Cộng Sản VN thì nhẹ nhàng và kín đáo hơn. Vụ 7 tướng lãnh trong đó có tướng Đào Trọng Lịch bị chết tai nạn trong chuyến bay công tác sang Lào. Đoàn cán bộ cao cấp quân đội chết nạn trong chuyến bay thăm đảo Sơn Trà. Cái chết đột tử của 2 đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Hoàng Văn Hoan phải đào tẩu mới sống sót.

Khi gọi nhau bằng “đồng chí” trong các câu chuyện đối đáp nhau thì báo hiệu là sẽ có vấn đề sanh tử, và đồng chí đi liền với đồng rận. Chí và rận cùng loại như nhau.

Trúc Giang
Minnesota ngày 13-7-2012

 

Đại sứ Anh: ‘Bệnh nhân không thể tự mổ’


 


Đại sứ Anh muốn nói thằng ăn cắp không bao giờ muốn bỏ tù mình.
Chuá ăn cắp Nguyễn Phú Trọng khổng thể dẹp được đảng ăn cắp.

Đại sứ Anh nói sớm một tí cho người dân việt nam được nhờ.

Đại sứ Anh: ‘Bệnh nhân không thể tự mổ’

Cập nhật: 10:45 GMT - thứ sáu, 14 tháng 12, 2012
Đại sứ Antony Stokes tiếp nhà báo Việt Nam.
Đại sứ Vương Quốc Anh nói để chống tham nhũng thành công, Việt Nam cần thiết lập hệ thống tư pháp độc lập và truyền thông tự do.
Khuyến cáo của Tiến sỹ Antony Stokes được đưa tại “Đối thoại về phòng, chống tham nhũng lần thứ 11” tại Hà Nội mới đây, theo bản tin trên Bấm website của Đại sứ quán Anh tại Hà Nội.
Chủ đề Đối thoại “Công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương, thực trạng và giải pháp” được tổ chức trong bối cảnh Tổ chức Minh bạch quốc tế mới đây công bố chỉ số nhận thức tham nhũng 2012 theo đó đánh sụt hạng Việt Nam 11 bậc so với năm ngoái từ thứ hạng 123 xuống 176.
Trong bài phát biểu khai mạc, Đại sứ Stokes cũng nhấn mạnh tới một số thay đổi mà ông mô tả là đáng kể bao gồm bước thay đổi về thể chế theo đó Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng sẽ dưới quyền chỉ đạo của Tổng bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng.
"Để thành công Việt Nam phải tự tìm cho mình cách thiết lập tính độc lập của hệ thống tư pháp, phải có truyền thông tự do và cơ chế từ bên ngoài giám sát khâu giải trình trách nhiệm"
Tiến sỹ Antony Stokes, Đại sứ Vuơng Quốc Anh tại Việt Nam
“Theo tôi, mấu chốt là bệnh nhân không thể tự phẫu thuật cho mình được.
“Để thành công Việt Nam phải tự tìm cho mình cách thiết lập tính độc lập của hệ thống tư pháp, phải có truyền thông tự do và cơ chế từ bên ngoài giám sát khâu giải trình trách nhiệm.
“Tôi khuyến khích các Đối tác Phát triển, đại diện cơ quan của Đảng và chính phủ, và các tổ chức phi chính phủ ở đây ngày hôm nay làm việc cùng nhau để hướng tới một bước thay đổi trong nỗ lực tập thể của chúng ta nhằm đương đầu với tham nhũng.", Tiến sỹ Stokes nói vào ngày 6/12/2012.
Anh Quốc hiện là nhà tài trợ điều phối về phòng chống tham nhũng của các Đối tác Phát triển Quốc tế cho Việt Nam.
Đại sứ Anh, trong lần Bấm đối thoại trước, từng cảnh báo tham nhũng là một vấn đề mang tính hệ thống tại Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua và rằng tham nhũng đe dọa sự phát triển và ổn định của đất nước cũng như uy tín của Việt Nam.
Đe dọa ổn định
Vai trò lãnh đạo nỗ lực chống tham nhũng được chuyển từ Thủ tướng sang Tổng Bí thư.
Quốc hội Việt Nam cuối tháng trước bỏ phiếu với tỷ lê 94.98% loại bỏ mô hình Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nắm để lập một ban cùng tên nhưng do Trung ương Đảng nắm để phụ trách công tác khó khăn này.
Ban Chỉ đạo Trung ương thuộc Bộ Chính trị sẽ do Tổng Bí thư làm trưởng ban nhưng chưa rõ ban mới này bao giờ sẽ bước vào hoạt động.
Ngoài ra báo cáo của Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện trình trước Quốc hội cho thấy rằng các tổ chức, hoạt động của Ban chỉ đạo sẽ không được quy định trong văn kiện luật Phòng chống Tham nhũng, mà nêu trong văn kiện của Đảng để "vẫn đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, pháp luật".
Tuy nhiên, với thực trạng chưa có luật về Đảng Cộng sản và quyền lực của Đảng này chủ yếu chỉ được ghi trong Điều 4 Hiến pháp 1992, chưa rõ việc triển khai thực hiện hoạt động của Ban này sẽ dựa trên cơ sở pháp lý gì ngoài những điều nêu ra trong Quốc hội khóa này.
'Đút lót xảy ra ở mọi ngành'
Bà Lê Hiền Đức nói về thực trạng ‘nhà dột từ nóc’ trong bối cảnh Ngân hàng Thế giới công bố khảo sát về nạn đưa hối lộ tại Việt Nam.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
Ngoài ra, trong bối cảnh quyền lực của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị thu hẹp sau Hội nghị Trung ương 6, mọi động thái tập trung quyền lực vào tay Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước khiến người ta không thể không đặt ra câu hỏi về khả năng đấu đá phe phái.
Tiến sĩ Bấm David Koh, chuyên viên cao cấp Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore từng trả lời BBC rằng đặt cơ chế chống tham nhũng dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là có lý.
Còn cụ bà chống tiêu cực Bấm Lê Hiền Đức vừa tròn 82 tuổi, người được Tổ chức Minh bạch Quốc tế trao giải tướng, cũng từng nói với BBC rằng bà không hy vọng nhiều về quyết định chuyển vai trò chống tham nhũng từ Chính phủ sang Đảng bởi điều mà bà gọi là "Quan nào mặt cũng nhọ cả, chỉ khác nhau là nhọ ít hay nhiều mà thôi".
Dù vậy, các nỗ lực chống tham nhũng từ phía chính quyền vẫn được các quốc gia cấp viện cho Việt Nam hoan nghênh và hối thúc triển khai nhằm đưa hệ thống quản trị công của nước này tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế và Việt Nam cam kết theo đuổi.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link