Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, December 31, 2012

CÔNG-TÁC MƯỜI NĂM CỦA TẬP-CẬN-BÌNH

CÔNG-TÁC MƯỜI NĂM CỦA TẬP-CẬN-BÌNH
Phạm-Quang-Minh
Trong tuần đầu của tháng 11 năm 2012, có hai sự-kiện quan-trọng đến tình-hình thế-giới nói chung trong những năm đến: Barak H. Obama tái đắc-cử Tổng-Thống Hoa-Kỳ và Li Jinping (Tập-Cận-Bình) được chọn làm Lãnh-Tụ Trung-Quốc.
Mọi quyết-định của hai nhân-vật này đều có tầm ảnh-hưởng sâu-rộng đến nhiều nước. Một cách tổng-quát, chiều-hướng xấu sẽ đến nhiều hơn chiều hướng tốt.
 
TẬP-CẬN-BÌNH
Tại Trung-Quốc, Tập-Cận-Bình là hàng ngũ lãnh-đạo thứ năm kể từ khi Hồng-Quân của Mao thiết-lập chế-độ Cộng-Sản tại đây. Một mục-tiêu tối-hậu, một đường-lối lãnh-đạo đồng lòng liên-tục cứng-rắn sắt-máu trong một cơ-chế Cộng-Sản độc-tài, và một hình-thức “Đảng truyền Đảng nối” hằng mỗi thập niên, tạo nên cơ-chếchính-trị đặc-thù của Trung-Quốc do nhóm lãnh-tụ Bắc-Kinh nắm giữ, sắp-xếp vàđiều-hành. Hu Jintao (Hồ-Cẫm-Đào), trong bài diễn-văn đọc trước Đại-Hội Đảng Kỳ18, đã khẳng-định rằng uy-quyền của Đảng là tối-thượng và rằng Trung-Quốc không bao giờ rập khuôn theo thể-chế chính-trị Tây-Phương, tức thể-chế dân-chủ. Cũng cần nhắt lại rằng họ Hồ là người tiến-cử họ Tập lên thay thế mình.
Bốn hàng-ngũ lãnh-đạo Trung-Quốc trước đây là Mao-Trạch-Đông, Đặng-Tiểu-Bình, Giang-Trạch-Dân và Hồ-Cẫm-Đào. Mỗi lãnh-tụ hoàn-thành và lưu lại một dấu ấn rõ-rệt.
Mao-Trạch-Đông thiết-lập chính-quyền Cộng-Sản, xây-dựng Hồng-Quân, thanh-lọc để kiện-toànĐảng, và thu-phục rồi thống-nhất toàn thể Hoa-Lục về một mối. Xong công-tác thống-nhất sơn-hà, họ Mao bày tỏ tham-vọng bá-chủ toàn-cầu khi tuyên-bố rằng Trung-Quốc sẵn-sàng hy-sinh một nửa dân-số để cắm ngọn Hồng-Kỳ trên toàn thế-giới.
Thập niên 80, Đặng-Tiểu-Bình tiếp-tục công cuộc giữ vững Đảng, kiện-toàn Đảng vàđề-xướng chương-trình canh-tân đất nước hầu nâng cao đời sống người dân. Đểcứu-vãn sự sống còn của Đảng, quyết-định của họ Đặng thãm-sát hàng trăm ngàn thanh-niên sinh-viên ngày 4 tháng Sáu năm 1989 tại Thiên-An-Môn là quyết-định lớn-lao có tầm-vóc sánh được với những quyết-định trọng-đại trong thời-kỳxây-dựng, thanh-lọc và kiện-toàn Đảng của Mao.
Thập niên 90, Giang-Trạch-Dân nắm đúng thời-cơ (Bill Clinton non-nớt thiển-cận) chuẩn-bị cho tiến-trình kỹ-nghệ hóa nhanh-chóng nền kinh-tế Trung-Quốc vì chỉcó một nền kinh-tế hưng-vượng mới có thể nuôi quân, hiện-đại hóa quốc-phòng và lũng-đoạn chính-trị toàn cầu.
Công-tác kỹ-nghệ-hóa Hoa-Lục đã được họ Giang tiến-hành thật thông-suốt. Chính-sách R&D béo-bở dễ-dàng của họ Giang đã lôi-kéo được nhóm đầu-tư hám-lợi mù-quáng từ Hoa-Kỳ đang tìm cách trốn-thoát sựkềm-chế phát-triển và cạnh-tranh bởi những luật-lệ lao-động thái-quá lỗi-thời tại Hoa-Kỳ.
Năm 2002, Hồ-Cẩm-Đào tiếp-nhận và tiếp-tục một cách nhịp-nhàng tiến-trình kỹ-nghệhóa và hiện-đại-hóa quốc-phòng đến thành-công.
Trong năm năm sau cùng, ý-thức rõ cái nguồn nhân-lực (sức-lực và trí-lực) thiên-phú dồi-dào của đất nước, họHồ đã tổng kiểm-duyệt toàn bộ tài-nguyên (thiên-nhiên và chế-biến) cần bổ-sung cho đất nước để thiết-lập rồi duy-trì lâu dài một nền kinh-tế độc-lập (sẽ bàn dưới đây), và họ Hồ cũng đã hoạch-định các nhu-cầu chiến-lược quốc-phòng vềphòng-thủ cũng như để nắm thế chủ-động trong tương-lai.
Nhân-lực, tài-nguyên, và nhu-cầu chiến-lược quốc-phòng là ba yếu-tố chính cần-thiết nhằm tiến đến việc thực-hiện mục-tiêu tối-hậu do Mao đề ra và theo đường-hướng kiên-trì đợi thời mà không lộ-diện của họ Đặng. Chữ ‘thời của họ Đặng’ ở đây là ‘lúc con hổTrung-Quốc hoàn-toàn trưởng-thành vô-song trên trường thế-giới võ lâm’.Nhân-lực thống-nhất trên toàn Hoa-Lục là nguồn tài-nguyên bao-la tạo nên“công-trường sản-xuất” đứng đầu thế-giới, và cái nhân-lực thống-nhất này, trong quan-điểm của họ Đặng qua vụ án xử Mao đầu thập niên 70, là công-trình vĩ-đại của họ Mao.
Cái nhìn sâu-sắc về nhu-cầu chiến-lược quốc-phòng đã khiến họ Hồhỗ-trợ các chương-trình nguyên-tử của Bắc-Hàn, của Pakistan, của Iran như ta đã thấy, đồng-thời tiếp tay cho các phong-trào nỗi-dậy gây xáo-trộn tại những vùngđất khác nhau trên thế-giới.
Vềtài-nguyên, Trung-Quốc có gì và cần bổ-sung những gì là quyết-định của Đảng trong quan-điểm của họ Hồ: hàng ngàn mõ vàng phẫm-lượng tốt đang được dự-trữ là nguồn bản-vị phong-phú cho đồng tiền Trung-Quốc một khi cần thay-thế đồng tiền của Hoa-Kỳ trên thương-trường thế-giới, giảm-thiểu việc xuất-cảng để dự-trữnguyên-liệu đất hiếm cho kỹ-nghệ điện-toán thiết-yếu trong tương-lai, cái nhu-cầu dầu-khí dự-tính vào giữa thập niên thứ ba của thế-kỷ XXI cho nền kỹ-nghệ vĩ-đại Trung-Quốc chiếm hơn phân nửa tổng-số dầu sản-xuất hiện nay của toàn thế-giới, v.v ….
.Cái nhìn toàn-bộ sâu-sắc về tài-nguyên cần bổ-sung đã khiến Hồ vạch ra đường ranh lưỡi bò tại biển Đông làm xáo-trộn tình-hìnhĐông-Nam-Á hiện nay. Thế-giới phải thừa-nhận rằng ngày nay Trung-Quốc là một trong những cường-quốc hàng đầu của thế-giới.
Thế-giới cũng phải hiểu rõ các lý-do quan-trọng thầm-kín đằng sau các hoạt-động của Trung-Quốc tại biển Đôngđể biết rằng việc Trung-Quốc lùi-bước hay nhượng-bộ trước các áp-lực ngoại-giao suông của thế-giới là điều không thể xảy ra. Một mục-tiêu tối-hậu với sựkiên-tâm trường-kỳ thực-hiện liên-tục từ thế-hệ này sang thế-hệ khác đã giúp Trung-Quốc đạt được thành-quả ngày nay.
Sách-lược kín-đáo của Đặng-Tiểu-Bình“kiên-nhẫn đợi thời mà không lộ diện” cùng bản tin mà Hồ-Cẩm-Đào gới đến toàn thế-giới năm 2008 qua hình ảnh “Lồng Chim Sắt” và vũ-điệu “Múa Trên Địa-Cầu” đã quá đủ để đánh-thức lương-tri của quý vị Lãnh-Đạo thế-giới về một hiểm-họa Trung-Quốc trong tương-lai không xa.
Vậy cái mục-tiêu tối-hậu đã được vạch ra ngay từ thế-hệ đầu-tiên với Mao là gì? Tôi tóm lược mục-tiêu tối hậu này trong tám chữ “thế-giới độc-tài nhân-loại Tàu hóa” và đây chính là mộng-ước “cắm ngọn Hồng kỳ trên toàn thế-giới” của Mao.
Cái mục-tiêu tối-hậu này của Trung-Quốc, cao xa nguy-hiểm hơn nhiều giấc mộng Đại-Đông Á của Minh-Trị Thiên-Hoàng Nhật-Bản vào giữa thế-kỷ thứ XX, lại trở nên khả-thi đối với Trung-Quốc vào tiền bán thế-kỷ thứ XXI này. Nhìn rõ một cách toàn-diện chủ-trương kiên-trì đợi thời vì mục-tiêu tối-hậu do Đảng đề ra từ lúc khai-sinh và tiến-triển nhịp-nhàng qua bốn thê-hệ vừa qua, sẽ cho chúng ta thấy, một cách đại-thể,chủ-trương đường-lối của thế-hệ thứ năm Tập-Cận-Bình.
Lời khẳng-định của họ Hồrằng Trung-Quốc không bao giờ rập khuôn theo thể-chế chính-trị Tây-Phương, là một bản tin gởi cho thế-giới rằng sẽ không có dân-chủ tại Trung-Quốc, nhưng cũng là lời cảnh-cáo trong nội-bộ Đảng cũng như trong quần-chúng khắp Hoa-Lục rằng Đảng là tối-thượng và sẽ không nhân-nhượng những hình-thức cải-cách dân-chủ theo lối Tây-Phương. Chống-đối xuống đường sẽ bị đàn-áp dầu đẫm máu. Sự đồng thuận giữa Hồ và Tập là lẽ đương-nhiên.
Trong thế-kỷ thứ XXI này, khoảng cách giữa các quốc-gia đã được thu ngắn và điện-toánđã nối liền con người một cách nhanh-chóng thần-kỳ; từ đó quan-niệm, nhận-thức và lề-lối làm việc phải thay đổi theo. Thời tôi còn nhỏ, đầu thập niên 50, thấy một người đi bộ trong làng miệng lẩm-bẩm một mình, mọi người bảo ông ta điên. Ngày nay thấy một người đi bộ miệng lẩm-bẩm một mình, mọi người không hề nghĩông ta điên mà bảo ông ta “high tech” dùng điện-thoại viễn liên không dây. Ngày trước hoa-màu chỉ sản-xuất vừa đủ dùng trong làng và cho các làng lân-cận.
Ngày nay hao-màu có thề bán ra xa hàng ngàn dặm, vì thế việc sản-xuát phải đồng-loạt với số lượng lớn và việc canh-tác phải cơ-giới-hóa thay cho sức người yếu-đuối. Thế-giới ngày nay liên-hệ cùng nhau và trao-đổi mậu-dịch với nhau để sinh-tồn, nhưng luôn luôn chèn-ép lẫn nhau trong cảnh mạnh được yếu thua. Đây là điều thật tệ-hại bất-công. Chính vì thế các nước trên thế-giới luôn luôn chú-ý đến những đổi thay người lãnh-đạo tại các nước lớn mạnh hơn và cầu mong một sự đổi mới tốt lành hơn.
Đây cũng là một trong những lý-do đã khiến tôi đề-nghịgiải-tán Liên-Hiệp-Quốc vào giữa thập niên 90. Thế-giới đã biết một phần nào vềObama nhưng con người thực của Obama sẽ thể-hiện rõ hơn trong nhiệm-kỳ hai. Thế-giới chưa biết nhiều về Tập-Cận-Bình. Bài này trình-bày vài nhận-định cụ-thể về đường-lối và công-tác mười năm đến của Tập-cận-Bình.
Có thể nói một cách chung rằng chắc-chắn họ Tập sẽ tuân-thủ việc thực-hiện mục-tiêu tối-hậu mà Đảng đã đề ra từ thời Mao, và đã đồng-lòng với kế-hoạch, chủ-trương và đường-lối của họ Hồ. Việc thực-hiện mục-tiêu tối-hậu của Đảng phải trải qua rất nhiều công-tác giai-đoạn mà độc-lập kinh-tế là phương-tiện trường-kỳ. Một số những công-tác giai-đoạn này đã được bốn thế-hệ vứa qua hoàn-thành. Sự thành-công cuối-cùng của “mục-tiêu tối hậu” tùy-thuộc hoàn-toàn vào việc xây-dựng một nền kinh-tế độc-lập cho Trung-Quốc.
Chính vì tầm quan-trọng của việc xây-dựng nền kinh-tế độc-lập cho Trung-Quốc mà họ Hồ đã thiết-lập kế-hoạch “lằn ranh lưỡi bò” để tóm thâu toàn-bộ tài-nguyên thiên-nhiên phong-phú dưới lòng biển, mặc dù họ Hồ hiểu rõ đây là một sựxâm-lăng các nước láng giềng nhỏ-bé hơn. Bên cạnh những công-tác nhưhiện-đại-hóa quốc-phòng, tiếp-tục canh-tân kỹ-nghệ, phát-triển kinh-tế,công-tác chính của họ Tập là tóm thâu tất cả những phần lãnh-thổ trong đường ranh “lưỡi bò“ về cho Trung-Quốc bằng những phương-tiện sẵn-có về ngoại-giao lẫn vũ-lực. Công-tác mà Đảng tối-thượng đã vạch ra, chắc-chắn họ Tập đã đồng-ýđứng ra đảm-nhận việc thi-hành.
Trong mười năm đến, cộng-tác của họ Tập sẽ rất cam-go, nhưng thời-gian là lợi thế cho Trung-Quốc để kiện-toàn sức-mạnh của mình. Trung-Quốc sẽ có thể lùi một bước để tiến hai bước, nhưng vì “mục-tiêu tối-hậu”, Trung-Quốc sẽ không bao-giờ bỏ-cuộc. Đây là điều mà Tây-Phương phải ghi-nhớ. Công-tác mà Đảng và họ Hồ đã trao vào tay họ Tập đã rõ-rệt là như thế.
Họ Tập phải tóm-thâu toàn bộ những phần đất thuộc đường ranh lưỡi bò cùng đẩy mạnh việc xây-dựng một nền kinh-tế độc-lập tân-tiến hùng-mạnh hầu chuẩn-bị cho kế-hoạch xâm-lăng thế-giới. Nếu họ Tập thành-công, mục-tiêu tối-hậu “thế-giớiđộc-tài nhân-loại Tàu hóa” sẽ bắt-đầu được thực-hiện vào thập niên 2023 này; nếu gặp khó-khăn trì-trệ, mục-tiêu sẽ bắt-đầu vào thập niên 2040. Để tránh thảm-họa chung cho thế-giới, Hoa-Kỳ và đồng-minh phải đồng lòng, dứt-khoát, cương-quyết đối-phó với những thủ-đoạn của họ Tập trong những năm đến.
Trung-Quốc đã rút-tỉa từ bài học Nhật-Bản phương-thức canh-tân kỹ-nghệ cho Trung-Quốc. Hoa-Kỳ và thế-giới ngày nay phải rút-tỉa từ bài học Nhật-Bản phương-thức kềm-chế những lãnh-tụ tham-tàn độc-đoạn nuôi mộng bá-chủ toàn cầu.
Chúng ta nói nhiều về một nền kinh-tế độc-lập của một nước. Bây giờ cùng nhau chúng ta minh-định bốn chữ kinh-tế độc-lập này. Một nước hưng-vượng phú-cường có một nền kinh-tế độc-lập khi tài-nguyên của nước này cung-ứng nỗi một tổng sản-lượng quốc-gia lớn đủ để tạo ra nguồn lợi-tức dồi-dào trang-trải được mọi chi-phí cần-thiết cho toàn-bộ ngân-sách quốc-gia của nước đó. Chữ tài-nguyên bao gồm tài-nguyên thiên-nhiên và nhân-lực. Tài-nguyên thiên-nhiên gồm nguyên-liệu và nhiên-liệu dùng cho việc chế-biến và sản-xuất.
Nhân-lực phải đủ và kiện-toàn đủ để dùng vào việc chế-biến, sản-xuất, dich-vụ và tiêu-thụ. Tất cả từ tài-nguyên, sản-xuất đến tiêu-thụ, phải từ nội địa tùy thuộc vào nội địa mà thôi và hoàn-toàn không cần đến hay phụ-thuộc thị-trường bên ngoài nước đó. Bằng một thí-dụ: một nước phú-cường, với 350 triệu dân, có một tổng sản-lượng lớn mà lợi-tức đồng niên đủ để trang-trải mọi chi-phí cho ngân-sách của nước đó nhưng cái lợi-tức này thu-hoạch được từ 70% tổng sản-lượng tiêu-thụ tại nội-địa và 30% xuất-cảng ra tiêu-thụ ở nước ngoải. Nước này không có một nền kinh-tế độc-lập theo minh-định trên của chúng ta vì yếu-tố thị-trường tiêu-thụ nội địa không lớn đủ. Với tổng sản-lương đó và với mức tiêu-thụ nội-địa đó, nếu nước này có 500 triệu dân trở lên thì nước này sẽ có một nền kinh-tế độc-lập theo minh-định trên của chúng ta.
Một thí-dụ khác, trong minh-định này của chúng ta, nước Nhật phú-cường nhưng Nhật không thể có một nền kinh-tế độc-lập vì dân-sốít, tài-nguyên thiên-nhiên phải nhập-cảng từ nước ngoài cho việc sản-xuất, và hàng-hóa sản-xuất tại Nhật phải xuất-cảng ra nước ngoài để thâu lợi-tức trở vếlàm cho nước Nhật giàu-có phú-cường. Khi có xáo-trộn thị-trường ngoại-quốc bất-cứ vì lý-do gì, nền kinh-tế Nhật sẽ bị ảnh-hưởng ngay. Hầu hết các nước trên thế-giới đều không có nền kinh-tế độc-lập nên phải nương-tựa vào nhau, hổ-tương cho nhau để tạo-dựng và duy-trì sự hưng-vượng phú-cường.
Nền kinh-tếhổ-tương của các nước trên thế-giới bấp-bênh thăng-trầm như chúng ta đã thấy vì lý-do lệ-thuộc lẫn nhau này. Minh-Trị Thiên-Hoàng với giấc mộng Đại-Đông-Á, đểtìm kiếm thị-trường tiêu-thụ và tài-nguyên thiên-nhiên từ bên ngoài hầu bổ-sung vào những thiếu-hụt thiên-nhiên của Nhật, là để củng-cố một nền kinh-tế độc-lập lâu dài cho Nhật. Nguyên-nhân thầm-kín bên trong lý-tưởng Cộng-Sản của Stalin khi thành-lập Liên-Bang Sô-Viết cũng không ngoài mục-tiêu kinh-tế độc-lập này vì chỉ với nước Nga không thôi, ngân-sách quốc-phòng sẽ không đủ để Stalin lãnh-đạo thế-giới.
Cả hai giấc mộng kinh-tế độc-lập này đều đã tiêu-tan vào năm 1945 và vào năm 1990. Thế-giời những tưởng sẽ được yên-bình sau đó thì nay một nền kinh-tế lớn khác lại ló dạng và có cơ thành-tựu trong mục-tiêu trở-thành một nền kinh-tế độc-lập, đang đe-dọa sự yên-lành hưng-vượng của hầu hết các nước trên khắp năm châu. Nếu một Bill Clinton khôn-ngoan đủ và nhìn rõ được tình-hình thế-giới thì sự thành-tựu này có thể đã bị đình-trệ lại hàng bao chục năm sau, nghĩa là thế-giới có đủ thời-gian để ứng-phó. Sự thật lại không được như thế!
Trong giai-đoạn kỷ-thuật tân-tiến này, một nền kinh-tế độc-lập trong tay những lãnh-tụ tham-tàn tham-lam hiếu-chiến là một đại-họa cho toàn nhân-loại. Những kế-hoạch và chủ-trương của Hồ-Cẩm-Đào kế-tục bởi Tập-Cận-Bình, nếu thành-công, sẽ giúp Trung-Quốc trở thành một nước có nền kinh-tế độc-lập, tức là không cần đến tài-nguyên và thị-trường bên ngoài. Với sự tham-tàn và tham-lam bất-chính của giới lãnh-đạo Bắc-Kinh, đây sẽ là một đại họa thảm-thương cho nhân-loại.
Đại hoạ này sẽ xảy ra trong tiền bán thế-kỷ thứ XXI này nếu thế-giới không cương-quyết đoàn-kết cùng nhau tìm phương cách chận đứng kịp thời. Đây là điều thật khó-khăn. Gần đây, Cam-Bốt tuân-hành mệnh-lệnh của Trung-Quốc để đổi lấy 10 tỷ viện-trợ kinh-tế là một thí-dụ cho sự khó-khăn này.
Trướcđại họa chung này, Hoa-Kỳ sẽ phải hành-động như thế nào trong cương-vị của một nước lãnh-đạo Thế-Giới Tự-Do? Trong giai-đoạn bốn năm rất quan-trọng sắp đến cho thế-giới, chính-sách của Hoa-Kỳ nằm trong tay Obama. Trong bốn năm 2009-2012, nền kinh-tế của Hoa-Kỳ tồi-tệ; chính-sách ngoại-giao sai-lầm; Trung-Đông bây giờ là bãi chiến-trường xâu-xé lẫn nhau vì sự tranh-giành quyền-lực giữa các hệ-phái Hồi-Giáo cực-đoan; một số đồng-minh trung-kiên của Hoa-Kỳ đã bịhạ-bệ và số còn lại đã mất tin-tưởng vào Hoa-Kỳ với Obama trong tòa Bạch-Ốc; nay Obama đang chuyển-hướng mối quan-tâm của Hoa-Kỳ vào vùng tranh-chấp lãnh hải tại Đông-Nam-Á.
Trong cuộc tiếp-xúc với báo-chí mới đây về việc đề-cử John Kerry vào chức-vụ Bộ-Trưởng Ngoại-Giao thay thế bà Clinton, Obama nhấn-mạnh đến trách-vụ khó-khăn của Kerry trong việc gìn-giữ mối giao-hảo với Trung-Quốc.
Nếuđây quả thực là trách-vụ mà Obama giao-phó cho Kerry thì tình-hình Đông-Nam-Á sẽ không thể nào tốt-đẹp hơn mà thời-gian càng kéo dài càng có lợi cho Trung-Quốc.
Trước đây, Nixon-Kissinger đã thua mưu của Mao-Đặng; Clinton đã non-nớt trước họ Giang; bây giờ tôi âu-lo Obama sẽ bị tên cáo-già tham-lam cương-quyết họ Tập lèo-lái dễ-dàng bằng những miếng mồi béo mỡ. Âu đó cũng là mệnh số của Hoa-Kỳ!
Lịch-sử thế-giới có thể nào lại tái diễn. Đầu thập niên 60, quần-chúng Việt-Nam đã lầm-lạc hỗ-trợ Dương-Văn-Minh mà hậu-quả là thảm-nạn mất nước tháng 4 đen trong thập niên 70.
Ngày nay, quần-chúng Hoa-Kỳ có thể đã hỗ-trợ sai-lầm Obama mà hậu-quả sẽ là ‘thế-giới độc-tài, nhân-loại Tàu hóa’trong vòng hai thập niên đến.
Tôi luôn luôn thành-tâm hy-vọng rằng những nhận-định của tôi về Obama là sai-lầm. Chỉ vài năm nữa thôi, mọi sự sẽ rõ.
Tôi viết bài này bằng tất cả sự âu-lo cho tương-lai Hoa-Kỳ của một người Mỹ với kinh-nghiệm máu-xương gốc Việt. Năm 1968, khi tổ-chức trại tiếp-cư Võ-Tánh, một cụ già di-cư từ Bắc vào Nam hỏi tôi: Nếu Cộng-Sản chiếm Miền Nam, chúng ta sẽchạy đi đâu?
Có thể đã đến lúc chúng ta phải hỏi câu tương-tự cho con cháu chúng ta: Khi Tàu-Cộng chiếm Mỹ, chúng ta sẽ đi đâu? Đặt câu hỏi sớm cả 20 năm là điều thật đáng nghi-ngờ!
Nhưng, bốn mươi năm trước, không ai ngờ cái nước lạc-hậu Trung-Quốc sẽ có thể sánh ngang-hàng và đương-đầu được với Hoa-Kỳ: đây là hậu-quả không sữa-chữa được từ sự thiển-cận nhu-nhược của giới lãnh-đạo Hoa-Kỳ.
Chúng ta càng không tin rằng Trung-Quốc sẽ có thể thắng thì Trung-Quốc sẽ thắng.
Đây là yếu-tố tâm-lý quyết-định. Lại nữa, trong một nước dân-chủ,quần-chúng không tin sẽ ngăn chận người lãnh-đạo có những hành-động cương-quyết dứt-khoát để bảo-vệ tương-lai; nghĩa là một người lãnh-đạo dù yêu-nước sáng-suốt đôi khi cũng đành bó tay.
Xã-hội Hoa-Kỳ là một xã-hôi rất phức-tạp và thiếu thuần-nhất. Kẻ thù của Hoa-Kỳ biết rõ điều này trong cơ-chế chính-trị tại Hoa-Kỳ; thêm vào đó có cả một mạng lưới chính-trị gia do kẻ thù cất-nhắc lên và làm theo mệnh-lệnh của kẻ thù. Bất hạnh thay!
Để kết-thúc bài này, tôi xin mượn câu nói sau đây của một Dân-Biểu tiểu-bang California, Dana Rohrabacher: “If we do not act now, we will face an almost certain ‘death by China’ ”. Cầu mong rằng số chính-giới Hoa-Kỳ ý-thức thãm-họa “thế-giới độc-tài, nhân-loại Tàu hóa”, sẽ càng lúc càng nhiều hơn.
Phạm-Quang-Minh

GHI NHỚ VỀ NOEL HÀ NỘI: Tội ác của tập đoàn việt Gian Cộng Sản súc vật.






ĐOÀN TỤ...

 


NĂM 1954.

Hà-nội vẫn có cái lạnh thật dễ thương của tháng cuối trong năm, không hề có chút gì giống nỗi cô đơn của Déméthée vì phải xa cô con Proserpine đã bị thần Pluton nứt mặt đất bắt xuống âm ty làm vợ.
 
Nhà nhà đều chuẩn bị đón mừng lễ Giáng-sinh, kể cả những gia đình không phải công giáo. Mặc dù dân Hà-nội tránh nạn cộng sản di cư vào Nam như thác, nhưng bù lại, binh lính, cán bộ, công an và dân các tỉnh ùn ùn kéo về lấp chỗ trống nhanh như cỏ dại mọc đầu mùa xuân.
 
Còn hơn thế, Hà-nội như có vẻ sầm uất hơn. Hàng tồn kho của Hà-nội vẫn còn nhiều, lại càng nhiều hơn gấp bội vì số người di cư vào Nam mang bán tống bán tháo tất cả những gì có thể bán được. Và thế là "Chợ Trời" của Hà-nội là toàn bộ "36 phố phường".
 
Các phố xưa kia cổng kín tường cao, trưa trưa chỉ có tiếng rao của người bán dạo đồ thêu, đồ làm vệ sinh trong nhà, củi tạ, nước mắm Phú-quốc v.v... vang lên như tiếng chim gõ kiến trong cánh rừng già, thì nay cũng thành chợ: đồ gỗ ở phố Phan Chu Trinh; máy ở Hàm Long; sách cũ ở đầu Bà Triệu; xe đạp ở Quang Trung và Nguyễn Du; quần áo ở Tô Hiến Thành... rồi tới Hàng Bài, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng.
 
Ồn ào nhất là khu ga, lan ra cả Sinh Từ, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Kỳ Đồng, Cấm Chỉ, Phùng Hưng, cho đến tận cả Cột Cờ.
 
Tuy mùa hoa phượng vĩ đã tàn nhưng Hà-nội đỏ ối hơn bao giờ hết. Các công sở cho đến đầu đường, xó chợ, cổng đền, chùa và nhà thờ, chỗ nào cũng cờ đỏ sao vàng, nhiều chỗ còn cả cờ Nga và cờ Trung cộng. Lính Tây rút hết, nhưng lại có lính của ủy ban quốc tế: Ca-na-đa, Ba-lan, Ấn-độ. Ảnh của lãnh tụ vô sản trong nước và ngoài nước được treo khắp hang cùng. ngõ hẻm và bày bán ngay ngoài đường ở các phố Tràng Tiền, Cửa Nam, Hàng Buồm, Hàng Giấy, Bờ Hồ... đủ mọi mẫu: rậm râu sâu mắt cũng có; hói đầu trán dô cũng có; mập ú cũng có; mặt như mâm bánh đúc cũng có v.v... Nếu không có chú thích chức vụ dưới ảnh thì cứ tưởng đây là các loại diễn viên của đoàn tạp kỹ nào vậy.

Cuối phố Lò Đúc, gần ngay nhà thương chó - nay là cơ quan của bộ Lâm nghiệp - ai ai cũng mừng cho cụ phán Thành, chủ căn nhà lầu mới nhất, khỏi phải sống lẻ loi vì đã có con trai là cán bộ cùng vợ con mới từ Việt Bắc về đoàn tụ. Cho nên Nô-en 1954 của nhà cụ phán Thành được chuẩn bị khang trang hơn mọi năm. Cây Nô-en của nhà cụ to đẹp nhất khu vực đó.
 
Gần chín năm trời, cụ phán Thành đã dành nhiều thì giờ ngắm các tượng Thánh cũng như cầu xin Đức Mẹ cho ngày đoàn tụ này.
 
Con trai một của cụ là cán bộ hàm vụ trưởng, công tác ở văn phòng phủ thủ tướng; con dâu của cụ, xuất thân là rễ cốt cán trong cải cách ruộng đất thí điểm ở Thái Nguyên, nay là cán bộ tổ chức của Tổng công đoàn và đứa cháu nội của cụ vừa tròn sáu tháng. Con, dâu và cháu của cụ về Hà-nội đã vài tháng nay, nhưng vẫn ở tại cơ quan.
 
Chỉ có con trai cụ về nhà hai lần thăm cụ, uống vội một chén trà chứ không chịu ăn uống gì và hấp ta hấp tấp bỏ đi cứ như là nhà có ma. Mâm cơm được dọn ra, anh ta liếc nhìn đĩa thịt gà, cái yết hầu động đậy, nét mặt căng thẳng nhưng vẫn không đủ can đảm ngồi lại ăn với bố bữa cơm sau chín năm xa cách!
 
 Rồi, một buổi tối, anh ta về nhà, cũng vội vã uống chén trà để báo cho cụ phán Thành biết vài ngày nữa anh ta sẽ đem vợ con về ở ngôi nhà này vì đã được phép của "đảng ủy" cơ quan.
 
Xa nhau chín năm, người con trai cụ phán Thành thay đổi quá nhiều, cả từ vẻ mặt, ánh mắt, người ngợm cho đến ngôn ngữ ăn nói. Hai cha con ngồi chỉ cách nhau một cái bàn mà sao còn thấy xa hơn Hà-Nội lên Việt-Bắc!

... ĐỂ CHIA LY HƠN

Cụ phán Thành và mấy bà con giáo dân hàng xóm của cụ sang xem cây Nô-en không còn tin ở lỗ tai của mình khi nghe anh cán bộ - con trai của cụ - chỉ vào cây Nô-en và nói vẻ khó chịu:

- Thầy rước cái "của nợ" này về làm gì cho tốn tiền lại rác nhà.

Dân công giáo toàn tòng, được mặc chiếc áo đại cán màu lá mạ, vai đeo xắc-cốt vải bạt, ăn nói như vậy đấy. Lặng người một lúc cụ phán mới nói được:

- Anh có còn là con chiên của Chúa không mà nói vậy?

- Thầy, u có công đẻ ra con, nhưng Đảng và Bác cho con sự sống, cho con lý tưởng. Giờ đây con là thuộc về Đảng và Bác, xin thầy và bà con lối xóm nhớ cho như vậy.

Cụ phán Thành ú ớ:

- Vậy là anh không... không...

- Vâng, con là người cách mạng, không tin ở tôn giáo nào cả, đó là thuốc phiện như Marx đã nói và...

Anh con nhìn bố, vẻ ái ngại:

- Thầy có được nghe chính Chúa nói không?

Cụ phán nhìn con, vẻ xa lạ:

- Vậy anh có được nghe chính Marx nói không?

Anh đỏ mặt, lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì cụ phán Thành nói tiếp:

- Anh có nhận tôi là cha đẻ của anh nữa không thì tùy, nhưng chúng ta không cần báng bổ đức tin của nhau. Tôi là con chiên ngoan đạo, sống trong sự che chở của Chúa. Anh là người cách mạng, anh tin vào cụ Karl Marx, đó là việc của anh. Anh gọi đó là chủ nghĩa hay tôn giáo, tất cả đều là cách diễn đạt mà thôi.

Những người được chứng kiến cuộc đối thoại của hai cha con cụ phán Thành không thể nào quên được vẻ đau khổ của người cha và vẻ căm thù lạnh lùng của người con. Câu chuyện hôm ấy đã chấm dứt tình nghĩa cha con.
 
Căn nhà được bít lại: cụ phán Thành ở trên lầu và gia đình người con ở tầng trệt. Đến năm 1960, cụ phán Thành bị cải tạo trong diện tư sản nhà đất, cụ phải dọn ra căn phòng phía sau, trên nóc nhà bếp, kế sân thượng phơi quần áo, rộng độ gần hai chục mét vuông.
 
Đấy là một sự chiếu cố của ban cải tạo, vì đúng ra tiêu chuẩn đầu người chỉ là năm mét vuông. Mà, cũng có thể không tìm ra căn phòng nào có cái diện tích năm mét vuông như vậy, ngoại trừ cái cầu tiêu phụ!
 
Căn nhà lầu của cụ phán Thành, chắt chiu cả đời người cạo giấy ở sở Phi-năng (tài chánh) của Pháp và sự buôn bán tảo tần của vợ mới làm nên được, nay có chủ mới là Sở quản lý nhà đất Hà-nội.
 
Căn nhà đó được chia cho con cụ phán Thành ở vì là cán bộ trung cao của đảng, tiền nhà do cơ quan đài thọ. Vài năm sau, cụ phán Thành chết cũng chỉ được bà con trong họ đạo lo chôn cất. Người con trai chỉ đến viếng như một... người hàng xóm bình thường. Thời gian cứ thong thả đi qua. Nô-en nối tiếp Nô-en, chẳng biết còn được bao người nhớ đến câu chuyện trên, một thời là chuyện cửa miệng của người dân Hà-nội (không phải dân ngụ cư)?

Chuyện tưởng như có tính riêng biệt, ai ngờ đấy chính là "mâu thuẫn mới", của xã hội Bắc Việt Nam, được hình thành từ ngày ông Hồ chí Minh về trú ngụ tại phủ toàn quyền Đông Dương, cho đến ngày phải theo qui luật "có sinh có tử", ông vẫn luyến tiếc cái phủ toàn quyền ấy, vì nó tượng trưng cho uy quyền cá nhân của kẻ ngự tọa trong đó lên đầu nhân dân của ba nước Việt, Lào và Cam-bốt, cho nên lăng của ông được xây liền ngay cạnh phủ toàn quyền cũ, hình thành một "quần thể" kiến trúc biểu tượng quyền uy tối thượng cả khi sống cho đến lúc chết.

TỪ ĐẤU TỐ... ĐẾN VU CÁO

Bốn cuộc cách mạng: cải cách ruộng đất; văn hóa và tư tưởng; cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và chấn chỉnh tổ chức do ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta phát động và thực hiện, đã làm đảo lộn mọi nền tảng đạo đức xã hội, mọi giá trị văn hóa tư tưởng, mọi sản phẩm của thành quả lao động, mọi khái niệm... mà loài người đã phải trả những giá rất đắt trong quá trình lịch sử mới có được, mới định hình được.

Hà-nội là nơi tập trung của nhiều tôn giáo, nhưng chẳng biết từ thuở nào, ngày Nô-en đã trở thành ngày hi vọng của tất cả mọi người, của tất cả mọi nhà. Không ít gia đình Phật -giáo cũng có cây Nô-en trong nhà và dù không là giáo dân, nam nữ thanh niên Hà-nội vẫn dự lễ đêm Chúa Giáng-sinh với đầy tôn kính.

Chẳng biết dưới triều Tự Đức, giáo dân bị giết ra sao, nhưng đến "thời đại Hồ chí Minh" thì giáo dân (ở Bắc Việt Nam) là đối tượng nặng nề nhất và lâu dài nhất chịu đựng mọi thủ đoạn tàn bạo của ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta.

Trong âm mưu chống di cư vào Nam, giáo dân ở Ba Làng đã bị tàn sát cả già, trẻ, phụ nữ có thai. Cánh tay thực hiện "tư tưởng sát nhân" này của ông Hồ chí Minh là trung tá Nguyễn văn Đổng (tức Đồng sỹ Nguyên, sau này vào bộ chính trị cộng đảng và giữ chức phó thủ tướng). Cái tin đau lòng đó đã bay về Hà-nội, và mặc dù vào lúc xế chiều của phong trào đòi dân chủ của Nhân Văn - Giai Phẩm, nhưng người Hà-nội vẫn được nghe một bài thơ truyền miệng (sau này được xếp vào loại "thơ ghế đá"):

"Đồng Sỹ Nguyên, Đồng Sỹ Nguyên!
Theo Hồ ngươi giết con chiên Ba Làng.
Tội ác ngươi nhất thế gian
Trẻ thơ cũng bắn, già làng cũng đâm
Cỏ cây cũng phải khóc thầm
Núi sông cũng phải một lần phong ba
Đảng ngươi, đảng lũ Tàu, Nga
Cộng ngươi, cộng máu, cộng hòa thịt xương
Cách ngươi, một lũ bất lương
Cùng quân ăn cướp, cùng phường lưu manh
Đảng ngươi tội ác rành rành
Chứng nhân còn đó, sử xanh, Đất, Trời
Lũ ngươi đền tội đời đời!"

Tổ quốc tế (thành phần là Ấn độ) có vào Ba Làng thu thập tài liệu, nhưng Khu ủy cộng sản Khu Bốn, cơ quan an ninh và trung tá Nguyễn văn Đổng có "sáng kiến" dựng ra một toán cướp tấn công mấy chiếc xe ô-tô mang cờ trắng có chữ IC của tổ quốc tế, "trấn lột" hết mọi thứ - tất nhiên là đơn từ khiếu nại và mọi hình ảnh tang chứng về vụ tàn sát giáo dân của chính quyền Hồ chí Minh - và còn cho các nhân viên quốc tế này "ăn no" trận đòn hội chợ.
 
Như tình tiết trong một phim ảnh, ở phút gay go nhất thì "công an" và "bộ đội cách mạng" tới kịp thời giải cứu cho tổ quốc tế "thoát chết". Tất cả được sự săn sóc của các cô y tá trẻ, tay mát rười rượi và quà lưu niệm của ủy ban tỉnh và các đoàn thể "vừa hậu hĩnh, vừa giá trị", cho nên tổ quốc tế hỉ hả ra về "cứ như là vừa đi du lịch vào miền Trung, quê của Bác Hồ" cho biết xứ của cách mạng.

Chuyện chưa dừng ở đó. Cơ quan an ninh của ông Hồ chí Minh quyết "đẩy" bằng được một đức cha người Canada tên là Denis Parkett, tên Việt là Cha Quý, ở nhà thờ Nam Đồng, bởi lúc đó trong ủy ban quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam, phái đoàn Canada giữ ghế chủ tịch. Ngón nghề của họ vẫn là bổn cũ soạn lại: vu cáo, tố bậy. Vở kịch do biên kịch và đạo diễn đều là người của cơ quan an ninh thuộc phòng quản lý tôn giáo.

NHỮNG NGƯỜI MỘ ĐẠO

Từ mùa hè 1957, chiều chiều thường có một cặp vợ chồng độ tuổi trung niên đi xe đạp qua ngã Hàng Bột xuống nhà thờ Nam Đồng. Người chồng da mặt đen, cặp lông mày sâu dóm, một hàng râu cứng và rậm trên cặp môi thâm xì và thêm hai con mắt trắng dã có vằn tia máu. Vợ nói tiếng Bắc, hai gò má cao, cặp mắt ướt và mệt mỏi, đầu búi tóc, dáng người sang trọng. Hai người đi bên nhau thật chẳng xứng đôi chút nào.

Đây là hai người đang muốn cải đạo. Họ xuống nhà thờ Nam Đồng để gặp đức Cha người Canada, có tên là Denis Parkett và tên Việt là Cha Quý xin được học kinh bổn. Cùng với hai vợ chồng này, khoảng thời gian đó có 3 chị em gái tuổi xồn xồn cũng xin được học kinh cải đạo ở chỗ đức Cha Denis Parkett.
 
Cô chị tên là Th., ngoài ba mươi tuổi vẫn chưa chồng, đang hứa hôn với một thiếu tá công an; cô em tên là S. có một con gái, chồng tên là Gi..., người phố Hàng Đào, đang ở Pháp chuẩn bị thi tú tài phần 2 và cô em chót là O..

Không biết năm người này khai với cha Quý ra sao về tên tuổi, nghề nghiệp và địa chỉ. Nhưng, nếu ai tò mò thì thấy người đàn ông mắt trắng dã đó tên là Ba, còn vợ là Lê thị Nhung, làm việc ở văn phòng công an Khu Hai Bà (nay là Quận Hai Bà).

Những người "mộ đạo" đó tiếp tục học kinh bổn cho đến tận giữa năm 1958 mới thôi. Bởi vì, nếu ai hay để ý tin trên báo sẽ thấy ở trang hai, báo Thời Mới, chỗ "kín đáo" nhất có một tin ngắn nói về việc chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra lệnh trục xuất "ông Denis Parkett, quốc tịch Canada, có tên Việt là Quý, hành nghề tôn giáo, bị "giáo dân" cáo giác là tuyên truyền phản cách mạng và có biểu hiện hoạt động gián điệp."

Còn năm người "mộ đạo" thì sao? Thưa rằng, vợ chồng bà Nhung trở thành xã viên hợp tác xã đánh máy và in rô-nê-ô Hai Bà Trưng, chịu sự lãnh đạo hai chiều của phòng văn hóa thông tin Khu Hai Bà và P.21 thuộc Sở công an Hà-nội, đời sống khấm khá. Cô Th. lấy chồng là thiếu tá công an, trưởng phòng quản trị hành chính thuộc Cục Lao Cải (sau đổi tên là Cục quản lý trại giam), dưới quyền thiếu tướng Lê hữu Qua - người chỉ huy công tác bảo vệ phái đoàn Phạm Văn Đồng dự hội nghị Genève 1954 về Việt Nam. Cô em tên là S., đầu năm 1959 được đặc cách cho cùng con gái sang Pháp đoàn tụ với chồng.
 
Còn cô O., lấy chồng là một giáo viên. Tất cả chẳng ai rửa tội theo đạo cả. Chẳng cần suy diễn, chúng ta cũng có thể hiểu họ đã đóng vai gì trong vở kịch của me-sừ Dương Thông đạo diễn.

VẾT DẦU LOANG

Nếu trên mặt báo, tin trục xuất Cha Denis Parkett được xếp ở chỗ "kín đáo" bao nhiêu thì ngoài đời tin ấy lan nhanh trong người dân Hà-nội. "Người ta" kháo nhau là có hoạt động "gián điệp và phản động" trong sinh hoạt tôn giáo. Rồi cũng lại "người ta" xì xầm rằng tạm thời nên tránh đến các nhà thờ, "Chúa ở trong lòng mỗi chúng ta", cứ ở nhà mà cầu kinh cũng được, lúc này biết ai là "giáo ngay" ai là "giáo gian".
 
Ở trường học, tự nhiên các em học sinh cũng bắt đầu nhìn những bạn mình là công giáo bằng "con mắt cảnh giác cách mạng", ở khu phố người ta cũng hay nhòm ngó gia đình giáo dân hơn. Các xứ đạo, các nhà thờ thường xuyên có những bộ mặt lạ lãng vãng đến nhẵn mặt dân trong khu vực, chẳng ai nói với ai nhưng ai cũng biết là "công an mật" đang "làm nhiệm vụ" (?).
 
Cơ quan an ninh của ông Hồ chí Minh cho âm binh đi diễu ngày đêm như vậy cùng với những tin đồn "giật gân" nào là ở nhà thờ X. vừa thấy cờ tam tài, ở nhà thờ Y. thì bắt được lựu đạn v.v... và "kẻ gian" thường lợi dụng những buổi lễ ở nhà thờ để họp mặt với nhau v.v... Và, cũng thời gian ấy, không khí "đấu tranh giai cấp" trong cải cách ruộng đất, trong chống bè lũ Nhân Văn - Giai Phẩm... càng làm mọi người hoang mang, đến nỗi ai nhìn vào nhau cũng thấy "địch", cũng lo "cảnh giác" kẻo bị địch "lợi dụng". Rồi cứ thế, mọi người biến thành "con rùa" lúc nào cũng rụt cổ vào mai cho "chắc ăn". Nhà thờ vắng tanh trong các buổi lễ. Cổng nhà thờ nào cũng có ảnh "bác Hồ" chiếu tướng người qua lại. Ai muốn vào nhà thờ, chợt khựng lại khi thấy ảnh "bác" vì tự nhiên bài học "cảnh giác" phọt ra.

Nhiều năm liền, ngày Nô-en chẳng khác ngày thường. Nhà thờ tuy được mở cửa, nhưng chỉ có trẻ em và các cụ "thật già" ở tuổi gần đất xa trời. Cả Hà-nội chỉ có Nhà Thờ Lớn ở phố Nhà Chung (Nhà Thờ) được chính thức làm lễ Giáng Sinh. Ngay từ chiều ngày lễ, công an nổi, công an chìm lượn lờ suốt quanh đó và quanh Hồ Gươm.
 
Nam nữ thanh niên Hà-nội, không là công giáo, hầu như chẳng một ai qua lại khu vực nào có Nhà Thờ tọa lạc, sợ bị ghi sổ đen, sợ bị chụp ảnh lưu trong hồ sơ của Cục 78 bộ công an. Khá nhiều thanh niên công giáo cũng bỏ lễ sợ bị qui chụp là "mê tín, lạc hậu" và có hại cho con đường học hành, công tác sau này.
 
Có điều hài hước là trên các mặt báo ngày hôm sau, ở trang nhất đều có ảnh lễ Nô-en tại Nhà Thờ Lớn với sự hiện diện của đại diện chính phủ. Nếu chỉ đọc báo, ai chẳng nghĩ rằng vấn đề "tự do tín ngưỡng" dưới chế độ Hồ chí Minh được tôn trọng triệt để. Thật là chỉ có nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Và, những đòn phép "khủng bố công giáo" cứ như vết dầu loang vừa bao trùm rộng về diện vừa nhẹ nhàng về phương pháp hành động đã có nhiều kết quả.

MÁU TƯỚI VÙNG CAO

Ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta chưa bao giờ chính thức đề ra chính sách "tiêu diệt công giáo" ở Việt Nam. Trái lại, về văn bản còn thể hiện là giúp đỡ ổn định sinh hoạt "việc đời việc đạo".
 
Cho nên, nếu tìm hiểu số phận giáo dân Việt Nam trong chế độ Hồ chí Minh qua "sách, báo, và công báo" thì chẳng thấy "vấn đề kỳ thị tôn giáo" nơi chính phủ Hồ chí Minh. Phải gạt sách vở ra một bên mà đi tìm "sự việc" đang diễn ra và đã diễn ra trong xã hội Việt Nam dưới chính quyền cộng sản.
 
Bởi vì cả 4 cuộc cách mạng về cải cách ruộng đất, về văn hóa tư tưởng, về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và về chấn chỉnh tổ chức đều bao hàm nội dung "tận diệt tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng." Chính quyền Hồ Chí Minh không giết hoặc bỏ tù "giáo dân" mà giết và bỏ tù "địa chủ, tư sản, phản động" mặc dù có khi người "bị tội" chẳng có một tấc đất, chẳng có một đồng vốn, chẳng làm gì sai chính sách của chính phủ Hồ chí Minh đề ra trên giấy trắng mực đen.
 
Lấy thí dụ tại Hà-nội: các cơ sở của giáo hội bị "ăn cướp" trắng trợn như trường Thánh Mẫu Marie bị lấy làm bệnh viện B để có thể phá bỏ tượng Thánh Mẫu; trường Thánh Paul bị lấy làm bệnh viện tai mũi họng; khu Nhà Chung bị lấy làm câu lạc bộ, và khu nhà các Frères ở đường Cao Bá Quát bị lấy làm viện bảo tàng v.v...
 
Một mặt thu hẹp đi đến thủ tiêu các hoạt động văn hóa, xã hội của Nhà Thờ, mặt khác chính quyền cộngsản dựng ra những tổ chức "Công giáo quốc doanh" như ủy ban liên lạc những người công giáo yêu nước do linh mục quốc doanh Hồ thành Biên cầm đầu, như vậy có hàm nghĩa ai không ở trong tổ chức của Hồ thành Biên là "không yêu nước"(?), như ủy ban liên lạc những người công giáo yêu hòa bình, yêu tổ quốc do con chiên ghẻ là luật sư Dương văn Đàm canh cửa và tờ báo Chính Nghĩa (?).
 
Tất cả đều ăn lương của Mặt trận Tổ quốc - nghĩa là của đảng cộng sản và do cán bộ tôn giáo vận của Mặt trận Tổ quốc giám sát. Nhưng tổ chức "ngụy công giáo" đó chính là bộ phận của cơ quan chuyên chính của chính quyền cộng sản, cho nên tất cả đều đồng lõa với vụ tàn sát hơn một vạn người Việt Nam dân tộc Mèo ở Hà Giang chỉ vì những đồng bào người dân tộc Mèo này bảo vệ các Linh mục và giữ đạo.
 
Sự việc đó xảy ra vào cuối năm 1961, trước khi ông Hồ chí Minh cho lệnh mở đường lên Mèo Vạc với sự giúp đỡ của Trung cộng. Con đường có tên nghe rất kêu là "Hạnh phúc" mà Xuân Diệu hết lời ca ngợi bằng thơ. Để tố cáo trước dư luận và hậu thế, dòng văn nghệ phản kháng cũng ra đời "thơ ghế đá":

"Đứng trên Cổng Trời nhìn về Quản Bạ
Tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian"
Đẹp thay đất nước bạc vàng
Đứng đây sao thấy vô vàn thân thương
Sa-mu san sát bên đường
Cảnh sao hùng vĩ, ngựa giương bờm dài
Đải lầu, vòng bạc, hoa cài
Bản Mèo đứng đó nhìn ai mà buồn
Phải chăng bản nhớ người thương?
Hà Giang, Mèo Vạc máu xương đỏ ngầu
Hồ cộng cùng với Mao Tàu
Giết hơn một vạn kể đâu giống nòi
Mẹ hiền Tổ-quốc đâu rồi?
Dù là thiểu số cũng người Việt Nam
Cũng máu đỏ, cũng da vàng
Búa liềm Hồ cáo bản làng tang thương
Sông Nho Quế máu còn vương
Người Kinh, người Thượng khắc xương ghi lòng
Đoàn kết chống cộng đến cùng
Tội ác Hồ cáo, Lạc Hồng chớ quên!

Ban tuyên huấn trung ương của Tố Hữu và cơ quan an ninh của Dương Thông điên cuồng. Chẳng cần úp mở nữa, nếu người Mèo ở Hà Giang theo Tin Lành thì nhà thờ Tin Lành sẽ là mục tiêu "phỉ báng". Và, thế là Nhà thờ Tin Lành ngay cạnh câu lạc bộ Đoàn Kết, gần nhà Hát Lớn, được lấy làm "trụ sở" cho hợp tác xã Thêu.
 
Các cô, các bà xã viên ngồi từ trong nhà thờ ngồi ra hè... cho vui... bên dưới dòng chữ: “Je suis le chemin, la vérité et la vie”. Con đường đó, khách nước ngoài "bắt buộc" phải qua lại vì nó ngay sau khách sạn quốc tế Thống Nhất (tức Métropole cũ), cái khách sạn này đã có cả từ nhà báo Burchett đến Madelène Riffaud, cho đến nhà thơ nữ Bulgarie, Olga Dimitrova - cô "bồ" cao lớn của Tố Hữu và cả nữ minh-tinh Jane Fonda của Mỹ... tá túc dài dài.

NƯỚC MẮT VÙNG THẤP

Chính quyền cộng sản Hà-nội sợ tiếng nói dân gian đến nỗi "cảnh giác" cả với tay chân. Con trai luật sư Dương văn Đàm chỉ can tội đánh lộn chút chút mà cũng bị công an đến tận nhà xích tay đưa đi cải tạo, trong lúc đó thì con của Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng, cũng như con của trung tướng Nguyễn văn Vịnh, ủy viên trung ương đảng cộng, đều can tội giết người thì được... qua Liên-xô để đào tạo "nhân tài".
 
Đó là cú dằn mặt với cái Hội liên lạc những người công giáo yêu hòa bình, yêu tổ quốc nằm ở góc đường Ngô Quyền - Hai Bà Trưng, ngay cạnh nhà hộ sinh Hoàn Kiếm!

Cái dằn mặt thứ hai là việc bãi chức "không kèn không trống" của chủ tịch huyện Kim Sơn (Ninh Bình) Phạm minh Do, người giáo dân của đất Phát Diệm đã có nhiều công trong kháng chiến chống Pháp và nhiều cống hiến trong phát triển nghề phụ ở Kim Sơn sau 1959.
 
Ông Phạm minh Do muốn đẩy mạnh diện tích trồng cói và nghề nuôi vịt đàn cho giáo dân trong huyện trong lúc Trung ương lại lấy đất của huyện để lập nông trường quân đội mang tên Sao Vàng. Chắc cho đến nay ông Phạm minh Do vẫn chưa hiểu cái thâm ý sâu xa của chính quyền Hồ chí Minh là muốn đặt một đơn vị vũ trang thường trực ở cái đất Phát Diệm, nơi mà mấy cán bộ tôn giáo vận của Mặt Trận Tổ Quốc gọi là "Roma của Việt Nam, Vatican của Đông Dương".
 
Cho nên Kim Sơn tức núi vàng mà dân càng ngày càng kiệt quệ. Tuy nhiên chính quyền cộng sản không thể nào "tiêu diệt" được tiếng chuông Nhà Thờ Phát Diệm. Công an và quân đội chưa có hiệu quả mấy nên Tố Hữu vội góp phần: ông trưởng ty văn hóa Nam Hà được cho ra một tiểu thuyết để "bôi nhọ" giáo dân nhưng không thành công. Nhiều văn nô cũng muốn nhảy vào lĩnh vực này nhưng thấy khó khăn vì thiếu hiểu biết. Chỉ mãi sau này, văn nô Nguyễn Khải - trùm cơ hội - cố nặn ra tiểu thuyết "... Cha và con và..." nhưng chẳng có chút tiếng vang nào. Cùng với thời gian thử thách đức tin, sinh hoạt đạo của giáo dân từ thoái trào lại dần dần lấy lại phong độ như xưa và còn hơn xưa...

NÔ-EN 69 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Năm 1968, đúng là năm con khỉ (mậu thân) cho nên cuộc "Tổng tiến công và nổi dậy" do Hà-nội kết thúc cũng khỉ thật. Quân đội của ông Hồ chí Minh vào Nam làm cuộc "tiến công" nhưng vì nhân dân không "nổi dậy" nên cuộc tiến công đó "chìm xuồng" luôn. Tướng Lê Chưởng, người ra lệnh tàn sát tập thể đồng bào ở Huế, có sự chỉ điểm của những tên nằm vùng là tiến sỹ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ... được ông Hồ chí Minh gọi ra thưởng cho cái ghế Bộ trưởng bộ giáo dục.
 
Thật may cho học sinh Bắc Việt Nam vì Lê Chưởng trên đường ra Hà-nội bị tai nạn ô-tô vọt óc mà chết. Thương tiếc Lê Chưởng, ông Hồ Chí Minh bèn cho vợ Lê Chưởng là Lê Diệu Muội cái ghế thứ trưởng bộ nội thương mặc dù chưa biết làm tính nhân có số thập phân!!! Chính là từ cái năm 1968 này, các nhà thờ tự nhiên buổi lễ có đông con chiên. Họ đến để cầu nguyện cho con, em, chồng, cha...đã bị "sinh Bắc, tử Nam".
 
Công an nổi, công an chìm đành chịu phép trước "thân nhân" của liệt sỹ. Cái mở đầu của 1968 đã làm cho Noel náo nhiệt hẳn lên. Và, sang năm 1969, năm mà ông Hồ chí Minh đi "thăm Các-Mác và Lê-nin", người Hà-nội sau khi phải cố mà khóc "cho có vẻ có lập trường" thì không còn muốn khóc nữa. Một dạng thức phản kháng có tính lây lan hình thành trong thanh niên học sinh, nhất là ở lứa tuổi phải đi lính.
 
Họ đi hàng hai ba chục người đập phá, la hét, gây chuyện với công an và đánh công an để có phải vì thế bị giam khỏi phải đi lính mà rơi vào cảnh "sinh Bắc, tử Nam". Học sinh miền Nam tập kết đánh nhau với thanh niên địa phương. "Dũng sỹ diệt Mỹ" từ miền Nam được cho ra thăm Hà-nội, thủ đô cách mạng, bị "bụi đời" đập chết ở công viên Thống Nhất.
 
 Dân trốn kinh tế mới về sống lẩn lút ở khu Khâm Thiên (Đống Đa) buôn bán trao tay ở Ga Hàng Cỏ đã tổ chức đánh đồn công an Ga ở phố Lý Thường Kiệt, bắt công an trói lại và lấy phất trần "đánh đít" như đánh con nít. Nhiều chuyện tưởng như "bịa" mà diễn ra đều đặn hàng ngày.
 
Cảnh sát được trang bị nón sắt, chó berger và xe mô-tô có thuyền đi tuần tra cũng chẳng làm gì nổi những thanh niên sắp là "bộ đội cách mạng" ấy cũng như những "chú lính mới" được về phép trước khi đi Nam. Tổ chức đoàn thanh niên, cánh tay mặt của đảng vội đẻ ra một quái thai mới gọi là "Thanh niên cờ đỏ" để góp phần giữ gìn trật tự anh ninh ở các nơi công cộng, nhưng vừa khai sinh thì đã thành trò hề.
 
Bởi lần ra quân đầu tiên của đoàn thanh niên cờ đỏ của Hà-nội là "vồ" được Hoàng Tuấn, tổng cục trưởng tổng cục thông tin; trung tá bác sỹ giám đốc Sở y tế Hà-nội và đặc biệt là cả "đồng chí" Phạm Lợi, bí thư thành đoàn thanh niên Hà-nội kiêm chỉ huy trưởng thanh niên cờ đỏ.
 
Cả ba vị đang có hành động "mèo chuột" với nữ nhân viên cấp dưới trong xó tối ở công viên!!! Thanh niên Hà-nội không còn tin vào "đạo đức sáng ngời" của các "lãnh tụ" nữa, nhất là sau này lại xảy ra vụ "đồng chí" Vũ Quang, bí thư thứ nhất đoàn thanh niên lao động, lãnh đạo đoàn đi thăm ông A-gien-đê của Chilie đã "hủ hóa" với ca sỹ Diệu Thúy (người đã có hôn phu) trên đường ghé qua Cuba và bị mật vụ Cuba "tố cáo". Cả Hà-nội ồn lên về vụ "cướp vợ" này.
 
Ông Trường Chinh ra lệnh các cơ quan đoàn thể họp cải chính cho... Vũ Quang. Và, vài tháng sau cũng chính Trường Chinh ủng hộ việc Vũ Quang cứ cưới đại ca sỹ Diệu Thúy đi, mặc cho ngay cả các con của Vũ Quang phản đối. Thôi làm công tác thanh niên, Vũ Quang về làm chánh văn phòng trung ương đảng rồi còn leo tới chức trưởng ban đối ngoại trung ương đảng (thay Nguyễn thành Lê). Và, cô ca sỹ Diệu Thúy bỏ cái nghề "xướng ca vô loài" để dựa hơi chồng buôn lậu đô-la Mỹ và hạt xoàn!!!
 
Cho nên Noel 1969, người Hà-nội, nhất là thanh niên, nô nức đi lễ Nhà Thờ, chính quyền cộng sản đành bó tay chịu thua. Những năm tiếp theo, trong cái lạnh của tháng cuối trong năm, Hà-nội có các hàng sản xuất "lậu" nhưng lại bán "công khai" tấp nập để phục vụ lễ Giáng Sinh.
 
Cả ngoại thành, nội thành từ bảng lảng chiều đã nô nức kéo về khu vực Nhà Thờ Lớn. Hàng Bài từ đoạn ngã tư với Hai Bà Trưng đã phải cấm xe cộ. Quanh Hồ Gươm người người chen nhau như nêm.
 
Quanh Nhà Thờ Lớn người đứng đông đến nỗi tràn kín cả cổng chính của tòa soạn báo Nhân Dân. Công an và chó berger không dám nghênh ngang vì đã có nhiều chó berger bị đập chết khi đi trong đám đông... không tìm được "thủ phạm". Những tên công an chìm dễ bị ăn đòn "hội chợ" nếu chót lộ đuôi hoặc có cử chỉ thiếu tôn kính với Chúa.
 
Chẳng còn ai sợ ghi sổ đen hay chụp hình lưu trong hồ sơ của Cục 78 bộ công an nữa. Cả Hà-nội chào đón ngày Chúa Giáng Sinh. Cả Hà-nội bảo vệ đức tin của Chúa. Và, Noel lại trở lại là niềm hy vọng của mọi người, mọi nhà.

Tháng 11-1992

Việt Thường

 

Tập Cận Bình: Hitler Á Châu?


 

Tp Cn Bình: Hitler Á Châu?

 

Vi Anh


Nhiều dấu chỉ cho thấy Tập cận Bình muốn đánh dấu thời đại của mình như một thời đại phục hoạt “đại dân tộc Trung Hoa” như Hitler đã làm sau khi nước Đức bị nhục, đất nước bị xâu xé sau khi thua đại chiến thế giới lần thứ nhứt. Ông Tập cận Bình lợi dụng và khai thác tối đa tinh thần thượng tôn dân tộc cố hữu của các triều đại vua chúa Trung Hoa, khính động tối đa tinh thần quốc gia cực đoan với khẩu hiệu “phục hưng đại dân tộc Trung Hoa”, biến Trung Quốc thời Cộng sản thành bá chủ khu vực như thời xa xưa.

Đầu tháng 12 năm nay, vừa mới được Đảng CS Trung Quốc cử làm Chủ Tịch Đảng và Chủ tịch Quân ủy Trung Ương, chưa nhận được bàn giao quyền hành “nhà nước”, ông Tập Cận Bình mau mau mặc lại bộ quân phục, đi thăm một đại đơn vị của Quân đội Giải phóng Nhân dân của TC ở Quảng Châu. Trước ba quân tướng sĩ, Ông mạnh dạn và tự hào nói Ông sẽ tăng cường quân lực, đó là yếu tố then chốt để thực hiện «giấc mơ Trung Hoa» của ông. Ông tin tưởng «Giấc mơ này có thể được xem như là giấc mơ của đại dân tộc, và đối với quân đội, đó chính là giấc mơ của một đội quân hùng mạnh».

Trong thời làm Phó Chủ Tịch Nước, Ông là người làm ra chính sách và chỉ đạo các vấn đề Biển Đông của TC. Bây giờ cờ đã vào tay, Ông bắt đầu thời đại của Ông bằng việc chỉ đạo nhiều chiến dịch khích động tinh thần thượng tôn dân tộc Trung Hoa trong quần chúng nhân dân TQ.

Đối với Việt Nam, hồi tháng 11 vừa qua, người ta thấy nhà cầm quyền tỉnh đảo Hải Nam ra lịnh cho lực lượng tuần duyên lên tàu, lục soát, và trục xuất các tàu thuyền qua lại trong vùng lãnh hải rộng lớn mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền. Và đầu tháng 12 này, tàu TC cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 2, thuộc tập đoàn quốc doanh Petro Vietnam.

Còn đối với Nhựt, một làn sóng biểu tình bài xích Nhựt nổi lên ở Trung Quốc. Nhà cầm quyền ở các thành phố kinh tế, kỹ nghệ lớn của TQ kích động tinh thần bài Nhật trong “quần chúng nhân dân”, mặc thị xúi dục dân chúng biểu tình chống Nhựt, đập phá cơ sở của người Nhật, tẩy chay sản phẩm Nhật, kể cả liệng đá vào của đại sứ Nhựt. Số xe hơi của Toyota, Honda sản xuất và bán ra tại TC giảm nhiều.

Tiêu biểu nhứt là dàn dựng cuộc biểu tình của 9 ngàn người Trung Quốc vào ngày 13/12/2012, gọi là tưởng niệm 75 năm vụ lính Nhật thảm sát và cưỡng hiếp người Trung Hoa ở thành phố Nam Kinh. Theo TC thì quân Nhựt đã tàn sát 300.000 người Trung Hoa và hãm hiếp mấy chục ngàn phụ nữ trong cuộc tiến chiếm thành phố Nam Kinh trong 6 tuần lễ, bắt đầu vào 13 tháng 12 năm 1937. Nhưng theo sử gia Mỹ, Jonathan Spence, chuyên nghiên cứu về Trung Quốc, chỉ có 42.000 thường dân và binh lính bị giết chết và 20.000 phụ nữ bị hãm hiếp, trong số này nhiều người đã chết sau đó.

Theo ghi nhận của báo Pháp Le Monde, Ô.Tập Cận Bình rất thiết tha với niềm tin và quyết chí «Đại phục hưng dân tộc Trung Hoa». Bài diễn văn đầu tiên Ông đọc trước báo chí và công chúng sau khi Đảng CSTQ “cộng đồng tuyển trạch” làm Chủ Tịch Đảng và Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương của Ông, ngày 15/11, Ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần giấc mơ «Đại phục hưng dân tộc Trung Hoa».

Ông còn thể hiện niềm tin và ý chí ấy qua việc đích thân Tổng bí thư Đảng đến dự một buổi triễn lãm mang chủ đề «Con đường của sự phục hưng» tại Viện Bảo Tàng quốc gia Trung Quốc.

Một dàn cảnh tạo ép phê sân khấu ngoạn mục dưới ánh sáng đèn màu của tinh thần thượng tôn dân tộc cố hữu và cực đoan của vua quan Trung Hoa coi quốc gia dân tộc mình là “trung tâm”, là bá chủ còn các nước xung quanh vốn là man di, chư hầu mà Trung Hoa ra ơn khai hoá.

Tinh thần bá chủ cố hữu của vua quan đó bây giờ được Đảng Nhà Nước TC hồi sinh với giai cấp thống trị là Đảng CS nắm toàn quyền độc tài đảng trị trên xã hội Trung Quốc. Độc tài vua chúa chỉ là độc tài cá nhân, độc tài gia đình; còn độc tài CS là độc tài đảng trị toàn diện, mạnh bạo, khắc nghiệt, triệt để hơn nhiều.

Điểm báo Le Monde, Đài RFI nhận xét, “chính Đảng cộng sản đã tái sinh ra một Trung Quốc sau những sự kiện «nhục nhã» trong thế kỷ XIX… Sự tôn vinh tinh thần dân tộc được nâng lên đến mức tối đa. Tư tưởng này được biểu hiện qua việc sao chụp lại một tấm hình lớn mô tả quang cảnh vào thời xa xưa, sứ thần từ các nước lân cận đến dâng cống nạp lên hoàng đế Trung Hoa.

Chính Ô. Tập cận Bình còn nhân cách hoá mình với giấc mơ “đại dân tộc Trung Hoa”. Nhơn một cơ hội long trọng trình bày về lịch sử Đảng CS, Ông Tập Cận Bình “thật thà khai báo”: «Ai cũng nói về giấc mơ Trung Hoa. Tôi tin rằng sự phục hưng tinh thần dân tộc Trung Quốc là giấc mơ lớn nhất của đất nước trong thời buổi hiện đại».

Thái độ, hành động phục hưng đại dân tộc Trung Hoa làm bá chủ thiên hạ mà Ô Tập cận Bình đã tích cực thực hiện làm cho người ta liên tưởng đến Hitler khích động người dân Đức, con sư tử ở Âu Châu cảm thấy tủi nhục sau khi thua Thế Chiến 1 bị các siêu cường đối xử tệ bạc. Khích động của Hitler đưa nước Đức trở thành độc tài quốc xã và gây Thế chiến thứ 2, số người chết và thiệt hại nhiều lần hơn Thế Giới Đại Chiến 1.

Với Trung Cộng một chế độ độc tài đảng trị toàn diện, Tập cận Bình bây giờ trên phương diện đối nội, dễ làm hơn Hitler vì độc tài CS đã có sẵn rồi và tinh thần thượng tôn dân tộc cực đoan của Trung Quốc là cố hữu.

Đối ngoại hành động ngoại giao của Mỹ trong vấn đề Biển Đông, cứ tuyên bố Mỹ dứng trung lập trong các cuộc tranh chấp biển đảo. Thái độ đó bắc cầu cho TC làm tới. Tương tự như thời Thủ Tướng Chamberain của Anh xách dù qua lại, to nhỏ, chiều chuộng Đức. Đức thấy phản ứng Âu châu yếu xìu, tấn công thăm dò một nước thấy êm ru, thế là tiến chiếm hầu hết các nước Âu châu, tạo thành Thế Chiến thứ hai. Một thế chiến Mỹ phải tham dự, quân lính Mỹ chết nhiểu nhứt và tốn hao tài sản Mỹ nhiều nhứt./.

 

__._,_.___

CSVN sợ đảng viên “đào mồ chôn đảng”

HÀ NỘI (NV) – Lần đầu tiên tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu chính trị cao cấp của Hà Nội tham dự một cuộc hội thảo diễn ra sáng 27 tháng 12 báo động về nguy cơ “tự diễn biến”.
Báo mạng VNExpress trích tham luận của ông Vũ Văn Phúc, tổng biên tập Tạp chí Cộng sản đọc tại hội nghị này “khẩn báo” về “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thờ ơ, dao động tư tưởng, bàng quan trước vận mệnh của đảng và dân tộc…”
Ông Phúc cho rằng “con số những người sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, tham nhũng hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay là không nhỏ”.
Ông này còn dẫn giải bài học “tự diễn biến” đã làm sụp đổ chế độ cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu trước đây, để cho rằng chế độ cộng sản tại Việt Nam cũng đang đứng trước nguy cơ tan rã.
Ðời sống khó khăn và sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn của người dân trong xã hội là một trong những mối nguy mà CSVN lo sợ.
(Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Mặt khác, phó tổng cục trưởng Tổng Cục An Ninh 2 Vũ Hải Triều thuộc Bộ Công An xác định rằng “các thế lực thù địch bên ngoài hiện nay chỉ là một phần, trong khi cán bộ, đảng viên chống đảng mới là lực lượng chủ yếu đe dọa sự tồn vong của đảng”.
Trong khi đó, bà thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga cũng thú nhận rằng nguy cơ sụp đổ của đảng cộng sản là “có thật,” chứ không phải do họ “tự huyễn hoặc”.
Báo Tiền Phong cho biết, cuộc hội thảo nói trên do Tạp chí Cộng sản và Tổng Cục Chính Trị thuộc Bộ Quốc Phòng Cộng Sản Việt Nam tổ chức tại Hà Nội.
Qua cuộc hội thảo này, người ta thấy giới cán bộ cao cấp của Hà Nội hiện nay không mấy quan tâm đến cái gọi là nguy cơ “diễn biến hòa bình” lâu nay gán cho các lực lượng chống đối ở hải ngoại.
Bây giờ thì theo họ, sự bất mãn, lòng căm ghét của chính cán bộ, đảng viên cộng sản mới thực sự là nguy cơ thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ Cộng Sản Việt Nam. (P.L.)

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link