Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, January 4, 2013

Mất Nước Ở Biển Đông: Niềm Đau Từ Một Sự Sai Lầm Trong Lãnh Đạo Đất Nước


 

Mt Nước Bin Đông: Nim Đau T Mt S Sai Lm Trong Lãnh Đo Đt Nước

 

Võ Ngọc Phước

 

Biển Khơi Đó Là Của Việt Nam Chúng Ta

Có thể nói trong lịch sử của Việt Nam chúng ta không có một sự sai lầm hay sơ suất nào lớn lao như sự sai lầm đưa đến “sự mất nước ở Biển Đông” như hiện nay. Bởi vì, nguyên nhân của sự “mất nước ở Biển Đông” này không phải chỉ là do sự chủ động bành trướng xâm chiếm của phía Trung Quốc mà còn là do sự “hổ trợ phụ giúp từ căn bản” cho sự xâm chiếm này từ phía đảng Cộng Sản Việt Nam.

Mà đau đớn thay cho “hậu quả của sự hõ trợ này” là cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, do ông cha chúng ta đã khổ công gầy dựng xây đắp đến ngày nay, cũng đã bị Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm như đang được thấy rành rành trước mắt hiện nay.

Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử cúa Việt Nam, dù có phải trải qua nhiều thời kỳ cay nghiệt bị ngoại bang đô hộ hay chìm đắm trong khói lữa binh đao của việc huynh đệ tương tàn, nhưng một khi người dân nhìn ra biển khơì thì vẫn biết đó là biển khơi của Việt Nam, là của đất nước.

Nhưng, ngày nay, khi nhìn ra biển khơi, thì vẫn là màu nước biển như xưa kia nhưng không ai cón có thể nghĩ được điều tất nhiên đó là như trước đây. Đúng vậy, chúng ta đang bị mất nước ở Biển Đông. Đây là một niềm đau vô cùng cho đất nước và cho cả dân tộc.

Nhín ra biển khơi, các nhóm đảo xa bờ của chúng ta nay đã bị ngoại bang mặc nhiên đến chiếm đóng và đang cho xây cất ồ ạt các cơ sở, các, công trình của họ mà không gặp phải sự kháng cự nào của phía chúng ta. Hơn thế nữa, các tàu thuyền bé nhỏ của ngư dân chúng ta lại đang bị phía Trung Quốc chận bắt và hà hiếp lúc nào không hay ngay trên các vùng biển của chúng ta.

Đó là điều thật quá oái ăm cho “tình thần liên đới huynh đệ giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc và Việt Nam”., mà các cấp lãnh dạo của hai đảng cộng sản của hai nước này vẫn luôn luôn ca ngợi lẫn nhau và tuyên truyền cho người dân hai nước.

Trong một bối cảnh như vậy, chắc chắn là các “lãnh đạo của phía nước Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam” đã phải thật quá ngỡ ngàng và vỡ lẽ khi được nghe “đàn anh Trung Quốc” cho biết cái “hải phận chín khúc” mà họ đã tự vẽ ra bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển của chúng ta, và bắt buộc phía Việt Nam phải chấp nhận tuân thủ các qui định phi lý của họ đặt ra. Họ đã căn cứ váo chứng cớ các tuyên cáo trước đây của họ vè việc chủ quyền biển đảo ở Biển Đông với sự đồng tùnh của các lãnh đạo ở Hà Nội.trong thập niên 1950.

Đến mức này thì các “lãnh đạo của phía đảng Cộng Sản Việt Nam” đã phải “sáng mắt” ra vì sự việc này. Nhưng vì trong vị thế yếu kém trước đàn anh Trung Quốc, do các sai lầm sơ khởi khi “bày tỏ sự đồng tình ban đầu với họ trong việc này”, nên đành phải muối mặt chấp nhận thân phận của kẽ “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Vì vậy chăng mà phải chỉ cho phép “đàn em phản đối bằng miệng cho xong chuyện” hay “tự mình trình bày lanh quanh về các phương cách đối phó vấn đề” nơi công khai mà thôi.

Cùng lúc cho những việc này, thì ngoài sự trấn áp tàn bạo người dân quá nóng lòng trong vấn đề này, nhà nước cộng sàn Việt Nam lo việc thực hiện các “hoạt động mị dân” bằng nhiều phương cách bao gồm việc cho cái quốc hội của đảng làm ra cái Luật Biển, cho mua vài chiếc tàu lặn và chiến đấu cơ của Nga, cho đóng vài tàu tuần dương, hay cho đăng lên các hình ảnh tuyên truyền của một vài vị trí trên các quần dảo này với cờ xí của phía Việt Nam được giương lên để nhằm làm cho người dân có cái cảm tưởng là “nước non vẫn còn đó”.và “đảng đang lo đối phó”.

Trong lúc đó thì Trung Quốc vẫn cứ ngang nhiên, sau khi cho qui pháp về hành chính và quân sự cho Thành Phố Tam Sa vừa được thánh lập, đã cho xây dựng ồ ạt các hải cảng, sân bay, căn cứ và hạ tầng cơ sở ở các vị trí chính yếu trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta và cho lực lượng hải quân triển khai hung hậu trên các vùng biển này để bảo trợ chắc chắn cho sự cai trị ngang ngược này của họ.

Lầm Lỡ Chỉ Vì Lãnh Đạo Quá Dại Khờ

Như mọi người đã được biết, kể từ đầu năm nay 2013, các tàu tuần tra hải giám của Trung Quốc được phép bắt giữ và tra xét các tàu thuyền nước khác trên cái “hải phận chin khúc” đó; nhưng như ai ai cũng biết, chắc chắn là Trung Quốc nhằm điều này vào các tàu thuyền của phía Việt Nam.

Như vậy, liệu các đối phó chậm chạp và yếu ớt của phía Việt Nam như hiện nay có kịp thời chận đứng hữu hiệu được các động thái ngang ngược của Trung Quốc hay không. Câu trả lời là “Chắc Chắn Không”. Như vậy là có nghĩa Việt Nam sẽ phải tiếp tục cúi đầu thuần phục Trung Quốc. Và đây cũng là điều ước mong của nhóm lãnh đạo thân Trung Quốc trong hang ngũ đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Nhằm đến nhiều mục đích cho việc muón trở thành một nước lớn, tham vọng bành trướng ra xâm chiếm toàn vùng Biển Đông, thật ra, dã được Trung Quốc ấp ũ nuôi dưởng từ trước nay, ngay sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc thâu tóm và cai trị được phần lục địa của nước này.

Tuy nhiên sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông và Đông Nam Á không những đã thật sự làm cản trở cái kế hoạch này, mà còn cản trở cả tham vọng trở thành một nước lớn của Trung Quốc. Vì vậy, Trung Quốc đã quyết tâm dùng “chiêu bài chi viện cho Hà Nội” để đánh Mỹ, đánh chiếm Miền Nam, và do đó có thể xua đuổi được Mỹ ra khỏi vùng biển này để “dọn đường cho việc bành trướng xâm chiếm“. Rồi cùng với sự trưởng thành kinh tế, Trung Quốc sẽ có thể trở thành một nước lớn.

Cái “chương trình từng bước” như vậy thật ra quá là quá đơn thuần và dể hiểu nhưng không biêt vì sao các lãnh đão của Hà Nội vào lúc ấy không thể “nhìn thấy được cái “dã tâm xúi dục cho anh em một nhà đánh giết nhau” này của Trung Quốc để mà phòng tránh.

Có thể đã có sự hỗ trợ của nhóm lãnh đạo thân Trung Quốc trong hang ngũ đảng Cộng sản Việt Nam vào lúc đó. Hay cũng có thể chỉ vì quá mãn nguyện khi được nước đàn anh xã hội chủ nghĩa này cung cấp cho vô số súng ống đạn dược để đánh Mỹ, đánh chiếm Miền Nam và lại còn được họ tung hô ca ngợi là “anh hung này nọ” nên đã vô cùng hăng hái dù phải hy sinh bao sinh mạng để việc đánh phá để “dọn đường cho họ chiếm cứ Biển Đông này”

Dù với bất cứ lý do nào đi nữa, thì hậu quả đau thương dưa đến cho đất nước ngày nay cũng đã chứng tỏ rõ ràng sự khinh xuất hay sai lầm trong lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam khởi đầu từ những thới điểm đó.

Vì rằng chắc chắn các lãnh đạo ở Hà Nội đã phải lắm ngỡ ngàng khi phải nhìn thấy hình ảnh Chu Ân Lai “mớm cơm” Kissiger ở Thượng Hải vào năm 1972, rồi quan cảnh “thân tình thân thiết” giữa Mao Trạch Đông và Nixon cùng các lãnh đạo của hai nước Mỹ-Trung trong những hội họp và tiệc tùng ở Bắc Kinh ngay sau đó, những “vị khách quí của Trung Quốc” mà chỉ vài ngày trước đây được hai nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc và Việt Nam gọi là “kẽ thù chung”.

Cũng như nhờ vào “thành quả của sự xúi dục Hà Nội đánh Mỹ, đánh phá Miền Nam” mà Trung Quốc đã thỏa được nguyện vọng là “kéo Mỹ đến lại gần để nói chuyện bang giao” và để dàn xếp những chuyện lợi ích liên quan cho nhau.

Ngay sau đó thì Mỹ đã cho oanh tạc Hà Nội dữ dội để “dằn mật trước khi ra đi” và Hà Nội đã phải điều đình để vay mua trên 500 hỏa tiển phòng không SAM của Nga để có thể đối phó với B52. Món nợ khổng lồ này nay cả nước đang phải trang trải bằng sự hợp tác cho khai thác các giếng dẩu ở Biển Đông. Nghĩa là cả Trung Quốc và Nga đã hăng hái chi viện cho Hà Nội “chiến đấu” là đều có “lý do lợi ích ở Biển Đông”.

Bao nhiêu sinh mạng người dân và tài nguyên ở hai miền đất nước Việt Nam đã phải hy sinh để cho ngày nay Trung Quốc được ngang nhiên ra chiếm cứ Biển Đông và trả nợ cho Nga. Phải chăng chỉ có con đướng đau thương này để đi đến sự thống nhất đất nước. Nhất là phải còn đày đọa người dân dưới cái ách cộng sản ác nghiệt và lỗi thời..Trách nhiệm về sai lầm lãnh đạo, dù ở thời đại nào, rồI cũng sẽ được lịch sử xét xử phân minh về sau này.

Có thể ngày nay một sốcác lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhận thấy được các sai lầm sơ đẳng hay cũng là các sơ suất ấu trĩ của họ trong việc lãnh đạo đất nước trước đây đã làm cho nước nhà phải đi vào tình trạng chinh chiến điêu linh rồi phài “mất Biển Đông cho Trung Quốc”.

Nguyên do chỉ là vì quá dại khờ, nhưng khó thẳng thắn chấp nhận việc sai lầm này trước người dân. Bởi vì, trên quá trình lịch sử của đất nước cho đến nay, với bản chất lòng dạ của những người cộng sản, việc thành thật chấp nhận các sai lầm trong đường lối lãnh đạo thường không được thực hiện trước người dân. Thay vào đó, sự đàn áp hãm hại các công dân có ý kiến chống lại sự cai trị độc tài của họ thì lại được cho tăng cường áp dụng.

Phải Cùng Toàn Dân Lấy Lại Và Gìn Giữ Non Sông

Trước sự ngang ngược của Trung Quốc trong việc ngang nhiên bành trướng chiếm cứ Biển Đông và sự bạc nhược của các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay trong việc kháng cự lại Trung Quốc để gỉn giữ đất nước, người dân Việt Nam không còn mong đợi được gì nữa ở đảng Cộng Sản Việt nam.

Bởi vì, trước sự việc và tình hình nghiêm trọng cho đất nước như vậy, nhưng các lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam thì một mặt vẫn cho tiếp tục các phương cách đối phó một cách bạc nhược và chậm chạp bằng cách chỉ “nói phản đối cho có chuyện” như đã thấy hiện nay. Một mặt khác thì lại cho tăng cường trấn áp bằng cách bắt giam và hãm hại các công dân đòi hỏi nhà nước cộng sản Việt nam phải cương quyết việc bảo vệ non sông.

Trước tình hình như vậy, chúng ta chỉ còn phương cách là phải cùng toàn dân thấu hiểu sự quí báu của giang sơn gấm vóc mà ông cha chúng ta đã khổ công gầy dựng để tận tâm tận lực ra sức gìn giữ bảo vệ các phàn đát biền đảo và vùng biển đang bị Trung Quốc chiếm cứ ngày nayy.

Có nghĩa chúng ta phải cùng toàn dân luôn luôn tận lực kêư gọi nhắc nhở việc này cho các lớp trẻ trong và ngoài nước. Dù biết rằng các lớp trẻ trong nước đang bị “bóp nghẹt để chùn chân” trong ý thức tranh đấu cho đất nước. Dù biết rằng các lớp trẻ ở ngoài nước, do bối cảnh và môi trường sinh hoạt ở nước ngoài, có phần khó khăn trong tiếp cận với tinh thần tranh đấu cho đất nước.

Đièu chắc chắn là chúng ta không thể có binh lực to lớn như Trung Quốc được. Nhưng, để dối phó hiệu quả với sự xâm lăng của Trung Quốc, chúng ta phải chứng tỏ có lòng đoàn kết yêu nước thương nòi cao hơn họ. Chúng ta phải chứng tỏ cho Trung Quốc và cả thế giới biết rõ được điều này Và chúng ta phải cùng toàn dân cương quyết phản kháng sự bạc nhược và sai lầm lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt nam trước Trung Quốc.

Có làm được như vậy thì chúng ta mới có thể cùng toàn dân làm ra được các sách lược tranh đấu và chương trình hành động hữu hiệu để lấy lại và gìn giữ các vùng biển đảo đang bị kẽ thù xâm chiếm. Mà trước hết là việc phải loại bỏ các thành phần thân Trung Quốc, bọn làm tôi tớ cho Trung Quốc, trong hang ngũ lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Bọn họ đang nối giáo cho giặc.

Trước bài học đau thương mà Tây Tạng đã phải hứng chịu, chúng ta phải cùng toàn dân luôn luôn tâm niệm là nếu chúng ta không đồng tâm mạnh dạn cùng nhau kháng cự mãnh liệt trước kẽ thù, thì một ngày nào đó, không riêng gì các biển đảo ở Hoàng sa và Trường sa và các vùng biển của chúng ta ở Biển Đông bị mất đi luôn mà là cả giang sơn đất nước Việt nam của chúng ta cũng có thể trở thành một Tây Tạng thứ hai trước kẻ thù Trung Quốc.

Võ Ngọc Phước

 

Giã Từ Toàn Cầu Hoá


 

Giã T Toàn Cu Hoá

 

 Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng RFA

 

Việt Nam nên sớm nghĩ đến nâng cao khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa...

Thế giới vừa trải qua một chu kỳ năm năm đầy biến động, lồng trong trận Tổng suy trầm kinh tế 2008-2009 và ba năm đình trệ. Biến cố kéo dài này tất nhiên đã chi phối những tính toán kinh tế của mọi quốc gia và của mọi người trong từng quốc gia. Hậu quả sẽ ra sao trong mấy năm tới? Vào dịp đầu năm, Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về biến chuyển ấy qua phần trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Theo thông lệ, khi mở đầu năm mới, diễn đàn của chúng ta thường nhắc đến yếu tố lạc quan và tích cực cho một vận hội mới. Nhưng những gì xảy ra cho kinh tế thế giới từ mấy năm qua khiến người ta khó thấy lạc quan mà cần nhìn vào những rủi ro có thể xảy ra trong thời gian tới. Vì vậy, chương trình kinh tế đầu tiên của năm 2013 cố phác họa một số viễn ảnh cho thời kỳ trước mặt để còn tự chuẩn bị. Ông nghĩ sao về đề nghị này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đều ý thức được những giới hạn của con người khi dự báo tương lai, nhất là tương lai kinh tế, vốn tổng hợp sự tính toán của cả triệu cả tỷ tác nhân ở nhiều nơi. Nhưng xuyên qua những chuyển động tưởng như hỗn loạn phi lý người ta vẫn có thể nhìn ra một số yếu tố hợp lý. Sau những năm đầy biến động vừa qua, ta thấy rằng trật tự cũ mà nhiều người tin là vĩnh viễn trường cửu lại bị đào thải và thế giới có thể bước qua một trật tự khác. Vì vậy, mình thử nhìn vào các chỉ dấu tiên báo viễn ảnh mới để còn phần nào tự chuận bị lấy thân.

Vũ Hoàng: Như vậy, xin ông khởi đầu bằng cách trình bày lại bối cảnh chung ngõ hầu mình có thể thấy ra một số điều hợp lý giữa những biến động chung.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Về bối cảnh chung, ta có thể thấy năm năm vừa qua là thời trả nợ sau chu kỳ 30 năm vay mượn quá sức của ba khối kinh tế công nghiệp hoá và giàu có nhất thế giới. Biến cố ấy khởi sự từ đầu năm 2008 và giải thích bao khó khăn dồn dập của ba anh nhà giàu mắc nợ là Nhật Bản, Hoa Kỳ và Âu Châu. Khi các nước giàu có nhất lại thu vén chi tiêu để còn trả nợ thì kinh tế toàn cầu bị suy trầm và rất chậm phục hồi. Đấy là một lẽ.

- Thứ hai, bên ngoài kinh tế thì còn chuyện sinh tử là an ninh. Sau 10 năm tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo, Hoa Kỳ ngập nợ phải tìm cách thoát khỏi những khó khăn đó. Nhưng khoảng trống do nước Mỹ để lại trên toàn cầu và các bài toán dồn dập khi phải trả nợ lại là sự cám dỗ cho chính sách bành trướng của Trung Quốc và gây phản ứng phòng thủ từ các quốc gia khác. Cùng những khó khăn kinh tế chung của toàn cầu, phản ứng này có chi phối chiến lược phát triển của các nước.

- Thứ ba, trong Liên hiệp của 27 nước Âu Châu và khối tiền tệ thống nhất của 17 nước cùng dùng chung đồng Euro, khó khăn tài chính dồn dập trong bốn năm liền cũng gây thất vọng cho nhiều nước và dẫn đến phản ứng quốc gia dân tộc, trong tinh thần xin tạm gọi là "đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ".

- Nói chung là tinh thần bảo thủ và co cụm của nhiều nước trên thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi riêng. Nhìn trên toàn cảnh của ngần ấy chuyển động thì ta thấy ra một hậu quả bất ngờ cho cả thế giới, đó là sự thoái lui của trào lưu toàn cầu hóa. Mà điều đáng tiếc này thật ra cũng hợp lý.

Vũ Hoàng: Ông vừa nói đến một điều rất lạ, thậm chí là nghịch lý. Đó là "điều đáng tiếc mà thật ra cũng hợp lý". Xin đề nghị ông giải thích cho sự hợp lý này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng trước hết thì con người cũng là một sinh vật kinh tế nên phải thường xuyên ứng xử với hoàn cảnh hay chính sách để tìm lợi ích cao nhất. Nhưng người ta thay đổi với loại đổi thay lâu dài chứ không lụp chụp chạy theo biện pháp hay chính sách ngắn hạn. Vì vậy, sự thay đổi lớn lao này mới chậm xảy ra mà nếu chỉ để ý đến biến cố ngắn hạn thì ta cho là bị bất ngờ. Mà nếu chính sách lại đề ra cho một bài toán ngắn hạn thì có thể gây ra điều mà người ta gọi là "hậu quả bất lường" hay "liều thuốc đổ bệnh". Bây giờ ta mới suy ra khung cảnh toàn cầu trong trường kỳ.

- Về trường kỳ, hình thái sinh hoạt kinh tế của các nước có thay đổi và khu vực chế biến của các nước công nghiệp hoá đã thu hẹp và nhường chỗ cho khu vực dịch vụ. Tức là các nước giàu có đã đẩy đầu tư về chế biến cho các nước đang phát triển làm gia công để tìm lợi thế nhân công rẻ và điều ấy có góp một phần cho hiện tượng toàn cầu hóa và tự do chuyển dịch tư bản.

- Thứ hai, trong trường kỳ, ta còn để ý đến sự thay đổi về "thuật lý" hay "technology" là chữ tôi đề nghị về cách tổ chức khoa học kỹ thuật, tương tự như sinh lý hay vật lý trong các bộ môn khoa học kia. Thay đổi về thuật lý có thể là kết quả của bài toán an ninh hay quân sự mà cũng là hậu quả của cơ cấu phí tổn vì người ta cần tìm ra cách sản xuất nào rẻ hơn. Rốt cuộc thì tiến bộ thuật lý cũng đảo lộn luôn cơ cấu phí tổn ấy, thí dụ như về giá biểu của các loại nguyên nhiên vật liệu. Một thí dụ khác là sự cải tiến về thuật lý với máy điện toán và công nghệ tín học làm thay đổi quy trình sản xuất và nâng cao năng suất kinh tế nhưng cũng dẫn đến các bài toán xã hội là thất nghiệp, giáo dục và đào tạo cho các gia đình hay chính quyền.

Vũ Hoàng: Đó là những chuyển động sâu xa về xã hội với ảnh hưởng dội ngược vào kinh tế. Thưa ông, ngoài ra còn có những thay đổi gì khác nữa?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng còn có sự đổi thay chậm rãi mà mãnh liệt hơn, đó là cơ cấu dân số trong các nước.

- Nói chung, dân số địa cầu đã tăng vọt từ sau Thế chiến II nhưng nay đã đi hết chu kỳ và giảm dần. Càng tiến hóa thì càng giảm mạnh và bị nguy cơ gọi là lão hóa dân số. Sự thay đổi ấy cũng chi phối tính toán lời lãi của doanh nghiệp hay chiến lược kinh tế của quốc gia. Một cách cụ thể, lương bổng cho nhân công các nước đang phát triển không còn rẻ như trước khi các nước này trở thành "tân hưng", nghĩa là bắt đầu phát triển.

- Ngoại lệ ở đây là Trung Quốc, có dân số cao nhất địa cầu nhưng lãnh đạo tiêu cực và lạc hậu lại lầm tưởng rằng mỗi người sinh ra là một miệng ăn nên chủ động kiểm soát dân số qua kế hoạch mỗi hộ một con. Hậu quả là dân số cũng bắt đầu bị lão hóa, là người dân chưa giàu đã già, và lợi thế về nhân công nhiều và rẻ nay mất dần cho các nước khác vì doanh nghiệp của các nước tiên tiến đi tìm nơi rẻ hơn, có năng suất cao hơn. Mà cao nhất vẫn là trong các nước tiên tiến.

Vũ Hoàng: Sau khi lần lượt tổng kết lại các chuyển động lớn của các nước trên thế giới để dẫn về viễn ảnh trước mắt là sự thoái trào của hiện tượng toàn cầu hóa, ông có thể đơn cử một số dấu hiệu tiên báo cái trật tự đáng tiếc mà có lẽ hợp lý ấy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đầu tiên, chẳng còn ai nói về Vòng Đàm Phán Doha do Tổng thống George W. Bush đề nghị với Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào Tháng 10 năm 2001 để phát triển ngoại thương của các nước nghèo trong tinh thần ngoại thương góp phần gia tăng lợi ích cho mọi quốc gia. Vòng đàm phán ấy thực tế bị khai tử và cơ chế WTO chỉ còn là nơi giải quyết quá nhiều vụ tranh tụng về mậu dịch giữa các hội viên.

- Kế tiếp, chúng ta có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái bình dương mà hai Tổng thống Mỹ đã liên tục đề cao từ 2008 đến 2010 và muốn sớm hoàn thành để phát triển ngoại thương và kinh tế giữa các nước trong vành cung Thái bình dương. Hiệp định ấy bị trở ngại và ngược lại, người ta lo sợ sự lớn mạnh của phản ứng bảo hộ mậu dịch với nhiều đòn trả đũa về ngoại thương để từng quốc gia bảo vệ quyền lợi riêng.

- Giữa các nước đã phát triển với nhau, khó khăn chồng chất bên trong khiến xứ nào cũng tìm cách in tiền, hạ lãi suất và tìm lợi thế của đồng bạc rẻ để xuất khẩu và thoát hiểm. Hiện tượng ấy gây thêm vấn đề ngoại thương và trước hết thu hẹp nguồn tư bản có thể đầu tư vào các nước đang phát triển. Đầu tư trực tiếp giảm sút càng làm các nước nghèo gặp trở ngại khi thị trường xuất khẩu vào các nước giàu cũng co cụm dần. Nếu xứ nào cũng muốn bán hàng ra ngoài thì ai mua bây giờ? Tranh chấp mậu dịch vì vậy chỉ tăng chứ không giảm và toàn cầu hóa bị đẩy lui...

Vũ Hoàng: Thưa ông, riêng tại Hoa Kỳ, là quốc gia có thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới, người ta có thấy ra sự thoái trào ấy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta thấy ra rõ ràng nhất là tại Hoa Kỳ, sau đó mới tới Âu Châu, Nhật Bản hay Trung Quốc, là những khối kinh tế dẫn đầu thế giới.

- Trên chính trường Mỹ, tự do mậu dịch hay toàn cầu hóa hết được coi là lý tưởng mà còn bị kết án là nguyên nhân gây ra thất nghiệp hay thiệt hại cho kinh tế và nhân công Mỹ. Dù sự thật chả đơn giản như vậy, lý luận ấy được rất nhiều người ủng hộ. Trong khi đó, về thực tế thì nhiều doanh nghiệp Mỹ hết thấy thị trường Trung Quốc là hấp dẫn và bắt đầu triệt thoái đầu tư để dồn qua xứ khác. Nhưng đáng chú ý nhất là để sản xuất lấy ở nhà, nhờ tiến bộ mới về thuật lý lẫn thay đổi về cơ cấu phí tổn. Nói chung, nước Mỹ hết tìm nơi làm gia công ở bên ngoài, hoặc chỉ tìm những công đoạn rẻ nhất ở xứ khác. Dù kinh tế Mỹ chỉ lệ thuộc bên ngoài có chừng 12% của tổng số tiêu thụ đấy vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất địa cầu. Nếu doanh nghiệp Mỹ tính lại cho thời gian năm bẩy năm tới thì kinh tế thế giới sẽ bị thiệt hại.

Vũ Hoàng: Câu kết cho đầu năm là gì thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi mong rằng sự thay đổi này chỉ là trung hạn tức là cho năm bảy năm mà thôi vì lợi thế của toàn cầu hóa là điều có thật và khó phủ nhận. Nhưng mình vẫn phải tự chuẩn bị cho tình huống đó. Riêng về Việt Nam thì với thị trường gần 90 triệu dân, Việt Nam nên sớm nghĩ đến nâng cao khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa thay vì chỉ trông chờ vào xuất khẩu và đầu tư của công quyền. Đây cũng là cơ hội nhìn lại lợi thế tương đối của mình trong dài hạn, không thể là nhân công rẻ mà còn tùy vào năng suất, tức là giáo dục và đào tạo. Đấy cũng là lời chúc đầu năm của chúng ta cho thế hệ trẻ tại Việt Nam.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa và kính chúc ông một năm an hảo.

 

__._,_.___

Mộng Mị Đầu Năm


 

Mộng Mị Đầu Năm

(01/02/2013)

Tác giả : Nguyễn Xuân Nghĩa

Ước mơ và ác mộng của lãnh đạo Trung Quốc

Nếu có phải viết về những mơ ước đầu năm, có lẽ mình nên nói về chuyện mộng mị - của Trung Quốc – như sau:

Với các nước trên thế giới, không ai có thể nói về tương lai mà lại bỏ qua Trung Quốc, quốc gia có nền kinh tế đứng hạng nhì địa cầu nhờ có một phần tư dân số của nhân loại và đang mơ giấc siêu cường. Vì vậy, nhân buổi đầu năm mà nhìn vào tương lai, nhất là từ giác độ Việt Nam, xin hãy ngó vào Trung Quốc.... Mộng nhiều hơn mị.

Trung Quốc đã qua ba chục năm cải cách kinh tế với tốc độ được đánh giá là ngoạn mục mà vẫn không giải quyết được bài toán nằm trong gia phả là địa dư hình thể của lãnh thổ. Mà nay, tốc độ ngoạn mục đó đã thành dĩ vãng.

Bài toán địa dư hình thể là Trung Quốc chỉ là một ốc đảo trù phú gồm có một phần ba lãnh thổ nằm bên vùng duyên hải. Ốc đảo vì ngoài biển Đông, khu vực này bị sa mạc, núi rừng và thảo nguyên bao vây ở ba góc còn lại. Miền Bắc là sa mạc Tây Bá Lợi Á và thảo nguyên Mông Cổ. Hướng Tây Nam là rặng Hy Mã Lạp Sơn. Phía Nam là núi đèo rừng rú chia cách với Miến Điện, Lào và Việt Nam. Trung Quốc chỉ có hai hướng để thoát ra ngoài, hoặc tràn ra ngoài với binh đội, mà đều là những hướng vất vả: con đường tơ lụa qua ngả Tân Cương và biên giới với Bắc Việt.

Đa số người dân Trung Quốc sống trong ốc đảo miền Đông, khu vực còn lại là một sự trống trải hoang vu của những vùng chưa khai phá. Sau 30 năm tập trung lãnh đạo theo kiểu Mao Trạch Đông và bị khủng hoảng, từ 1949 đến 1978, 30 năm còn lại là từ 1979 đến 2008 vẫn chưa thể hội nhập các khu vực quá khác biệt này.

Lý do chính khiến cho bốn kế hoạch phát triển các vùng nội địa được ban hành từ hơn 10 năm qua đều thất bại nằm trong hệ thống chính trị của Trung Quốc: nền độc tài đảng trị không chấp nhận dân chủ và cũng chẳng muốn áp dụng thể chế liên bang như các nước có lãnh thổ quá rộng với quá nhiều dị biệt phải dung hòa.

Bài toán của Trung Quốc nằm ở bên trong vì quá nhiều mâu thuẫn nội bộ. Nhưng ác mộng của lãnh đạo xứ này là xứ sở lại bị các nước sâu xé, hoặc bị dị tộc cai trị như đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử. Vì vậy, họ mắc bệnh "tự kỷ" (autism) trong hệ thần kinh là chỉ suy luận về thiên hạ sự từ góc độ của mình và khó hòa nhập với thế giới bên ngoài. Cụ thể là lối suy luận rằng nếu đảng độc tài có thể đem lại cơm áo cho người dân thì sẽ muôn năm trường trị và nhất thống giang hồ mà khỏi bị thiên hạ sâu xé.

Không quốc gia nào trên thế giới ngày nay lại có âm mưu sâu xé ấy, kể cả đệ nhất siêu cường mắc nợ hiện tại là Hoa Kỳ, hoặc ba cường quốc lân bang là Ấn Độ, Liên bang Nga hay Nhật Bản. Nhưng người tự kỷ lại chẳng nghĩ như vậy nên vẫn sợ bóng sợ gió.

Ngày nay, kết quả xảy ra hoàn toàn trái ngược:

Trung Quốc không thể trở thành siêu cường toàn cầu vì có quá nhiều vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị ở bên trong. Nhưng vẫn gây ra mối nguy, hoặc ấn tượng về một mối nguy, cho thế giới khiến các quốc gia khác phải dè chừng. Trong khi về thực chất, quân đội Trung Quốc còn mất cả chục năm mới bảo vệ được vùng biển cận duyên và nhiều thế hệ mới kiểm soát được vùng biển viễn duyên để khống chế thiên hạ.

Chưa có miếng mà đã sớm mang tiếng là một điều tai hại đã được nhắc đến trong... Binh thư Tôn Tử!

Rồi cũng vì sự dè chừng của các nước, lãnh đạo Trung Quốc càng nghĩ rằng mộng mị của mình về chuyện bị liệt cường sâu xé là đúng, nên càng phải diễu võ dương oai. Chuyện lưỡi bò, Hạm đội Nam hải hay Hộ chiếu đặc biệt trên vùng chiếm đóng của nước khác là biểu hiện của tình trạng ám thị vì tự kỷ. "Thiểm quốc là cọp thật, chứ không phải cọp giấy đâu!"

Đâm ra sự hãi sợ của mình dẫn đến nỗi lo ngại của người và cứ thế nuôi nhau trong nghịch lý.

Trong khi ấy, nền kinh tế như cái xe đạp của Trung Quốc - không lăn bánh thì đổ - đã chậm lại mà những dị biệt giữa các địa phương và thành phần dân chúng thì tiếp tục mở rộng.

Mâu thuẫn giữa địa dư hình thể và hệ thống chính trị cùng chiến lược phát triển của ba chục năm qua đã dẫn tới một mâu thuẫn đặc thù Trung Quốc: càng tăng trưởng cao thì nội bộ càng phân hóa.

Khu vực duyên hải cùng các thành phố lớn do Trung ương trực tiếp quản lý đã phát triển rất nhanh theo hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá và hiện đại hóa – với màu sắc Tây phương, tức là ngoại lai, nhìn từ quan điểm văn hoá Trung Quốc. Các khu vực khiếm khai còn lại thì lẹt đẹt theo sau và đòi trung ương tái phân lợi tức, theo lý tưởng đại đồng với màu sắc Trung Hoa.

Trung ương khó dung hòa những mâu thuẫn đó và tìm sự đồng thuận giữa các địa phương và phe phái bằng mẫu số chung nhỏ nhất cho nên không giải quyết được vấn đề, và phải trùm lên tất cả một tấm màn nhung của chủ nghĩa dân tộc. Đảng khôi phục lại danh dự và tự ái của Hán tộc đa số, và hội nhập toàn dân trong sự hài hòa, trước ý đồ đen tối của ngoại bang.

Vì vậy, mâu thuẫn bên trong được khoả lấp bằng khẩu hiệu bài ngoại, nghĩa là dẫn đến nghịch lý về đối sách của các nước. Dù chẳng muốn sâu xé Trung Quốc, các nước cũng không yên tâm về sức bành trướng kinh tế, ngoại giao và quân sự nên đều chuẩn bị cho kịch bản đen tối nhất, là có xung đột.

Không quốc gia nào trên địa cầu lại vĩnh viễn duy trì được tốc độ tăng trưởng 9-10% một năm. Sự tăng trưởng của Trung Quốc lại chỉ có lượng chứ không có phẩm, vì bất công, không cân đối, thiếu phối hợp nên chẳng bền. Khi cỗ xe đạp hết lăn bánh như xưa, là điều bắt đầu xảy ra, trung ương lâm thế kẹt.

Đà tăng trưởng thiếu phẩm chất đã tích lũy nhiều vấn đề, như bất công xã hội, ô nhiễm môi sinh, bong bóng đầu cơ và núi nợ của khu vực công quyền, kể cả các ngân hàng của nhà nước. Khi lãnh đạo Trung Quốc muốn cải sửa thì kinh tế toàn cầu lại bị tổng suy trầm từ 2008 làm số cầu về nhập cảng giảm sút. Họ lại phải tống ga thúc đà tăng trưởng cho cỗ xe khỏi đổ. Mà càng bơm tiền thổi lên bong bóng và chất thêm nợ khó đòi và sẽ mất và càng khiến 15 tỉnh thành ở miền Đông chạy theo thế giới và bỏ mặc khu vực nội địa bên trong.

Thế hệ lãnh đạo vừa được đưa lên thay thế có thể làm những gì?

Một giải pháp cổ điển là lại bơm thuốc cường dương và, như con thiêu thân đi tìm ánh lửa, sẽ lao vào khủng hoảng. Vì vậy, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương phải nói đến việc cải cách vì phẩm hơn lượng, và tương lai không còn thấy đà tăng trưởng của quá khứ, nên động loạn xã hội sẽ chỉ tăng chứ không giảm.

Giải pháp thứ hai là tập trung lại quyền lực vào tay trung ương để có những điều hợp một cách hợp lý hơn. Dù được thấy từ năm 2003, sau Đại hội 16, việc tập trung quyền lực cũng là điều bất khả vì ngày nay, chất keo sơn gắn bó mọi chuyện không phải là ý thức hệ hay lý tưởng cộng sản mà là tiền - và chỉ là tiền.

Sức mạnh của các phe phái đang tranh giành ảnh hưởng bên trong có thể được đếm bằng tiền, là từ các cơ sở hái ra tiền, được phân bố cho tay chân và thân nhân các lãnh tụ ở trên. Có nằm mơ, tư bản chủ nghĩa hoang dại của Tây phương cũng không thể ngờ đến một thiên đường như vậy! Vì thế, Trung ương ở trên cùng chỉ là một tập hợp của nhiều phe nhóm và vây cánh nên không thể lấy những quyết định xâm phạm quyền lợi phe nhóm mà chỉ có thể thỏa hiệp bằng sự bất động, nghĩa là duy trì nguyê trạng.

Mà nếu như có thành, thì tập trung để đi về đâu? Để cải cách kinh tế và chính trị theo kịp thế giới văn minh hay để xoay vào trong theo tinh thần ái quốc kiểu Mao Trạch Đông? Hai hướng này đều được thử nghiệm - như Quảng Đông dưới quyền Bí thư Uông Dương hoặc Trùng Khánh dưới sự lãnh đạo của Bí thư Bạc Hy Lai - mà không thành.

Giải pháp hay giả thuyết sau cùng thì nằm trong gia phả: hiện tượng hợp tan tụ tán trong mấy ngàn năm lịch sử của Trung Quốc sẽ lại tái diễn.

Những vết nứt tự nhiên của địa dư hình thể đã mở rộng vì các thế lực tiền tài ở bên trong và sẽ dẫn tới cảnh tam phân, lục quốc như trong quá khứ. Ở trên cùng, Trung ương như một Thiên tử vô quyền sẽ đành thúc thủ, và chỉ gào thét về tính ưu việt của Hán tộc và về các ý đồ mờ ám của thiên hạ. Trong khi các thế lực tài phiệt đỏ thì đã xây dựng quan hệ với bên ngoài, khi hữu sự thì có bãi đáp kinh doanh ở ngoại quốc. Nhìn xem "Thái tử đảng", đám con cháu của các đại công thần cách mạng, ngày nay giàu có đến mức nào, trải thảm an toàn ở nơi nao, thì ta đoán ra sự thể của năm bảy năm tới.... Vì vậy, lưỡi bò hay hộ chiếu có phải là chuyện mộng mị không nào?

Lời chúc đầu năm ở đây: "lãnh đạo Hà Nội sớm thấy ra sự mộng mị của Trung Quốc mà tìm ra hướng khác." Lời chúc ấy cũng lại là một chuyện mộng mị!

 

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Hoa Kỳ bán thêm vũ khí nhờ chuyển hướng sang châu Á





Thứ năm 03 Tháng Giêng 2013

Hoa Kỳ bán thêm vũ khí nhờ chuyển hướng sang châu Á


Mỹ dự trù bán phi cơ trinh sát Global Hawk cho Hàn Quốc (DR)

Mỹ dự trù bán phi cơ trinh sát Global Hawk cho Hàn Quốc (DR)

Đức Tâm


Hoa Kỳ sẽ bán được nhiều máy bay, hệ thống lá chắn chống tên lửa và các loại vũ khí đắt tiền khác cho các nước láng giềng của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, trong bối cảnh căng thẳng leo thang, đe dọa an ninh khu vực.

Việc tăng cường liên minh và quan hệ với các đối tác an ninh là trung tâm trong chính sách chuyển hướng chiến lược của Hoa Kỳ sang châu Á - Thái Bình Dương trong lúc khu vực này đang có những căng thẳng do tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Bắc Kinh và nhiều nước láng giềng, cũng như do chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng.

Sự chuyển hướng chiến lược của Hoa Kỳ « sẽ làm tăng cơ hội đối với ngành công nghiệp » quốc phòng của Mỹ để trang bị cho các nước đồng minh. Đó là nhận định của ông Fred Dowey, phó chủ tịch phụ trách an ninh thuộc Hiệp hội các ngành công nghiệp hàng không không gian Mỹ, một tổ chức thương mại, tập hợp các nhà sản xuất vũ khí Hoa Kỳ như Lockheed Martin Corp, Boeing Co, Northrop Grumman Corp…

Theo một dự báo của tổ chức này, được công bố vào cuối tháng 12 vừa qua, nhu cầu mua các loại vũ khí đắt tiền của Mỹ sẽ gia tăng trong một vài năm tới. Mối lo sợ trước việc Trung Quốc gia tăng chi phí quốc phòng sẽ làm tăng lượng vũ khí của Mỹ bán cho các nước Đông Nam Á và Đông Á, tới mức đủ để bù đắp lại việc các nước châu Âu giảm mua vũ khí của Hoa Kỳ.

Cơ quan hợp tác an ninh bộ Quốc phòng Mỹ cho Reuters biết, các thỏa thuận mua bán vũ khí với các nước nằm trong phạm vi hoạt động của Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ đạt mức 13,7 tỷ đô la trong năm tài khóa 2012, tăng 5,4% so với năm trước.

Cũng trong năm 2012, Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ đã chấp thuận 65 đề nghị của chính phủ cho phép bán vũ khí cho các đối tác nước ngoài, với tổng giá trị hơn 63 tỷ đô la. Đáng chú ý là trong năm 2011, Ấn Độ đã đứng hàng thứ hai trong số các nước mua vũ khí của Mỹ, với tổng giá trị lên tới 6,9 tỷ đô la, đứng sau Ả Rập Xê Út, bạn hàng lâu đời của Hoa Kỳ là 33,4 tỷ đô la.

Nếu tính từ năm 2008 đến nay, Ấn Độ đã mua của Mỹ 8 tỷ đô la vũ khí. Chính quyền New Delhi có kế hoạch chi khoảng 100 tỷ đô la trong thập niên tới để hiện đại hóa bộ máy quân sự, một phần để đối phó với Trung Quốc.
Sau các cuộc bầu cử trong tháng 12 vừa qua, tân thủ tướng Nhật Bản và tổng thống mới của Hàn Quốc đều là những chính trị gia thân Mỹ và do vậy, có thể thúc đẩy việc mua vũ khí của Hoa Kỳ.


Đối với Washington, việc tăng cường mua vũ khí giúp củng cố quan hệ ngoại giao và thúc đẩy quan hệ đối tác lâu dài với các đồng minh. Ngày 05/12 vừa qua, ông Andrew Shapiro, một quan chức cấp cao thuộc bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận là việc này làm giảm gánh nặng đề lên vai nước Mỹ.

Trong tháng 12, chính quyền Mỹ đã chính thức đề nghị bán máy bay trinh sát chiến lược không người lái Global Hawk cho Hàn Quốc, với tổng giá trị hợp đồng là 1,2 tỷ đô la. Máy bay này có radar nhìn xuyên mây, được trang bị hệ thống cảm biến hồng ngoại, có khả năng hoạt động ngày và đêm, giúp quan sát, theo dõi các mối đe dọa đến từ Bắc Triều Tiên.

Từ bốn năm nay, Seoul đã muốn mua loại máy bay này, nhưng Washington không chấp thuận, vì lo ngại thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang. Nhà Trắng đã thông báo khả năng bán máy bay Global Hawk cho Hàn Quốc ngay sau khi Bắc Triều Tiên phóng thành công vệ tinh mà phương Tây nghi ngờ là một vụ thử tên lửa đạn đạo tầm xa trá hình.

Hai ngày trước vụ Bắc Triều Tiên phóng vệ tinh, chính quyền Washington thông báo cho Quốc hội là Nhật Bản muốn mua hệ thống bắn chặn tên lửa Aegis cải tiến, với giá trị hợp đồng là 421 triệu đô la. Trước đó, Tokyo cũng đã đồng ý lắp đặt thêm một trạm radar X Band thứ hai trên lãnh thổ Nhật Bản để theo dõi tên lửa Bắc Triều Tiên. Tập đoàn Lookheed Martin có thể nhận được hợp đồng chế tạo thiết bị này.

Ông Rupert Hammond-Chambers, thuộc tập đoàn BowerGroupAsia, chuyên tư vấn cho các nhà sản xuất vũ khí Mỹ, dự báo là ngân sách quốc phòng của các nước Đông Nam Á sẽ tiếp tục tăng trước thái độ hung hăng, quyết đoán của Trung Quốc trong các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link