Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, January 7, 2013

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 15) -Người chồng, người cha tồi tệ


 

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 15) - Người chồng, người cha tồi tệ

Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Kính thưa bạn đọc Danlambao, thông suốt 14 phần của loạt bài gồm 15 phần “Những sự thật không thể chối bỏ”, tôi hoàn toàn đề cập đến những lỗi lầm lớn của ông Hồ Chí Minh với dân tộc và đất nước Việt Nam như: bán nước, giết người hàng loạt, làm gián điệp cho Trung cộng, âm mưu Hán hóa Việt Nam và tội ác chiến tranh… Đó chính là những sự thật, những tội ác mà dân tộc ta cần được biết trước sự bưng bít của đảng cộng sản Việt Nam.
 
Bài thứ 15 này tôi xin trình bày về một tội ác cá nhân của ông Hồ với những người vợ và con ông ta. Trong phần này tôi xin không trình bày liệt kê ông ta có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con mà tôi xin chứng minh những điều sau đây: Ông Hồ có vợ con chứ không phải không có như ông ta và đảng cộng sản tuyên truyền “Cả đời hi sinh hạnh phúc riêng tư cho dân tộc”; tại sao lúc còn sống ông ta không dám công khai thừa nhận chuyện này; và sự thật về một đảng cộng sản lừa dối nhân dân cả về đời tư của ông ta.
 
Thật ra, trước tôi đã có nhiều tác giả viết về đề tài vợ con của ông Hồ, hay như DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh” của linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã nói rất rõ. Tuy nhiên tôi viết bài này không nhằm chỉ trích việc ông Hồ có nhiều vợ con, vì với tôi chuyện có nhiều vợ con không phải là tội ác, mà cái chính là ông ta cư xử thế nào với vợ con ông ta và tại sao ông ta lại phải lừa dối dân tộc điều này. Xin được trình bày cùng bạn đọc.
 
A. Bác đâu có “Cả đời hi sinh hạnh phúc riêng tư cho dân tộc”:
 
Theo tôi đối với ông Hồ: Vợ, người tình chỉ để “giải khuây”- con chỉ là “kết quả không mong đợi”. Sở dĩ tôi phải nói vậy vì nếu là một người chồng, người cha tốt thì dù thế nào họ cũng phải thừa nhận với mọi người và chăm sóc vợ con đàng hoàng. Đằng này ông Hồ không hề thừa nhận mình có vợ, con và đối xử với họ tàn tệ. Xưa có câu “Hổ dữ không ăn thịt con” vậy mà ông Hồ không coi trọng nghĩa cũng phu thê, cũng chẳng thương con cái thì làm sao ông ta có thể là vị “Thánh” yêu nước, thương dân như đảng cộng sản tuyên truyền và ông ta tự nhận? Hãy điểm qua những sự kiện chính để thấy điều này.
 
Người Vợ Tăng Tuyết Minh:
 
 
Bà Tăng Tuyết Minh là một người Trung quốc đã kết hôn với ông Hồ khi ông ta còn mang danh là Lý Thụy. Cho đến bây giờ đảng cộng sản vẫn giấu nhẹm việc này, nhưng để chứng minh cho bạn đọc nhất là những người còn tin vào ông “thánh” Hồ Chí Minh thì không phải là một điều khó khăn.
 
Đầu tiên, trên Wiki có bài viết về bà Tăng Tuyết Minh với đoạn như sau:
 
“Tăng Tuyết Minh (chữ Hán: 雪明, 1905–1991) là một phụ nữ Trung Quốc. Theo nghiên cứu của một số học giả Trung Quốc, Pháp, và Hoa Kỳ thì bà đã kết hôn với Hồ Chí Minh, khi đó có bí danh là Lý Thụy vào năm 1926 và đã sống chung với ông được nửa năm cho đến khi ông phải rời Trung Quốc sau vụ chính biến năm 1927.[1][2] Sau này khi Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai người đã tìm cách liên lạc nhau nhưng không được… Tháng 10 năm 1926, hôn lễ giữa Lý Thụy, (bí danh hoạt động của Nguyễn Ái Quốc khi đó) và Tăng Tuyết Minh được tổ chức tại nhà hàng Thái Bình, với sự chứng kiến [3] của Thái Sướng, Đặng Dĩnh Siêu (vợ của Chu Ân Lai) và một số học viên khóa huấn luyện phụ vận.[4] Đây cũng là địa điểm mà Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu tổ chức kết hôn trước đó một năm.”
 
 
Hẳn mọi người còn nhớ ở phần 8 tôi đã chứng minh Lý Thụy chính là một bí danh của ông Hồ khi ông ta hoạt động ở Trung Quốc và Thái khi ông ta chủ mưu bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp. Và bài viết trên Wiki chỉ rõ ông Hồ-Lý Thụy đã cưới bà Tăng Tuyết Minh. Như vậy có thể coi bà Minh là vợ đầu tiên của ông Hồ có hôn thú và hôn lễ đàng hoàng.
 
Thứ hai, hiện nay có một bức thư của ông Hồ - Lý Thụy gửi bà Tăng Tuyết Minh, đã bị mật thám Pháp tại Đông Dương chặn được và giữ lại ngày 14 tháng 8 năm 1928, hiện được lưu trữ tại CAOM (viết tắt của Centre des Archives d’Outre-Mer - Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại) đặt tại Aix-en-Provence (Daniel Hémery, HO CHI MINH De L'Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.) Khi ở Thái Lan ông Hồ đã viết bức thư này có nội dung như sau:
 
“Dữ muội tương biệt,
Chuyển thuấn niên dư,
Hoài niệm tình thâm,
Bất ngôn tự hiểu.
Tư nhân hồng tiện,
Dao ký thốn tiên,
Tỷ muội an tâm,
Thị ngã ngưỡng (hoặc sở) vọng.
Tinh thỉnh
Nhạc mẫu vạn phúc.
Chuyết huynh Thụy.”
 
Dịch nghĩa: “Từ ngày chia tay với em, đã hơn một năm trôi qua. Nhớ thương khắc khoải, chẳng nói cũng hiểu. Nay mượn cánh hồng, gửi mấy dòng thư để em yên tâm, đó là điều anh mong mỏi, và cầu cho nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về, Thụy”.
 
Rõ ràng đây là bức thư gửi người mà ông ta sau này lấy làm vợ. Điều này khẳng định ông Hồ có người vợ đầu là Tăng Tuyết Minh.
 
Thứ ba, Theo bài Hồ Chí Minh với người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, đã đăng trên tạp chí Đông Nam Á tung hoành (Dọc ngang Đông Nam Á), số tháng 12-2001 xuất bản tại Nam Ninh của Hoàng Tranh (Huang Zheng) có viết:
 
“Tháng 5 năm 1950 Tăng Tuyết Minh nhìn thấy ảnh Hồ Chí Minh trên Nhân dân Nhật báo cùng với tiểu sử, bà tin chắc đó chính là vị Chủ tịch Việt Nam. Bà đã cố gắng liên lạc với ông qua đại sứ Hoàng Văn Hoan và tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng tất cả cố gắng của bà đều không thành.”
 
Tăng Tuyết Minh khi đã cao tuổi. Trên tường nhà có treo ảnh Hồ Chí Minh (viet.com.cn)
 
Đây là một tác giả của Trung cộng đã thừa nhận việc ông Hồ có vợ con là sự thật. Việc sau này bà Minh lấy ông Hồ và treo ảnh ông ta trong nhà cũng nói lên sự thật là ông Hồ có vợ là bà Minh.
 
Thứ tư, trong cuốn sách được in năm 1986 tại Liên Xô có tên “Mảnh trời riêng của lãnh tụ” của Mikhail Vasaep - một học giả, nhà nghiên cứu thuộc phân viện lịch sử đảng cộng sản Liên Xô cũ - tại trang 363: “...Ông Hồ Chí Minh cưới người vợ Tăng Tuyết Minh tại Trung quốc sau khi được ông Lâm Đức Thụ tích cực thu xếp…”
 
Như vậy có thể khẳng định việc ông Hồ lấy bà Tăng Tuyết Minh là sự thật qua tài liệu này của tác giả đảng viên đảng cộng sản Liên Xô.
 
Thứ năm, một nhà nghiên cứu thiên tả là bà Quinn khi đề cập đến người vợ Trung Quốc của ông Hồ cũng đã nói trong cuốn sách “Ho Chi Minh: The Missing years” của mình: “Vì một vài lý do nào đó các giới chức tại Hà Nội vẫn chưa chịu đả động gì đến những điều tiết lộ theo đó ông Hồ có liên hệ tình cảm thực sự với những người thuộc phái nữ. Mặc dầu giờ đây phía Trung Quốc đã trình bày trước công luận cả một bức ảnh và một bài viết nói về việc ông Hồ kết hôn với một phụ nữ vào tháng Mười, năm 1926, nhưng Hà Nội vẫn chưa chính thức xác nhận.”
 
Vậy ta có thể thấy là những gì bà Quinn nói trùng khớp vời lời kể của ông Hoàng Tranh và những tài liệu của phía Liên Xô khẳng định ông Hồ cưới bà Tăng Tuyết Minh năm 1926.
 
Thứ sáu, theo tác giả Daniel Hémery: “Lý Thụy không gặp lại được vợ mình là Tăng Tuyết Minh từ sau năm 1927, có thể vì Tuyết Minh bị thất lạc do chiến tranh quốc cộng ở Trung Hoa vào đầu năm 1927.” (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l''Indochine au Vietnam, Nxb. Gallimard, Paris, 1990, tt. 63, 145.)
 
Ở đây cũng cần nói thêm báo Tuổi Trẻ của Thành đoàn Thanh niên CSHCM thành phố Hồ Chí Minh đã trích đăng tài liệu của Daniel Hémery trong số báo ngày 18-5-1991. Tổng biên tập báo này lúc đó là bà Kim Hạnh liền bị kiểm điểm và bị mất chức.
 
Kết luận: Qua sáu dẫn chứng chúng ta có thể thấy ông Hồ thật sự đã cưới bà Tăng Tuyết Minh chứ không phải là cả cuộc đời cô độc, không lấy vợ để lo cho dân tộc như ông ta và đảng cộng sản tuyên truyền. Và sự thật là sau khi đã có thể coi như là “Công thành danh toại” thì ông Hồ lại không thừa nhận và hỏi thăm bà Tăng Tuyết Minh. Như vậy để có thể thấy ông Hồ đâu có phải là người trọng nghĩa phu thê, và là người chồng tồi.
 
Bà Nguyễn Thị Minh Khai:
 
Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941),
một trong những đảng viên đầu tiên
của đảng CSĐD - Nguồn/Ảnh: Ho Chi Minh, A life,
William J. Duiker/TTXVN.
Theo Wiki: “Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.”

(
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Thị_Minh_Khai)
 
Để chứng minh cho việc trước khi lấy ông Lê Hồng Phong thì bà Minh Khai chính là vợ của ông Hồ xin được dẫn chứng như sau:
 
Đầu tiên, trong tập thư của đảng cộng sản Liên Xô hiện lưu trữ tại cục lưu trữ liên bang Nga có một danh sách gửi tới Moscow về tên người tham gia hội nghị đảng cộng sản quốc tế năm 1935 có nói đến việc bà Minh Khai có chồng tên là Lin. Sự việc này cũng được nhà báo Bùi Tín ghi lại trong cuốn sách của mình (Thành Tín, sđd. tr. 151.):
 
“Ngày 25-7-1935, tới Moscow khai mạc đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đại diện đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm có: Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, vợ Quốc và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó. Những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng...”.
 
Cũng cần phải nói thêm Lin chính là một trong những bí danh của ông Hồ. Trên website của tỉnh Thừa Thiên Huế có xác nhận Lin là một trong những bí danh của ông Hồ. Xin giới thiệu link đề bạn đọc kiểm chứng: http://bachovoihue.violet.vn/entry/show/entry_id/6045326.
 
Và cũng một website nữa của đảng cộng sản Việt Nam khẳng định Lin chính là một trong những bí danh của ông Hồ. Đây là bài viết trên website của bộ Nông Nghiệp Việt Nam (http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/122/21/58006/Cac-but-danh-cua-Bac-Ho.aspx). Bài viết trên của ông Nguyễn Lân Dũng có đoạn: “Lin: Dùng tại 5 tài liệu viết từ tháng 1 năm 1935 đến tháng 9 năm 1939.”
 
Như vậy có thể khẳng định Lin chính là ông Hồ và ông ta đã có vợ là bà Nguyễn Thị Minh Khai như chính bà ta khai khi đi họp ở Moscow.
 
Thứ hai, theo lời con gái của bà Vera Vasilieva - một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng Sản, kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Bùi Tín viết lời trong “Về ba ông thánh”, thì trong thời gian diễn ra đại hội này, ông Lin hay ghé nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.
 
Như vậy có thể khẳng định nếu ông Hồ và Minh Khai chính là cặp bài trùng không những chỉ là đồng chí mà còn chính là vợ chồng như chính bà Minh Khai tự khai.
 
Để minh chứng cho cái tên Phan Lan chính là Minh Khai tôi xin được nêu dẫn chứng - đó là đoạn trích trong bài viết “Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và chị Minh Khai: Một tình yêu lớn” trên tờ Báo Mới của đảng cộng sản Việt Nam: “Trong Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong và Minh Khai đều có tham luận. Minh Khai đề cập đến "Vai trò phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống việc chuẩn bị chiến tranh chống đế quốc mới, đấu tranh cho hòa bình". Bài phát biểu của Phan Lan (bí danh của Minh Khai), đại biểu trẻ nhất Đại hội đã gây được tiếng vang và cảm tình của nhiều người”.
 
Thứ ba, xin được nói rõ hơn về cuốn sách của bà Quinn – một người thiên tả người Mỹ đã nói về sự kiện ông Hồ và bà Minh Khai là vợ chồng. Khám phá ra việc bà Minh Khai là vợ ông Hồ do tiến sĩ Sophie Quinn-Judge tìm ra khi tham khảo các tài liệu của Quốc Tế Cộng sản ở Nga sau khi chế độ Cộng sản bị tan vỡ cùng với Liên Bang Xô Viết vào năm 1989. Chi tiết này đã được bà Quinn-Judge, một chuyên gia nghiên cứu về đảng CSVN và đặc biệt cuộc đời ông Hồ, công bố trong cuốn sách “Ho Chi Minh: The Missing Years (1914-1941)” do University of California Press xuất bản.
 
Đề cập các tài liệu liên quan tới ông Hồ được Quốc Tế Cộng Sản lưu giữ ở Nga, bà Quinn-Judge cho biết: “Đống hồ sơ này cũng chẳng có được bao nhiêu, sắp xếp lộn xộn, đôi khi in lại hoặc đánh máy, cũng có khi nguyên bản như một lá thư, một vài tài liệu có chữ ký của ông Hồ Chí Minh hoặc ký tắt với danh xưng là Quak, Quac, NAQ hoặc với bí danh là Lee hay là Lin. Sau này khi tra khảo tới các hồ sơ lưu trữ về thuộc địa của Pháp tại Aix-en-Provence, tôi thấy có được lợi ích là góp phần để sắp đặt cho các tài liệu về Quốc Tế Cộng sản theo thứ tự hợp lý hơn dựa vào các tài liệu tại hai nơi thường khi cùng ghi nhận đến các diễn biến như nhau.”
 
Liên quan tới ông Hồ và bà Minh Khai, bà Quinn-Judge cho biết:
 
“Một tiết lộ khác được khám phá qua các tài liệu này là có hai sự kiện liên quan đến thời kỳ hoạt động của bà Nguyễn Thi Minh Khai chứng tỏ bà là vợ của ông Hồ Chí Minh.
 
Một sự kiện thể hiện qua lá thư được viết vào năm 1934 của ông Hà Huy Tập gửi tới Ban Bí Thư Miền Đông, nêu tên đại biểu được cử đi tham dự Đại Hội Quốc Tế Cộng sản lần thứ bảy, trong đó có một người nói là 'vợ của Quốc,' còn sự kiện kia là ở một chỗ khác thấy nói tới danh xưng người đàn bà đó là bà Vãi (bà Minh Khai vào thời gian những năm đầu hoạt động có làm nghề hàng vải). Vì trong phái đoàn chỉ có một phụ nữ cho nên dĩ nhiên đó phải là có ý nói tới bà Nguyễn Thi Minh Khai. Sau này tại Mạc Tư Khoa, khi phải làm tờ khai lý lịch cá nhân, khi điền vào câu hỏi về tình trạng gia đình bà đã ghi là có chồng và kể tên chồng là Lin. Đó cũng là danh xưng của ông Hồ tại Mạc Tư Khoa kể từ năm 1934 cho đến năm 1938.”
 
Thứ tư, cũng cần nhắc lại cuốn sách “Mảnh trời riêng của lãnh tụ” của một học giả Liên Xô cũ có tên Mikhail Vasaep đã đề cập ở trên có viết tại trang 366 “Ông Hồ Chí Minh cũng đã có người vợ là người Việt Nam cũng là đồng chí của mình từ năm 1933 sau khi ông không còn liên lạc gì với người vợ đầu tiên Tăng Tuyết Minh. Người vợ thứ hai của ông Hồ Chí Minh chính là nữ chiến sỹ cách mạng Việt Nam thời kỳ đầu – Nguyễn Thị Minh Khai”.
 
Có thể nói cuốn sách của ông Vasaep xuất bản năm 1986 trước khi bà Quinn đưa ra cuốn sách của mình cho thấy chính người cộng sản Liên Xô đã biết rất rõ sự việc bà Minh Khai là vợ ông Hồ Chí Minh. Cuốn sách của ông Vasaep ít được biết đến vì ngay khi xuất bản đã bị đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô phản đối vì sợ lộ bí mật về hình tượng “ông Thánh” và bị cấm xuất bản. Chỉ có vài chục cuốn được giấu đi và tôi may mắn được một người thân đã từng đi Liên Xô lao động về cho tham khảo.
 
Kết luận: Qua bốn dẫn chứng chúng ta có thể thấy thêm một người vợ nữa của ông Hồ chính là bà Nguyễn Thị Minh Khai - người sau này lấy ông Lê Hồng Phong làm chồng thứ hai của mình. Và cũng giống như người vợ đầu Tăng Tuyết Minh, ông Hồ chưa bao giờ dám thừa nhận có lẽ vì ông ta sợ mang tiếng là nhiều vợ, lừa dối nhân dân về sự tận tụy của mình quên cả hạnh phúc riêng cho dân tộc và trên hết là cá nhân ông ta coi những người phụ nữ chỉ là món đồ chơi mà thôi.
 
Người có tên Đỗ Thị Lạc:
 
Ngoài hai người vợ trên ông Hồ còn có thêm một người phụ nữ thứ ba tên là Đỗ Thị Lạc. Thậm chí bà này còn có một người con gái cùng ông Hồ. Có ít người biết về bà Lạc nhưng sự thật là ông Hồ và bà Lạc đã có con gái mà đến nay không biết người con ấy sống chết ra sao sau khi ông Hồ bỏ rơi người con này.
 
Khi Tiêu Văn đồng ý cho ông Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), cộng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Ông Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944. Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức chị Thuần. Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều, Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với ông Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Do tình hình biến chuyển, ông Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945. Đầu tháng 5-1945, ông Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó. Chuyện tình giữa ông Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Minh Khai, Tăng Tuyết Minh bị giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa. Để minh chứng cho câu chuyện này tôi xin dẫn chứng sau đây:
 
Đầu tiên, trong cuốn sách “Một cơn gió bụi” của sử gia, nhà chính trị Trần Trọng Kim đã được tôi giới thiệu ở phần 12, trang 75 của cuốn sách viết: “Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm và họ đã có một người con gái chung”.
 
Hẳn chúng ta cũng biết ông Trần Trọng Kim đã sống cùng thời với ông Hồ và là nhà viết sử hết sức trung thực nên những gì ông viết đáng để chúng ta tin cậy. Tuy nhiên nếu chỉ có mình đoạn trích nêu trên của ông thì khó có thể làm ta tin được sự việc có con gái của ông Hồ và bà Lạc. Xin nêu thêm những dẫn chứng khác sau đây:
 
Thứ hai, trong cuốn sách “Mảnh trời riêng của lãnh tụ” của học giả Liên Xô cũ Mikhail Vasaep đã đề cập ở trên có viết tại trang 368: “Có một người phụ nữ đã sinh cho ông Hồ Chí Minh một người con gái tại Cao Bằng (một địa danh ở Phía Bắc Việt Nam) nhưng sau này vì nhiệm vụ với cách mạng, ông Hồ Chí Minh dường như không muốn thừa nhận cháu bé …”
 
Đoạn trích không nói rõ tên người phụ nữ là ai nhưng những gì tác giả Liên Xô đã nói trùng khớp với nội dung về người con gái chung, nơi ở của bà Lạc mà sử gia Trần Trọng Kim đề cập. Điều này cho thấy ông Hồ thực sự có người tình và người con mà ông ta không công nhận.
 
Thứ ba, chúng ta cũng nên quay lại với cuốn sách của tác giả Hà Cẩn mà tôi đã từng nhiều lần giới thiệu. Trong phần 9 khi tôi đã giới thiệu về tác giả Trung cộng này (Viện Văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi nhà Xuất bản Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang, có đoạn ở trang 134 tạm dịch: “Cũng là đồng chí Cách mạng nhưng Mao chủ tịch không có đời sống tình ái bi đát như Hồ chủ tịch. Hồ Chủ tịch thậm chí có một người con gái với người đồng chí tên Thuần ở Pacbo mà không được công bố...”
 
Như đã biết người con gái tên Thuần kia chính là bí danh hoạt động của bà Đỗ Thị Lạc và những gì sử gia Trung cộng đề cập rất đúng với những nghiên cứu của sử gia Trần Trọng Kim và Vasaep.
 
Kết luận: Vậy qua 3 dẫn chứng có thể thấy ông Hồ đã có một người con gái với người tình Đỗ Thị Lạc. Sở dĩ tôi gọi bà Lạc chỉ là người tình vì không thấy ai đề cập đến lễ cưới cũng như hôn thú của bà và ông Hồ. Hay nói cách khác bà Lạc chỉ là một trong những người tình qua đường của ông Hồ. Và hành động không nhận, không nuôi người con gái của ông và bà Lạc cũng cho thấy bản chất vô trách nhiệm của ông ta với chính giọt máu của mình. Hay nói cách khác người con không biết sống chết thế nào của ông Hồ chỉ là kết quả ngoài mong đợi của ông ta trong chuỗi hành trình đi tìm thú vui xác thịt cho bản thân.
 
Người đàn bà đoản mệnh Nông Thị Xuân:
 
Mối tình với cô gái người Nùng tên Nông Thị Xuân được bạch hóa rõ ràng nhất qua nhiều nhân chứng còn sống viết và kể lại. Tại Hà Nội, cô Xuân được lệnh ở nhà riêng số 66 Hàng Bông Nhuộm, nhưng vẫn phải đến ‘gặp’ bác Hồ. Năm 1956, Nông Thị Xuân sinh cho ông Hồ một người con trai đặt tên Nguyễn Tất Trung. Sau đó Xuân có ý muốn chính thức hóa cuộc hôn nhân với ông Hồ. Ngày 11 tháng 2, 1957, vào khoảng 7 giờ tối, Xuân được ô tô đón sang gặp ông Hồ. Sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, 1957, công an báo tin cho cô Vàng (em cô Xuân) là Xuân đã chết vì tai nạn ô tô. Liền sau đó cô Vàng đến thăm xác chị ở nhà thương Phủ Doãn và chứng kiến biên bản khám nghiệm tử thi của bác sĩ. Bác sĩ cho biết nạn nhân không chết vì tai nạn ô tô, vì khám toàn cơ thể không có dấu hiệu gì cả ngoại trừ vết nứt trên sọ đầu, và bác sĩ đã tuyên bố, có thể nạn nhân bị trùm chăn trên đầu rồi bị đập bằng búa...
 
Cô Vàng vội chạy về báo tin ngay cho người chồng sắp cưới là một bộ đội đang bị thương tật sống ở tỉnh Cao Bằng. Vàng biết chắc rằng cô cũng sẽ bị thủ tiêu vì cô chứng kiến sự thật chị của cô do ông Hồ âm mưu sát hại. Thật vậy, ngày 2 tháng 11, 1957, cô Vàng bị giết chết và xác được tìm thấy trên sông Bằng Giang, đến ngày 5 tháng 11 xác mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ.
 
Tin này được phổ biến rộng rãi hơn nhờ lá thư của anh bộ đội này đệ lên Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch Quốc Hội CHXHCN VN, vào ngày 29 tháng 7, 1983, trước khi anh qua đời sau cơn bạo bệnh. Trong lá thư anh bộ đội đã kể đầy đủ chi tiết những gì cô Vàng đã kể cho anh nghe, cả việc Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn được ông Hồ Chí Minh giao phó trông coi cô Xuân. Trong thư kể lại hình ảnh Trần Quốc Hoàn đã hãm hiếp cô Xuân rất tàn nhẫn trước đó một tuần khi được lệnh giết cô Xuân... Năm 2007, nhà văn đấu tranh trong nước, bà Trần Khải Thanh Thủy, đã tìm hiểu về tông tích của Trung và chính bà đã tìm gặp anh ta. Qua việc kể lại của Trần Khải Thanh Thủy người ta không ngần ngại gì nữa khi cho rằng Nguyễn Tất Trung chính là con của ông Hồ. Được biết anh ta hiện đang được Đảng ‘nuôi’ đàng hoàng trong khu nhà sang trọng tại Hà Nội.
 
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904-1979), bí danh Sao đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung. Để minh chứng cho điều này tôi xin dẫn chứng sau đây:
 
Bà Nông Thị Xuân, sau đổi là Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1932,
mất năm 1957. Chụp cuối năm 1956 tại Hà Nội sau khi đẻ Nguyễn Tất Trung.
 
Hình ảnh vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên cùng con là Nguyễn Thanh Trung
(bên phải) tại gia đình ông Vũ Kỳ vào năm 1998; người có râu trắng dài là ông Vũ Kỳ (giữa)
 
Hình ảnh vợ chồng Trung và Duyên bên dòng suối ở Hang Pắc Bó - Cao Bằng (suối Lê Nin)
 
Đầu tiên, Toàn bộ lá thư của anh bộ đội được đăng trong cuốn “Công Lý Đòi Hỏi” của cựu đảng viên Nguyễn Minh Cần, Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, xuất bản 1997 bởi nhà xuất bản Văn Nghệ dày 394 trang. Ông hiện tỵ nạn chính trị tại Nga. Chúng ta cũng có thể xem giới thiệu cuốn sách tại link sau:
 
 
Cuốn sách của tác giả Nguyên Minh Cần có đoạn:
 
“Bây giờ xin quay trở lại câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác (các cô họ Nguyễn và cô Xuân chỉ có một con với ông Hồ), ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau: cô Nguyễn Thị Xuân (tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ, cô Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì ủy viên Trung ương đảng, chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Trần đặng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà Nội, "nói là để phục vụ Bác Hồ". Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn Đệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. "Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung.
 
"Em có nhiệm vụ bế cháu", đấy là lời Vàng kể lại cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những sự việc sau đây. Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần Quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò... kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên. Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co dúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa: "Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết". Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra: "Không được hỗn, tôi là vợ ông Chủ tịch nước". Nó nói: "Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi" Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi dây dù đã thắt sẵn thòng lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói: "Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già, lại còn vờ làm gái”.
 
Qua những gì tác giả Nguyễn Minh Cần cho ta thấy thực sự ông Hồ và bà Xuân có con trai tên là Tất Trung và sau đó bà ta bị giết bởi Trần Quốc Hoàn.
 
Thứ hai, câu chuyện cô Xuân này cũng được nhắc tới trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, cũng một cựu đảng viên, con trai của ông Vũ Đình Huỳnh - là cận vệ, giúp việc, lễ tân trang phục, thư ký riêng, rất gần gũi với ông Hồ. Trong cuốn sách này ông Hiên đã đề cập đến việc ông Hồ có người con tên Nguyễn Tất Trung với bà Nông Thị Xuân rồi bà Xuân bị Trần Quốc Hoàn thủ tiêu.
 
Cũng cần nói thêm khi ông Vũ Thư Hiên gặp ông Nguyễn Minh Cần tháng 7 năm 1993 cũng đã nói với ông Cần, sau này được ông Nguyễn Minh Cần kể lại:
 
“Hồi tháng 7 năm 1993, khi gặp nhà văn Vũ Thư Hiên, một người "cùng cảnh ngộ", tức là cùng bị dính vào "vụ án xét lại - chống đảng", đã sang được Moskva, tôi mới đem chuyện đó kể ra. Hiên bật người lên, vui mừng ra mặt, dường như anh được thêm một người nữa biết cái chuyện "thâm cung bí sử " này và chuyện tôi kể cho anh lới một lần nữa xác nhận điều mà cụ thân sinh của anh, ông Vũ Đình Huỳnh, đã dặn dò anh. Hiên nói liền: "Nhưng không phải ô tô từ Chủ tịch phủ phóng ra đâu, anh ạ. Mà từ phố Hàng Bông Nhuộm đi lên Nhật Tân..." Tôi đáp lới: "Chính là Quốc Hùng nói với tôi thế!" Rồi Hiên thủng thẳng tâm sự với tôi: "Có một hôm, ông cụ tôi bảo tôi lên xe, chúng tôi đi lên Hồ Tây, rồi theo đường Quảng Bá đi lên đường Nhật Tân, chỗ làng đào, anh biết chứ?" Tôi trả lời theo kiểu dân Bắc: "Biết quá đi, chứ lị! Từ 51, tôi phụ trách ngoại thành cơ mà". Yên trí là tôi biết rõ địa thế vùng này, anh kể tiếp: Dừng xe lại, hai bố con ra xe, ông cụ dẫn anh đến một đoạn đường, hình như một bên có rặng ổi, rồi bảo: "Con ơi, con nhớ những lời bố dặn đây! Tới đây, đánh dấu một vụ án mạng, một vụ oan khuất khủng khiếp mà Trần Quốc Hoàn (ủy viên Bộ chính trị, bộ trưởng công an) là chính danh thủ phạm. Con hãy ghi nhớ, khi có dịp thì nói lên sự thật...”
 
Như vậy có thể khẳng định về việc ông Hồ và bà Xuân có người con và sau này bà Xuân bị thủ tiêu là sự thật.
 
Thứ 3, ngoài hai nhân chứng là ông Nguyễn Minh Cần và ông Vũ Thư Hiên thì chính người Trung cộng đã biết việc này và coi nó như một vết nhơ mà đảng cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh muốn giấu nhẹm đi đề che đậy sự thật ông Hồ là người nhiều vợ con và không có trách nhiệm với gia đình mình. Chính tác giả Hà Cẩn tôi đã giới thiệu ở trên cũng vẫn trang 134 có viết tiếp về những người vợ của ông Hồ: “Ngoài người con gái với người phụ nữ tên Thuần, Hồ chủ tịch cũng còn có người con trai khác mà mẹ của anh ta bị chết một cách đầy ngờ vực trong một tai nạn giao thông tại Hà Nội.”
 
Điều này càng khẳng định thêm về sự thật mới quan hệ của ông Hồ và bà Xuân dẫn đến kết quả có con trai và bà Xuân bị giết. Tác giả Hà Cẩn không nói rõ thủ phạm là ai nhưng khi đề cập đến vụ án “đầy ngờ vực” cho thấy ngay cả đồng chí của ông Hồ cũng đặt dấu hỏi về ông Hồ và đảng cộng sản trong cái chết của bà Xuân.
 
Thứ 4, khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh một sử gia, đảng viên đảng cộng sản Ba Lan - ông Constatin Kostadinov cũng đã viết tại trang 90 cuốn sách “Những người con của lãnh tụ” như sau: “Một người con trai của chủ tịch Hồ Chí Minh có tên Nguyễn Tất Trung được nuôi nấng bởi trợ lý riêng của chủ tịch nhưng đã không nối nghiệp cha làm chính trị….”
 
Cuốn sách được viết năm 1982 và in năm 1984 bởi nhà xuất bản Cách Mạng ở Ba Lan. Chính việc này cũng khẳng định về cuộc tình và kết quả của ông Hồ với bà Xuân.
 
Kết luận: Qua 4 dân chứng chúng ta có thể thấy mối tình của ông Hồ và bà Xuân là có thật và được kết thúc bằng một số phận người con không được thừa nhận và cái chết bi đát của bà Xuân cũng như em gái bà.
 
Một người phụ nữ Nùng khác – Nông Thị Trưng
 
Một phụ nữ cũng người sắc tộc thiểu số, Tầy, khá xinh đẹp tên Nông Thị Ngác. Lý do câu chuyện tình đặc sắc này được nổi bật những năm sau này là do cuộc phỏng vấn của tờ báo Xuân tại Việt Nam vào khoảng năm 1997. Nhà báo có phỏng vấn bà Nông Thị Ngác, một chứng nhân sống nói về ‘Bác Hồ’. Bà Ngác đã không dấu giếm chi cả những gì đã xảy ra trong thời gian ông Hồ tại hang Pác Bó vào đầu thập niên 40. Bà kể hằng ngày Ngác đến ‘học tập’ với ông Hồ ròng rã cả năm. Hồ căn dặn Ngác không nên gọi Hồ bằng ‘Bác’ mà hãy gọi là ‘Chú Thu’ và xưng ‘Cháu’. Thế thì sau đó chú cháu tiếp tục học tập...
 
Khi ông Hồ cướp chính quyền thành công, trở thành người lãnh tụ chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam, người nữ cán bộ gương mẫu mà ông Hồ yêu quý, tức Nông Thị Ngác, lại được cất chức làm Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tỉnh Cao Bằng.... Ông Hồ yêu quý Ngác đến độ đặt cho người nữ cán bộ này một tên nữa là Nông Thị Trưng, ý giống như Trưng Trắc, Trưng Nhị vậy. Tin Nông Thị Ngác là ai cũng đã được người dân trong nước bàn tán. ‘Chú Thu’‘Cháu Trưng’ cũng đã được nhắc tới trong các sách tuyên truyền của cộng sản, nhất là các tác giả Trần Khuê, Thép Mới...
 
Thép Mới kể lại trong “Năng Động Hồ Chí Minh” (trang 48) rằng sau 20 năm ngày rời Pác Bó, ông Hồ trở lại, 1961, lúc này coi như sự nghiệp khá thành công, ông có thời giờ về thăm lại người cũ, cảnh xưa. Khi vào nhà thăm gia đình bà Ngác, ông Hồ tiếp xúc với ông Dương Đại Lâm, người mà trước đây ông Hồ đã gởi gắm Ngác vào gia đình (không nhắc Ngác đang ở đâu), các cháu vây quanh HCM thân mật... Tác giả còn nhấn mạnh một trong các cháu đã trở thành ‘thanh niên tuấn tú’ góp phần xây dựng đất nước.
 
Cùng sách trên, Thép Mới ghi (trang 43): “Bác trực tiếp hỏi chuyện, nghe kể về hoàn cảnh gia đình và bản làng đau khổ, rất thương, nhận làm cháu nuôi, đặt cho bí danh là Trưng, Nông Thị Trưng. Trưng ở với vợ chồng Đại Lâm, tên tục là Sù, hàng ngày được đến lán Bác một giờ để Bác chỉ bảo...” Như vậy rất rõ, Nông Thị Ngác có bí danh là Nông Thị Trưng.
 
Để chứng minh cho mối quan hệ của bà Ngác với ông Hồ tôi xin được trình bày những tài liệu sau đây.
 
Đầu tiên, trong “Ho Chi Minh”, tác giả William Duiker – một người thiên tả, trang 575, viết: “In April 2001, the ralatively unknown government official Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP(Vietnamese Communist Party- 14).
 
Số 14 để người đọc lật ra sau cuốn sách đọc tiếp footnote 14: Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho's servant after the latter's return to Vietnam during the early 1940s...”
 
Tạm Dịch: “Vào tháng 4, 2001, người vô danh tên Nông Đức Mạnh chính thức nhậm chức trong cơ quan chính quyền, dư luận xôn xao bàn tán rộng rãi cho rằng Mạnh là con trai rơi của Hồ Chí Minh, và ông ta đã được chọn làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nông Đức Mạnh phủ nhận những tin đồn này, nhưng ông ta lại công nhận rằng mẹ ông, một thành viên của dân tộc thiểu số Tầy, bà là người phục vụ ông Hồ sau khi ông Hồ trở về Việt Nam vào đầu thập niên 1940.”
 
Chúng ta cũng biết ông Nông Đức Mạnh sinh vào đầu thập niên 40. Báo Time phỏng vấn Mạnh vào 2002 và ghi ông ta được 61 tuổi. Như vậy thì ông Mạnh phải ra đời vào cuối 1941 hoặc 1942. Sau ngày sách của Duiker xuất bản, 2000, và cuộc phỏng vấn của báo Time, website của “Đảng CSVN” đã xóa hoàn toàn tiểu sử của ông Nông Đức Mạnh trước đó ghi rõ Nông Đức Mạnh con của “nhà cách mạng Nông Văn Lai và bà Hoàng Thị Nhị.
 
Vấn đề đặt ra là tại sao khi có cuốn sách của Duiker và Time phỏng vấn ông Mạnh thì tiểu sử phải bị xóa bỏ trong khi ông Mạnh là người đứng đầu đảng, việc minh bạch cha mẹ mình trên website của chính phủ có gì sai? Đó chính là việc minh chứng cho ông Mạnh chinh là con của bà Ngác và ông Hồ bị cố tình giấu giếm đi.
 
Thứ hai, cũng liên quan đến sự việc ông Hồ có con với và Ngạc và có con trai, tác giả người Nga, Mikhail Vasaep cũng đề cập tới trong cuốn sách của mình đã được tôi giới thiệu ở phần trên trong trang 372 “Cũng có những nguồn tin đáng tin cậy từ KGB cho biết có một người con trai của Hồ Chí Minh với người phụ nữ tên Nông Thị Trưng được nuôi nấng bời một gia đình người dân tộc thiểu số tại Cao Bằng...
 
Như vậy có thể khẳng định thêm thông tin ông Hồ có con với bà Nông Thi Trưng (Ngác) là hoàn toàn có thật. Và người con đó chính là ông Mạnh với những thông tin được nêu ra từ W. Duiker.
 
Thứ ba, khi đề cập đến vấn đề quan hệ với bà Nông Thi Trưng thì tác giả Constatin Kostadinov đã giới thiệu ở trên trong cuốn “Những người con của lãnh tụ” xuất bản năm 1984 tại Ba Lan có viết tại trang 92 “Thật ra trong một nghiên cứu cho thấy chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có một mà có những hai con trai nhưng đến nay chưa biết số phận chính trị có giống như người con mang tên Nguyễn Tất Trung hay không...”
 
Chúng ta nên nhớ vào thời điểm cuốn sách của ông Kostadinov ấn hành thì ông Mạnh chưa có những dấu ấn trên chính trường (năm 1984) nên nhận xét của ông Kostadinov rõ ràng là hợp lý. Nhưng cũng cho thấy về đứa con của ông Hồ không chỉ một mà là 2 con trai.
 
Thứ tư, chính tác giả Hà Cẩn trong cuốn sách của mình đã được giới thiệu ở trên cũng từng viết tại trang 135 “Bi kịch tình ái của Hồ Chủ Tịch không chỉ dừng lại ở những bà vợ không được thừa nhận mà còn kể cả 2 người con trai của Chủ Tịch. …”
 
Đến đây ta có thể khẳng định tác giả Hà Cẩn đã ám chỉ về Nguyễn Tất Trung và ông Nông Đức Mạnh là con của ông Hồ Chí Minh. Nhưng dù cho có là ai đi nữa thì tác giả cũng khẳng định ông Hồ có nhiều con và có nhiều vợ không được thừa nhận.
 
Kết luận: Qua 4 dẫn chứng trên chúng ta có thể thây được ông Hồ và bà Ngác có một mối quan hệ già nhân ngãi non vợ chồng và có con trai là sự thật. Và sản phẩm đó chính là ông Nông Đức Mạnh.
 
Vài mối tình ngoài lề cần tìm hiểu thêm
 
Ngoài 5 người phụ nữ để lại dấu ấn bằng con cái và thảm kịch, có hôn thú như nêu trên thì còn có nhiều người phụ nữ từng là người tình của ông Hồ hay được ông ta thích thú. Điều này cho thấy ông ta không hề “hết mình lo cho dân tộc” như đảng cộng sản và ông ta tự bốc thơm mình. Và quan trọng hơn một người có nhiều vợ lại có nhiều người tình như vậy khó có thể là “vị thánh” được. Những câu chuyện về Huỳnh Thị Thanh Xuân, Phương Mai hay vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu… chưa có nhiều tài liệu kiểm chứng nên tôi không nêu ra ở đây. Trên nguyên tắc tôn trọng sự thật và không đi sâu vào bôi nhọ cá nhân nên tôi chỉ nêu lên những gì đã có bằng chứng khách quan nhất.
 
Ngoài ra bạn đọc cũng nên tìm hiểu cho mình về sự thật về những người tình của ông Hồ sau đây khi đã có những nguồn tin khách quan nói đến.
 
Một trong những người phụ nữ Tây Phương có cô Marie Bière. Thành Tín tức Bùi Tín ghi trong “Về Ba Ông Thánh”, xuất bản 5/1995, (trang 149): “Theo tài liệu Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Biere nào đó...” Cũng theo Bùi Tín nói về tài liệu tham khảo của Sophia Judge, một nữ sử học gia Hoa Kỳ rành tiếng Việt đã bỏ nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về ông Hồ, nhất là 2 năm tại Moscow... Ông Hồ có người tình tên Vera Vasilieva. Vera có con gái riêng, và cô này kể cho bà Sophia nghe. “Về Ba Ông Thánh”, (trang 151): “Vào dịp đại hội 7 của quốc tế cộng sản, cô ta mới 10 tuổi, nhưng còn nhớ ông Hồ thường ghé chơi nhà mẹ cô ta và một số lần ngủ lại trên ghế dài vào năm 1934...”
 
Theo tài liệu của bà Sophia Judge, Bùi Tín, cùng sách trên (trang 153): “Anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm. Ông còn để lại khi về nước một va-ly áo quần ông sắm cho vợ ông toàn là loại sang, cô bé Nga này lấy ra dùng bao nhiêu năm mới hết!” Hồ Chí Minh còn ‘yêu’ cả vợ của Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu khi đang dan díu với người phụ nữ Nga Vera này.
 
Ngoài ra, trong “Ho Chi Minh” tác giả William Duiker có ghi một phụ nữ trẻ khác tên Lý Sâm, lúc đó là vợ của Hồ Tùng Mậu, đồng chí của ông Hồ: Lý Sâm và HCM đã bị cảnh sát Hongkong bắt tại một phòng hotel khi hai người đang trong phòng ngủ, lúc 2 giờ sáng ngày 6, tháng 6, 1931.”
 
Sau khi bị tù tại Hongkong, Hồ có tên mới là Tống Văn Sơ. Sau khi rời khỏi HongKong HCM đổi nhiều tên họ khác nhau để tiếp tục hoạt động. Có những nguồn tin cho biết khi ông trở về lại Nga, đàn anh cũng đã tìm cho ông Hồ một người phụ nữ Nga để làm vợ...
 
Trong cuốn “Con Rồng Việt Nam” tác giả cựu hoàng Bảo Đại ghi “Hồ Chí Minh có một người vợ Ngacó chung một người con gái, nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến” (trang 205). Sở dĩ cựu hoàng Bảo Đại biết chuyện này nhờ những dịp đi ‘công tác’ với Võ Nguyên Giáp vào 1945. Ông Giáp đã kể lại một số sự thật về HCM, lúc này Bảo Đại mới biết rõ HCM là tên quốc tế cộng sản nên tìm đường lưu vong.
 
Kết luận chung: Như vậy qua 6 phần chúng ta thấy ông Hồ có rất nhiều vợ, người tình và con cái chứ không phải là một “vị Thánh” như ông ta và đảng cộng sản tung hô cả đời không vợ con mà chỉ lo cho dân tộc. Đây chính là một trong những hành động nói lên sự xấu xa của người cha không nhận con, người chồng không nhận vợ, người lãnh tụ nói dối dân tộc về mình.
 
B. Bản chất của sự việc?
 
Có thể nói chuyện tình ái và chuyện có nhiều vợ con cũng chẳng là chuyện to tát. Ngày nay việc sống như vậy càng dễ được chấp nhận hơn. Các vị lãnh tụ có vợ nọ con kia là điều không quá xa lạ nhưng họ dám thừa nhận hoặc được pháp luật các nước đó phanh phui ra. Nhưng điều này với ông Hồ và đảng cộng sản lại khác. Xin được nói rõ ở đây.
 
Thứ nhất, đối với cá nhân ông Hồ khi ông ta có vợ con mà ông ta không chịu nhận họ, thậm chí còn làm ngơ với cái chết của họ như trường hợp bà Xuân là một tội ác. Như vậy ông ta thật là một người cha và người chồng xấu.
 
Thứ hai, đối với dân tộc ông Hồ cũng là kẻ lừa dối khi ông ta sinh thời không chịu công khai về vợ con mình mà để yên cho đảng cộng sản tự tung, tự tác bốc thơm ông ta không có vợ con, chỉ dành hết tâm huyết cho dân tộc và đất nước.
 
Thứ ba, chính đảng cộng sản cũng phải chịu trách nhiệm với ông Hồ Chí Minh về việc cùng ông ta bưng bít sự thật về những lý lịch bất minh của ông Nông Đức Mạnh và ông Nguyễn Tất Trung. Nhất là đối với một người từng giữ chức Tổng bí thư như ông Mạnh là vi phạm pháp luật. Hãy nhìn sang Mỹ để thấy ông Obama công khai lý lịch của mình từ cái giấy khai sinh cho thấy đảng cộng sản không tôn trọng pháp luật và coi thường nhân dân Việt Nam.
 
Thứ tư, chúng ta có thể thấy sự việc ông Hồ không công khai vợ con cho thấy trong chế độ cộng sản luôn luôn tồn tại khái niệm dối lừa mà đến cả một chuyện cỏn con như chuyện có vợ con cũng bị bưng bít sự thật. Đó là sự tồi tệ của chính thể cộng sản cần phải dẹp bỏ.
 
Vậy bản chất sự việc không thừa nhận vợ con của ông Hồ và hành động bưng bít của đảng cộng sản ở đây nói lên điều gì? Đó chính là muốn tiếp tục lừa dối dân tộc về một con người thánh thiện giả tạo như ông Hồ để tiếp tục giữ quyền độc tài đối với dân tộc Việt Nam. Tôi đã gặp nhiều người cho đến nay vẫn bị nhồi sọ với luận điệu “Cả đời Bác không vợ con chỉ lo cho nhân dân...” Bài viết này của tôi chỉ có mục đích nên lên sự thật về chuyện ông Hồ có nhiều vợ con mà ông ta không thừa nhận. Chính ông ta và đảng cộng sản đã lợi dụng điều này để lừa dối dân tộc.
 
 
 
 
 
Hoàn thiện và chỉnh sửa 01/09/2012
 
 
 
______________________________________
 
 
 
 
________________________________
 
Đã đăng:
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
__._,_.

Nợ xấu và tính minh bạch


Nợ xấu và tính minh bạch


Vũ Hoàng, phóng viên RFA

2013-01-05

Kinh tế Việt Nam sau một năm với nhiều nốt trầm hơn nốt thăng, trong đó, nợ xấu và rủi ro của hệ thống ngân hàng là những quãng lặng dài. Minh bạch trong việc công bố và xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng sẽ vẫn là những chủ đề còn kéo dài trong năm 2013.


RFA

Chi nhánh ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Saigon tại Hà Nội.

 


 

Không biết chính xác bao nhiêu


Trong cuộc họp ngày 18/12 với lãnh đạo thành phố HCM, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, tổng số nợ xấu của Việt Nam năm 2012 khoảng 400.000 tỷ đồng, trong đó nợ xấu từ bất động sản chiếm 70%, tương đương 140.000 tỷ đồng. Tuy được người đứng đầu Chính phủ khẳng định con số, nhưng thống kê nợ xấu được công bố từ các nguồn lại rất khác nhau. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước cho rằng số nợ xấu chiếm 4,9% GDP, cơ quan giám sát nói là hơn 8,8%, trong khi đó thống đốc ngân hàng đưa ra 10%, còn các nhà phân tích công bố tỷ lệ này cao hơn mức 10%.

Trong khi đó, ông Deepak Mishra, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB,) trong cuộc họp báo trước Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ hồi đầu tháng 12 xác nhận, do không biết chính xác số nợ xấu của Việt Nam là bao nhiêu, vì thế sẽ không xác định được giải pháp. Ông nhấn mạnh 1% GDP của Việt Nam tương đương hơn 1 tỷ đô la, do đó sự chênh lệch giữa các con số không phải nhỏ chút nào.

Thủ thuật chồng chéo


Ngan-hang-Techcombank-250.jpg

Bên ngoài một chi nhánh ngân hàng Techcombank ở Hà Nội trưa ngày 24/12/2012. RFA photo.

Theo cách phân nhóm nợ xấu của các ngân hàng thương mại (NHTM) được quy định năm 2007, nợ được chia thành 5 nhóm: nhóm 1 là nợ đủ tiêu chuẩn (thời gian quá hạn dưới 10 ngày), nhóm 2 là nợ cần chú ý (thời gian quá hạn từ 10 đến 90 ngày) và tăng dần lên nhóm 5, là nợ có khả năng mất vốn (quá hạn trên 360 ngày). Tuy nhiên, theo cách phân loại như vậy, các ngân hàng thương mại thường sử dụng các “thủ thuật” hạch toán qua các phương pháp “làm đẹp” báo cáo tài chính và “gồng mình” để đảm bảo thời gian quá hạn các khoản nợ vẫn nằm trong phạm vi cho phép là 1 và 2. Sự nguy hiểm là khi những nhóm nợ dạng “đủ tiêu chuẩn” hay “cần chú ý” kia trở nên xấu, thì được các ngân hàng “đẩy” thẳng lên nhóm 5 mà không qua các nhóm 3 hay 4. Trên nguyên tắc các NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro tương ứng với nhóm nợ, nhưng các ngân hàng đã không làm như quy định.

Bài báo Nợ xấu ngân hàng được giấu như thế nào đăng trên báo mạng Vietnamnet hồi tháng 9 đã chỉ ra những thủ thuật của các ngân hàng, phổ biến nhất là các NHTM hỗ trợ giải ngân các khoản vay mới để trả nợ cũ, làm như vậy, khách hàng không bị chuyển nhóm nợ. Hơn nữa, NHTM không đánh giá kỹ khả năng trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng hạn, chỉ thực hiện giải quyết vấn đề khó khăn trả nợ trước mắt cho khách hàng và điều này làm gia tăng rủi ro cho hệ thống NHTM.

Bong bong bất động sản


nha-cao-tang-250.jpg

Cao ốc tại Hà Nội. RFA photo.

Về mặt nghiệp vụ ngân hàng là như vậy, nhưng trên thực tế, dẫn đến những con số nợ xấu khổng lồ kia, nguyên nhân vẫn được chỉ ra là do sự đóng băng của bất động sản mà số vốn được đổ dồn vào lĩnh vực này đã chất chồng từ nhiều năm qua. TS Vũ Ngọc Xuân, giảng viên chính khoa Kinh tế, trường ĐHKT Quốc dân Hà Nội phân tích:

“Nợ xấu chủ yếu liên quan đến sự vỡ bong bóng của thị trường bất động sản, dẫn đến việc phần lớn những khoản cho vay bằng thế chấp đảm bảo bất động sản, bây giờ giá bất động sản xuống nên việc không thanh lý được các tài sản đảm bảo khi phát sinh nợ xấu, vì thế nợ xấu tăng cao.

Điểm cơ bản là nhiều công ty đầu tư vào bất động sản, trái ngành trái nghề, không phải là ngành cốt lõi. Nguyên nhân lớn nhất là do sự vỡ bong bóng của đầu tư bất động sản, nó có đặc tính giống với sự sụt giảm thị trường nhà đất ở Hoa Kỳ.”

Nợ xấu chủ yếu liên quan đến sự vỡ bong bóng của thị trường bất động sản, ...

TS Vũ Ngọc Xuân

Ngoài ra, TS Vũ Ngọc Xuân cho biết thêm vì bất động sản là một hàng hóa, mà hàng hóa này lại tồn kho và vượt quá mức thu nhập của người dân với những dự án nằm yên một chỗ từ 3-4 năm nay, người dân thì không đủ tiền mua, các chủ dự án đó không có tiền quay vòng trả được nợ ngân hàng và do đó giá trị của bất động sản biến thành nợ xấu là điều không tránh khỏi.

Hơn nữa, điểm nguy hiểm dễ biến những khoản nợ thường thành nợ xấu là do sự móc ngoặc của ngân hàng với các công ty bất động sản hoặc các công ty liều lĩnh thường sử dụng những khoản vốn ngắn hạn để đầu tư vào bất động sản, nhằm “lướt sóng,” kiếm lãi trong ngắn hạn, nhưng gặp rủi ro khi giá nhà đất đi xuống và số vốn bị “chôn chân” vào các dự án nhà đất này. Ông Nguyễn Hoàng Nam giám đốc sàn giao dịch Info của Đại Dương, một tập đoàn chuyên về bất động sản cho biết nhận xét:

“Họ gặp khó khăn, chủ yếu là do định hướng sai. Họ dùng những vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn. Bài toán kinh tế này đã có rất nhiều doanh nghiệp mắc phải, ở nhiều nước khác cũng mắc phải chứ không chỉ riêng Việt Nam.”

Tâm lý sợ đổ vỡ


Một điểm có thể thấy vì sao những khoản nợ xấu nhiều đến như vậy mà nó vẫn diễn biến trong nhiều năm qua, chỉ đến khi “khối u” quá to không thể che đậy thì cả Chính phủ lẫn các doanh nghiệp đều phải công khai thừa nhận, phải chăng đó là sự lo sợ ảnh hưởng dây chuyền của hệ thống ngân hàng đổ vỡ sẽ tác động đến cả hệ thống kinh tế hay do tâm lý không dám thẳng tay “chữa trị” để các ngân hàng phá sản. Nhận xét về luận điểm này, TS Vũ Văn Hóa, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh Doanh Hà Nội trong một lần phỏng vấn trước đây, cho chúng tôi biết quan điểm của ông:

Nhưng ở Việt Nam lại không dám làm như vậy, bởi vì quan điểm của chính phủ là không muốn một ngân hàng thương mại nào đổ vỡ vì sẽ ảnh hưởng cả hệ thống.

TS Vũ Văn Hóa

“Ở nước ngoài có những ngân hàng có lịch sử hàng mấy chục năm, thậm chí hàng trăm năm, mà khi yếu kém nó cũng phải tự giải thể. Nhưng ở Việt Nam lại không dám làm như vậy, bởi vì quan điểm của chính phủ là không muốn một ngân hàng thương mại nào đổ vỡ vì sẽ ảnh hưởng cả hệ thống, tôi cho đó là một quan điểm.

Nhưng quan điểm của những người nghiên cứu như chúng tôi thì cho rằng anh đã yếu kém nên cho phá sản, còn chuyện giải quyết đến mức độ nào thì còn tùy. Bây giờ có việc sáp nhập ngân hàng nhưng tất cả mọi thứ nó chỉ là một con số cộng thôi, chứ nó không có sự thay đổi về chất ở bên trong.”

Cũng có lẽ bởi tâm lý “sợ đổ vỡ” mà các ngân hàng thì không dám công khai, còn chính phủ thì “bao che” vì sợ tác động domino đến toàn bộ nền kinh tế, vì lẽ đó, bản thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng thừa nhận “suốt từ năm 2008 đến nay, Chính phủ nơm nớp lo một số ngân hàng hoạt động yếu kém, thanh khoản thấp bị đổ vỡ. Thời gian tới phải giải quyết dứt điểm, không được để tình trạng này tồn tại.”

Vũ khí minh bạch


ngan-hang-vn-250.jpg

Ông Nguyễn Văn Bình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. RFA file.

Với lời nhận xét của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, có thể nhận thấy giải quyết nợ xấu và sự rủi ro của hệ thống ngân hàng là việc cần làm ngay. Đề án thành lập công ty mua bán nợ quốc gia sẽ sớm được thành lập và dĩ nhiên để đảm bảo tính hiệu quả thì yêu cầu trước hết vẫn là sự minh bạch về thông tin.

“Mục tiêu trước mắt là thành lập công ty mua bán nợ quốc gia, mua lại những khoản nợ xấu này theo giá thị trường, sau khi mua lại những khoản nợ xấu này, thì hệ thống ngân hàng mới tiếp tục giải ngân ra được những lĩnh vực khác.

Vấn đề bây giờ là xử lý nợ xấu phải minh bạch dựa trên việc mua lại các khoản nợ xấu, theo cơ chế thị trường dựa trên quan hệ cung cầu, chứ không thể trở thành nơi mua những nợ xấu với những giá quá cao để các đại gia gây ra nợ xấu và thoát nợ. Khi mua nợ xấu theo đúng thị trường và hoạt động của công ty mua bán nợ là minh bạch thì thậm chí khi thị trường phục hồi, còn có thể có lãi chứ không phải lỗ.”

Rõ ràng công khai thông tin cả trong việc xác định nợ xấu, lẫn cung cách xử lý nợ xấu là điểm hết sức quan trọng. Hy vọng rằng, với bài học công khai minh bạch vấn đề nợ xấu sẽ được giải quyết, dù rằng không thể một sớm một chiều.

Theo dòng thời sự:


Trả lời phỏng vấn nhà văn Phong Thu


Trả lời phỏng vấn nhà văn Phong Thu


157

1. Xin hỏi vì sao từ một phóng viên báo đảng chị lại rẽ ngoặt từ lề phải sang lề trái, sự lựa chọn này đối với chị có khó khăn không? Chị được gì và mất gì khi từ bỏ đảng cộng sản, có bao giờ chị cảm thấy nuối tiếc khi theo đuổi con đường mình đã chọn không?

Một câu hỏi khá hóc búa, nhưng tôi thích trả lời những câu hỏi như thế này. Vâng tôi vốn là phóng viên báo đảng, hai tờ quan trọng nhất tại Việt Nam là quân đội và công an tôi đều trải qua, đó là 3 năm ở báo cựu chiến binh và một năm ở văn hóa Văn Nghệ công an và An ninh thế giới (sau này sát nhập thành Công an nhân dân). Tất nhiên vì miếng cơm manh áo mà tôi đành phải làm nhưng tư tưởng thì nổi loạn ,không Cựu Chiến Binh tí nào mà chỉ có “cựu chán binh” hoặc “cựu chén binh” thôi. Một tờ báo thủ cựu, già nua, nhạt nhẽo, một lô xiềng xích quấn quanh đầu, chán ngắt như tờ báo tường từ thời tôi còn ở nước… Nam nứ* hoặc đang còn ở trong… bụng bố dưới dạng tinh trùng X, hay Y vậy(!)… Năm 1960 tôi mới được chuyển qua bụng mẹ và được sống trong “đỉnh cao muôn trượng” như Thơ Tố hữu tả:

Chào 61 đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn 4 hướng
Trông lại nghìn xưa trông tới mai sau
Trông bắc, trông Nam trông cả địa cầu
v.v …

Vậy mà hơn 3 thập kỷ sau , khi tôi trở thành phóng viên báo đảng


vẫn một chất giọng ngây ngô khôi hài :

Đảng là gì hở em ơi
Là không quen biết mà ngồi với nhau


Vừa nghe đã muốn hở mười cái răng rồi

Còn nữa:

Bây giờ mình biết Xô Liên
Cái liềm bên ấy giống liềm bên ta
Bây giờ mình mới hiểu ra
Tây cai là giặc, Tây Nga là mình**


Là phóng viên nghĩa là phải phóng và lăn như …bi xuống mọi ngõ ngách xã hội để tìm hiểu khám phá ,lấy tư liệu viết bài, xong bao nhiêu lần đòi xuống các hội cựu chiến binh tại các tỉnh miền bắc hoặc ngay trong địa bàn Hà Nội, tôi đều bị trưởng phòng hành chính (phụ trách về vấn đề xe cộ) đập bàn quát tháo: “Báo ta là báo của hội, chỉ cần tính hội , không cần tính xã hội mà phải vẽ, nếu muốn tăng tính xã hội cho tờ báo thì mời chị đi sang báo khác ,hiểu chửa?

Lúc nào cũng” đang có chửa”*** vì thành phần ba đời không trong sạch (ông bà bên nội là… tạch tạch sè- tiểu tư sản ) bên ngoại là đại địa chủ có nợ máu với nhân dân , các cô bác, chú dì, người định cư tại pháp , người theo “địch” vào Nam v.v nên tôi biết rõ từ” hiểu chửa” bao hàm ẩn ý gì? Ngán ngẩm tôi bỏ báo ra đi với hy vọng thay vì “Cựu Chán Binh” sẽ được “Cựu Chén Binh”… Theo quan điểm của tôi lúc ấy: “Chỉ có những hạt giống tồi mới phải ở lì một chỗ chờ sự bố thí, ban ơn của đảng, còn tôi vốn không phải hạt giống mẩy, giống tốt, nhưng ắt không chịu làm một hạt thóc lép, chịu o ép một bề đến mức những âm tiết nở ra từ trái tim cũng phải sượng sùng, gượng ép, cắt xén lung tung

Khi chuyển sang văn hóa Văn Nghệ công an, được các “quan đồng chí” yêu mến, hỏi han:

- Chị thấy báo ta thế nào, các đồng chí trong ngành viết văn có hay không?

Tôi vốn thẳng ruột ngựa, nên trả lời thẳng tưng:

- Nói thật, công an không có văn đâu. Gọi là Văn hóa Văn Nghệ nhưng chỉ là cây nhà lá vườn thôi, làm sao sánh với các thần đồng, đại bút trong hội nhà văn như Dương Thu Hương, Ma văn Kháng, Trần Đăng Khoa được.

Thói đời: Tình mỏng thì lỗi dày, nên chẳng bao lâu, thói thẳng ruột ngựa của tôi (cứ tung bờm như ngựa phi giữa nắng chiều tà dưới thảo nguyên mênh mông, khươ cả 4 vó, chứ không chịu để tổng biên tập bịt mắt, đóng móng đi theo “lề phải” nên chưa đầy một năm tôi đã không chịu nổi cảnh “ngựa gầy, móng, vó mỏi cuồng” nên mon men tìm đến bãi cỏ xanh mướt bên kia bờ đại dương và quyết định tung mình vào cuộc chiến mới, chống lại cái ác, cái xấu, cái đạo đức giả. Tất nhiên là kẻ bơi ngược dòng nên vô cùng vất vả, thường xuyên phải gồng mình để sống, phải tự an ủi mình bằng rất nhiều những châm ngôn: “Sống đâu phải là một sự tùy tiện, đơn giản, mà ngược lại sống là cả một sự vật lộn, hành xác. Sống cũng là sự trải nghiệm những tình huống oái oăm ở đời”

Vì còn trẻ nên “sức bền vật liệu” của tôi khá tốt. Một ngày có thể ngồi viết liền tù tì 10-12 tiếng liền…Tất nhiên sự được là tự do bừng sáng ở trên đầu, là trái tim đập theo nhịp tự do, bác ái, hội nhập, chứ không bị “kẹp chì” nữa, còn mất cũng nhiều lắm, trước tiên là mất sức khỏe, nhan sắc, vì làm nghề gì có chân dung của nghề ấy. Làm nhà văn thì trước tiên phải đổi nhan sắc mình cho nhan sắc của những câu chữ. Điều này nếu không có nỗi đam mê cháy bỏng hoặc không may bị “trời hành” phải chịu, chắc không mấy ai dại dột đánh đổi. Hơn nữa làm nhà văn đối kháng còn phải chấp nhận sự mất mát tàn nhẫn hơn. Treo tính mạng mình trên đầu ngòi bút ,hay nói cách khác “Cầm mạng mình chạy trước cơ quan an ninh”…Tóm lại cả viết văn cũng như tranh đấu đều phải là sự tận tâm, tận lực, tận hiến…

Còn nuối tiếc ư? Chắc chắn là không rồi, vì đâu dễ gì có được cả một hàng rào nhân ái là 3 triệu đồng bào hải ngoại bao bọc che chắn như thế . Tất nhiên trước khi hướng mình ra biển lớn, tôi phải vịn vào câu thơ của nhà cách mạng Phan Chu Trinh:

Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Xá gì một chút cỏn còn con.


Vì thế đã chấp nhận làm một tiểu nữ oa vá trời rồi, sao còn phải ngồi sụt sịt vá víu lại lòng mình vì vết thương do kẻ thù gây ra? ngược lại cuộc đời tôi đã được 6 triệu cánh tay của bà con mình vá víu cho rồi.

2. Tôi được biết bà là thành viên của đảng Việt Tân, vậy xin hỏi, nhà cầm quyền Việt Nam có biết điều này và có đặt điều kiện gì với bà không?

Với câu hỏi này tôi xin khẳng định là không, vì nguyên tắc hoạt động của Việt Tân, các đảng viên được phép công khai ở Hải ngoại nhưng trong quốc nội thì tuyệt đối giữ bí mật để bảo toàn lực lượng. Để chó săn cộng sản không gây khó dễ nên tôi được anh em Việt Tân che chở và giữ an toàn tuyệt đối, khi tôi vào tù lần thứ nhất, công an cộng sản, sau khi tịch thu toàn bộ phương tiện làm việc của tôi trong đó có computer đã lục tung hòm thư của tôi lên và liên tục đặt câu hỏi:

-Qua mạng lưới an ninh trải khắp thế giới, chúng tôi biết anh Nguyễn Hải ở San Jose là người của đảng Việt Tân, chị làm việc dưới sự điều hành của anh ấy, chắc chắn chị cũng là thành viên của đảng Việt Tân?

Tất nhiên, với bản tính gan lì bướng bỉnh của mình, tôi không bao giờ trả lời câu hỏi này, nên tôi bảo thẳng:

- Nếu các người cậy có mạng lưới an ninh trải khắp thế giới, thì tự đi mà tìm hiểu lấy. Tôi chỉ biết anh Nguyễn Hải là một việt kiều yêu nước, còn anh ấy có phải đảng Việt Tân hay không chính tôi cũng không biết. Tôi chỉ có trang mạng toàn cầu thôi chứ chẳng có mạng lưới an ninh nào ở Mỹ hay thế giới mà biết điều này? Mà theo tôi biết, Nguyễn Hải chỉ là một biệt danh, chứ không phải tên thật, thậm chí ngoài giọng nói của anh ấy ra, tôi cũng không biết gì về cá nhân anh ấy. Vì vậy đừng đi sâu vào vấn đề này cho mất công.

Không thỏa lòng mong đợi chúng lại hỏi:

- Chị có biết đảng Việt Tân là một đảng khủng bố không?

Vốn tai quái, tôi đập lại:

- Thế à? Trong điều kiện Việt Nam tôi chỉ biết đảng cộng sản Việt Nam mới có chức năng đó. Cụ thể 3 đặc điểm nổi bật của đảng cộng sản Việt Nam là : Mị dân, tham nhũng và khủng bố.

Lưỡi không xương lắm đường lắt léo, chúng cố dồn tôi vào ngõ cụt, đường cùng :

- Ngay cả các tổ chức Hải ngoại cũng nói đảng Việt Tân là đảng việt tần, tức vật tiền, nghĩa là chỉ có tiền mà thôi

- Dù có vì tiền tôi nghĩ cũng tử tế tốt đẹp gấp nghìn vạn lần đảng cộng sản Việt Nam ươn hèn thối nát. Cái cách nói của công an nhân dân tôi đã biết tỏng từ lâu rồi, đó là sự đánh tráo khái niệm. Cụ thể, nước Pháp đem người sang để khai hóa văn minh cho đồng bào Việt Nam thì bị gọi là Thực dân mới. Người Mỹ đưa quân vào để ngăn chặn làn sóng cộng sản khắp khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam thì bị gọi là đế quốc, còn những kẻ lấn biển, cướp đất, giết ngư dân Việt Nam hết lần này lần khác thì coi là đồng chí 4 tốt, 16 chữ vàng. Tôi còn lạ gì, nên nếu các anh nói Việt Tân là đảng khủng bố thì tôi phải hiểu ngược lại: Việt Tân là chính đảng có tổ chức, tập hợp những đảng viên tốt, chung chí hướng, lý tưởng và vô cùng yêu nước thương dân.

Trước những lập luận đanh thép của tôi, chúng đành phải bỏ Việt Tân sang một bên, không tra khảo nữa.

Sau khi ra tù, lần đầu. Ngày 5-2-2008, tôi mới chính thức trở thành đảng viên đảng Việt Tân, dưới sự chứng kiến của dân biểu Na Uy Piter Getmark và chiến hữu Võ Hồng (Úc) nhưng tổ chức vẫn tuyệt đối giữ bí mật cho tôi. Đến khi tôi bị bắt lần thứ hai, bị giam tại Hỏa lò gần 7 tháng. Vừa xuống trại 5 được 6 tháng thì bị công an mượn tay đầu gấu đánh tơi tả, chỉ vì cái tội vượt mặt lãnh đạo trại, bí mật gửi thư ra ngoài cho con gái. Khi đó tôi tiều tụy còn hơn cả bùi thị Minh Hằng trong trại giáo dục thanh Hà. Vì thế theo nguyện vọng của chồng tôi, đại gia đình Việt Tân đã quyết định giải thoát cho tôi với tư cách là nhà văn đối kháng và là thành viên chính thức của đảng Việt Tân để chính phủ Mỹ can thiệp với bộ công an và bộ ngoại giao Việt Nam. Tất nhiên đến lúc ấy, công an cộng sản vẫn không hề biết tôi là đảng viên đảng Việt Tân, chỉ đến khi ra mắt cộng đồng ở Bắc và Nam Cali (lần đầu tiên) do Việt Tân tổ chức, tôi mới chính chức công khai mình là đảng Việt Tân.

3. Được biết chị đã đoàn tụ cùng chồng, xin hỏi cảm tưởng của anh nhà khi đặt chân lên mảnh đất Hoa Kỳ này?

- Các cụ vẫn bảo

Xưa nay vợ giống tính chồng
Đời nào đầy tớ giống ông chủ nhà


Trước kia, từ năm một nghìn chín trăm đã lâu, khi tôi còn là giáo viên trường làng và ông xã vốn là một cán bộ phong trào phụ trách Thể dục thể thao của huyện, thì quả là …trái nhân duyên. Bên quan văn, bên quan võ, quan võ lúc nào cũng gia trưởng, độc đoán, chỉ thích…đè quan văn nằm ngửa tênh hênh ra giữa nhà. Nhưng tôi, vốn cứng đầu, cứng cổ, hiếu thắng và kiêu hãnh nên chẳng chịu cho ai đè mình, vì thế cái cảnh “vợ chồng như thớt với dao. Ngày thì cãi lộn đêm vào ngủ chung” cứ liên tục diễn ra. Sau này khi tôi chuyển nghề từ cầm phấn sang cầm bút, còn ông xã cũng chuyển từ cán bộ phong trào thành giáo viên thể dục lại càng …trái nhân duyên hơn. Ông xã gõ đầu trẻ, còn tôi tự …gõ vào đầu mình , trong khi cuộc sống trong xã hội cộng sản có muôn vàn túng thiếu, khó khăn. Lớp men hạnh phúc bị viên đá từ thực tế cuộc sống ném vào hết lần này lần khác cứ bong ra từng mảng …Nên thay vì gõ vào đầu trẻ hoặc gõ vào đầu mình theo quy luật ngành nghề đã chọn thì chúng tôi…gõ vào đầu nhau chan chát…Đã có lúc tưởng phải “buông nhau ra” đường ai nấy đi, hai người hai lối, chứ cứ như “chó đốm” với “mèo khoang” thế này thì mệt mỏi qúa. Nhưng rồi khi tôi mạnh dạn bước hẳn sang “lề trái”, lột mặt trái tấm huân chương của đảng ra để soi từng vết máu, lỗ thủng trên tấm huân chương hào nhoáng và dối trá đó rồi bị bắt thì không còn gì trái nữa, cả nhân duyên cũng như quan điểm, lập trường v.v chỉ còn lòng căm thù cộng sản, ghét bọn chó ác công an, bất mãn với chế độ và thương cảm xa xót cho nhau mà thôi

Bản thân tôi thương ông xã đã vì tôi mà phải chịu nhiều kiếp nạn , đang từ bục giảng bị cả đám công an kéo vào hùng hổ lôi ra khỏi trường ấn vào xe ô tô bắt lên đồn “làm việc”- thực chất là khai thác các mối quan hệ bạn bè liên quan đến dân oan, dân chủ hoặc các “thế lực thù địch nước ngoài” mà chồng tôi một mực che chắn cho vợ. Không biết, không nghe, không thấy, không nói, không bán đứng vợ cho cơ quan an ninh dù bị đe dọa đuổi khỏi trường hết lần này lần khác, bị cả đám phụ huynh học sinh “rách chuyện” phản ảnh với nhà trường: “Sao lại để cho một người có lý lịch “ mờ ám” như thế dạy con cái họ trong khi dạy người trước tiên phải dạy mình”. Chưa kể đang yên đang lành thì bị cả lũ thương binh giả, côn đồ thật, tức “quần chúng tự phát” kéo vào nhà…đập cả cây gậy vào đầu. May mà né được nên thoát hiểm trong gang tấc, gậy chỉ trượt xuống vai và lưng …chỉ vì tội không dạy nổi vợ, để vợ lăng loàn, chửi bới, nói xấu bươi móc các thói hư tật xấu của đảng, nhà nước. Chưa kể 14 lần bị đảng đổ tư tưởng Hồ Chí Minh vào cửa nhà nữa chứ. Nếu không phải “duyên phận phải chiều” thì còn đâu là tổ ấm hay tổ lành nữa mà vá chằng vá đụp, rách rưới tan hoang, chưa kể còn bị dây tư tưởng Hồ Chí Minh vào đầu óc, trí não cách cảm, cách nghĩ nữa…

Còn ông xã thương tôi đã ốm đau bệnh tật từ nhỏ, vì đấu tranh cho lẽ phải mà phải vào tù hết lần này đến lần khác, trong khi bà con mình ở xa, cộng sản cặp kè ngay bên cạnh. Liệu “nước xa có cứu được lửa gần”, nên tháng ngày lặn lội đi thăm vợ ở tù, mua thuốc rồi lên mạng kêu cứu các tổ chức, hội đoàn, bắt cộng sản phải cho vợ uống thuốc kẻo lao phổi và tiểu đường như một “kẻ giết người âm thầm không dao” sẽ cướp đi sinh mạng của vợ lúc nào không biết… Tóm lại là đặt nỗi đau và tình yêu thương lên tất cả, dù bị tù, bị bắt, bị đánh, bị đuổi việc…v.v Chính vì vậy, khi đặt chân lên mảnh đất Hoa Kỳ tràn trề tự do và niềm vui sống, cảm nhận của ông xã cũng giống như tôi, thở phào vì đã thoát hiểm ( trong 17 tháng trời xa cách, ông ấy vẫn được các đồng chí “còn đảng còn mình” âm thầm chăm sóc, theo dõi, bẩm báo với cấp trên hàng ngày…Cảm nhận đầu tiên theo ông ấy là thiên nhiên Mỹ qúa đẹp, vừa hiện thực, vừa lộng lẫy lại vừa như ảo ảnh, thiên đường. Khi ấy ( cuối 10-2012) cây đang mùa thiên hóa, lá vàng, lá đỏ, lá xanh đan xen nhau suốt dọc đường như có bàn tay của tạo hóa khéo léo xé vụn những đám giấy màu xanh đỏ tím vàng rắc lên từng bụi cây vậy. Khác hẳn với Hà Nội chật chội ô nhiễm: “Phố không cây, mây lẫn khói xăng chiều”, hoặc nếu có còn thì cây cũng gầy guộc còi cọc như đứa trẻ thiếu sữa mẹ, thiếu ô xy để thở nên không thể là nơi trú ngụ lý tưởng cho những bầy chim đến hẹn hò…Thay vì viết ra thành bài, thành lời nói như tôi thì ông ấy ghi lại bằng hình ảnh vô cùng sống động, sắc nét qua những tấm ảnh chụp hàng ngày hàng giờ thậm chí trong từng khoảnh khắc…

Xin cám ơn chị vì những câu trả lời trung thực này

- Dạ, ngược lại tôi phải cám ơn vì được sự quan tâm của giới truyền thông, đặc biệt là nhà văn Phong Thu

Trần Khải Thanh Thủy
(ghi lại)


© Đàn Chim Việt
—————————————-


*Ý nói chưa ra đời,
** Tây Cai chỉ Người Pháp, Tây Nga là Liên Xô
*** Nói lái: Chưa có đảng


THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Tại sao dân tộc cần giải phóng và giải phóng khỏi cái gì?
  2. Phỏng vấn ông Richard Lee Armitage, nguyên Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ
  3. Tệ nạn ở Cục Phòng Chống Tệ Nạn Xã hội
  4. Spiegel phỏng vấn nhà công nghệ tiên phong David Gelernter: Tình yêu ngoài tầm của Watson
  5. Lời than vãn của một phóng viên
  6. Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước

Tin tặc Trung Quốc bị nghi ngờ tấn công Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ


 

 

Tin tặc Trung Quốc bị nghi ngờ tấn công Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ

Trụ sở Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Hoa Kỳ - CFR - tại New York

Trụ sở Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Hoa Kỳ - CFR - tại New York

(Gryffindor)

Trọng Nghĩa


Vào cuối tháng 12 vừa qua, Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations) một trong những trung tâm tham vấn uy tín nhất nước Mỹ về chính sách ngoại giao đã bị một nhóm tin tặc tấn công. Thủ phạm vụ tấn công là một nhóm tin tặc xuất phát từ Trung Quốc. Theo giới chuyên gia tin học, không loại trừ khả năng nhóm này được hậu thuẫn của chính quyền Bắc Kinh.


Theo các thông tin được giới truyền thông Mỹ tiết lộ thì trang web của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại CFR, trụ sở tại New York, bị xâm nhập vào ngày 26/12/2012, sau khi một số chương trình thu lượm thông tin đã được lén lút cài đặt trước đó 5 ngày. Đối tượng dọ thám của tin tặc là những ai truy cập vào trang web của CFR.

Cảnh báo về sự kiện này đã liên tiếp được tung ra, vừa từ giới chuyên gia về an ninh mạng, tập đoàn Microsoft, vừa từ chính phủ Mỹ.

Ghi nhận ban đầu là tin tặc xuất phát từ Trung Quốc, và theo một bài viết trên trang blog có uy tín The Shangaist vào hôm nay, 06/01/2013, thủ phạm rất có thể là nhóm mang tên Elderwood, liên minh giữa một số tin tặc hoạt động tại Trung Quốc, đã từng tấn công vào Google, các nhóm đấu tranh cho quyền của người Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ, Tổ chức Ân xá Quốc tế, các trang web du lịch Đài Loan, và các website khác được xem là « chống Trung Quốc ».

Theo chuyên gia nói trên, vấn đề chính không phải là tin tặc có phải là người Trung Quốc hay không (các cuộc tấn công đều có liên quan đến máy tính đặt tại Trung Quốc), mà là các thủ phạm có liên hệ đến chính phủ Trung Quốc hay không.

Nhóm Elderwood đã nhiều lần khiến giới chuyên gia an ninh mạng ngạc nhiên về nguồn lực hầu như không giới hạn của họ, và tính chất cực kỳ tinh vi của các cuộc tấn công. Nhiều chuyên gia đã cho rằng, nhóm này không chỉ bao gồm một vài tin tặc ở Bắc Kinh và Thượng Hải.

Chính quyền Trung Quốc đã cực lực bác bỏ nguồn tin cho rằng họ có dính líu tới vụ tấn công vào Hội đồng Quan hệ Đối ngoại mới đây, cũng như các cuộc tấn công trước đó. Thế nhưng, các đợt tấn công trước đây của Elderwood (chẳng hạn như vụ đánh vào Google năm 2009) từng được xác định là có liên can tới chính phủ Trung Quốc.

Một chi tiết khác cho thấy là Bắc Kinh hết sức có lợi nếu khai thác được các dữ liệu mà tin tặc có thể thu lượm được từ trang web của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ, và những thành viên của định chế này.

CFR là trung tâm tham vấn về chính sách ngoại giao hàng đầu tại Mỹ, chủ trương tập san Foreign Policy nổi tiếng. Trong số gần 5000 hội viên của CFR, có những tên tuổi như lừng lẫy như Ngoại trưởng Mỹ sắp mãn nhiệm Hillary Clinton cũng như người vừa được chỉ định lên thay là Thượng nghị sĩ John Kerry, hay là người nhiều triển vọng lên làm tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, cựu Thượng nghị sĩ Chuck Hagel, hoặc là chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, nữ Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein…

Trong danh sách các hội viên Hội đồng Quan hệ Đối ngoại còn có ba đời Tổng thống Mỹ Bill Clinton, G.W. Bush và Barack Obama, hai cựu Giám đốc CIA Robert Gates và David Petraus..., tóm lại, tất cả các nhân vật có tên tuổi trong lãnh vực ngoại giao và quốc phòng Mỹ.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link