Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, January 7, 2013

Phát Ngôn Nhân, một tên tử tù được cứu ???


SÁCH: ÔNG PHÁT NGÔN NHÂN

 

 

 

 

Tìm hiểu 18:

 

Phát Ngôn Nhân, một tên tử tù được cứu ???

 

Khi quyết định viết về ông Võ văn Ái, thì điều cần yếu là biết ông ấy là ai, vì ông mang quá nhiều chức vụ đời, đạo và ở tầng cao “trí thức quốc tế”; ngược lại, người viết là một nông dân bản địa; và chỉ là một cu li chưa thấy bằng tiểu học. Chính vì vậy, tôi không có tham vọng biết nhiều về ông; mà chỉ cần biết ông qua những gì ông viết, ông nói. Nếu trích thêm chút đỉnh, thì cũng chỉ nhằm tham khảo mà thôi.

 

Trong cuốn sách: “Người Trí Thức Hành Động Và Dẫn Đường”, kế sau trang 168, ông Võ Văn Ái đưa lên những tấm hình của gia đình ông. Ở trang đầu tiên và hình thứ nhất, ông ghi:

“Tác giả năm lên một tuổi chụp cùng cha mẹ nơi sinh quán Pha Long Hoàng Liên Sơn, biên giới Việt Hoa”.

Nhìn kỹ cách ăn mặc, khuôn mặt, cách búi tóc của bà cụ, tôi có cảm tưởng bà là người Thiểu số trên Hoàng Liên Sơn. Để kiểm tra lại vấn đề này, tôi đã tra cứu nhiều về các Dân tộc ở đó, xem xét văn hoá, đời sống.....thì có thể bà cụ là người Thái Trắng. Dân tộc này ở cả hai bên biên giới, và họ là chủ của vùng cao nhất này. Họ là những người phát xuất từ Vân Nam Trung Hoa.

 

Hình thứ hai, ông Ái ghi:

“Hình trái: Tác giả năm 2 tuổi di chuyển trên vùng biên giới Pha Long”.

Tấm hình này có ý nghĩa rất cao đối với tôi. Tại sao ? Bởi vì trong thực tế, một người cha, người mẹ Việt Nam thuần tuý không ai có đủ can đảm, kể cả đủ tàn nhẫn để cho đứa con bằng củ khoai, mới hai tuổi lên lưng ngựa một mình mà “di chuyển”; ngoại trừ người ta tin rằng thằng nhỏ có “chân mạng Đế Vương” ! Chỉ cần ruồi muỗi cắn ngựa, thì tức khắc nó vẫy đuôi, nó cựa mình thì thằng nhỏ rớt xuống chết ngay. Với các Dân tộc thiểu số thì có lẽ khác, vì họ đã tập luyện từ khi mới đẻ chăng ?

Qua phục sức của cha ông, và đôi “bốt” cao của “thằng bé”, cho thấy họ là “danh gia vọng tộc” của người Thái vào lúc cả Dân tộc Việt đói nghèo, rách nát, chứ không phải tầm thường. Khăn đội đầu và áo đen của bà cụ vốn là phục sức trong những ngày lễ hội người Thái Trắng. Ngoài những ghi nhận ấy, tôi lại thắc mắc tại sao ông Võ Văn Ái lại gọi tên sứ Lý Giác của Tàu là “Bạch Y” Cư Sỹ, nên tìm hiểu thêm. Đọc các tài liệu về người Thái Trắng mới hiểu là dân tộc ấy còn có tên là Bạch Y. Ông Ái thiệt là thâm trầm, siêu tuyệt !!! Lại nữa, khi viết về Penelope, ông Ái cho rằng chỉ là tình yêu quốc tế cao thượng, còn nghĩa nào thì không. Để xét kỹ lý do, tôi tìm thấy tục lệ “NGỦ MÁI” của người Thái Trắng. Tục lệ này rất vui và rất hay. Nam Nữ có thể ngủ chung với nhau trước khi cưới; nhưng ngủ thì ngủ mà cấm RỜ, cấm BẬY...chỉ trò chuyện mà thôi. Nhưng không biết Ái “phá vòng luân lý cũ” hay không ?

Xét về lịch sử thực dân trên đất nước Việt Nam, thì vào những năm tháng ấy, Pháp thường hay “dụ đạo” người thiểu số. Đưa con cái của họ vào “nhà chung” để sau trở thành những giáo sỹ cực đoan nhất. Một trong những thí dụ là giáo sỹ Nguyễn Lạc Hoá. Ông này gốc Trung Hoa, sinh năm 1908, chết năm 1989 tại Đài Loan. Wikipedia ghi:

“Theo tài liệu lưu trữ thì Nguyễn Lạc Hóa sinh 28 tháng 8 năm 1908 tại Móng Cái, Hải Ninh (nay thuộc Quảng Ninh) trong gia đình người Hoa gốc Quảng Tây (Trung Quốc). Cha là ông Nguyễn Phương Ngôn và mẹ là bà Linh Thị Chi, cư ngụ tại Sài Gòn. Tên thánh của ông là Augustinus (Augustinô) và tên tiếng Hoa là Yong Luo Hua (Vĩnh Lộc Hoa). Ông có 2 chị em gái (một chị nuôi và một chị ruột), 3 em trai: Thành, Phát, Nghiệp”.

Ngoài ra, người ta ghi nhận, ông Hoá là bạn học trong tu viện với Ngô Đình Diệm, nên năm 1957, ông Diệm đã đưa ông từ Cao Miên về để lập Biệt Khu Hải Yến. Ông đã sử dụng những gia đình Kitô người Tàu Nùng làm căn bản và chống Cộng sắt máu nhất. Ông vừa là một giáo sỹ Kitô, vừa là Trung Tá trong quân đội Tưởng Giới Thạch. Ngô Đình Diệm phong chức Thiếu Tá Tư Lệnh (có chỗ nói là Thiếu tướng). Tài liệu Cộng Sản ghi nhận ông đã giết 1,765 người.

Truy nguyên một số hình ảnh và lịch sử như thế để tìm hiểu về ông Võ Văn Ái là một điều hết sức cần thiết. Tại sao ? Bởi vì, như chúng ta biết, mọi người con Việt Nam đều ít nhất có lòng thương cha, nhớ mẹ, nhưng Võ Văn Ái thì không. Ông đã đem cả cuộc đời hy hiến cho một bổn phận nào đó, đến nỗi suốt mấy chục năm ông không hề trở lại thăm nhà; đặc biệt là hai mươi năm dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, kể từ ngày ông qua Pháp (1955-1975) !

Tôi chưa thể truy tìm nguồn gốc họ Võ của ông, mặc dù đã hỏi các vị ở Thế lại, Xuân Hòa, Dương Xuân Thượng ở Thừa Thiên-Huế, nhưng không ai biết gia đình họ Võ của Võ Văn Ái. Lại đọc những ngôn ngữ kỳ lạ như “khai mở”, “cất tiếng”, “cất lên”, “trời chì”...Lại thấy những sự di chuyển kỳ cục từ Hà Nội đến Sài Gòn, ra Nha Trang, Bình Định, về Huế...Lại nói ở Bến Ngự, rồi tự thú “qua cầu trường Tiền”...rồi học Paul Bert, Khải Định, Pellerin, Yersin...và rồi....Tất cả thứ ấy cho phép người đọc hiểu là ông không phải người Kinh ở Huế, Mà là DÂN TỘC THÁI TRẮNG đã được “nhà thờ” giáo dưỡng, kêu giết người, rồi bị án tử hình, rồi đưa đi trốn. Và cuối cùng năm 1997 ông đã tự thú là “tử tội” được Nguyễn Ngọc, Lễ Đại tá Tổng Giám Đốc Công An Cảnh sát thời Diệm cứu thoát và đưa đi Pháp, qua Đức học trong TU VIỆN MẸ CÔNG GIÁO. Tất cà đó là do ông tự viết ra, tôi không thêm bớt chữ nào.

 

Đọc bài “Thằng Em” ngày 14-7-1981 của ông, tôi lại thấy một kỳ lạ khác:

“Ngày tôi ra đi, thằng em mới bốn năm tuổi. Nhỏ nhắn tựa con chim sơn ca. Tôi chỉ còn nhớ đôi mắt tinh anh và một nụ cười rực sáng. Ba mươi năm qua, tôi sống với mộng mị, với gió bụi, khổ lụy, với những thứ lý tưởng ngu xuẩn người ta trao cho. Ba mươi năm lo những chuyện trời biển không đâu. Tôi đánh mất đứa em! Chẳng hiểu trong lần gọi giây nói đầu tiên ấy nó cảm thông cho giây phút im lặng nghẹn ngào núi đổ kia chăng ?”.

 

Ba mươi năm qua kể từ năm 1981, tức là năm 1951; lúc ông rời bỏ Việt Nam. Nhưng trang 119 trong sách NTTHĐVDĐ thì ông ghi là ông đến Pháp ngày 06-10-1955. Vậy ai biết ông đi ngày nào ? “Ngày tôi ra đi thằng em mới bốn năm tuổi” theo bài này thì ông Tuấn sinh khoảng 1946-1947. Nhưng theo sách thì có lẽ vào năm 1950-1951. Vậy tin cái nào ?

Đọc lại các trang 10 và 11 tôi thấy:

“Hình ảnh đánh động tâm tư tôi từ thời bé đầu thập nên 40 là....Thời đó, mẹ tôi thui thủi trong căn phòng hiu quạnh lúc cha tôi đi làm xa trên biên giới Việt Hoa. Mỗi năm một bận ông về thăm một hai ngày...(trang 11): Thuở ấy khi đưa đẩy tao nôi ru em thay mẹ, tôi hát thơ cụ Phan...Hết làm cho Pháp, thân phụ tôi mở căn hàng xén ở Huế. Giữa thập niên 40, tôi chứng kiến hai kỷ niệm khắc sâu. Lần đầu là tên Tàu Phù (quân Tàu vàng  sang giải giới quân Nhật). Lần sau là tên lính Pháp. Cả hai lần bọn chúng cướp giật hàng khi ngả giá. Chúng đánh cha tôi khi ông phản ứng”.

 

Qua phần này, chúng ta thấy là vào khoảng 1943-1944 ông đã có em. Năm 1945 cha ông trở về Huế. Nhưng một số vị biết ông đã cho biết gia đình ông có căn tiệm bên cạnh tiệm Đồng Dụng tại đường Trần Hưng Đạo Huế; nghĩa là một gia đình tương đối giàu có. Cha ông lại là bạn của Tướng Nguyễn Ngọc Lễ; một nhân vật như ông Hùm Xám của chế độ Ngô đình Dìệm. Vào năm 1955, Nguyễn Ngọc Lễ là Đại Tá Tổng Giám Đốc Nha Công An, Cảnh Sát. Trong bài “Dung Nhan Cựu Hoàng” đăng trên mạng Gio-O, ông Ái viết:

“Chục năm sau, tôi bị bắt vì tham gia kháng chiến như mọi người dân yêu nước. Một người bạn học của cha tôi đã kịp thời can thiệp cứu tôi thoát cảnh chết bắn với năm người tù khác. Ông chính là tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Sau ngày tôi ra tù, ông sợ còn lôi thôi với đủ thứ ban sở An ninh, Liêm phóng, Phòng nhì... nên đưa tôi về sống trong gia đình ông hai tháng ròng trước khi tôi phải rời thành phố Huế....Đây là khoảng thời thơ mộng nhất của tình người giữa chiến tranh ác liệt mà Bác và Dì Lễ nuôi nấng tâm hồn tôi. Hai người chưa hề thống trách hay nói với tôi lời gì về chính kiến. Phần tôi cứ giữ nguyên trong đầu chí nguyện đấu tranh theo lối mình. ”.

Đoạn văn trên đã chửi thẳng vào mặt đoạn trong trang 118 sách “NTTHĐVDĐ”. Không những thân thiết, mà vợ chồng ông Lễ còn biết Ái là tên Cộng Sản, nhưng vẫn nuôi mà không dạy dỗ cho nó từ bỏ; và đã cứu khỏi “tử tội”:

 “Nhân biết một người bạn học của thân phụ tôi làm ở Tổng Nha Cảnh Sát, tôi đánh bạo viết thư xin ông giúp. Một tuần sau tôi có thông hành”.

Đã từng ở trong nhà hai tháng, mà còn gọi là “nhân biết’ được sao ? Sự thân tình đến mức độ phải đem ông về ở trong nhà, và cứu ông thoát khỏi “tử hình”, thì biết rằng giữa hai nhà phải có độ liên hệ đặc biệt đến chừng nào.

 

Có điều khó nghĩ là tại sao Võ Văn Ái theo Việt Cộng mà ông Đại Úy Kitô Tây lại “cứu chuộc” ? Võ Văn Ái làm gì mà phải bị tử hình ? Để hiểu thêm, chúng ta đọc tiếp bài này:

Sáng ấy là ngày 23.9.45.

Nhưng hãy trở lại một tháng trước đó. Một ngày cuối tháng Tám ở Ngọ Môn cung thành Huế.

Tôi không giữ lại không gian sôi động biểu dương đầy nghẹt người như sau này đọc trên sách báo. Tôi chỉ nhớ một không khí trầm ngâm, căng thẳng pha lẫn lo âu dưới bầu trời chì bệch lất phất mưa. Người ta chờ lệnh vua tuyên chiếu, người ta lo âu bàn tán một cuộc nổi dậy, một cuộc nội chiến ?

Một nghìn ? hai nghìn ? ba nghìn người ? chờ trông trên sân cỏ dài hút trước Ngọ Môn chắn bởi hai dãy nhà có chín khẩu thần công”.

 

Đây là một đoạn lịch sử đầy sai lầm. Từ câu:Sáng ấy là ngày 23.9.45. cho đến “một tháng trước đó”, tức Ái nói 23-8-1945 Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Sự thật hầu hết sách vở đều ghi ngày trọng đại ấy là 30-8-1945. Sự xác tín nhất là lời ông Cù Huy Cận, một trong ba thành viên chính phủ Hồ Chí Minh nói là ông rời Hà Nội ngày 27-8-45. Ngày 23-8-1945 (có chỗ ghi ngày 22) là ngày Việt Minh đánh điện yêu cầu Bảo Đại  thoái vị. Ngày 25 là ngày Bảo Đại công bố chiếu thư; nhưng Việt Minh không chịu, bắt ông phải tuyên chiếu trước dân chúng. Do đó, mới có chuyện cử phái đoàn do Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào “làm lễ tước ấn tín”. Lúc đó Tố Hữu đã được Hồ Chí Minh cử vào làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến. Võ Văn Ái viết lịch sử mù !

 

Xin đọc ngay từ :

“Tiếng ông chậm rãi đọc chiếu thoái vị”  đến đoạn : “Chục năm sau, tôi bị bắt vì tham gia kháng chiến như mọi người dân yêu nước”.

Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945; vậy thì “chục năm sau” phải là 30 tháng 8 năm 1955. Thế nhưng Võ Văn Ái đã viết trong sách Người Trí Thức Hành Động Và Dẫn Đường là, ông bị bắt lần đầu năm 11 tuổi, tức năm 1949. Ông cũng cho biết bị bắt lần thứ hai vào lúc 13 tuổi, tức năm 1951 ! Lạ lùng hơn nữa là ông cho biết bị “tống xuất khỏi Huế cuối thập niên 40”. Và Ái đã đến Pháp ngày 06-10-1955 rồi. Vậy thì chuyện ông Nguyễn Ngọc Lễ nuôi ông hai tháng làm sao xảy ra ở gần Điện Kiến Trung trong Đại Nội Huế ? Như thế, rõ ràng Võ Văn Ái đã “giết người nên bị tội tử hình vào năm 1955”, Nguyễn Ngọc Lễ cứu, sau đó mới đi Pháp. Nhưng năm 1955 là chế độ Ngô đình Diệm rồi. Vậy sao đi du học !!! Y chang sách “Biến Động Miền Trung”.

 

Xin đọc tiếp “Dung Nhan Cựu Hoàng”:

Một buổi trưa tôi nằm đọc bộ kinh Kim Cang nơi căn biệt thự ấy. Bỗng nghe tiếng nói oang oang võ tướng của Bác Nguyễn Ngọc Lễ bên ngoài. Vụt nhìn qua cửa sổ nắng gắt, tôi ngạc nhiên thấy sừng sững trên đống gạch hoang tàn ở đại nội, ông Bảo Đại đeo kính đen, mặc com-lê trắng, đầu chải láng đứng trầm ngâm. Giai đoạn ấy biên cố « Hoàng đế hồi loan » rộn rịp thành phố Huế và xôn xao khắp nước”.

Cái láo lại lòi ra quá tưởng tượng. Theo các sách của Trần Văn Đôn, Đỗ Mậu, Chính Đạo..., chúng ta thấy rằng, tháng 5-1948 Bảo Đại chỉ định Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng, Phan Văn Giáo làm Tổng Trấn Trung Phần (lúc này chưa phải là Thủ Hiến). Ông Giáo xin Đại Úy Nguyễn Ngọc Lễ đang phục vụ trong quân đội Pháp về, thăng chức Thiếu Tá làm Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia, được gọi là Việt Binh Đoàn; Trần Văn An làm Tham Mưu Trưởng, Đỗ Mậu Trưởng Phòng Ba. Bảo Đại Hồi Loan lần thứ hai vào ngày 28 tháng 4 năm 1949, nhưng Ái bị án tử hình phải là 1952 (14 tuổi vì bị bắt 13 tuổi và ở trong tù những năm. Đoạn này trái với bài “Dung Nhan Cựu Hoàng”), thì làm sao Ái ở trong Đại Nội với Nguyễn Ngọc Lễ ??? Ngược lại, tuổi của Võ Văn Ái phải khác. Phải chăng Võ Văn Ái đã lừa dư luận Việt Nam và  cả Mỹ ?

Đọc các đoạn: “nên đưa tôi về sống trong gia đình ông hai tháng ròng trước khi tôi phải rời thành phố Huế”;”tôi bị tống xuất khỏi Huế cuối thập nên 40”, thì chúng phù hợp với nhau; nhưng đoạn sau đây lại chống trái: “Chục năm sau, tôi bị bắt vì tham gia kháng chiến như mọi người dân yêu nước”. Đoạn này có nghĩa là năm 1955 ông Ái mới bị bắt lần thứ hai và bị xử “tử hình”. Lúc ấy thì ông Nguyễn Ngọc Lễ đã là Đại Tá Tổng Giám Đốc Công An-Cảnh Sát, chứ sao là Đại Uý, ở trong Hoàng Cung ? Ngay chỗ này cũng không đúng, vì khi về làm Tư Lệnh Việt Binh Đoàn thì đã là Thiếu Tá. Bị bắt lần đầu 11 tuổi, tức năm 1949, thì làm gì có chuyện tử hình ? Hoàn toàn láo khóet !

 

Hãy đọc đoạn này:

“Độc một lần tôi không được theo cha vào biên cố, mà tự mình sà tới chốn mông lung lịch sử : đêm 9 tháng 3 ngày Nhật lật Tây trên toàn cõi Đông dương năm 1945.

Sáng tinh mơ hôm ấy, bà nội gọi cha lên ngay Bến Ngự xem tin tức chú Ấm thế nào. Cha phóc xe đạp ra đi. Một lát sau, chẳng biết tin đến từ đâu, bằng cách nào, cả thành phố Huế xôn xao chuyện Nhật bắt một số người Việt đem giam trong khách sạn Morin bên kia cầu Trường Tiền. Đến lượt mẹ gọi tôi chạy sang Morin xem có cha tôi trong đám người bị bắt. Đi đã lâu chưa thấy ông về”.

 

Đoạn này thật vui. Lúc đó Ái mới bảy tuổi và chắc cũng cao bảy tấc, thế mà mẹ ông sai đi tìm cha giữa rối loạn được sao ? Có bà Mẹ nào độc ác như thế ? Điều quan trọng ở đây là Võ Văn Ái đã xác nhận nhà ông ở phía Tả Ngạn; nghĩa là đúng như các vị khác nói rằng gia đình ông ở đường Trần Hưng Đạo. Nhưng Ái cũng khôn là cho bà nội ở Bến Ngự. Thế nhưng, cho đến nay tôi vẫn không tìm thấy dòng họ Võ của Ái ở đâu, mặc dù đã hỏi nhiều nơi, nhiều người. Xin ông Ái nói ra xem nào ? Đừng bắt chước Nông Đức Mạnh nhé.

Đọc đi đọc lại mãi câu này rất lâu ngày, tôi vẫn không hết hoài nghi về Võ Văn Ái:

“Một người bạn học của cha tôi đã kịp thời can thiệp cứu tôi thoát cảnh chết bắn với năm người tù khác. Ông chính là tướng Nguyễn Ngọc Lễ”.

 

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam- Pháp, tôi chưa từng nghe chuyện đưa ra toà xử tử một thằng bé MƯỜI BA TUỔI, mà CÁI THÂN CHỈ BẰNG CỦ KHOAI. Vậy thì, chắc chắn VÕ VĂN ÁI PHẢI LÀ TÊN GIẾT RẤT NHIỀU NGƯỜI, thì Tây và “VIỆT GIAN BẢO ĐẠI” mới xử tử !!! Nhưng đã là một tên “Việt Minh” giết người không gớm tay, thì tại sao ông Ngô Đình Diệm lại đưa đi du học; và được sự chấp thuận của Đại giáo sỹ Ngô Đình Thục và Cao Văn Luận ? Chỉ có một lý do duy nhất mà chế độ Kitô Ngô Đình Diệm dung dưỡng, đó là VÕ VĂN ÁI GIẾT NGƯỜI CHO CHÚA, chứ không có một lý do nào khác.

 

Đoạn văn: can thiệp cứu tôi thoát cảnh chết bắn với năm người tù khác”; cùng với tấm hình vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Lễ sau trang 168 ghi: “ông bà Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ người CỨU TỬ thời tôi bị bắt cuối thập niên 40”, và một đoạn tại trang 12 cuốn NTTHĐVDĐ diễn tả 6 người trong nhà tù gồm Ba người đang bị tra tấn, hai người đàn bà và ông Ái đã nêu lên nhiều vấn đề:

-Thứ nhất: VÕ VĂN ÁI LÀ TÊN TỬ TÙ ĐÃ ĐƯỢC TRỐN THOÁT TRONG HƠN NỬA THẾ KỶ, NAY MỚI TỰ THÚ ???

Thứ hai: Phải chăng do tội ác giết người, Võ Văn Ái đã tạo hoả mù lí lịch để che mắt kẻ khác ?

a) Sách “Người Trí Thức Hành Động Và Dẫn Đường” (2010), Võ Văn Ái ghi lần đầu bị bắt 11 tuổi (1949) ; lần hai là 13 tuổi (1951). Rời Việt Nam 06-10-1955.

b) Bài “Thằng Em” (1981), chứng tỏ Ái rời Việt Nam 1951, như vậy làm sao có chuyện năm 1953 dạy tư thục Đà Lạt ?.

c) Phần Ba bài “Đã Đến Trường Thành...”, (tháng 8-1988): (duyên nợ nào đã cho tôi sống một tháng trời giữa lòng Đại Nội vào những năm niên thiếu mười hai, mười ba tuổi- nhưng trong bài “Dung Nhan Cựu Hoàng” lại nói “hai tháng”), thì Võ Văn Ái đã bị kết án tử hình trong hay trước 1948-1949. Nghĩa là bị án tử hình từ 10-11 tuổi ??? Điều này hẳn không đúng vì chính Ái nói là bị bắt lần đầu 11 tuổi, tức 1949. Phải lần thứ hai mới tuyên án, tức năm 13 hay 14 tuổi, tức năm 1951-1952, và phải tại Đà Lạt, ví Ái đã bị tống xuất khỏi Huế cuối thập niên 1940.

d) Bài “Dung Nhan Cựu Hoàng” (1997), (từ “đọc chiếu thoái vị” ….đến “chục năm sau tôi bị bắt”, thì rõ ràng Võ Văn Ái bị “án tử hình” vào 1955, thời Ngô Đình Diệm. Bị tử hình lúc 17-18 tuổi ??? Điều này tương đối chính xác.

Thứ ba: Do tội ác giết người ghê gớm, mặc dù tự thú, Võ Văn Ái vẫn dùng mánh khóe để không cho chúng ta biết Võ Văn Ái đã giết ai ?

a) Giả sử thứ nhất là Ái “làm Cách mạng” nên bị chính phủ Pháp và Bảo Đại tuyên án tử hình; nghĩa là Võ Văn Ái giết người chống Cộng sản !

b) Nhưng ở trong tù Ái vẫn điềm nhiên ngồi xem tra tấn, thoải mái học hết các bộ kinh trọng yếu của nhà Phật và cuối cùng không bị giết; vậy có phải Ái là “điểm chỉ viên” được đưa vào theo dõi các cán bộ Cộng sản và chính Ái giết những người này khi họ “thành thật khai báo” (Ái Cộng sản) ? Hoặc là, do những người này “ngoan cố” không chịu khai báo, nên giết đi (Ái theo Pháp-Bảo Đại), nhưng điều này không đúng vì Ái nói Ái làm cách mạng kia mà ? Đây là hai trường hợp nếu vụ án xảy ra năm 1948-1949.

d) Nếu Ái bị tử hình năm 1955, theo bài viết “Dung Nhan Cựu Hoàng”, thì Võ Văn Ái đã giết nhiều người Phật Tử chăng ? Phải chăng sau khi sai Võ Văn Ái giết nhiều người Phật Tử, các cơ quan địa phương phát hiện, nhưng không biết người “phe mình” nên đưa ra toà buộc tội “tử hình”; do đó, Đại Tá Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát Nguyễn Ngọc Lễ đã vội vã đưa Ái qua Pháp để che giấu tội ác này ? Chuyện này khả tín nhất, vì chính Võ Văn Ái nói rằng “chỉ trong một tuần có hộ chiếu”; đây là một điều không thể xảy ra dưới bất cứ chế độ bình thường nào. Và rồi họ đã đưa Võ Văn Ái vào Tu Viện Mẹ Công Giáo Đức cho đến khi hoàn tất phần Giáo Sỹ và đưa ra để xâm nhập vào Phật Giáo ???

 

Xin đọc một đoạn trong Chương 11 của cuốn “Vietnam: Why Did We Go” của Bá Tước Avro Mahattan:

“It has been reckoned, and the figures although lacking any official confirmation are considered to be concretely reliable, that during this period of terror— that is from 1955 to 1960— at least 24,000 were wounded, 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained, interrogated with or without physical torture, and about 500,000 were sent to concentration or detention camps. This is a conservative estimate”.

 

Tạm dịch:

“Người ta đã  ghi nhận mặc dù những con số  không được xác minh chính thức của chính quyền, nhưng được coi là cụ thể đáng tin cậy, trong giai đoạn này của cuộc khủng bố đó là từ 1955 đến 1960 - ít nhất 24.000 người bị thương, 80.000 người bị xử tử hay bị ám sát, 275.000 đã bị giam giữ, thẩm vấn hoặc không tra tấn thể xác, khoảng 500.000 đã được đưa vào các trại  tập trung hay các trại giam. Đây là một ước tính thận trọng”.

 

Vậy trường hợp giết người và bị án tử hình của Võ Văn Ái phải chăng ở trong ghi nhận này ??? Và chính vì để che giấu tội ác với Phật Giáo, Võ Văn Ái đã tung nhiều tin tức, lý lịch khác nhau để lấp liếm vấn đề, mặc dù thú tội giết người để nên bị án tử hình ??? Điều quan trọng chúng ta ghi nhận ở đây là cả phe Cộng Sản và cả phe hô hào chống Cộng Sản đều che giấu lí lịch Võ Văn Ái. Phải chăng họ là người cùng phe mang chủ tâm tiêu diệt Phât Giáo ???  

 

Qua nhiều phần Tìm Hiểu, tôi đã chứng minh tất cả tài liệu do ông Võ Văn Ái viết ra, đến đây có thể tạm kết “nghi luận” như sau:

 

1-Theo các tài liệu dẫn chứng, chứ không phải DNA, thì tôi e rằng ông Võ Văn Ái là người Tàu- Thái Trắng. (Ghi chú: Có điều đáng lưu ý là nếu không phải con Mao thì không thể nào chỉ vì hai câu thơ “diệt Dân tộc Việt” mà ông phải đến lạy đền ơn và ca ngợi sự nghiệp giết 77 triệu người của họ Mao được: “chưa đến trường thành chưa hảo Hán, Bao giờ trói được rồng đây”). Những liên hệ của ông đều liên quan đến Tàu:

a-Ông gọi sứ Lý Giác của Tàu là “Bạch Y” Cư Sỹ, nghĩa là một Cư Sỹ thuộc Dân tộc Thái Trắng, tức Bạch Y, tức là chính ông Võ Văn Ái?

 

b-Ông lập LLCSCHPG toàn là người Tàu Kitô như Thục Vũ Hoàng Hữu Thụy, Trần Thị Bạch Vân....? (tôi đã chứng minh trong loạt bài Cực Chẳng Đả).....

c-Ông lạy Mao, ca ngợi đảng Cộng Tàu, chạy tội cho nó.

 

2-Ông là giáo sỹ Kitô vì chỉ học trong Tu Viện Mẹ Công Giáo Đức. Tư tưởng và ngôn ngữ của ông hoàn toàn như Kitô giáo. Ông đã cho LLCSCHPG đánh tôi ngay từ đầu vì cho rằng tôi “chống công giáo”, “gây thánh chiến”; và chính ông đã lợi dụng VPII trong ngày 13-10-2012 để tố khổ tôi về chuyện này.

 

3- Ông không phải là Phật tử, vì ông không nói rõ ông quy y với ai, ở đâu, lúc nào. Gia đình vợ con ông quy y với ai, đi chùa nào ở Pháp trong mấy chục năm qua; ngược lại ông vô ý đã tiết lộ con gái ông có “cha đỡ đầu” ? Hỏi rất nhiều vị, nhiều người chưa ai một lần thấy ông lạy Phật, lạy Thầy nào (sẽ trình bày đầy đủ sau). Lời lẽ đối với chư Tăng hoàn toàn hỗn láo, kể cả gọi Tiến Sỹ Đại Lão Hoà Thượng Chủ Tịch Văn Phòng II Thích Chánh Lạc là “tên vô loại” thì quý Thầy trẻ hơn, chức vụ thấp hơn, ít học hơn... ông ta xem ra gì; cả GH trong và ngoài nước ra gì ! Kiến thức về Phật Pháp hoàn toàn không có; nhưng chủ tâm diệt Phật Giáo thì nhiều vô kể.

 

4- Ông đã tự thú nhận suốt cuộc đời ông luôn luôn chống tất cả chế độ tại Việt Nam để phục vụ mưu đồ bất chính là gây chiến trong lòng Dân Tộc, và ông đã thành thật viết rằng:. “Ba mươi năm qua, tôi sống với mộng mị, với gió bụi, khổ lụy, với những thứ lý tưởng ngu xuẩn người ta trao cho”.

 

5- Ông là một người hoàn toàn ủng hộ chế độ Cộng Sản cả Tàu lẫn Việt. Bằng chứng rõ rệt nhất là ông chỉ kêu gọi tổ chức nói chuyện với Cộng Sản mà không được động đến “ý thức hệ”, tức chủ nghĩa Cộng Sản, mà chỉ nói chuyện “cơm no áo ấm”. Và ông cho rằng không thể lật đổ chế độ Cộng Sản vì sẽ gây nên những vụ thảm sát cao hơn nhiều lần so với Tết Mậu Thân 1968 ! Ông “thực tình muốn lạy Mao Trạch Đông” và ca ngợi chủ nghĩa Đại Hán Cộng.

6-Ông là một kẻ láo lường, thô tục, thủ đoạn, gian ngoa, độc địa.....

7- ÔNG ĐÃ TỰ THÚ NHẬN LÀ MỘT “TỬ TÙ” ĐƯỢC ĐẠI TÁ TỔNG GIÁM ĐỐC CÔNG AN NGUYỄN NGỌC LỄ THỜI DIỆM CỨU THOÁT, mà kẻ bị giết phải là Phật tử.

a) Nếu giết Cộng Sản thì không đúng vì ông làm cách mạng nên bị tù, bị tử hình; và Cộng Sản không thể che đậy lí lịch và ca ngợi ông là Bác sỹ, là Trí thức linh hồn hải ngoại; trong lúc ông cho biết, ông chẳng có bằng cấp Bác sỹ, Tiến sỹ gì.

b) Nếu giết người chống Cộng thì Ngô Đình Diệm không thể đưa ông du học, và đưa vào Tu Viện Mẹ Công Giáo Đức.

Dù hơi muộn (vì ông viết từ 1997), tôi vẫn ca ngợi hành động thú tội này của Võ Văn Ái là một “Hành Động Trí Thức và đáng Dẫn Đường” cho cán bộ CSVN, và những người Cần Lao Cực Đoan.

Vậy thì những ai ủng hộ ông, ca ngợi ông, tiếp tục sử dụng ông....phải mang lấy tất cả những gì ông nghĩ, ông nói, ông làm cho Dân tộc và Phật Giáo trong hơn nủa thế kỷ qua, nhất là GHPGVNTN !!!

Vì Dân Tộc Việt Nam và Phật Giáo, tôi đã đang và sẽ làm tất cả những gì có thể để bảo vệ hai mục tiêu tối thượng ấy, chứ tôi không hề có thù oán gì với cá nhân nào, kể cả ông Võ Văn Ái. Tôi chẳng có lợi lộc gì, mà chỉ có thể chuốc lấy hoạ. Tôi chỉ viết về và viết lại một giai đoạn lịch sử trong đó có người liên quan là ông Ái mà thôi. Không lẽ làm sáng tỏ lịch sử là một cái tội ??? Giả sử chết cho sự thật, thì tôi vẫn cam tâm. Đó là quyết định để trả lời cho những ai đặt dấu hỏi tại sao tôi phải làm như thế; và những kẻ nào hăm doạ kiện cáo và kể cả tính mạng tôi.

 

GIÁO HỘI THỐNG NHẤT ƠI, CÒN GÌ NỮA ???

 

BQK-12-12-12

Nhật Bản phục hồi quân lực ?


From: anh truong
Subject: Nhật Bản phục hồi quân lực ?

 

 

 

Nhật Bản phục hồi quân lực ?

tka23 post

   Trong lễ tuyên thệ nhậm chức, Thủ tướng Shinzo Abe nhấn mạnh trọng tâm của Nhật Bản là tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ và cải thiện quan hệ láng giềng. Theo đó, ông đã bổ nhiệm Dân biểu  Fumio Kishida, nguyên Chủ tịch Ủy ban quan hệ quốc hội của LDP từng giữ chức Quốc vụ khanh phụ trách vấn đề Lãnh thổ phương Bắc và Okinawa, làm Bộ trưởng Ngoại giao; Dân biểu Itsunori Onodera làm Bộ trưởng Quốc phòng. Phải chăng, Nhật Bản đang tái quân sự hóa ?

“Nước lớn chính trị”

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, Nhật Bản đã có chủ trương tìm cách vươn lên thành cường quốc chính trị, nhằm giữ vai trò thích đáng trong khu vực và trên thế giới.

  Do đó, Nhật Bản luôn nhấn mạnh vai trò và tăng cường sức mạnh quân sự, mở rộng quy mô hoạt động của lực lượng phòng vệ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Năm 1975, đứng trước sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của mình, chính phủ Nhật Bản đã huy động hơn 10 cơ quan nghiên cứu của nhà nước, nghiên cứu “Chiến lược tổng hợp hướng đến thế kỷ XXI”. Trên nền tảng đó, tháng 12-1978, Thủ tướng


Yasuo Fukuda đã khẳng định, cương  quyết thay đổi hình ảnh “kinh tế mạnh, chính trị yếu” của nước Nhật.

Sau khi làm Thủ tướng (tháng 11-1982),


ông Nakasone tiếp tục khẳng định, Nhật Bản đang ở vào thời điểm  quan trọng. Điều mà ông phải làm là “xóa bỏ vết tích chiến bại”, chuyển hướng từ “nước lớn kinh tế” sang “nước lớn chính trị”, tạo ra một “thế kỷ Nhật Bản huy hoàng”.

Các nước phương Tây thời đó cũng muốn Nhật Bản tham gia vào vũ đài quốc tế. Trong cuốn sách “Nhật Bản đứng đầu”, một học giả nổi tiếng người Mỹ viết: “Với cơ cấu chính trị và sức mạnh kinh tế như hiện nay thì không có nước nào có thể cùng tham gia lãnh đạo thế giới bằng Nhật Bản”.

Khi Thủ tướng Nhật Bản

 

Nobuo Takeshita đến thăm Mỹ năm 1989, hai nước đã ký hiệp định “quan hệ đối tác mang tính toàn cầu”. Sau sự kiện này, Phụ tá Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản thời kỳ đó đã công khai viết bài giải thích  mối quan hệ này, cho rằng, cùng với Mỹ và EU, Nhật Bản là nước có vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, phồn vinh trên thế giới.

   Tuy nhiên, khi tham gia ngày càng sâu rộng trên vũ đài chính trị thế giới ở hàng “lãnh đạo” thì hiệu quả của chiến lược này càng ngày càng không  được như ý muốn do đánh giá và sử dụng sức mạnh kinh tế không phù hợp, đơn phương nhận đồng minh chiến lược với Mỹ, nền chính trị theo thể chế “cha truyền con nối”, “tâm lý quốc đảo”, số người tham gia các tổ chức quốc tế không tương xứng với sức mạnh kinh tế... Giờ đây, dưới chính thể của ông Shinzo Abe giới phân tích cho rằng tham vọng “nước lớn chính trị” của Nhật Bản sẽ được tái khởi động.

Xóa bỏ cấm vận vũ khí

Năm 1967, nội các của thủ tướng Nhật Bản


 Eisaku Sato lần đầu tiên đề ra “Ba nguyên tắc” cam kết cấm xuất cảng  vũ khí để thể hiện ý muốn hòa bình của Nhật Bản, ở mức độ nhất định đã xóa sự quan ngại của thế giới đối với việc tái quân sự hóa của Nhật Bản.

Tuy nhiên, trên thực tế, quy định của Hiến pháp đối với việc từ bỏ sử dụng vũ lực của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản luôn tồn tại những ý kiến bất đồng. Các doanh nghiệp công nghiệp và phái cứng rắn trong Quốc hội Nhật Bản từ lâu cũng luôn muốn hủy bỏ lệnh cấm này.

   Năm 1983, nguyên tắc này được sửa thành đồng ý chỉ cung cấp kỹ thuật vũ khí cho Mỹ trong điều kiện nhất định. Năm 2004, cơ quan tư vấn của Thủ tướng Nhật Bản - “Hiệp hội Chia sẻ  an ninh và sức mạnh phòng vệ” có một bản báo cáo nghiên cứu trình lên Thủ tướng

 Junichiro Koizumi khi đó cho rằng, để bảo đảm “công nghệ cốt lõi” cho an ninh Nhật Bản, cần nghiên cứu sách lược để Nhật Bản tham gia hợp tác phát triển và sản xuất, vì vậy cần thiết phải sửa đổi “Ba nguyên tắc xuất cảng vũ khí”.

Ngày 27-12-2011, chính phủ Nhật Bản đã thông qua quyết định “nới lỏng lệnh cấm vận xuất cảng vũ khí” để tăng ngân sách quốc phòng , nhằm thực hiện hiện đại hoá quân đội, đặc biệt là không quân và hải quân; tăng cường sự can dự, đối phó với mọi thách thức tại khu vực; thúc đẩy khả năng xuất cảng vũ khí.

Theo đó, Chính phủ Nhật Bản sẽ tăng nguồn ngân sách quốc phòng nhằm thúc đẩy khả năng hợp tác, nghiên cứu phát triển các kỹ thuật vũ khí với các quốc gia như: Mỹ, Australia, Hàn Quốc và NATO, qua đó giúp lực lượng hải quân, không quân đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa  và cùng với các nước trên đối phó với mọi thách thức tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Khả năng tái quân sự hóa

Trong bối cảnh Mỹ thúc đẩy chính sách tăng cường trở lại châu Á - Thái Bình Dương, Nhật Bản đã không còn hài lòng với vai trò phụ thuộc vào chiến lược của Mỹ. Vì vậy, Nhật Bản đã có chủ trương dựa vào hợp tác nghiên cứu phát triển để lôi kéo Mỹ làm người bảo trợ cho mình, mặc dù việc  nới lỏng xuất cảng  vũ khí đã làm gia tăng cuộc chạy đua vũ trang ở Đông Bắc Á.

Tuy nhiên, với mục tiêu trở thành một “nước lớn chính trị”, trong thời gian qua, Chính phủ Nhật Bản đã thúc đẩy các biện pháp nhằm tăng cường  ảnh hưởng, sức mạnh của quân đội tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương như: Mở rộng khả năng hợp tác, diễn tập quân sự với các nước; tăng cường các biện pháp nhằm đối phó với những biến động về an ninh tại vùng biển Hoa Đông và can dự vào vấn đề Biển Đông; thúc đẩy sáng kiến “Diễn đàn An ninh hàng hải Đông Á”; nới lỏng lệnh cấm xuất cảng vũ khí…

  Trong những năm gần đây, những sự kiện  đã bắt đầu với sự kín đáo và chắc chắn, Nhật Bản đã củng cố vị thế quân sự và ngoại giao của mình. Giáo sư Yoshihide Soeya, Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á ở Đại học Keio, cho biết: "Đó là một thay đổi lớn, chúng tôi ý thức được rằng cần phải tạo nên tầm ảnh hưởng riêng, phát triển mạng lưới đồng minh và hợp tác. Đây không phải là nhằm đương đầu với Trung cộng mà chỉ là một chiến lược sinh tồn trong một môi trường mà Trung cộng không ngừng lớn mạnh".

Nhà nghiên cứu Tetsuo Kotani, Viện Ngoại vụ Nhật Bản, cũng cho biết: Trên căn bản  liên minh Mỹ - Nhật, hiện đang có sự “phát sinh” liên minh mới với các đối tác : Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc, ASEAN. Theo đó, cuộc tập trận với các nước trong khu vực đã diễn ra nhiều lần kể từ năm 2009.

Ông Satoru Mizushima, nhà sáng lập tập đoàn Ganbare Nippon, luôn ủng hộ Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố: "Cứ trưng ra hình ảnh một nước Nhật yếu ớt, kẻ thù sẽ lấn tới. Chẳng có lý do gì chúng ta để bị dẫm chân cả trong khi chúng ta có lực lượng hải quân đứng hàng thứ ba trên thế giới".

Như vậy, với sự trở lại cương vị thủ tướng của ông Shinzo Abe, những  hành động  mới cùng với tham vọng “nước lớn chính trị” từ lâu của Nhật Bản, khiến dư luận có cơ sở để trả lời “câu hỏi” Nhật Bản liệu có hay không khả năng tái quân sự hóa.

TỔNG HỢP

 

Giáo xứ Nghi Lộc cầu nguyện cho anh Thái Văn Dung


 


THỨ HAI, NGÀY 07 THÁNG MỘT NĂM 2013


Giáo xứ Nghi Lộc cầu nguyện cho anh Thái Văn Dung



Thiên Khải Đường & BBT Giáo xứ Nghi Lộc - ...Ngày lễ Chúa Hiển linh 06.01.2013, giáo xứ Nghi Lộc đã dâng thánh lễ và tổ chức buổi cầu nguyện cho anh JB Thái Văn Dung cùng các thanh niên Công giáo, Tin lành đang bị bắt giữ trái pháp luật. Tại xứ đạo quê nhà, anh Dung là một người nhiệt thành với công việc nhà Chúa. Đặc biệt các hoạt động của giới trẻ, học sinh, sinh viên. Với những việc anh làm, mọi người nhìn thấy nơi anh là một thanh niên năng nổ, luôn hy sinh nhiều cho lợi ích chung. Anh là người yêu chuộng sự thật, công lý và luôn lên tiếng để bảo vệ những lý tưởng đó. Tình yêu quê hương đất nước trở thành động lực để anh tham gia vào các hoạt động bảo vệ chủ quyền Tổ quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa trước đây...

*

Đức tin Công giáo chỉ lối cho chúng ta biết rằng, nguồn sức mạnh của người tín hữu ở nơi Thiên Chúa. Và nó được thể hiện một cách sống động qua việc cầu nguyện. Nhớ lại câu chuyện trong Tin Mừng theo Thánh Marco. Sau khi các môn đệ được mời đi trừ quỷ nhưng không thành công, mới trở về hỏi Chúa tại sao thì Người trả lời: “Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi” (Mc 9,29).

 


 

Trước những bất công của xã hội đương đại, trước những thủ đoạn của giới cầm quyền nhằm bôi nhọ, trấn áp, khủng bố người yêu nước, yêu chuộng sự thật, công lý... Thì sự hiệp thông và lời cầu nguyện trong Giáo hội đem lại sự bình an, vững lòng trông cậy cho tất cả chúng ta. Gần hai năm vừa qua là thời gian đầy biến động, lần lượt 17 thanh niên theo đạo Công giáo, Tin lành – như chúng ta biết họ đều là những người sống tốt lành, hy sinh bản thân phục vụ Giáo hội, xã hội – bị chính quyền bắt cóc, phải chịu cảnh tù tội với những lí do không rõ ràng. Trong số đó có anh JB Thái Văn Dung, người con giáo xứ Nghi Lộc, giáo phận Vinh – một giáo xứ có truyền thống cổ vũ cho những giá trị sự thật, công lý, hòa bình.

 


 

Ngày lễ Chúa Hiển linh 06.01.2013, giáo xứ Nghi Lộc đã dâng thánh lễ và tổ chức buổi cầu nguyện cho anh JB Thái Văn Dung cùng các thanh niên Công giáo, Tin lành đang bị bắt giữ trái pháp luật. Tại xứ đạo quê nhà, anh Dung là một người nhiệt thành với công việc nhà Chúa. Đặc biệt các hoạt động của giới trẻ, học sinh, sinh viên. Với những việc anh làm, mọi người nhìn thấy nơi anh là một thanh niên năng nổ, luôn hy sinh nhiều cho lợi ích chung. Anh là người yêu chuộng sự thật, công lý và luôn lên tiếng để bảo vệ những lý tưởng đó. Tình yêu quê hương đất nước trở thành động lực để anh tham gia vào các hoạt động bảo vệ chủ quyền Tổ quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa trước đây.

Thái Văn Dung

Khi người con chịu đau khổ, thì người mẹ đau đớn và thổn thức khôn nguôi. Giáo xứ Nghi Lộc đã thắp lên ngọn nến sáng cầu nguyện cho đứa con mà mình cưu mang, dưỡng dục. Và cùng với anh, vẫn còn đó biết bao thanh niên khác cùng chung lý tưởng cũng đang phải chịu cảnh ngục tù. Đông đảo giáo dân, đặc biệt là giới trẻ giáo xứ đã tham dự thánh lễ và buổi cầu nguyện này.

 


 

Cho đến bây giờ, sau quãng thời gian “tạm giam” dài đằng đẵng, chúng ta vẫn chưa biết lí do các anh bị bắt bớ là gì? Đó là câu hỏi lớn khiến chúng ta không khỏi thắc mắc ưu tư. Như lời Đức cha Cao Đình Thuyên phát biểu trong biến cố Tam Tòa năm nào, “Giáo hội không làm chính trị, Giáo hội không bạo động, Giáo hội chỉ đòi công bằng và sự thật”.

 

Khi chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho anh JB Thái Văn Dung, cho những anh em đang bị bắt giữ, nghĩa là chúng ta đang kiếm tìm sự thật và công bằng. Ai đó từng nói rằng, đốt lên một ngọn nến thì tốt hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối!

 


 

Trong tương quan giữa con người với con người, ở một xã hội đang trôi dần về phía bất công và cái xấu, thì việc dấn thân của những người anh em này là một điều đáng khâm phục vô cùng. Những anh em của chúng ta, dẫu đang bị tù đày bắt bớ, thì chúng ta luôn hi vọng và tin tưởng sự bình an của Chúa luôn ở cùng các anh.

 

Phúc thay anh em khi bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ mọi điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên Trời thật lớn lao...

 

Thiên Khải Đường & BBT Giáo xứ Nghi Lộc


 

 


__._,_.___

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link