Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, January 17, 2013

BÀI 4.- BÊN THẮNG CUỘC DƯỚI MẮT NGƯỜI THUA CUỘC: SỰ THẬT MỘT CHIỀU CỦA C.S.V.N. ĐIỂN HÌNH QUA HUY ĐỨC.


BÀI 4.- BÊN THẮNG CUỘC DƯỚI MẮT NGƯỜI THUA CUỘC: SỰ THẬT MỘT CHIỀU CỦA C.S.V.N. ĐIỂN HÌNH QUA HUY ĐỨC.

ĐẶNG VĂN NHÂM

ĐIÊU NGOA, GIAN SẢO LÀ BẢN CHẤT CỦA C.S.V.N.!

Đến bây giờ, chẳng cứ gì người VN, mà cả thế giới ngày nay ai cũng đều nhận ra bản chất của tập đòan CSVN là điêu ngoa, gian sảo vô lường. Ví chẳng khác nào loại heo, bò đã bị đóng dấu.

Đó là một điều sỉ nhục,đáng xấu hổ vô cùng.

Nhưng, lạ lùng thay, bọn CSVN từ tên lãnh đạo đến bọn tép riu, lúc nào mặt cũng vẫn vênh lên và cứ vô tư tha hồ ba hoa, khoác lác những chuyện đầu Ngô mình Sở, bất chấp tiếng chửi rủa inh ỏi bên tai.

Hình như bọn này bẩm sinh đã ù lì, mất lương tri, thiếu khả năng phân biệt hay/ dở , phải / trái, đúng /sai (perception du bien et du mal).

Như thế chẳng khác nào loài súc vật!

Vì thế nên bây giờ chẳng có ai trong chúng ta không nhận ra sự kiện hiển nhiên này: toàn thể bọn lên tiếng cho rằng tác phẩm Bên Thắng Cuộc của Huy Đức đã nói lên ”sự thật” (sic!) đều gốc CS và tay sai CS đang ở trong nước và hải ngoại, như: Bùi Văn Phú, Nguyễn Mạnh Hùng, Đinh Quang Anh Thái và bộ biên tập báo Người Việt, Trần Hữu Dũng, Nguyên Ngọc,Chu Hảo v.v…

Mục đích của bọn Cộng Con này là gì?

Ngoài nguồn gốc cùng một ”lò” CSVN đúc khuôn (conformisme),chúng còn có thói về hùa bốc thơm lẫn nhau (dù thối như cứt!) theo kiểu vây cánh, đồng đảng.

Bọn này còn nhắm mục đích đánh tráo sự thật chính cống trọn vẹn bằng thứ sự thật manh mún, một chiều, giả mạo để đánh lừa quần chúng thiếu thông tin, nhẹ dạ cả tin và nhất là chưa biết rõ tính chất vô luân (immoral) của chủ nghĩa giáo điều CS.

Chúng ta nên nhớ :Mặc dù là cha đẻ của chủ nghĩa CS, nhưng ngay lúc còn sống chính Karl Mark đã tự thú:” Tôi không phải là người CS!”. Lời này của Mark nghĩ chẳng khác nào lời hối hận của một người mẹ vừa sinh ra đứa con chẳng ngờ nó là quái vật!

Cùng một cách thống hận như thế, cựu Tổng Bí Thư đảng C.S. Liên Xô Mr. Gorbachev than thở : " Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng C.S. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng:” Đảng C.S. chỉ biết tuyên truyền và dối trá.

" Riêng nhà văn Nga, đã đoạt giải Nobel văn chương là Alexandre Soljenitsyn còn cẩn thận khuyên nhủ chúng ta: " Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can
đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói
láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ hông
nói lại những lời nó đã nói láo với người khác!"

Bởi những nguyên nhân nêu trên, nên tôi đã không ngại mất thì giờ để tiếp tục lột mặt nạ gian manh, dối trá của lũ Cộng Con này. Đặc biệt nhất là bọn này còn manh tâm cố dùng mảnh bằng của Mỹ để lòe đời bịp người.

Chúng ta cũng như cả thế giới đều biết VNCS là một chế độ lạm phát bằng tiến sĩ, thạc sĩ. Nhiều hơn giấy chùi đít. Từ những tên hầu nhân ( primat) trong rừng mới chui ra ánh sáng, cả đời chưa từng biết cái tủ lạnh (frigidaire), cái máy truyền hình (Télévision) tròn méo thế nào, khi được hỏi cừ nói phét bừa :” Ối , ngoài Hà Nội nó chạy đầy đường!”.

Còn hỏi về cây cà rem (ice creme), cả đời chúng chưa từng nếm , cũng vẫn trơ trẽn phòng phét :” Ối, ở Hà Nội, ăn không hết, phải đem phơi khô để dành!”…nhưng chỉ vài năm sau tên nào cũng có bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ hay thạc sĩ.

Nhưng khi cần viết con số một triệu, chúng không biết là có bao nhiêu số (Zéro) .

Cũng như không biết nổi khi nước sôi là nóng bao nhiêu độ v.v…Vì tất cả bọn hầu nhân này đều chỉ có trình độ biết đọc biết viết với giấy chứng nhận gọi là ”văn hóa bổ túc”.

Riêng kẻ viết bài này, trong thời gian ở hải ngoại đã có lần
gặp lại một người bạn cũ, đồng niên tuế, hồi trước năm 75 ở Sài Gòn đã từng làm giáo sư đại học, giữ chức thống đốc ngân hàng , phó thủ tướng v.v…Sau ngày 30.4.75, vì không biết chân tướng lưu manh của bọn CSVN, nên anh đã lầm lỡ ở lại Sài Gòn, tưởng rằng có thể đem sở học và sự hiểu biết của mình để giáo dục bọn hầu nhân thành người thực sự.

Nhưng chỉ vài năm sau, anh đã phải rời bỏ quê hương ra đi. Một hôm gặp nhau ở phương trời xa lạ , tôi hỏi anh:” Sao anh không ở lại trong nước để tiếp tục dạy dỗ cho chúng nên người?”.

Anh nhìn tôi ái ngại, thở dài thật sâu, rồi thong thả đáp:” Ngày xưa
trước 75 , mình dạy học trò để chúng ra làm quan. Nhưng sau 75, đời người VN đã thay đổi, mình phải dạy tụi quan làm học trò, nên khó quá!”. Lời tâm tình của anh nghe sao áo não, thấm thía vô cùng.

Vì thế, đối với bọn Cộng Con: Bùi Văn Phú, Ng. Mạnh Hùng, Hữu Dũng, Nguyên Ngọc,Chu Hảo…tôi không hiểu chúng thuộc loại trí thức kiểu nào, khi chúng lên tiếng rập khuôn mà không biện chứng chỗ nào là sự thật trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc?

PHẢI CHĂNG ĐÂY LÀ…SỰ THẬT?

Dưới đây, tôi tạm trích một đoạn trong Bên Thắng Cuộc, chương II , Cải Tạo, của Huy Đức. Nguyên văn như sau:

- Mười ngày, một tháng qua nhanh. Không ai nhận được bất cứ tin tức gì liên quan đến những người thân bị đưa đi họctập. Rồi đột nhiên, một sỹ quan được tha về, người đó là Cựu Tổng trưởng Quốc phòng, tướng Nguyễn Văn Vỹ. Vừa ra khỏi trại, Tướng Vỹ phát biểu: “Chúng tôi ăn còn ngon hơn bộ đội. Tôi mong những người có thân nhân đi học tập cải tạo hãy yên lòng và tin tưởng Cách mạng, đừng tin ở những lời đồn vô căn cứ” Tướng Nguyễn Văn Vỹ là người mà ngay hôm đầu ra trình diện đã phát biểu: “Tôi hiểu rõ quân đội trong này lắm, tệ lắm, xấu lắm; và mấy ngày hôm nay thấy rõ bộ đội Cách mạng rất kỷ luật, chững chạc, đàng hoàng. Anh em vào nhà tôi ở cầu Thị Nghè không hề bị mất mát gì hết.
Cách mạng vào yên ổn, thanh bình ngay, ai cũng yên tâm và sung sướng”.

Ở thời điểm Tướng Vỹ phát ngôn trên báo, dân chúng không cần phải nghe tin đồn, chồng con họ bặt vô âm tín đã hơn ba tháng cho dù “Cách mạng nói” sĩ quan cấp úy chỉ đi học tập “mười ngày”, cấp tá chỉ đi “một tháng”. Tuy nhiên, đấy cũng chưa phải là thời điểm mà những người ở nhà hay ở bên trong hàng rào dây kẽm gai tuyệt vọng.

Chính quyền biết điều đó và Tướng Vỹ được tha để nói những lời có giá trị trấn an. Đồng thời, “các sỹ quan và nhân viên ngụy quyền” bắt đầu được phép và được động viên viết thư về nhà.
Đầu tháng Bảy, báo Giải Phóng, tờ báo trong R của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, cho đăng lá thư của ông Trần Văn Tức “nguyên là đại úy cảnh sát ở Côn Sơn”, gửi vợ là bà “Nguyễn Bích Thủy, ở số 52-54 Nguyễn Khắc, Sài Gòn 2”.

Khi cho đăng lá thư, tờ Giải Phóng nói rõ là “để bạn đọc hiểu thêm cuộc sống hiện nay của các sĩ quan (trong quân đội ngụy trước đây) đang học tập cải tạo”.

Thông điệp mà Chính quyền muốn gửi qua bức thư này được lồng vào một cách vụng về: “À, ở thư trước anh quên dặn em là đừng tin lời đồn nhảm của bọn phản động của bọn ngụy tuyên truyền làm cho em và ba má ở nhà hoang mang lo sợ.

Nếu người nào nói xuyên tạc đó là bọn lưu manh thừa dịp để làm tiền hoặc bọn ngụy phản cách mạng, em nên đến chánh quyền cách mạng tố cáo họ. Anh cố gắng học tập cải tạo tốt để chánh phủ cách mạng khoan hồng cho những đứa con lạc lối được thành người công dân chân chính và sớm về đoàn tụ với gia đình tăng gia sản xuất”.

Hơn một tháng sau, tờ Tin Sáng có bài phỏng vấn bà “LQL”, người vừa trở lại Sài Gòn sau chuyến thăm chồng là “Thiếu tá Tiểu Đoàn phó Tiểu Đoàn 7, Thủy Quân Lục Chiến Ngụy”.

Tờ Tin Sáng không nói rõ chị L thăm chồng ở trại nào và chồng chị là ai, chỉ giới thiệu: “Thiếu tá và cả Tiểu đoàn 7 của ông đã bị tên tướng ngụy Bùi Thế Lân bỏ kẹt tại cửa Thuận An và đã cùng toàn bộ binh lính trong Tiểu đoàn 7 đầu hàng quân đội giải phóng ngày 27-3 vừa qua”.

Câu chuyện ở trại cải tạo được tờ Tin Sáng dẫn dắt cho thấy không khí trong các trại cải tạo từa tựa như một trại hè 59.

Bài phỏng vấn kết thúc bằng lời dặn dò của người chồng: “Em yên trí về lo làm ăn, ở đây em khỏi lo hai thứ rượu và gái, đã làm hai đứa thường mất hạnh phúc như trước kia. Cuộc sống ở đây rất
điều hòa và lành mạnh như em đã thấy, chắc chắn bọn anh sẽ khá hơn trước”.

Trước hết , khi vừa đọc đoạn văn này của Huy Đức , kẻ nào dù vô tư đến đâu vẫn phải nhận thấy mùi tuyên truyền láo khoét đặc sệt giọng lưỡi Việt Minh CS từ thời Hồ Chí Minh còn chui rúc trong hang Pắc Pó.

 Kế đến, nếu là người miền Nam tị nạn ở hải ngoại hay ngày nay vẫn còn mắc kẹt trong nước dưới gông cùm kềm kẹp sắt máu man rợ của lực lượng công an, đều nhận ra ngay đặc tính gian trá, hoàn toàn sai sự thật.

HỌC TẬP CẢI TẠO” MỘT THỦ ĐOẠN GIẾT NGƯỜI THÂM ĐỘC KHIẾN CHẾT DẦN MÒN CẢ THỂ XÁC LẪN TINH THẦN!

Mặc dù sự kiện lịch sử năm 1954 với sự kiện lịch sử ngày 30.4.1975 có đôi điều khác biệt. Nhưng , sau 30 năm, giữa một sớm một chiều, toàn thể dân chúng miền Nam vừa bừng mắt dậy bỗng thấy mình đã trở nên ” NGỤY” ráo trọi. Nào là: Ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân v.v.…rất linh tinh.

Kể từ khi khởi đầu cuộc chiến này , người dân miền Nam đã thấy chẳng ai thèm hỏi ý kiến mình và mãi cho đến năm 1975 sau khi chẳng đánh đấm gì ra hồn, bỗng dưng một số tướng tá ươn hèn và chánh khách sôi thịt đã tự tiện kéo lên đài phát thanh tuyên bố chịu thua, xin đầu hàng.

Thế là ” bất chiến tự nhiên…thua!”.

Đã bị ép thua rồi thì nhân dân miền Nam chỉ còn biết căm phẫn, tủi nhục âm thầm mà thôi!

Kể từ sau đây tôi mới bắt đầu dẫn chứng cụ thể những thủ đọan trấn lột tiền bạc, cướp đoạt tài sản, đất đai , nhà cửa, và các chính sách học tập cải tạo mút mùa, thủ đoạn đày tập thể dân chúng miền Nam vào vùng kinh tế mới để cướp nhà của từng người.

 Đây là một vết thương đẫm máu và nước mắt trong lịch sử cận đại của 25 triệu dân miền Nam.

Bây giờ dù cho nhà cầm quyền CSVN có thể vận dụng toàn bộ guồng máy giáo dục , tuyên truyền của đảng CS để bóp méo hay xóa bỏ hết mọi dấu vết lịch sử dã man ghê tởm ấy, nhưng sự thật của lịch sử dân tộc vẫn luôn luôn tồn tại vĩnh cửu với thời gian.

Nên nhớ: Từ thuở con người biết lập dân kiến quốc , lịch sử mỗi quốc gia đều gồm 2 loại song hành:

§ 1.-lịch sử biên chép (histoire vécue) do bọn sử quan hay sử gia của chế độ ghi chép theo lệnh của nhà vua hay lãnh tụ. Phần nhiều thiếu trung thực , nếu không nói là xuyên tạc hay bóp méo lịch sử và có tính cách xu nịnh, phục vụ kẻ cầm quyền đương thời, nhất là dưới chế độ độc tài toàn trị CS kiểu VN.

§ 2.- Lịch sử khẩu truyền (histoire raconté) trong dân gian, tuy không đầy đủ và thiếu mạch lạc, nhưng không có mùi xu nịnh, đổi trắng thay đen cho vừa lòng lãnh tụ đảng và nhà nước. Các chế độ CS trên thế giới ngày nay, nhất là CSVN, đều tỏ ra rất sợ loại lịch sử truyền khẩu này.

Vì không uốn nắn được lại cũng không tiêu diệt được!

Bởi thế, tục ngữ ta đã có câu: ”Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”

Đó là cả một kho tội ác ngập trời do CSBV đã thực hành ở miền Nam VN. Những tội ác khủng khiếp ấy còn kéo dài mãi cho đến tận bây giờ chưa dứt, nên đã tạo ra muôn vàn truyện bi ai, thống khổ đẫm máu và nước mắt trong dân chúng miền nam sau ngày 30.4.75.

Trong kho tàng những truyện thương tâm ấy, tôi sẽ trích ra một số truyện điển hình có thực, rất khó quên,dễ kiểm chứng, để biện minh hùng hồn cho mọi người VN trong và ngòai nước, kể cảthế hệ sinh sau đẻ muộn ờ hải ngoại ngày nay, nhận thấy rõ dã tâm gian trá, bóp mép sự thật lịch sử dân tộc tromg tác phẩm Bên Thắng Cuộc của tên Cộng Con Huy Đức và nhóm chủ trương báo Người Việt ở Bolsa.

Sau một thời gian ngắn Ủy Ban Quân Quản ( phần đông thuộc MTGPDT miền Nam) lên cầm quyền, trong dân gian ở miền Nam đã lưu hành một câu ca dao phản ánh rõ nét tâm trạng đau buồn , ai oán thê lương của cả thế hệ trẻ miền Nam như sau: - ” Dép râu dẵm nát đời son trẻ, nón tai bèo che khuất mộng tương lai”!

Dù vậy, có lẽ bọn CSBV nhận thấy Ủy Ban Quân Quản đã có mòi hòa hoãn, như có vẻ muốn thực thi đường lối hòa giải dân tộc mà họ đã từng tuyên bố trước ngày 30.4.75, nên một hôm bỗng có thông cáo:

Quân nhân từ thượng sĩ trở xuống phải trình diện để đi học tập 3 ngày.

Những người này bất đắc dĩ phải tuân lệnh , trong lo sợ phập phồng, vì chưa biết chính sách mới lành dữ, ôn hòa hay tàn ác dã man đến cỡ nào.

Nhưng sau 3 ngày học tập vớ vẩn, qua loa, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm , khi được cho về yên ổn.

Xong đợt này đến lượt các sĩ quan, công chức , dân biệu, nghị sĩ, đảng phái chính trị… được lệnh phải đi học tập 10 ngày.

Mọi người chuẩn bị quần áo,lương thực, vui vẻ đi ghi tên, yên trí đằng nào cũng phải sống với kẻ xâm lăng.

Thôi thì cứ chiều lòng bọn chúng một chút. Mười ngày chẳng là bao.Cho xong đi, rồi còn về nhà yên phận làm ăn. Vì vậy cho nên phòng trình diện rất đông đảo, tấp nập.

Nhiều quân nhân đã giải ngũ 5, mười năm, những đảng viên các nhóm quốc gia đã trùm mền ngủ kỹ từ năm 1954 cũng rủ nhau đi đăng ký. Trong số hàng mấy trăm ngàn cựu sĩ quan, từ cấp tướng xuống đến chuẩn úy chẳng một ai ngờ rằng họ đang ngoan ngoãn, ngây thơ chui đầu vào rọ của bọn CSBV lưu manh, gian ác.

Thế là 10 ngày qua, chưa có ai trở về. Rồi đến 20 ngày, 1 tháng, 3
tháng, 6 tháng đằng đẵng đã trôi qua.Chẳng gia đình nào nhận được một tin tức gì của chồng , con, cha, hay anh, em v.v… Đến lúc bấy giờ đầu óc hàng triệu triệu con người miền Nam ngây thơ, lạc quan tếu mới vỡ toang ra:

Nhà nước CSBV không hề bao giờ chịu bỏ xóa hận thù cho bọn ngụy quân, ngụy quyền và cả ngụy dân, như mọi người miền Nam mộng tưởng.

Bấy giờ , sau khi ngót một triệu sĩ quan, dân, cán, chính… đã bị sa
lưới rồi, sự thật mới bộc lộ và tâm địa gian ác, dã man của loài quỉ
đỏ mới hiện nguyên hình! Trong thảm cảnh này, có người tù cám cảnh đã để lại cho đời mấy vần thơ buồn thảm sau đây:
” Và cứ thế đợi chiều, mong chóng tối,
Tối mong đêm, chưa sáng lại mong ngày,
Ôi chán nghẹn những mùa mưa cũ mới,
Cứ bảo trời không khóc mướn thương vay!”

Ấy là chưa kể đến những hành động đối xử và tra tấn cực kỳ dã man, vô nhân đạo của bọn công an quản giáo.

Sau đây là bằng chứng diển hình về hành vi tra tấn dã man tù nhân. Hoàn toàn vi phạm công ước quốc tế về tù binh.

Người tù nạn nhân điển hình cho hàng trăm ngàn , hàng triệu đồng tù khác , tôi xin kể dẫn chứng như sau:
-“ Sĩ quan Nguyễn Văn Tửng, trung úy pháo binh, trình diện ngày
27.6.75 hiện ở trại T4/HT, L19-HT7590 thuộc F 500 trung đoàn 307 ( chuyển giữ tù binh).

Đia danh : Thành Ông Năm hay là Liên đoàn Công Binh, Hóc Môn ( cách SG 28 km) Sơ lược: khoảng 25 tuổi, thư sinh trói gà không chặt nhưng lanh lẹ, vui tính, sinh trưởng trong một gia đình khá giả miền Trung.

Sau 6 tháng học tập tẩy não và lao động quá cực nhọc, Tửng viết bản kháng thư trao cho đội trưởng nhờ đưa cho quản giáo, nội dung như sau:
1. Hãy trả tự do cho chúng tôi, học như vậy đã đủ.Hơn nữa chúng tôi không có ý phá cách mạng.

Chúng tôi buông súng đầu hàng không có nghĩa là thua cách mạng, nhưng là theo lệnh cấp trên. Chúng tôi muốn trở về xây dựng gia đình, giúp ích xã hội( như cách mạng muốn xây dựng XHCN).

2. Nếu không trả tự do, phát lương cho chúng tôi.Chúng tôi không
thể không có ăn , mặc, thuốc men, mà học tập lao động như một con vật.Như vậy, XHCN tốt đẹp, khoan dung đại lượng ở chỗ nào?

3. Cho chúng tôi được quyền tự do về tư tưởng, nói sự thật những
điều mắt thấy tai nghe. Và cách mạng cũng phải nói sự thật: “Đây là trại tù hay trại học tập”?

Lao động tốt, học tập tốt là như thế nào mới được thả về?

Tự do đi lại.Trại học tập gì mà bắt học viên nhốt như thú vật, không chỗ ở ( mỗi người 6 tấc bề ngang), không quần áo, rách rưới như ăn mày.

Kết quả:Tửng đuôc ban quản giáo mời lên nói là để giải quyết những vấn đề trễ.

Nhưng anh em đợi mãi không thấy về.Hơm sau anh em đem cơm lên thấy Tửng đang nằm, hai chân đã gẫy ngang vế, mặt sưng bầm tím, máu rỉ ra 2 bên tai và khóe miệng.

Dĩ nhiên Tửng không ăn được cơm.

Theo lời người đem cơm, bác sĩ chẩn bịnh nói Tửng sẽ chết trong thời gian rất ngắn.

Thế nhưng sau đó 7 ngày Tửng vẫn còn sống. Cơm đem lên cho anh, vệ binh kiểm soát rất ngặt: chỉ được đưa một nắm cơm, chút muối và 1 ca nước. Không cách nào đưa được thuốc và bông băng, chỉ trộn được ít thuốc vào cơm.

Lần hồi Tửng tỉnh lại, ban quản giáo gọi lên nhưng không hỏi han gì cả, chỉ chửi và đánh túi bụi, nào mày là phản động, tay sai của đế
quốc Mỹ, muốn xúi giục bọn tù làm loạn.

Nào chúng ta không phải không giết chúng mày được, nhưng tiếc viên đạn v.v…Vừa chửi vừa dùng AK dộng vào mặt, vào ngực, vào chân tay. Rồi chúng nhốt anh vào hầm. Lạ thay, 2 tháng sau, Tửng đứng dậy được, dù rất yếu. Chân đã gẫy mà bây giờ men theo tường đi được.

Tháng 7. 1977, tửng bị chuyển qua T4. Ở đây anh lại chống đối và chửi rủa.Chúng đánh cho gẫy cánh tay.

Anh em lại xin thuốc, giã nhỏ trộn vào côm và nước để nuôi anh. Về sau anh đã cử động được một cách rất khó khăn.

Một chánh trị viên được cử tới bảo anh em khuyên Tửng đừng chửi bới CS sẽ được về chung sống với nhau.

Nhưng Tửng nói :
Các anh hãy yên tâm.Chúng nó không dám giết tôi đâu.Thể xác tôi không đau bằng lý trí.Tôi đủ sức chịu đựng. Tôi không chết, không bao giờ chết. Đó là nguyên văn lời anh Tửng.

Nhưng anh Tửng đã không bị chúng giết ngay, mà giết bằng mọi cách hành hạ, tra tấn cực hình làm cho anh phải chết từ từ trong đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần!

Đây là một chuyện thật trăm phần trăm có tính cách tiêu biểu cho cho cảnh đau khổ nhục nhã của ngót triệu cựu quân nhân của quân lực VNCH, đồng thời nói lên bản chất gian trá lưu manh và vô cùng tàn ác, dã man của loài quỉ đỏ đội lốt người.

Trong khi đó, ở nhà, thân nhân những người tù học tập cải tạo, mẹ
trông con, vợ mong chồng thật ai oán ,não lòng, bút nào, giấy mực
nào kể cho hết.

Kể từ khi các giới quân cán, chính… miền Nam đi trình diện học tập cải tạo, tất cả mọi tin tức về họ đều bị bưng bít rất kín. Mãi cho đến khi CSBV ban lệnh cho phép thân nhân, gia đình của tù cải tạo được thăm nuôi, tiếp tế thì mọi người mới biết đích xác ai còn , ai mất.

Bấy giờ tình cảnh đói khổ , phải ăn bo bo và cơm trộn lẫn ngô, khoai của người dân miền Nam lại rẽ sang một khúc quanh khó khăn khác nữa.

Đó là vấn đề đào đâu ra tiền để mua thức ăn , thuốc men tiếp tế cho tù nhân? Đào đâu ra tiền để dùng làm lộ phí trên quãng đường dài trên 1200 cây số từ Nam ra Bắc?

Tiền đâu để đút lót cho bọn công an, quản giáo để được thăm nuôi xuông xẻ?

Đáp lại những câu hỏi này là cả một thiên trường hận khôn nguôi của người miền Nam đối với bọn CS miền Bắc.

 Trước hết là toàn thể miền Nam, từ cầu Hiền Lương cho đến tận mũi Cà Mau, cả một phong tráo bán chợ trời mở ra rầm rộ.

Lúc bấy giờ một ấn tượng thê thảm và ray rứt nhất cho lòng những người mẹ, người vợ, hay chị , em gái của những tù nhân cải tạo miền Bắc là tiếng rao của chú Ba Tàu :” Ai có cà rá, răng vàng bán không?”

Tất cả những gì có thể bán được mọi người dân miền Nam đều đã bán, hay đã bị bọn công an phường trấn lột hết sạch rồi.

Nhưng một số người vẫn còn cố giữ lại chiếc nhẫn bé nhỏ kỷ niệm ngày cưới hay chiếc răng vàng trong khoé miệng

. Bây giờ là lúc họ phải cậy ra bán nốt để lấy tiền đi thăm nuôi thân nhân đang ở tù cải tạo.

Giữa thời điểm đau thương, đói khổ đến cùng cực ấy trong dân gian đã có một nhà thơ vô danh nào đó cám cảnh với cả dân tộc miền Nam, mà đem bài thơ “ Mùa Xuân Trên Quê Ta” ca ngợi chiến thắng mùa Xuân năm 75 của bọn văn công CSBV ra nhái lại với ý tưởng đối chọi chua chát , sót sa .

Bài thơ này đã phát tán rộng rãi khắp hang cùng ngõ hẹp cho
bọn trẻ con tha hồ rêu rao.

Nguyên văn như sau:
-“ Mùa Xuân này mẹ đi thăm con
Thấy cái gì cũng mua cho con
Mua cho con 2 gói Sì Lây (*)
Mua cho con 2 gói Phượng Hồng (thuốc lá)
Tò te, xe vừa đến, mẹ bước lên thăm con
Sao con ốm ghê
Xanh mặt xanh mày
Bịnh gì con nói xem nào
Gà quay trong lo Ghi Gô ( hộp sữa bột Guigoz)
Mắm ruốc sào hay ăn tôm khô
Sa bô chia(*) 2 ký còn đây ( trái cây)
Ăn đi cho bổ dạ dầy!...”

Nguyên tác bài “ Mùa Xuân Trên Quê Ta” do văn công CSBV viết ra để diễn tả tâm trạng khoái trá, “vui mừng và tự hào” ( giống hệt luận điệu và ngôn ngữ của Huy Đức trong quyển Bên Thắng Cuộc) sau ngày đánh cướp miền Nam 30.4.75 như sau:

Mùa xuân này về trên quê ta
Khắp đất trời mở rộng bao la
Cây Xanh tươi ra lá trổ hoa
Chào mùa xuân về với mái nhà
Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh
Ôi, đẹp biết bao, biết mấy tự hào
Sài Gòn tay vẫy tay chào
Cờ sao đang tung bay cao
Thôi hết rồi những năm thương đau
Sau bao nhiêu năm nay mới gặp nhau
Vui sao nước mắt lại trào?”

( còn tiếp nhiều kỳ)

ĐẶNG VĂN NHÂM

Mời vào xem : dangvannham.net

Quỳ gối giữa chợ, Cầu xin mọi người đừng tiếp tục ăn thịt chó



 


 

Vùng Ngọc Lâm thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc từ lâu đã có thói quen ăn thịt chó, từ những bữa nhậu bình dân cho đến tiệc tùng cưới hỏi, ma chay mà không có thịt chó thì “chưa phải cỗ”. Để đáp ứng nhu cầu thưởng thức thịt chó ngày càng nhiều của cộng đồng, ở Ngọc Lâm hình thành hẳn một chợ đầu mối chuyên đổ hàng thịt chó tươi sống cho cả vùng. Ngày 21/6 vừa qua, một nhóm nhà hoạt động bảo vệ động vật và những người yêu chó đã đến những lò mổ này làm lễ tế chó và tuyên truyền để người dân không giết chó và bỏ thói quen ăn thịt chó.
 
À Ngọc Lâm , province de Quảng Tây en Chine , on a l'habitude de manger du chien , des petits repas populaires aux grands festins comme mariages ou funérailles ,un repas sans du chien n'est pas un " banquet " . Pour répondre au besoin du régal du chien qui s'augmente dans la communauté , un marché de viande de chiens toute fraiche et crue est formé pour toute la région . Le 21 juin passé ,  un groupe de la protection des animaux et des gens aimant les chiens sont venus à ces abattoirs faire des cérémonies de sacrifice de chiens  et des propagandes pour que les gens ne tuent pas les chiens et perdent leur habitude de manger du chien .


Một thành viên của nhóm bảo vệ động vật quỳ rạp khấu đầu trước một sạp chó thịt trong lúc người khác trưng khẩu hiệu tuyên truyền: "Không ăn thịt chó, tâm sẽ bình an"
Un membre du groupe de la protection des animaux s'est agenouillé devant un tréteau de viande de chiens  tandis que l'autre tend un slogan de propagande :

" Ne pas manger du chien , votre âme sera en paix "


"Lạy chó!"

" Se prosterner les chiens ! "



Trên lưng áo viết dòng chữ: "Xin thay mặt cho con người, chân thành tạ tội!"
Sur son dos est écrit : " Représentant les êtres humains , je vous demande sincèrement de nous pardonner "


Quay sang lạy cả những con chó đang trên bàn cạo lông, mổ bụng

Il se prosterne même les chiens étant dépilés , éventrés .



Quang cảnh chợ đầu mối thịt chó vẫn tấp nập như thường,
dường như không bị ảnh hưởng bởi hoạt động của các nhà bảo vệ động vật

Le spectacle du marché de viande de chiens continue à être trépidant , semble non influencé par les membres de la protection des animaux .


Thịt chó chín cũng được bày bán khắp chợ

De la viande de chiens cuite est vendue partout dans tout le marché .


Ánh mắt của chú chó khi nhìn thấy đồng loại, dường như nó ý thức được kết cục bi thảm của mình

Le regard de ce chien en voyant ses congénères semble avoir conscience de sa fin tragique .

Giao dịch mua bán thịt chó tấp nập

La transaction tulmutueuse du marché du chien

Kẻ đến người đi, nhiều thì cả xe tải nhỏ, ít thì xe máy sáu bảy con

On va et vient , en petites camonnettes s'il y en a beaucoup  ou en motos s'il y en a six ou sept chiens .


Chó sau khi thui được treo cả con lên móc chờ xuất bán

Chiens après être havis sont suspendus pour la vente .


Tập kết những chú chó từ khắp nơi về lò mổ

Regroupement de chiens de partout à l'abattoir .


Chợ chó hoạt động từ sáng tinh mơ

Le marché du chien commence déjà au petit matin.


Các món chế biến từ thịt chó của người Trung Quốc

Les mets de chien des Chinois .


Chuẩn bị làm lông

Préparation du " dépilage " 

 



Xin loài người đừng ăn thịt, đừng sát sanh nữa. Loài vật cũng muốn sống như chúng ta, cớ sao lại cướp đi sinh mạng của chúng để nuôi thân mình?

 

Nhật Bản tái vũ trang?


 

 

 

Nhật Bản tái vũ trang?


© Trần Bình Nam

Nowy obraz
Qua cuộc bầu cử quốc hội Nhật Bản ngày 16/12/2012, đảng Tự do Dân chủ (Liberal Democratic Party – LDP), một đảng bảo thủ, toàn thắng và lấy lại chính quyền từ tay đảng Dân chủ Nhật Bản (Democratic Party of Japan – DPJ). Ông Shinzo Abe, chủ tịch đảng LDP trở thành thủ tướng. Ngày 26/12, thủ tướng Shinzo Abe công bố thành phần nội các đa số là thành phần cực hữu. Ngay sau đó ông có chương trình công du Indonesia vào cuối tháng Giêng 2013 này, và theo chương trình ông có thể đến thăm Việt Nam và Thái Lan. Nếu những cuộc thăm viếng này xẩy ra thì đó là một chỉ dẫn Nhật Bản đang chuyển hướng chính sách đối ngoại và quốc phòng.

Sau khi bị Hoa Kỳ đánh bại trong trận Thế chiến 2, chấp nhận bản Hiến Pháp do Hoa Kỳ soạn thảo, quân đội Nhật chỉ tồn tại về hình thức (gọi là lực lượng tự vệ) như một lực lượng cảnh sát.

Người Nhật thực tế chấp nhận tư thế của kẻ bại trận chịu đặt mình dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ để dồn nỗ lực vào xây dựng kinh tế. Kết quả trong ba bốn thập niên từ 1970 trở đi Nhật Bản trở thành một lực lượng kinh tế lớn thứ hai trên thế giới cho mãi gần đây mới xuống hàng thứ ba sau Hoa Kỳ và Trung quốc.

Trong suốt hậu bán thế kỷ trước Nhật Bản hoàn toàn tin cậy vào Hoa Kỳ ngay cả sau khi Hoa Kỳ thua trận tại Việt Nam. Quân đội Hoa Kỳ còn đóng tại Nhật Bản và Nam Hàn và Hạm đội Thái Bình Dương vẫn còn là một lực lượng áp đảo trong khi Trung quốc còn là một quốc gia hậu tiến về mọi phương diện.

Trong nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nhân dân Nhật Bản tin cậy đảng Tự Do Dân Chủ và đã bầu cho đảng này cầm quyền liên tục trong 38 năm (từ 1955 đến năm1993). Giữa thập niên 1990 đảng LDP trở lại quyền hành và chỉ tạm mất quyền vào tay đảng Dân Chủ Nhật Bản (Democratic Party of Japan – DPJ) từ năm 2009. Và nay trước tình hình khẩn trương trong vùng Á châu Thái Bình Dương nhân dân Nhật Bản lại đưa đảng LDP trở lại chính quyền. Một sự chuyển đổi chính sách bắt đầu.

Bước vào thế kỷ 21, bàn cờ Á châu – Thái Bình Dương không còn như trước. Hoa Kỳ bận rộn và lúng túng với hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan, kinh tế khủng hoảng, trong khi tại Á châu Thái bình Dương, Bắc Hàn chế bom nguyên tử và Trung quốc trở thành một lực lượng khuynh đảo với tham vọng độc chiếm Biển Đông, con đường thông thương huyết mạch của nền kinh tế Nhật Bản. Tình hình xê dịch trước mắt cho Nhật Bản thấy Nhật Bản không còn có thể đặt an ninh của mình dưới chiếc dù Hoa Kỳ. Nhật Bản thấy họ phải chọn con đường tự bảo vệ.

Thật ra Nhật Bản luôn luôn ý thức nhiệm vụ tự bảo vệ nên dù Hiến Pháp không cho phép thành lập một quân đội nhà nghề, Nhật Bản cũng đã chuẩn bị sẵn để khi cần Nhật Bản có một quân lực trong một thời gian ngắn. Các tàu chở dầu của Nhật Bản có thể cải biến thành mẫu hạm nhanh chóng, đội ngũ nhân sự cấp sĩ quan lái thương thuyền và hàng không dân sự được huấn luyện như các sĩ quan Hải quân và Không quân. Và dù là nước chống vũ khí nguyên tử mạnh nhất trên thế giới Nhật Bản cũng chuẩn bị sẵn phương tiện kỹ thuật và hiểu biết khoa học để có thể chế bom nguyên tử trong một thời gian ngắn.

Thủ tướng Shinzo Abe trở lại chính quyền với một chương trình tu chính Hiến Pháp để giải phóng Nhật Bản ra khỏi những hạn chế của Hiến Pháp hậu Thế chiến 2. Hai điểm ưu tiên là hủy bỏ điều khoản tước bỏ quyền của Nhật Bản phát động chiến tranh và quyền trưng dụng nhân sự cho quân lực. Trong dự thảo tu chính Hiến Pháp của đảng LDP có nhiều điểm làm thế giới không an tâm như cho phép quốc hội ban bố tình trạng khẩn trương và trong thời kỳ khẩn trương các sắc lệnh của quốc hội là luật. Ngoài ra thủ tướng Shinzo Abe còn dự tính duyệt lại Hiệp ước An ninh Mỹ-Nhật. Và thay đổi chương trình giáo dục để thẳng thắn giáo dục thanh niên Nhật Bản không có gì phải sợ hải vũ khí nhất là khi đất nước bị đe dọa.

Với các thành phần cực hữu trong nội các, Nhật Bản đã bày tỏ ý muốn từ bỏ các nhượng bộ của các chính phủ Nhật Bản trước đây. Chính phủ của thủ tướng Shinzo Abe cho rằng: (1) giành quyền thăm viếng đền Yasukuni nơi thờ các tướng lãnh Nhật bị Hoa Kỳ xử tử sau chiến tranh, (2) phủ nhận các hành động vô nhân đạo của quân đội Nhật Bản trong chiến tranh và (3) phủ nhận giá trị của các bản án xử tội phạm chiến tranh tại Tokyo trong các năm 1946-1948 là những đòi hỏi hợp lý và công bình đối với Nhật Bản.

Một thành phần nhân dân Nhật có thể cho thủ tướng Shinzo Abe đi quá xa. Nhưng nếu tháng 7/2013 này đảng LDP thắng trong cuộc bầu cử Thượng viện thì không có gì để ngăn cản thủ tướng Shinzo Abe mạnh tay thực hiện các chính sách chuẩn bị Nhật Bản cho tình huống mới.

Trong thế cài răng lược hiện nay tại Á châu giữa Trung quốc và Hoa Kỳ con đường tốt nhất và an toàn nhất của Nhật Bản là tái võ trang để trở thành một lực lượng “lót” giữa hai thế lực kềnh chống nhau . Trung quốc sẽ mất một ít thế tự tung tự tác, và Hoa Kỳ nhờ thế sẽ tránh khỏi những trường hợp phải làm những chọn lựa khó khăn.

Một Nhật Bản ra khỏi ràng buộc của bản Hiến Pháp “hòa bình”, tái võ trang, mạnh về kinh tế và nếu cần trang bị vũ khí nguyên tử theo công thức của Do Thái (là không công nhận, cũng không chối bỏ) Nhật Bản sẽ giúp làm cho các đụng chạm giữa Trung quốc và Hoa Kỳ bớt nảy lửa.

Trong cuộc tranh chấp ngấm ngầm hiện nay tại Á châu Thái Bình Dương, Việt Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn trong sự chọn lựa chính sách. Sự đe dọa của Trung quốc đối với sự vẹn toàn của đất, biển và nền độc lập của nước nhà lồ lộ trước mắt, nhưng tiến thối lưỡng nan vì Việt Nam cũng không thể tin vào chính sách lâu dài của Hoa Kỳ, nhất là khi Hoa Kỳ không còn sức mạnh như trước. Và trước sự khó khăn này, một Nhật Bản mạnh có chính sách độc lập làm trái độn có thể là một chỗ dựa tốt cho Việt Nam.

Nhìn về mặt nào, sự tái võ trang của Nhật Bản để Nhật Bản có thể đóng một vai trò trên vũ trường Thái Bình Dương và thế giới là một sự suy nghĩ tích cực và hợp thực tế.

Như một thông lệ các nước Tây Âu và Hoa Kỳ thường tỏ ra lo ngại khi Nhật Bản tỏ ý vượt thoát các ràng buộc hạn chế hành động của Nhật Bản áp đặt sau Thế chiến 2. Lần này cũng vậy, nhất là các tổ chức đấu tranh cho nhân quyền trên thế giới nhất thiết cho rằng tu chính Hiến Pháp là bước đầu đưa Nhật Bản trở lại con đường tạo sự mất ổn định của Á châu như trong bán thế kỷ 20.

Nhưng khung cảnh thế giới hôm nay đã thay đổi một cách căn bản, và Hoa Kỳ cần có một cái nhìn thấu triệt về Á châu và vai trò mới của Nhật Bản. Chính sách “pivot” về Á châu không có nghĩa là chuyển một ít quân đến Úc châu, đưa 60% hạm đội đến Tây Thái Bình Dương mà chính yếu là thay đổi cách nhìn chiến lược trong đó Nhật Bản cần được xem là một yếu tố tích cực chứ không phải là một con cờ nép bóng dưới sự che chở của Hoa Kỳ.

Jan. 16, 2013

© Trần Bình Nam

 

Lòng dân





 13/01/13 |

Lòng dân


(Chôn nó đi, phần 5)

dep bo cncsNhiều người than phiền là Lòng Dân hôm nay đã nguội lạnh. Hoặc gỉa, nhu nhược. Không còn thiết tha gì tới việc nước, rồi “mặc kệ nó” muốn làm gì thì làm. Muốn đến đâu thì đến! Sự thật, có lẽ không phải như thế. Nhưng hãy công bằng mà nhìn lại cục diện Việt Nam trong vòng vài trăm năm qua mà thương, mà thấy là ngưòi dân Việt Nam ở mọi nơi đã nhận qúa nhiều cay đắng, bất hạnh.

Truớc hết, họ đã phải đeo trên lưng qúa nhiều gánh nặng. Họ phải lao nhọc vì các nhà nước một cách qúa mức. Họ phải chấp nhận hy sinh nhiều lần hơn chúng ta tưởng tượng. Đổi lại, người dân đã bị các nhà cầm quyền đối xử một cách rất bất công, thô bạo. Trong đó, có nhiều khoảng thời gian việc đối xử không còn ở cấp độ bất công, nhưng là một phương thức đối xử bất nhân có hệ thống. Ấy là chưa kể đến sự việc bị các thế lực chính trị lợi dụng, lừa đảo lòng yêu nước của họ. Từ đó, lòng người không muốn chai đá cũng phải chai đá. Không muốn lạnh nhạt với thời cuộc thì cũng không có cách nào để phấn khởi hơn.

Thật vậy, theo số liệu của lịch sử, Hoa kỳ lập quốc từ năm 1789, cũng nhờ binh ngoại và trải qua một cuộc nội chiến, nhưng nay vượt lên trên tất cả. Ở Việt Nam, Nguyễn Ánh cũng đi cầu binh ngoại cũng đẩy người dân Việt Nam vào một cuộc nồi da xáo thịt trong nhiều năm… Chiến tranh đã chấm dứt vào năm 1802 (sau Hoa Kỳ khoảng 23 năm). Nhưng nay thì đếm từ cuối bảng đi lên. Tại sao? Có phải vì những lý do sau?

1. Sự lạm dụng quyền lực, khiến dân lành bị chết oan.

Sau khi làm Tổng Thống, George Washington đã cả một đời lo cho dân, vì dân, vì nước mà xây dựng một nền móng dân chủ vững chắc cho tương lai dài của đất nước. Trong khi đó, sau khi yên vị, những Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, trở thành những Neron ở trời đông, đã lạm dụng quyền lực, chém giết hơn 200.000 ngàn người dân lành với mục đích xây dựng quyền lực cho đế chế quân chủ của dòng họ.

Đọc sử, nhìn con số dân lành bị chết oan, chết bằng muôn loại cực hình ai cũng thấy rợn người. Rồi thấy những hình phạt gián tiếp giáng xuống trên gia đình các nạn nhân, có ai không mủi lòng hoặc không lên án cái man rợ của những bạo chúa? Ấy thế mà, Sử xem ra cũng có chỗ bất công khi những kẻ giết người vì mục đích tư dục, không hề bị “lịch sử” phê phán, trừng phạt. Trái lại, còn được treo gương, đề tên ở trên đường phố của Việt Nam!

Tôi tin rằng, dân tộc Việt Nam không phải là giống dân mọi rợ, thờ thần bạo ác? Lại không thiếu tên tuổi của những ngưòi vì dân vì nước từ hơn 4.000 năm qua, nhưng không thấy nhắc đến. Trái lại, tên tuổi của những bạo chúa giết người thô bạo lại được treo cao gía ngọc trên các đường phố Việt. Tại sao lại thế? Chỉ vì họ là vua quan chăng? Tôi không cho cái nhìn ấy là đứng đắn và quan trọng. Bởi lẽ, dù chỉ là một người chiến binh, một người nông dân áo vải đã hiến cả mạng sống của mình vì dân tộc, vì đất nước thì cái phẩm giá, cái nghĩa khí họ để lại cho non sông còn cao qúy và đáng trọng hơn ngàn lần so với tên của những người chỉ có vị vua, quan mà chẳng có một chút công trạng nào với nước.

Có ai muốn đường phố Việt Nam vẫn mang tên những tội phạm bán nước Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc, Hồ chí Minh hay những kẻ giết người như Nguyễn văn Trỗi, Trường Chinh… sau khi chế độ bạo tàn này đã bị hạ bệ không?

Tôi chưa sang Đức, không biết ở đó có tên đường phố nào mang tên Hitler, Himmler không? Đừng bảo là những nhân vật này thuộc về lịch sử nên phải để lưu lại danh tánh nhá. Lịch sử thì có góc riêng của lịch sử như khi ngưòi ta nhắc đến Trần ích Tắc, Lê chiêu Thống.

2. Sau khi dành được Độc Lập, người dân bên kia vỹ tuyến 17 được những gì?

Bên cạnh những hệ lụy từ lâu đời ấy, sau cuộc kháng chiến dành lại Độc Lập từ tay thực dân, ngoài những khẩu hiệu lẫy lừng, người dân ở bên kia vỹ tuyến 17 được những gì? Họ có được đời sống tự do, ấm no hạnh phúc, được công lý và luật pháp của một nước độc lập bảo vệ? Hay họ bị Hồ chí Minh cho ăn bánh vẽ, rồi bị nhào nặn thành những kẻ nô lệ với cuộc sống còn tồi tệ, thống khổ hơn cả những ngày sống dưói ách thực dân?

Cuộc kháng chiến gọi là dành Độc Lập mà vào phút chót Hồ chí Minh bỗng nắm được quyền lực không phải là do công lao của Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản mà có. Nhưng là do công sức của toàn dân, trong đó phải kể đến những cuộc chống thực dân đã có từ trước, tổn hại rất nhiều xương máu của ngừoi dân từ vụ binh biến ở kinh thành với vua Hàm Nghi, rồi đến những đoàn nghĩa quân lên đường vì nước chẳng vì vua quan như ông Phan Đình Phùng, Cao Thắng đến Hoàng Hoa Thám, Đề Thám, Nguyễn Trung Trực, Phan Liêm, Phan Tôn, Nguyễn thái Học, cô Giang, cô Bắc và các phong trào Đông Du, với cụ Phan bội Châu, Phan chu Trinh… mà có. Nhưng sau khi cưóp được chính quyền trong tay của chính phủ Trần trọng Kim, Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản, phần vì quyền lợi phe nhóm, phần vì phận làm nô lệ cho Nga, Tàu nên họ đã quay trở mũi giáo vào dân chúng.

Trước hết, để đền ơn nhân dân đã hy sinh xương máu trong cuộc tranh đấu dành lại độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, Hồ chí Minh, ngay sau khi nắm được chính quyền đã tổ chức một mùa đấu tố rực rỡ với chủ đề “cải cách ruộng đất”. Nói là cải cách ruộng đất cho nó có chữ vậy, thực chất đây là cuộc phỗng tay trên toàn bộ tài sản của đất nước vào tay đảng cộng sản. Cuộc đấu tố này đã được thực hiện ở trên đất bắc sau ngày ký Hiệp Định đình chiến 20-7-1954. Với cái chết oan khuất của hơn 170.000 người trên tổng số khoảng 14 triệu dân, HCM vĩnh viễn đi vào lịch sử Việt Nam như là một đồ tể vô tiền khoáng hậu. Nạn nhân của Hồ là những ai?

Thứ nhất, họ là những ngưòi dân yêu nước, đã từng nuôi ăn, cho ở đợ những tên tuổi từ Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Hoàng văn Hoan, Nguyễn duy Trinh, Trần quốc Hoàn, Võ Nguyên Giáp… cho đến các cấp nhỏ nhất tại các thôn xóm. Nghĩa là không có một đoàn đảng viên nào mà đã không sống nhờ vào lòng hảo tâm của những ngưòi mà chúng giết sau này. Người bị giết đầu tiên được nhắc đến tên là bà Nguyễn thị Năm ở Bắc Ninh. Người không được nhắc đến tên tuổi là những nông dân trên các cánh đồng, bằng cách này hay cách khác đều là những ân nhân nghìn đời của cộng sản.

Kế đến là nhiều cha mẹ, anh em ruột thịt và thân nhân, lối xóm của rất nhiều sỹ quan và cán binh, có người còn sống, có người đã chết trong chiến đấu, thuộc những đại đoàn chính quy, hậu cần, trong suốt thời kỳ kháng chiến. Họ là những ân nhân của cách mạng, đã từng tiếp tế lương thực gạo thóc, tiền bạc thức ăn cho Việt Minh trong suốt 9 năm kháng chiến. Nhưng được Hồ chí Minh đền ơn bằng cách lôi ra đấu tố vì là điền chủ, phú nông, lý trưởng, chánh tổng… với tội danh: “tay sai của thực dân cài ngưòi vào tổ chức của ta. Nó tiếp tế cho ta là vì muốn nắm tin tức của ta. Thực tế chúng là những kẻ bóc lột dân ta”!

Rồi đến bản thân nhiều sỹ quan binh sỹ đã đi vào kháng chiến cũng không tránh được tai họa vì nghề đấu tố của HCM. Lý do, sau chiến tranh, người cán binh về thăm quê, chưa gặp gia đình đã gặp đội đấu và đội “quần chúng nhân dân”. Các anh bị bắt giữ và bị hành quyết với tội danh: “Nó là con địa chủ, có ăn có học ở thành phố, ở với tây, được cài vào trong đội quân của ta làm phản gián!”. Tôi có hai ngưòi thân nằm ở trong trường hợp này (trung tá Phạm Hàm va em là thiếu tá Phạm Hiến) quê ở Yên Mô, Ninh Bình. Bố ở nhà bị giết vì tội “Việt gian”, con về thăm nhà cũng được Việt cộng cho đi tầu suốt! Sau cùng là nông dân có vài sào ruộng và vài con trâu cũng từng góp gạo, góp của cho kháng chiến. Nhưng được đảng đôn lên hàng phú nông, thuộc giai cấp bóc lột và cũng nhận được một nhát dao ân huệ của Hồ chí Minh. Tính ra trong cả nước, không ai mà không có tội. Hôm họp ở làng tôi, một làng đã vào tề ở ngoài bắc, sau vào nam lại lập ấp, cán bộ chắp tay sau đít, đi đi lại lại điểm mặt: “bà con liệu đấy, ở đây không ai mà không có tội, chỉ là nhà nước chưa tính tới phiên mà thôi!

Gặp những cảnh bị đối xử bất nhân, bất công như thế đã đủ làm cho ngưòi dân lạnh nhạt, thờ ơ với việc nước chưa? Liệu còn có ngọn lửa nào, hay cuộc lừa phỉnh nào sẽ mãnh liệt hơn để cho lòng họ nóng lại hay không? Không, tôi tin là không có một ngọn lửa nào, không có một chiêu bài nào có thể làm cho lòng họ nóng lại, để họ tự đem chính bản thân của mình ra để phục vụ cho một chế độ tàn bạo ngay sau mùa đấu tố 1954 được nữa.

3. Trong khi đó, ở miền nam từ 1954-75, Lòng Dân ra sao?

Cuộc chia đôi đất nước không làm cho lòng người ở miền nam yên tâm, dù ở đây chính quyền ra sức bảo vệ họ thay vì mở những cuộc đấu tố, cải cách như ở ngoài bắc. Tuy thế, nhiều lúc họ cũng chẳng biết số phận của mình sẽ ra sao. Nhìn chung, chính quyền, phần thì nỗ lực để vãn hồi an ninh trật tự đầy bè phái và hỗn loạn, sống như vô pháp vô cương do Bảo Đại để lại. Phần thì ra công ra sức xây dựng, đặt nền móng cho một định chế Dân Chủ sau khi thu hồi Độc Lập từ tay thực dân Pháp và bãi bỏ thể chế quân chủ đã tồn tại trên giải đất này từ thời lập quốc. Đã thế, còn lao nhọc chăm lo đến đời sống của người dân, hỗ trợ, ổn định cuộc sống cho hơn một triệu đồng bào di cư, trốn nạn cộng sản từ bắc vào nam. Đến khi mới có chút nắng, mang màu hy vọng cho một tương lai của đất nước trên đỉnh đầu thì các thế lực chính trị ăn bám theo Tây, nhưng đã mất quyền lực, hay vì ảo giác chính trị (muốn có quyền lực) lại tìm cách khuấy động lòng dân nổi lên đấu tố chính quyền, thay vì hướng dẫn người dân đi vào đường lối chính thống, thay đổi chính phủ bằng những lá phiếu theo điều kiện của luật pháp!

Một trong những vụ khuấy động lòng dân lớn rộng, nấp dưới tấm bình phong tôn giáo để che đậy mưu đồ chính trị có lợi cho cộng sản là phong trào “chống kỳ thị tôn giáo” do TT Thích Trí Quang lãnh đạo (điều này lúc trước xem ra là cấm kỵ, nhưng nay thì chả còn ai phủ nhận khi xem những đoạn Video cũ) đưa đến cái chết của TT Thích quảng Đức làm rúng động thế giới. Tuy bị cáo buộc khá nhiều, nhưng sau nửa thế kỷ tính từ ngày nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền nam Việt Nam cáo chung với cái chết đau thương của TT Ngô đình Diệm và người bào đệ của ông, ngưòi ta đã không thể tìm ra những bằng chứng cụ thể, xác thực nào về việc chính quyền này kỳ thị tôn giáo. Thay vào đó là những chứng cứ cho thấy có bàn tay của Việt cộng nằm trong cấp lãnh đạo của phong trào này.

Sang đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ngọn lửa kỳ thị được cộng sản thổi bùng lên và lôi kéo được khá đông quần chúng miền trung tham dự, mà điển hình là trường hợp Thanh Bồ- Đức Lợi ở Đà nẵng, Nếu những vị lãnh đạo của hai tôn giáo lớn lúc bấy giờ là Công Giáo và Phật Giáo không sớm nhận ra đó là một âm mưu do Cộng sản cài đặt, và không đủ kiềm chế thì cuộc chiến về tôn gíao đã có thể bùng phát. Dù là lớn hay nhỏ thì cái tai họa cho dân tộc chắc không nhỏ và ảnh hưởng không phải chỉ là một khoảng thời gian.

Câu chuyện vẫn chưa chấm dứt ở đây. Ngoài biên, chiến trận mỗi lúc thêm khốc liệt. Hậu phương, thêm nhiều tổ chức đấu tranh vận động quần chúng, thanh niên sinh viên học sinh xuống đường đòi hòa bình, đấu tố chính quyền. Kết qủa, ngày 30-4-1975 đã đến. Nó đến trong nỗi bàng hoàng, hoảng sợ của mọi ngưòi, kể cả những người đã từng theo cộng khuấy động lòng dân đứng lên đấu tố chính quyền lúc trước. Tất cả đều trắng mắt ra để nhìn “mưa sa trên lá cờ đỏ” mà không dám có lấy nửa lời phản kháng, hoặc đòi công lao! Lòng dân ra sao sau tháng tư đen?

4. Hoà bình rồi, đồng bào ơi. Hoà bình rồi, nhận lấy đắng cay!

Hoà bình rồi, đồng bào ơi. Hoà bình rồi. Mừng chưa nào, ra nắm tay nhau mà nhẩy son đố mì… Mừng chưa, người Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng! Mừng ơi, sau hai mươi năm chiến tranh mới có một ngày như hôm nay!

Câu chuyện hôm trước vui nhộn thế. Qua một đêm đen, sáng hôm sau đã ra khác. “Đả đảo Thiệu Kỳ, mua gì cũng có. Hoan hô Hồ chí Minh, mua cái đinh phải xếp hàng”! Hai câu đồng dao như tát nước vào mặt những kẻ mang ảo giác chính trị từng lôi kéo người dân, thanh niên sinh viên học sinh xuống đường đấu tố chính quyền, tiếp tay cho việc làm mất luôn miền nam. Rồi nó như một bài “Giáng” đã nói lên tất cả mọi sự thật phũ phàng về đời sống kinh tế của con người dưới chế độ cộng sản. Không phải chỉ là những ngày đầu, nhưng là khởi đầu của một cuộc tang thương nối tiếp.

Bước sang lĩnh vực chính trị, xã hội còn thê lương hơn nhiều: “Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý. Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do”. Nay thì những kẻ từng chống đối TT Ngô đình Diệm, hay TT Nguyễn văn Thiệu ở miền nam trước kia không còn cười được nữa. Bởi vì một bài “ Giáng” khác của chế độ mới đã công bố toàn bộ sách lược của chế độ đối với người dân. Ai nghe thấy cũng đều ngậm đắng nuốt cay. Mà sự “ngậm đắng nuốt cay,” không cười được nửa không phải chỉ bắt đầu bằng câu đồng dao của thời đại khi Việt cộng đổi tên đường phố ở Sài Gòn. (Chẳng biết có phải là lòng trời đã xui khiến hay là tình cờ có sự trùng hợp mà đường Công Lý bị thay bằng cái tên Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Và đường Tự Do thì được thay bằng cái tên Đồng Khởi!) để cho ngưòi ta nói chuyện diễu. Nhưng thực chất là từ ngày 30-4-1975 người dân sống trên phần đất ấy không được Công Lý bảo vệ và cũng chẳng có cuộc sống trong Tự Do. Bởi vì, sau những cuộc biểu tình đòi hòa bình, đấu tố chính quyền do cộng sản giật giây, giờ đây, ngưòi miền nam đến lúc nối theo nhau vào nhà tù. Dĩ nhiên, trong đó có rất nhiều những khuôn mặt “nhớn” từng chống TT Diệm và TT Thiệu lúc trước. Những tưởng “trở mình” là nên quan tướng nhớn, nào ngờ chỉ là ảo giác! Phần ngưòi dân thì hết nỗi thống khổ này chồng lên thống khổ khác. Bị ức chế bị chà đạp từ đời sống hàng ngày cho đến đời sống tinh thần trong tôn giáo. Hỏi xem bây giờ họ sẽ theo ai? Theo Ngô đình Diệm phục vụ con người, hay theo Hồ chí Minh mở cuộc đấu tố anh em? Hoặc là ì ra, muốn đến đâu thì đến?

Ở độ tuổi từ 50 trở lên thì có đầy đủ những chán chường ấy chất lên người, họ còn khát vọng gì cho tương lai nữa hay không? Chắc là không đâu nhỉ? Tuổi trẻ thì sao? “Vô tri thời bất mộ”. Người ta không thể mộ mến cái mà người ta không biết. Và cách để biết, để tri thì không có gì hơn được, hay bằng phương cách giáo dục cẩn thận, đứng đắn ngay từ trong học đường. Tiếc rằng, cả hai điều kiện căn bản này đều vắng bóng trong hệ thống giáo dục và đào tạo của cộng sản từ năm 1954 ở ngoài bắc, và ở miền nam từ sau 30-4-1975.

a. Về lịch sử

Học sinh không được học gì về lịch sử của dân tộc mình. Không biết hai bà Trưng chống cuộc ngoại xâm nào. Không biêt những tên Tô Định, Mã Viện tàn bạo với dân mình ra sao. Không biết chuyện “gò” Đống Đa mang ý nghĩa gì. Không biết Chi Lăng nơi chôn vùi Liễu Thăng ở nước nào. Không dám nói đến việc vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Trần Hưng Đạo triệt quân Nguyên… Lại miệt mài nhồi nhét vào đầu những cái gương “đuốc sống” tưởng tượng Lê văn Tám, Võ thị Sáu, Nguyễn văn Trỗi, Bế văn Đàng, đánh Mỹ cứu nước… để khi thi môn sử, lỡ có đề án ra nhầm vào những nhân vật trên là cả lớp, cả trường, có khi cả khoá thi bị điểm Zêrô, điểm 1, điểm 2. Với một kết quả như thế thì tìm đâu ra lòng yêu nước của những thế hệ mới? Nên không lạ gì tập đoàn cộng sản từ Hồ chí Minh đến những cấp gọi là lãnh đạo hôm nay đều cúi đầu, cúc cung phục vụ cho chủ nhân Tàu với lòng độc ác tàn hại dân rất cao và không bao giờ thiếu. Trái lại, lúc nào cũng sẵn sàng. Bằng chứng, việc biểu lộ lòng yêu nước của những ngưòi trẻ Việt Nam hôm nay đã rất hiếm hoi. Đến khi họ tự tập trung với nhau lên tiêng trong những vụ việc về biên giới, biển đảo bị Trung cộng lần chiếm, đã không hề được các “quan chức” nhà nước hỗ trợ hay gỉa làm ngơ. Trái lại, từ những Điếu Cày, Tạ phong Tần….. đến Nguyễn chí Đức, Lê quốc Quân, Bùi Hằng, rồi Việt Khang, Lê Phương Uyên… cùng thét gào lên trong nức nở Việt Nam Tôi Đâu: Anh Là Ai ở trong chốn nhà lao!

b. Về nhân cách, lễ nghĩa

Những dòng chữ nắn nót treo ở trên tấm bảng đen và trên tường trong lớp học của học sinh miền nam trước kia thường là những dòng chữ tuyệt vời trong ý nghĩa giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Ngày nay học tập ngày mai giúp đời” hoặc là “ nhiễu điều phủ lấy giá gương”… đã được nhà nước “cộng hoà xã hội chủ nghĩa” giải phóng, lột bỏ, quăng đi cho bằng hết. Rồi thay vào đó là lối giáo dục hết sức phản giáo dục với hàng chữ: “Sống và học tập theo gương bác hồ vĩ đại”. Thưa cô, gương của “bác” là gương gì ạ? Có Trung , có Hiếu, có Lễ, có Nghĩa, có Tín không ạ? Cô gíao thấp giọng:

- “bác có nhiều tấm gương lớn các cháu phải noi theo”. Trung Hiếu Lể Nghĩa Tín các chữ ấy đều có. Nhưng chỉ có chữ thôi phần thực hành thì không. Có em nào nom thấy bác làm giò, thắp nhang cho ông bà cha mẹ bao giờ không? Thưa cô không ạ! Thế đấy, nên họ nói thì cứ mặc. Các em nhớ đấy, “bác còn nhiều cái gương khác nữa”. Trung thì không bán nước, Nhân thì không giết ngưòi. Lớn lên tự mình nhìn việc mà đánh gía. Nghe thế, lũ trẻ hoang mang, chẳng biết đâu mà mò. Về nhà, cha mẹ em cứ dạy là phải thảo hiếu cha mẹ và yêu thương đồng loại và yêu tổ quốc. Ai đúng, ai sai? Lạ, lạ qúa….Tiếng đầu đời không gọi cha gọi mẹ, mà gọi Sít ta lin!

Với những tấm gương ấy trong học đưòng, ngoài xã hội, cộng sản đã phá nát nền luân lý của dân tộc và của tôn giáo tại Việt Nam nên “nguời ta phải nói dối nhau mà sống” (ĐB Trần quốc Thuận PCT QH khóa IX). Hầu như không tìm ra một câu nói thật nào với nhau, nhất là về phương diện quan điểm chính trị. Trong khi đó cuộc sống của xã hội càng ngày càng bị phủ ngập bởi những loại tội đại ác. Con giết cha, vợ giết chồng, tình nhân giết nhau, bạn học giết bạn học và cả học trò chém thầy, cô, vì không có điểm tốt. Phần thầy thì gạ tình trò đổi lấy điểm. Khi bước ra đường là đụng tiến sỹ, gái điếm. Bước vào nhà thương, ngõ hẹp thì thấy đầy dẫy những phòng nạo, cạo, hút thai công khai. Hỡi ơi, mỗi năm có đến hàng trăm ngàn vụ phá thai và nghĩa địa hài nhi thì mọc lên như nấm ở khắp nơi. Mà người cha không ai biết đến, trong khi người mẹ đa phần là trẻ vị thành niên, thậm chí có em, một năm đã phá thai đến ba, bốn lần! Một xã hội tốt đẹp, có trật tự, lễ giáo trước 1975, chỉ hơn ba mươi năm đạt đến những “thành tích” lẫy lừng này thì hẳn nhiên, không còn cái gương nào “tốt” hơn, “sáng” hơn hoặc là bằng với cái gương của Hồ chí Minh mà chế độ này đem treo và vào áp dụng ở khắp đầu đường, xó chợ!

Đó là những điều làm ảnh hưởng đến Lòng Dân, tưởng là ghê gớm hay mới mẻ. Thật ra, nó cũ rích và tôi chỉ nói lên được đôi chút trong những nỗi thống khổ tận cùng của dân tộc ta trong vài trăm năm qua, không thể nói lên toàn cảnh được. Nên với gánh nặng tựa núi đá, cộng thêm cuộc khủng hoảng đạo lý và niềm tin do cộng sản tạo ra, cứ mãi đổ xuống trên thân thể người dân như thế. Họ chưa chết, chưa ra điên hết, còn được như hôm nay đã là may mắn, nói chi đến vấn đề bạc nhược, hay thờ ơ trước thời cuộc. Khi đàn gà phải cáo nấp ở trong góc chuồng, chi nghe thấy tiếng động nhỏ ở đâu đó là đã vỡ mật, cần chi phải nhìn thấy con cáo. Người Việt Nam ta hôm nay còn nằm ở trong hoàn cảnh bi đát hơn thế nhiều. Vì lũ cáo đã nằm ngay ở trong chuồng gà. Cũng may, nhờ kinh nghiệm từ thời phong kiến đến cộng hòa, đặc biệt sau sáu mươi năm sống dưới chế độ bạo tàn cộng sản đã giúp họ thu vén cho mình một chút vốn liếng riêng. Rõ ràng, họ căm thù cộng sản đến tận xương tủy, nhưng cũng không thể bồng bột vào cuộc đấu tố chúng để lãnh lấy thất bại. Nghĩa là, họ sẵn sàng đứng dậy để Chôn Nó Đi, nhưng sự sẵn sàng ấy phải có những điều kiện khả dĩ, nắm chắc thành công. Bởi lẽ, sau một thất bại lớn, cuộc sống còn thê lương hơn nhiều.

Tóm lại, Lòng Dân như một thúng bột. Gặp cơn gío lốc thì bay đi tứ tán. Bột bị phí phạm và không đem lại lợi ích. Nhưng nếu biết đem bột hoà chung với nước thì lại trở thành lương thực để nuôi sống con ngưòi.

Theo đó, chúng ta, không thể lên tiếng trách cứ dân tình là thiếu tri thức, ý thức về quốc gia hay thờ ơ với việc nước được. Trái lại, phải xác định rằng các chính quyền trong vài thế kỷ qua cũng như các thế lực mang ảo giác chính trị đã lừa dối lòng yêu quê hương của người dân qúa nhiều. Những thế lực này là nguyên nhân làm hỏng thúng bột. Làm bột bay đi tứ tán. Là nguyên nhân tạo ra sự lạnh nhạt trong lòng người dân. Và tệ hại hơn thế là, chính sự lạnh nhạt, thờ ơ của người dân hôm nay lại là con đường mở cho cộng sản tồn tại trên đất nước này.

Như thế, muốn Chôn Nó Đi, chúng ta phải tìm cách vận động thế nào để cho bầu nhiệt huyết vì quê hương lại có dịp luân chuyển trong huyết quản con dân Việt Nam. Thí dụ, ngày xưa tầng lớp sỹ phu nắm giữ mọi trọng trách thúc đẩy nhân dân đi lên. Nay xem ra là đến thành phần tuổi trẻ phải gánh vác công việc này. Bởi lẽ, họ là những người viết blog riêng, vào các trang mạng xem thông tin. Họ nhận được nhiều nguồn tin đúng. Đọc được những quan điểm đứng đắn về biên giới, chủ quyền trên biển đông. Nhờ họ, những bản tin nhà nước đàn áp, bắt giam những ngưòi chống Trung cộng xâm lược, đến được với nhiều người. Đặc biệt là ở vùng nông thôn là nơi không có nhiều điều kiện tiếp cận với thông tin thật. Nay nhận được những bản tin, họ hiểu được chẳng bao lâu nữa Trung cộng sẽ vào chiếm đình làng. Hoặc gỉa, trực tiếp điều hành những công việc ngay tại xã thôn như chúng đang làm ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam như ở Nông Cơ, Tân Rai… những khu khai thác quặng mỏ, khai thác rừng thuê mà không một người Việt Nam nào được phép đến, kể cả cán bộ cấp trung ương. Những bản tin này sẽ đưa người dân vào những ưu tư trước thời cuộc. Người dân dần thay đổi cách suy nghĩ, cách nhìn. Riêng tầng lớp thanh niên thay thế lớp Sỹ Phu, trở thành những yếu tố chính cho một cuộc cách mạng mới mà toàn dân đang mong chờ để được tiếp tay. Từ đó, bầu nhiệt huyết về quê hương sẽ trỗi dậy.

Một khi bầu nhiệt huyết vì quê hương lại cháy lên trong Lòng Dân thì có xá chi việc loại trừ chế độ cộng sản ra khỏi đất nước Việt Nam. Trái lại, vẫn trách cứ, vẫn đổ lỗi cho dân, hoặc chỉ lợi dụng họ khi muốn qua cầu, chúng ta sẽ đi vào ngõ cụt, không thể tìm được sức mạnh hỗ trợ từ đồng bào của mình. Nếu không có sức mạnh vạn năng từ Lòng Dân, không ai có thể làm nổi công việc lấp bể dời non.

© Bảo Giang

© Đàn Chim Việt

 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link