Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, January 25, 2013

Thế trận Trung Cộng đã bày ra.


Nhóm LýTrầnLêNguyễn / Paris kính chuyển :Thế trận Trung Cộng đã bày ra.

Anh-Huy

Thế trận Trung Cộng đã bày ra, quyết tranh ngôi vị Siêu cường quốc với Hoa Kỳ
trong Thế kỷ 21 này.Điều đó là lẽ tất nhiên biểu thị cho sự thăng trầm, thay đổi ngôi vị của các đế quốc mà lịch sử Thế giới từ cổ chí kim đã chứng minh.

Từ 5 thế kỷ gần đây hết Hòa Lan, Bồ Đào Nha , Tây Ban Nha, làm mưa làmgió trên vũ đài Thế giới, xâm chiếm thuộc địa, đồng thời truyền bá ĐạoThiên Chúa khắp mọi nơi. Tiếp đến là Phú Lang Sa, Anh Cát Lợi, Nhật Bản, Đức Nhỉ Mãn, Nga La Tư và Hoa Kỳ nổi lên thay thếnhưng, nổi bậc nhất vào thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20 là Đế Quốc Anh Cát Lợi.




Chính người Anh Cát Lợiđã kiêu hảnh , tự hào về hành động xâm lược, chinh phục thuộc địa trên thế giới của mình, lại còn ngạo mạn tuyên bố:
" Mặt trời không bao giờ lặng trên đế quốc Anh "
Vào đầu thế kỷ 20, trên bải biển Thượng Hải, khi còn là Tô giới của các Cường quốc Tây phương, nơi dành riêng cho dân Âu Mỹ tắm nắng. Đế Quốc Anh cầm quyền tại đây đã từng treo bảng ghi rằng :
" Nơi đây cấm chó và người Trung Hoa "
Có nhà bình luận thời cuộc nào vào lúc đó tiện đoán Đế Quốc Anh Cát Lợi sẽsụp đỗ trong vài chục năm tới ?!
Ấy thế mà sau Đệ Nhị Thế Chiến, Đế Quốc Anh sụp đỗ thay thế bởi Hoa Kỳ và Liên Sô.

Thành trì Cách mạng Vô sản, Thánh địa Đệ tam Quốc tế Cộng sản, con gấu bắc cực Liên Sô hùng hổ như muốn nuốt trửng toàn cầu qua chiêu bài " Thế giớiĐại Đồng ".
Thi thố lực lượng quân sự bằng những vũ khí kinh hồn hiện đại, tập hợp chư hầuĐông Âu dưới trướng của mình bằng Minh ước Varsovie. Sừng sộ, thách đố, tranh cương vị siêu cường thế giới với Hoa Kỳ bằng cường lực của kẻ 8 lạng
người nửa cân ngang ngửa .


Hãy xem lại những báo chí tài liệu của thập niên 80 thế kỷ 20, có bình luận gia nàotiên đoán Đế quốc Đỏ Liên Sô sụp đổvào đầu thập niên 90 thế kỷ 20 !
Thực tế, toàn bộ Đông Âu và Liên Sô sụp đổ.
Theo đuổi chiến tranh lạnh là theo đuổi một cuộc chiến Ý thức hệ bao gồm cảviệc thi đua vũ trang, nhân sinh và kinh tế. Thật ra thi đua kinh tế và nhân sinh chính là trọng điểm chính yếu trong cuộc chiến tranh Ý thức hệ giữa Cộng sản và Tưbản.
Liên sô sụp đổ vì xua hết tài lực vào việc thi đua vũ trang với Hoa Kỳ trong suốt 45 năm từ sau khi Đệ II kết liễu mà quên hẳn việc thi đua kinh tếvà nhân sinh .

Hầu như vào tháng 5 năm 1989 thế giới đều tiên đoán " Thiên An Môn" sẽ là đầu dây mối nhợ làm sụp đổ chế độ Cộng Sản Trung Hoa .
Thế nhưng, biến động " Thiên An môn " lại khai nguồn cứng rắn cho Đặng Tiểu Bình lèo lái tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa tiến bước mạnh dạn vào đường hướng kinh tế thị trường.

Liên Sô và Trung Cộng đều tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản, tung chiêu bài cách mạngđấu tranh chống lại Hoa Kỳ. Nhưng, sự biến dạng chiêu bài đấu tranh của hai nước
Cộng Sản này cũng khác nhau.
Đằng khác, ở hai thời điểm hoàn toàn dị biệt , hai vị trí địa lý chính trị chiến lược Đông Tây dị biến. Bằng sự đo lường lợi hại trong chiến lược toàn cầu, Tư bản Hoa Kỳ thẳng thừng triệt hạ Liên Sô mà lại dung dưỡng và tạo dựng Trung Cộng thành " Công xưỡng Thế giới ".Nói nôm na là biến nông dân Trung Hoa thành công nhân của Thế giới Tư bản Âu Mỹ.

Thông thường người công nhân lập chí, chỉ một thời gian làm lụng, tiết kiệm dành dụm họ sẽ trở nên giàu, đôi khi lại trở thành chủ nhân trên thương trường.
Sau đệ nhị thế chiến, Tư bản Hoa Kỳ qua chương trình Marshall trợ giúp Âu Châu nhất là Anh, Pháp, Đức, Ý và cả Nhật.
Các quốc gia Âu châu kết hợp thành Liên Âu nhưng cũng chỉ là chủ nhân hạng nhì dưới sự điều hành của Đại Chủ nhân Hoa Kỳ !
Vì sao ?
Thật dễ hiểu, vì Liên Âu không dồi dào tài nguyên, còn nặng tinh thần quốc gia, sựliên kết không vửng chắc, nội bộ mâu thuẩn, địa lý,chính trị, quân sự,kinh tế, hoàn toàn không hội đủ điều kiện để tranh cương vị siêu cường với Hoa Kỳ.

Sự dung dưỡng Trung Cộng sau khi Liên Sô sụp đỗ, kéo dài từ thập niên cuối thếkỷ 20 và đầu thập niên thế kỷ 21, trong chiều hướng Tư bản Âu Mỹ mưu tìm lợi nhuận qua việc sản xuất nhu yếu phẩm thực dụng bằng nhân công rẽ mạt tại Hoa Lục trên 20 năm trôi qua.
Cũng chính trong khoảng thời gian đó, lợi dụng hình thức " Công xưởng Thếgiới " Trung Cộng đã xây dựng nội dung " Kinh tế Thị trường " của mình trở nên tân tiến và thịnh vượng , biến Trung Cộng lạc hậu chậm tiến từ cuối thế kỷ 20 thành cường quốc về kinh tế đứng thứ 2 trên toàn cầu vào cuối thập niên đầu của thế kỷ 21 này.
Qua nhận định khách quan, phải thú thật thành quả " Kinh tếThị Trường " của Trung Cộng đúng là mang đôi hia 7 dậm !

Cấu trúc Xã hội Chủ nghĩa Liên Sô bằng sự vận động công nhân làm cách mạng.
Staline từng chê bai Mao Trạch Đông là Cộng Sản chệch hướng vì họ Mao xây dựng Xã hội Chủ nghĩa Trung Hoa bằng lực lượng nông dân.
Thừa kế Staline dựa vào cuộc chiến tranh lạnh, đưa Liên Sô lên hàng Cường quốc chuyên về sản xuất vũ khí hiện đại, chế tạo phi thuyền chinh phục không gian, thi đua vũ trang với Hoa Kỳ trong khi nhân dân đói lạnh.
Thừa kế Mao Trạch Đông dựa vào chủ trương kinh tế thị trường, Từ 20 năm qua, chỉ toàn dùng tài nguyên phong phú hiếm hoi nhất toàn cầu, nhưng đông đảo tại Hoa lục là 2 000.000 000 tỷ bàn tay nhân công người Trung Hoa, sản xuất những nhu yếu phẩm giá thành rẽ mạt, tha hồ tài phiệt Âu Mỹ thâu lợi nhuận khi bán lại cho người dân Âu Mỹ tiêu dùng. Sự thể đó đưa Trung Cộng lên hàng Cường Quốc,
cũng sản xuất vũ khí hiện đại, cũng phóng phi thuyền chinh phục không gian, xây dựng đất nước bằng kỹ thuật tân tiến , người dân có công ăn chuyện làm, mức sống nâng cao và bắt đầu công khai xuất chiêu quyết tranh ngôi vị siêu cường với Hoa Kỳ trước tiền bán thế kỷ 21 này.
Đầu thế kỷ 20, tấm bảng mà Đế Quốc Anh Cát Lợi đem ra treo tại bờ biển Thành phố Thượng Hải ghi rõ hàng chữ :
" Nơi đây cấm chó và người Trung Hoa "
Có nhà bình luận chính trị nào thời ấy tiên đoán Trung Hoa sẻ trổi dậy và qua mặtĐế quốc Anh ? Ngoại trừ, trước đó, Đại đế Pháp Napoléon Đệ I nhận định :


"Con sư tử Trung Hoa còn ngáy ngủ ,
khi nó thức dậy sẽ làm rúng động thế giới !"

Quả thật chỉ 100 năm sau, người dân Anh Cát Lợi có thể đang phập phòng lo sợ luật nhân quả sẽ xãy ra tại bờ biển nào đó, cạnh một thành phố nổi tiếng trênđất nước mình chăng ?!
Bảo rằng Trung Cộng là Ếch muốn phình bụng thành Bò, e rằng nhận định đó chủquan một chiều hoặc giả đang đứng trên lục địa Mỹ mà quán xét thời cuộc thếgiới bằng cảm tính.
Trong thời điểm này, chúng ta có thể so sánh ví von thì ít ra Trung Cộng cũng là con Bò Tơ đang trổ mã chực chờ thời gian trong tương lai gần để đốiđầu với Hoa Kỳ.

Với lãnh thổ trên 9 596 961 Km2 hơn Hoa Kỳ 9 363 124 Km2 ,
không thuận lợi như Hoa Kỳ giáp mặt cả Thái bình Dương và Đại tây Dương để lực lượng Hải quân tung hoành.
Nhưng, duyên hải dài gần 4000 Km giáp mặt bắc Thái bình dương không kể phần lãnh hải lưỡi bò ở Biển Đông mà Bắc Kinh tuyên bốthuộc chủ quyền mình. Với chừng ấy mặt biển, Trung Cộng cũng đủ yếu tố để xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh ngõ hầu tranh hùng tranh bá ngoài Đại dương .
Theo thống kê 2009, dân số Trung Cộng là 1 242 .500 000 so với Hoa Kỳ302.200 000 gấp 4 lần hơn. Giai cấp trung lưu không quá 25% dân số, hoàn toàn nằm gọn trong sự điều hành của Tập đoàn Tư bản Đỏ, một tổ chức ngoại vi
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Trung Hoa . Giai cấp chốp bu giàu sụ này thoát thai từ chủ trương kinh tế thị trường.
Chính thị là thành phần cán bộ Cộng sản cốt cán từ Bắc Kinh, đến những thành phố lớn, xuống tận Tỉnh huyện trên toàn thể Hoa lục.
Mặc dù vậy 75% dân chúng còn lại, trong đó 15 % là người già trên 60 tuổi, họ thỏa mãn và hảnh diện về bước nhảy vọt thăng tiến của nước nhà, đồng thời theo họ, cuộc sống hưu trí tuổi già được cải thiện khá nhiều so với thời trước. Còn lại là thành phần trung niên và thanh niên cốt cán trong xã hội lại hăng sai chấp nhận lăn xã vào triều sóng của chủ trương Kinh tế Thị trường .
Trước tiên là kiếm được miếng cơm manh áo, đồng thời đáp ứng nhu cầu đòi hỏi lao động của nhà nước và sau rốt là được hưởng thụ cuộc sống theo trào lưu tân tiến mới, góp nhặt y hệt xã hội Âu Mỹ hiện đại .

Giới lãnh đạo Nam-Trung-Hải hẳn đã nắm chắc điều kiện Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa trong bối cảnh thuận lợi hiện tại để bày thế trận tranh ngôi vị siêu cường quốc thế giới với Hoa Kỳ, ngay vào thập niên thứ hai trong thế kỷ 21 này .
Trận thế " Liên hoành " Trung Cộng bày ra ...dù hằng chục năm dai dẳng...Hoa Kỳ thừa sức đối phó để giử vững ngôi vị độc tôn của mình.
Nhưng hiện tại, Cộng Sản Việt Nam đang đứng trước ngả 3 đường ... tiến thoái lưỡng nan !
Anh-Huy

ĐƯỜNG ỐNG DẪN DẦU CỦA TRUNG CỘNG XUYÊN MIẾN ĐIỆN


 

Kính thưa Quý vị

Sau khi hoàn tất việc chiếm Hoàng Sa & Trường Sa . Trung Cộng đưa

"Hải Mã 1" lướt  vào Biển Đông cho thế cờ Đông-Nam Á / Thái Bình Dương

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ trù liệu việc đối đầu bằng "con Tốt " Việt Nam ?!

Liền đó, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Nhật Bản đổ dồn năng lực dành giựt "con Tốt "

Miến Điện không để rơi vào tay Trung Cộng .....

Nhưng sự kiện :

Đường ống dẫn dầu của Trung Cộng xuyên ngang qua lãnh thổ Miến Điện sắp

hoàn tất, nối liền Côn Minh ( Vân Nam ) trổ ra Vịnh Bengale.

Có nghĩa là : Trung Cộng sẽ đưa "Hải Mã 2" vào thế cờ Nam Á / Ấn Độ Dương

Tương lai "  2 con Tốt " rồi sẽ ra sao ?

Kính.

 

Nhóm LýTrầnLêNguyễn / Paris

 

----- Mail transféré -----
De : anh truong <
À : anhtruong <
Envoyé le : Jeudi 24 janvier 2013 4h10
Objet : [PhoNang] ĐƯỜNG ỐNG DẪN DẦU CỦA TRUNG CỘNG XUYÊN MIẾN ĐIỆN

 

 

TRUNG CỘNG ĐÃ THIẾT LẬP HỆ THỐNG DÂÙ TỪ ẤN ĐỘ DƯƠNG ĐẾN CÔN MINH XUYÊN MIẾN ĐIỆN - CÓ THỂ KHÁNH THÀNH GIỮA NĂM -

MỸ , ẤN , NAM HÀN,NHẬT BẢN PHẢN ỨNG RA SAO?-TIN NÓNG CHÚNG TA CẦN THEO DÕI.

ĐƯỜNG ỐNG DẪN DẦU CỦA TRUNG CỘNG XUYÊN MIẾN ĐIỆN

 Nút chặn eo biển Malacca
tka23 post

    Trung cộng  thiết lập  đường ống dẫn dầu đi qua lãnh thổ Myanmar không chỉ là vấn đề về năng lượng, mà còn là vấn đề về an ninh chiến lược.

   Đài phát thanh “Tiếng nói nước Nga” vừa đăng bài viết nhan đề “Trung cộng sẽ tránh ‘đá ngầm’ do Mỹ bố trí ở eo biển Malacca”. Báo Hoàn Cầu của TC đã trích dẫn và đăng tải bài viết này.


  Bài viết cho rằng, Myanmar có thể giúp Trung cộng  tránh được trở ngại  do  Mỹ bố trí ở eo biển Malacca.

Bắc Kinh tuyên bố, đường ống dẫn dầu từ bờ biển Ấn Độ Dương đến khu vực biên giới Trung cộng -Myanmar sẽ được  sử dụng từ cuối tháng 5.


Tuyên bố này được đưa ra sau khi kết thúc vòng đàm phán thứ nhất về an ninh chiến lược song phương giữa Trung cộng  và Myanmar tại Nay Pyi Taw của Myanmar.
 


Hội nghị tham vấn lần này giữa Trung cộng  và Myanmar do phía quân đội tổ chức, chủ đề đàm phán liên quan đến tình hình bất ổn ở biên giới hai nước. Ở khu vực miền bắc Myanmar, các cơ quan chính phủ đang điều chỉnh lại tình hình khu vực sinh sống của người Kachin.

  Trong thời gian gần đây, tình hình khu vực này bị mất kiểm soát, phía quân đội Myanmar  đã phải sử dụng đến đại bác , hơn nữa còn có một quả đạn  phóng “lạc” vào khu vực cách biên giới Trung cộng  không xa. Vì vậy, quân đội hai nước này đã có cuộc họp khẩn cấp.

 
Mỹ bố trí tàu tuần duyên tại Singapore, tạo thế  chiến lược ở khu vực.

Trên thực tế, tại hội nghị tham vấn an ninh chiến lược, sự quan tâm của phía Trung cộng  đối với đường ống dẫn dầu và khí đốt được cho là điều dễ hiểu.
 
 
Vladimir Evseev,
 
 
 
Giam đốc  Trung tâm nghiên cứu chính trị-xã hội Nga cho rằng, xung đột lợi ích của hai nước Trung cộng  và Mỹ ở châu Á đang trở nên ngày càng thường xuyên.

Evseev nói: “Mỹ xác định khu vực châu Á-Thái Bình Dương là phương tiện  sinh hoạt  của họ. Rõ ràng, đây là nơi tập trung quyền  lợi của nhiều nước trong đó có Trung cộng  và Mỹ.

 Mỹ đang tìm cách  phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á trong đó có Myanmar để kềm chế Trung cộng , xúc tiến quan hệ hợp tác với Ấn Độ. Ngoài ra, còn xây dựng căn cứ quân sự mới ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Những điều này hoàn toàn đều có màu sắc chống Trung cộng rõ rệt”. - thời báo Hoàn cầu của TC nhận định.

 
Vấn đề ở chỗ hỏa tiển  của Trung cnộg  không thể vươn tới căn cứ quân sự được thiết lập ở Darwin, Australia. Ngược lại, Lầu Năm Góc có thể sử dụng hỏa tiển  và không quân tạo thành sức mạnh  phong tỏa đối với eo biển Malacca. Điều này có nghĩa là, tàu chở dầu vận chuyển dầu mỏ và khí đốt từ Trung Đông và châu Phi tới Trung cộng  có thể sẽ gặp phải trở ngại quân sự do Mỹ thiết lập ở eo biển Malacca.


Vì vậy, đối với Trung cộng , thiết lập  đường ống dẫn dầu từ bờ biển Ấn Độ Dương của Myanmar đi qua lãnh thổ nước này không chỉ là vấn đề về năng lượng, mà còn là vấn đề về an ninh chiến lược.

 
Ấn Độ tăng cường quan hệ với Myanmar

Sau khi tuyên bố công trình đường ống dẫn dầu đi qua Myanmar sắp kết thúc, Bắc Kinh đã đưa ra câu trả lời rõ ràng.

Rõ ràng, Trung cộng  đã có chuẩn bị rất kỹ để tranh đoạt các lợi ích ở châu Á. Lượng dầu đi qua đường ống Trung cộng -Myanmar sẽ dẫn  22 triệu tấn, lượng vận chuyển khí đốt là 12 tỷ m 3 . Bắt đầu từ tháng 6 năm nay, đường ống sẽ có thể chính thức hoạt động.

Tình hình diễn ra như vậy, với tính chất là một nước đã bãi bỏ lệnh trừng phạt kinh tế đối với Myanmar cách đây không lâu, Mỹ sẽ có phản ứng thế nào? Các đồng minh của Mỹ ở châu Á như Nhật Bản và Nam Hàn  sẽ phản ứng ra sao?       

    Trên thực tế, hai nước này cũng có kế hoạch to lớn của họ ở Myanmar. Ngoài ra, một nước cũng đang tìm cách gây ảnh hưởng tại Myanmar là Ấn Độ sẽ thực thi những biện pháp nào?

   Rõ ràng, Myanmar đã trở thành điểm xung đột mới về lợi ích địa-chính trị của khu vực châu Á. Nhìn vào tình hình hiện nay, trong cuộc chơi này, Trung cộng  vẫn đang dẫn đầu, có điều tình hình này kéo dài bao lâu thì còn phải đợi xem .


Ấn Độ cũng tăng cường xây dựng căn cứ quân sự ở quần đảo
 
Andaman, ngay lối ra vào eo biển Malacca, tạo áp lực chiến lược.
TỔNG HỢP

Việt kiều Mỹ ghé quán nghỉ chân, bị trộm sạch hành lý


Sent: Wednesday, January 23, 2013 11:51 AM
Subject: [exryu-ww-vannghe] Việt kiều Mỹ ghé quán nghỉ chân, bị trộm sạch hành lý

 

VIỆT NAM (NV) -
Không chỉ phải đối phó với tai nạn giao thông, nạn trấn lột dọc quốc lộ, du khách miền lục tỉnh đang sốt vó trước nạn đập kiếng, mở cửa xe lấy sạch hành lý trong khi họ đang ngồi nghỉ chân ăn cơm ở các quán cóc,nhà hàng.

Quán võng ven đường đầy hiểm họa. (Hình: minh họa trên Internet) Vụ cướp vặt mới nhất xảy ra vào lúc nửa đêm 16 tháng 1 tại một quán ăn dọc quốc lộ, đoạn băng qua xã Long Ðịnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Khổ chủ là bà LTTT, Việt kiều Mỹ.

Báo Tuổi Trẻ cho biết bà LTTT cùng gia đình đi thăm quê ở tỉnh Vĩnh Long. Trên đường đi, xe chở bà ghé lại một quán ăn ở ấp Tây, xã Long Ðịnh để nghỉ ngơi, ăn khuya.
 
Trong khi mọi người trong gia đình bà LTTT không ai để ý, kẻ gian đập kiếng, mở cửa xe lấy sạch tài sản bên trong.
 
Khi phát giác sự việc thì kẻ gian đã cao bay xa chạy, mang theo hành lý của gia đình bà trị giá tổng cộng khoảng 120 triệu đồng, tương đương 6,000 đôla.
 
 Trong số các vật dụng bị mất trộm có 9 chiếc điện thoại di động, 2 chỉ vàng, 7 thẻ ATM, hai passport, bằng lái xe và 600 đôla tiền mặt.

 

Cũng theo báo Tuổi Trẻ, nạn cướp giật nhắm vào khách hàng các quán nước ven quốc lộ hướng về miền Tây xảy ra ngày càng nhiều.

Trước đó là vụ một người khách đang nằm võng tại một quán giải khát dọc quốc lộ 1, đoạn thuộc địa phận xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang bị kẻ lạ giật túi xách. Khổ chủ tri hô cầu cứu nhưng kẻ cướp đã phóng lên xe gắn máy của đồng bọn chờ sẵn chạy mất.
 
Người khách này bị cướp vào tối 31 tháng 12, 2012, cho biết trong túi xách có số tiền 15 triệu đồng, tương đương 750 đô.
 
Ông này nói rằng không hề để ý đến một thanh niên vờ vào quán nước mua thuốc lá rồi nhanh như chớp nhào tới giật cái túi xách của ông.


 Vụ thứ hai xảy ra chiều ngày 3 tháng 1 cũng nhắm vào một người đàn ông đang nằm võng nghỉ mệt tại một quán nước sau đoạn đường dài từ Sài Gòn về đến huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
 
 Kẻ cướp trong vụ này còn táo tợn hơn khi dùng lưỡi lam rạch túi áo của ông để đoạt cái ví đựng giấy tờ tùy thân và số tiền mặt 16 triệu đồng, tương đương 800 đô.
 
Khổ chủ là ông Dương Minh Hảo, cư dân quận 6 dùng xe gắn máy đuổi theo nhưng không kịp. (PL)

 

 

 

 

Tại sao sự khống chế của TQ là một điều chắc chắn


Nguyên tác : Arvind Subramanian
Dịch giả : 
Trần Ngọc Cư

( Tại sao sự khống chế của TQ là một điều chắc chắn )


Lời tiên đoán của Macmillan năm 1971, rằng Hoa Kỳ có thể suy yếu “trong 200 năm nữa”, đã để lộ một lối giải thích lịch sử máy móc: ông đã tiên đoán một vai trò siêu cường lâu dài cho Hoa Kỳ, tương tự như địa vị siêu cường mà nước ông từng được hưởng. Nhưng TQ có thể thúc đẩy tiến trình các mô hình lịch sử — và buộc Hoa Kỳ phải đối diện với sự xuống dốc của mình sớm hơn Macmillan tiên đoán rất nhiều hay thậm chí sớm hơn cả hầu hết mọi người dự kiến hiện nay.



Ảnh: Flickr

Đối với con nợ, thì chủ nợ có thể giống như nhà độc tài. Những chính phủ gặp phải vấn đề tài chính thường hướng về Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với thái độ van xin, và vì phải hành động theo mệnh lệnh của các chủ nợ quan trọng, IMF thường áp đặt những điều kiện gay gắt lên họ. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990, Mickey Kantor, đại diện thương mại Mỹ dưới thời Tổng thống Clinton, gọi tổ chức này là “trục gỗ húc cửa thành” (battering ram), vì nó đã được sử dụng để mở cửa thị trường châu Á cho hàng hóa của Mỹ.
 
Trong cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez năm 1956, Mỹ đe dọa sẽ cắt nguồn tài trợ mà Vương quốc Anh đang khẩn cấp cần đến nếu quân đội Anh không chịu rút khỏi Kinh đào Suez. Bộ trưởng Tài chính Anh lúc bấy giờ, Harold Macmillan, người đã chủ trì những màn thương thuyết nhục nhã cuối cùng của cuộc khủng hoảng, về sau đã nhớ lại rằng đó là “cái thở hắt cuối cùng của một cường quốc đang suy tàn”. Ông viết thêm, “có lẽ trong vòng 200 năm nữa Hoa Kỳ mới hiểu được chúng tôi đã cảm nhận như thế nào”.

Phải chăng cái ngày ấy đã đến quá nhanh, khi Trung Quốc lăm le giành lấy địa vị siêu cường của Hoa Kỳ? Đây là một câu hỏi rất quan trọng, nhưng nó chưa được xét đến một cách nghiêm túc tại Mỹ. Ở đó, sự cao ngạo chủ yếu vẫn còn ngự trị tâm lý con người: sự khống chế kinh tế thế giới của Hoa Kỳ không thể bị đe dọa nghiêm trọng vì chính Hoa Kỳ tự làm cho mình xuống dốc. Sớm muộn gì rồi Hoa Kỳ cũng sẽ vươn dậy đối đầu với cuộc thử thách để khỏi phải thua cuộc hoàn toàn.
 
Trung Quốc có thể đang trên đường trở thành một siêu cường kinh tế, và Mỹ có thể phải chia sẻ sân khấu toàn cầu với TQ trong tương lai. Nhưng, theo lý luận này, mối đe dọa của Trung Quốc chưa phải cận kề, chưa quá lớn, chưa đủ đa diện để có thể đẩy Hoa Kỳ ra khỏi vị trí người cầm lái.

Cũng với lý luận này, kinh tế gia Barry Eichengreen trong cuốn lịch sử các trữ kim khác nhau, nhan đề Exorbitant Privilege (Đặc quyền quá đáng) mới được xuất bản, đã kết luận rằng “Điều đáng mừng trong tình huống tồi tệ hiện nay là, số phận đồng đôla vẫn còn nằm trong tay chúng ta, chứ không phải trong tay của Trung Quốc”. Và vào tháng Chạp năm 2010, khi ông từ giả Nhà Trắng trong vai trò cố vấn kinh tế quốc gia cho Tổng thống Barack Obama, ông Larry Summers tuyên bố rằng: “Những tiên đoán về sự suy yếu của Hoa Kỳ cũng có từ lâu, như số tuổi của nước cộng hòa này. Nhưng chúng thể hiện một chức năng quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình đổi mới, luôn luôn được đòi hỏi ở mỗi thế hệ người Mỹ.
 
Tôi xin thưa với quí vị rằng bao lâu mà chúng ta còn ưu tư về tương lai đất nước, thì tương lai ấy sẽ tốt đẹp hơn. Chúng ta có nhiều thách thức. Nhưng chúng ta cũng có một xã hội uyển chuyển, năng động, có đầu óc kinh doanh cao nhất mà thế giới chưa bao giờ thấy”. Nói cách khác, nếu Hoa Kỳ có thể chấn chỉnh được ngôi nhà kinh tế của mình, thì nước này có thể chặn đứng mối đe dọa đến từ TQ.

Nhưng những quan điểm này đã đánh giá thấp một khả năng gần như chắc chắn rằng TQ sẽ khống chế kinh tế thế giới trong vòng 20 năm sắp tới. Và chúng để lộ một quan niệm đơn phương, tự coi Hoa Kỳ là rốn vũ trụ: rằng sự khống chế thế giới sẽ được định đoạt chủ yếu do hành động của Hoa Kỳ, chứ không do hành động của TQ. Thật ra, kết quả của cuộc chạy đua này rất có thể được hình thành bởi phía TQ.

THẾ GIỚI VÀO NĂM 2030

Nói chung, sự khống chế kinh tế là khả năng của một quốc gia dùng các phương tiện kinh tế để buộc các nước khác làm những điều nó muốn hoặc ngăn chặn các nước khác làm những điều nó không muốn. Những phương tiện ấy có thể là kích cỡ nền kinh tế của nước ấy, nền thương mại của nó, tình trạng tài chính của nó ở trong nước và ngoài nước, sức mạnh quân sự của nó, tính năng động công nghệ của nó, và địa vị quốc tế mà tiền tệ của nó chiếm giữ.
 
 
Cuốn sách sắp xuất bản của tôi sẽ phát triển một chỉ số khống chế (an index of dominance) chỉ kết hợp ba yếu tố then chốt: GDP của một nước, thương mại của nó (được đo bằng tổng số lượng hàng xuất khẩu và lượng hàng nhập khẩu), và tầm mức nó làm một chủ nợ của thế giới còn lại. GDP đóng một vai trò quan trọng vì nó xác định nguồn lực tổng quát mà một nước có thể huy động để phóng chiếu quyền lực chống lại các đối thủ tiềm tàng hay nói cách khác có thể làm theo ý mình.
 
Thương mại, nhất là nhập khẩu, quyết định độ mạnh của đòn bẫy mà một nước có thể vận dụng do việc cho phép hay từ chối các nước khác tiếp cận thị trường của mình. Và việc đóng vai một nhà tài trợ hàng đầu sẽ tạo được ảnh hưởng phi thường lên các nước khác đang cần ngân quĩ, nhất là trong các giai đoạn khủng hoảng. Không có thước đo nào nói lên sức mạnh khống chế rõ ràng như ba yếu tố kể trên: các sức mạnh khác phần lớn bắt nguồn từ đó (sức mạnh quân sự, chẳng hạn, tùy thuộc vào tình trạng tổng quát và kích cỡ của một nền kinh tế trong dài hạn), hoặc chỉ có giá trị ngoại biên (như sự khống chế tiền tệ), hoặc khó đo lường một cách nhất quán khi so sánh các quốc gia (như sức mạnh ngân sách).

Tôi đã tính toán chỉ số [mô tả sức mạnh khống chế] này bằng cách đi ngược dòng lịch sử đến năm 1870 (chỉ tập trung vào địa vị kinh tế của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh lúc bấy giờ) và phóng chiếu chỉ số này đến năm 2030 (chỉ tập trung vào địa vị kinh tế của Hoa Kỳ và TQ vào thời điểm đó).
 
Những dự phóng này chủ yếu dựa vào những giả định tương đối dè dặt về mức tăng trưởng trong tương lai của TQ, nghĩa là nhìn nhận rằng TQ đang đối mặt với nhiều thử thách ở phía trước. Trước hết, dân số TQ sẽ bắt đầu già nua trong vòng một thập kỷ tới. Và kinh tế TQ đang bị méo mó nghiêm trọng dưới nhiều khía cạnh: tiền vốn cho vay với lãi suất quá rẻ (overly cheap capital) đã dẫn đến việc đầu tư quá lố; hối suất đồng nhân dân tệ bị kìm giữ ở mức quá thấp đã dẫn đến sự phát triển quá mức về hàng xuất khẩu; và năng lượng được bao cấp đã dẫn đến sự sử dụng thiếu hiệu quả và ô nhiễm môi trường.
 
Việc điều chỉnh những lạm dụng này nhất định sẽ tạo ra những trục trặc rất tốn kém. Tính luôn cả những tốn kém này, tôi dự đoán rằng mức tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại một cách đáng kể: trung bình 7% mỗi năm trong vòng 20 năm tới, so với khoảng 11% mà TQ đạt được trong thập kỷ vừa qua. Lịch sử cho biết rằng nhiều nền kinh tế — như Đức, Nhật Bản, Singapore, Nam Hàn, và Đài Loan – đã tăng trưởng theo nhịp độ mà tôi dự đoán cho TQ sau khi họ đạt được một mức phát triển như hiện nay của TQ.
 
Trong khi đó, tôi giả định rằng kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5% mỗi năm, như trong 30 năm qua. Dự đoán này là hơi lạc quan so với dự đoán mới nhất là 2,2% của Phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) về mức tăng trưởng dài hạn, một dự đoán mà CBO thỉnh thoảng phải hạ thấp vì tác động tiêu cực lên nền kinh tế Hoa Kỳ do các núi nợ, công cũng như tư, ngày một chồng chất và con số thất nghiệp vừa cao vừa kéo dài.

Kết quả sau cùng trong sự phân tích của tôi là, vào năm 2030 sự suy yếu tương đối của Hoa Kỳ sẽ không tạo ra một thế giới đa cực (multipolar) nhưng là một thế giới gần như đơn cực (near-unipolar) bị TQ khống chế. Sức mạnh kinh tế của TQ sẽ chiếm gần 20% GDP toàn cầu (một nửa đo bằng trị giá đôla và một nửa bằng sức mua thực sự), so với Hoa Kỳ lúc đó chỉ chiếm 15%.
 
Vào thời điểm đó, GDP bình quân đầu người của TQ sẽ vào khoảng 33.000 đôla, hay khoảng một nửa GDP đầu người của Mỹ. Nói thế khác, Trung Quốc sẽ không còn nghèo tả tơi (dirt poor), như người ta thường lầm tưởng. Hơn nữa, TQ sẽ tạo ra 15% mậu dịch thế giới — gấp đôi Mỹ. Khoảng năm 2030, TQ sẽ ở vị trí khống chế dù cho người ta có nghĩ GDP là quan trọng hơn thương mại hay ngược lại; TQ sẽ vẫn dẫn đầu trong cả hai lãnh vực.

Theo chỉ số và những dự đoán này, sự khống chế của TQ là khá gần kề. Mặc dù hiện nay GDP của Hoa Kỳ vẫn còn lớn hơn GDP của TQ và sức mạnh mậu dịch của hai quốc gia là gần ngang nhau, nhưng Hoa Kỳ là một con nợ rất lớn và có nhiều nhược điểm — Hoa Kỳ ngốn hết khoảng 50% vốn luân lưu của thế giới – trong khi TQ là một chủ nợ quan trọng đối với thế giới.
 
Năm 2010, sự vượt trỗi của Hoa Kỳ đối với TQ là không đáng kể: sự khác biệt chưa tới 1% giữa chỉ số khống chế (indices of dominance) của hai quốc gia. Thật ra, nếu người ta cân nhắc những yếu tố này một cách hơi khác hơn, bằng cách coi nhẹ kích cỡ của nền kinh tế so với sức mạnh mậu dịch một chút, thì Trung Quốc đã đứng trước Hoa Kỳ vào năm 2010.

Sự khống chế của TQ trong tương lai cũng sẽ được nhìn nhận trong nhiều lãnh vực hơn hiện nay. Kinh tế TQ sẽ lớn hơn kinh tế Hoa Kỳ và lớn hơn kinh tế của bất cứ quốc gia nào khác; ngoài ra, thương mại và nguồn vốn của TQ cũng sẽ to lớn như thế. Đồng nhân dân tệ cũng sẽ là một đối thủ đáng nể của đồng đôla trong địa vị một trữ kim hàng đầu của thế giới.

Ngoài ra, khoảng cách giữa TQ và Hoa Kỳ sẽ mở rộng hơn dự kiến. Năm 2010, Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ tiên đoán rằng vào năm 2025, “Hoa Kỳ vẫn còn là một siêu cường, nhưng sự khống chế của Hoa Kỳ sẽ bị suy giảm hơn nhiều”. Đánh giá này là lạc quan không hợp lý.
 
 Những dự đoán của tôi cho thấy rằng khoảng cách giữa TQ và Hoa Kỳ vào năm 2030 sẽ tương tự như khoảng cách giữa Hoa Kỳ và các đối thủ của nó giữa thập niên 1970, thời cao điểm của bá quyền Mỹ, và lớn hơn khoảng cách giữa Vương quốc Anh và các đối thủ của trong thời cao điểm của Đế quốc Anh, vào năm 1870. Tóm lại, việc TQ khống chế kinh tế tương lai là cận kề hơn và sẽ là vừa to lớn vừa đa diện hơn nhiều người đang nghĩ.

MẠNH NHƯ MỘT CON BÒ MỘNG

Martin Wolf, cây viết chuyên đề trên tờ Financial Times (Tài chính thời báo) đã dùng từ “siêu cường nóng vội” (premature superpower) để mô tả khả năng độc đáo của TQ trong việc vận dụng quyền lực mặc dù đang còn là một nước nghèo. Tuy nhiên, theo dự đoán của tôi, vào năm 2030, TQ sẽ không còn nghèo như thế.
 
Trái lại, GDP đầu người của TQ (dựa vào sức mua nội địa) sẽ lớn hơn một nửa GDP đầu người của Hoa Kỳ và lớn hơn GDP đầu người bình quân trên thế giới. Tuy nhiên, sự khống chế kinh tế của TQ sẽ không có tính thuần nhất: khác với quá khứ, trong khi các siêu cường – Vương quốc Anh và Hoa Kỳ — là rất giàu có so với các địch thủ của mình, thì TQ sẽ là một quốc gia có lợi tức trung lưu hay trên trung lưu. Và câu hỏi đặt ra là, liệu một nước có thể trở thành siêu cường thậm chí cả khi nó không phải là quốc gia giàu có nhất hay không?

Có ba lý do khả tín để cho rằng nó không thể trở thành siêu cường. Một là, một nước tương đối nghèo có thể phải đặt tham vọng phóng chiếu quyền lực quốc tế của mình nằm dưới nhu cầu giải quyết các thách thức bức thiết hơn ở trong nước, như phải đạt mức sống cao hơn và ổn định xã hội rộng lớn hơn. Hai là, nước đó có thể không đủ sức huy động nguồn lực cần thiết để phóng chiếu quyền lực của mình ra nước ngoài.
 
 
Chỉ nội một điều là, phương tiện quân sự cũng cần đến tài chính, và các nước nghèo thường gặp nhiều khó khăn hơn các nước giàu khi bắt người dân đóng thuế. Ba là, một nước nghèo không thể có nhiều ảnh hưởng ở nước ngoài nếu nó không có được quyền lực mềm trong tay, như chế độ dân chủ, xã hội cởi mở, hay những giá trị đa nguyên. Quyền lãnh đạo đi kèm với sức mạnh khống chế chỉ tồn tại khi nào nó còn tạo được động lực cho người theo: chỉ có những ai làm biểu tượng cho một cái gì có sức thu hút rộng lớn hay gần như phổ quát mới gây được cảm hứng.
 
Tương tự như thế, chỉ một nước giàu — một nước đang nắm lợi thế kinh tế và công nghệ — mới có thể làm một nguồn ban phát tư tưởng, công nghệ, các định chế, và các lề lối cho nhiều nước khác.

Như vậy, dù khả năng khống chế không luôn luôn đi liền với sự nghèo khó, một quốc gia vẫn có thể trở thành siêu cường mặc dù nó không thuộc vào những nước giàu có nhất. Thậm chí một nước có lợi tức trung bình, một nước mà Trung Quốc có khả năng trở thành vào năm 2030, có thể giữ đoàn kết nội bộ, huy động được nguồn lực cho những mục đích đối ngoại (như các chi phí quân sự), và nắm được một số lý tưởng dân tộc đủ sức kích động.
 
Thật vậy, dù với GDP đầu người tương đối thấp như hiện nay, TQ đã có sức mạnh khống chế trên nhiều phương diện. TQ đã thuyết phục được nhiều nước chủ nhà tại châu Phi, những nơi mà TQ đã bỏ ra rất nhiều tiền để đầu tư, đóng cửa các đại sứ quán Đài Loan.
 
Với trữ lượng ngoại tệ gồm 3.000 tỉ đôla, TQ đưa ra đề nghị mua lại nợ của Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nhằm chặn đứng hoặc giảm bớt tình trạng hỗn loạn tài chính tại châu Âu. (Trong dịp chủ tịch nước của Trung Quốc đến thăm vào tháng Tư, Thủ tướng Tây Ban Nha, Ông José Luis Rodríguez Zapatero đã nói “Trung Quốc là người bạn tốt nhất của Tây Ban Nha.”) Trung Quốc cũng sử dụng vai vế to lớn của mình để thắt chặt các quan hệ thương mại và tài chính tại châu Á và châu Mỹ La-tinh: chẳng hạn, nhiều thương vụ giữa một số quốc gia trong hai khu vực nói trên hiện nay có thể thanh toán bằng đồng nhân dân tệ.

Trước hết, chính sách hối suất của TQ đã ảnh hưởng bất lợi cho các nền kinh tế khắp thế giới, gây tổn thương cho các nước đang phát triển cũng như cho bản thân Hoa Kỳ: bằng cách kìm giá đồng nhân dân tệ ở mức quá rẻ, TQ có thể làm cho hàng xuất khẩu của mình có sức cạnh tranh hơn hàng xuất khẩu từ các nước như Bangladesh, Ấn Độ, Mê-hi-cô và Việt Nam.
 
Nhưng các nước này cho đến nay vẫn khoanh tay đứng bên lề, để cho Washington một mình tiến hành cuộc thánh chiến chống Bắc Kinh – và do đó, Hoa Kỳ không mấy thành công. Trong khi đó, TQ đủ sức mua chuộc phe chống đối tỉ giá hối suất của TQ.
 
Mặc dù nhiều nước lấy làm bất mãn vì thấy sức cạnh tranh của mình bị phá họai bởi một đồng nhân dân tệ bị kìm giá, họ vẫn giữ thái độ im lặng, hoặc vì khiếp sợ trước cơ bắp chính trị của TQ hoặc vì TQ cống hiến cho họ sự hỗ trợ tài chính hay cơ hội mua bán.
 
Thậm chí trong phạm vi nước Mỹ, ít có nhóm nào thực sự lên tiếng chỉ trích chính sách hối đoái của TQ. TQ là một thị trường rộng lớn cho các công ty Hoa Kỳ, và vì vậy, chính cánh tả tự do (the liberal left) chứ không phải những người nắm giữ vốn của Hoa Kỳ đã lên án chính sách hối đoái của TQ, vì quyền lợi của công nhân Mỹ.

Cho dù trong tương lai rất gần TQ không thể huy động loại hình khống chế có thể tự động thúc đẩy hay xây dựng những hệ thống và cơ chế quốc tế như những tổ chức Hoa Kỳ đã tạo ra sau Thế chiến II, nhưng Bắc Kinh đang sử dụng những hình thức khống chế khác. Chẳng hạn, TQ có thể đòi hỏi các công ty Mỹ và châu Âu chia sẻ công nghệ của họ với các công ty TQ trước khi cho phép họ tiếp cận thị trường TQ. Và TQ có thể theo đuổi các chính sách có hậu quả sâu rộng [mang tính hệ thống], bất chấp sự chống đối của nhiều nước trên thế giới.
 
Chính sách hạ giá hối suất đồng nhân dân tệ là một chiến lược cổ điển gây phương hại cho các đối tác thương mại và làm lợi cho TQ, một chính sách phá hoại tính thông thoáng (openness) của các hệ thống thương mại và tài chính thế giới đồng thời cũng tạo các điều kiện tiếp cận tiền mặt quá dễ dàng (easy liquidity), một hiện tượng đóng góp cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây.

CHẾT ĐUỐI VÌ NHỮNG CON SỐ

Hoa Kỳ có thể đảo ngược xu thế này không? Tương lai kinh tế Mỹ gợi lên nhiều nỗi lo âu: nước này đang kinh qua vấn đề ngân sách, vấn đề tăng trưởng kinh tế, và, có lẽ bất trị hơn tất cả, vấn đề của giai cấp trung lưu.
 
Những đợt giảm thuế liên tục và hai cuộc chiến tranh, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008-10, tình trạng gia tăng không ngừng các quyền lợi an sinh của người già-người nghèo (đặc biệt liên quan đến y tế), và sự gia tăng số tài sản xấu [như nhà bị tịch biên] mà cuối cùng chính phủ có thể phải đứng ra gánh vác — tất cả những điều này đã tạo ra nghi vấn  nghiêm trọng về khả năng quân bình ngân sách trong khu vực công của Hoa Kỳ.
 
 Nợ công, nợ tư, và nạn thất nghiệp lâu dài sẽ kềm hãm mức tăng trưởng lâu dài. Và một sự kết hợp bao gồm các yếu tố như mức thu nhập đình trệ của giới trung lưu, cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn, khả năng thăng tiến xã hội bị thoái hóa, và, gần đây, các viễn ảnh tương lai sa sút đối với cả thành phần có giáo dục đại học đã tạo ra những vấn đề to lớn về phân phối lợi tức. Giới trung lưu Mỹ cảm thấy đang bị vây khốn: họ không muốn phải tuột thang kỹ năng, nhưng viễn ảnh thăng tiến của họ ngày một bị hạn chế vì sự cạnh tranh đến từ TQ và Ấn Độ.

Sức mạnh liên tục của Hoa Kỳ phát xuất từ thái độ dám làm (can-do attitude) trong việc chỉnh sửa các vấn đề kinh tế và từ niềm tin tưởng rằng các yếu tố kinh tế cơ bản lành mạnh có thể đảm bảo sức khống chế lâu dài của nền kinh tế Mỹ.
 
Đáng lưu ý nhất là, Hoa Kỳ có đủ khả năng tạo các cơ hội cho giới doanh nghiệp mà các nước khác không có đựợc (unique opportunities for entrepreurship) “Hoa Kỳ có một văn hóa doanh nghiệp thuận lợi, công nghiệp đầu tư già dặn nhất nhằm giúp vốn cho các công ty mới mẻ, quan hệ chặt chẽ giữa các đại học và công nghiệp, và một chính sách nhập cư cởi mở”, theo Tổ chức Theo dõi Doanh nghiệp Toàn cầu (Global Entrepreurship Monitor, GEM), một tổ chức học thuật chuyên nghiên cứu sinh hoạt kinh doanh toàn cầu. Trong một bản thăm dò năm 2009, GEM đã xếp Hoa Kỳ đứng đầu thế giới trong việc cung ứng những cơ hội như thế.
 
Gần như tất cả các công ty thương mại thành công quan trọng nhờ những phát kiến công nghệ trong ba thập kỷ qua – Apple và Microsoft, Google và Facebook — đều được thành lập và đặt bản doanh tại Hoa Kỳ.
 
Thật vậy, chính nhờ tìm ra được những nguồn tạo sự tăng trưởng mới mẻ và năng động trong thập niên 1990 mà Hoa Kỳ đã có thể ngăn chặn thách thức kinh tế do một cường quốc đang trỗi dậy của thời đại đó, tức Nhật Bản. Ngày nay, những người lạc quan lý luận rằng Hoa Kỳ có thể lặp lại kinh nghiệm đó với TQ. Thật vậy, nếu kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng đều đặn ở tỉ lệ 3.5% trong vòng 20 năm tới, như đã diễn ra vào thập niên 1990, tinh thần của người đầu tư và sự tin tưởng đặt vào đồng đôla như một trữ kim có thể sẽ được nâng cao.

Nhưng ngày nay, một số khác biệt then chốt chắc chắn đã giảm bớt niềm hi vọng đó. Hoa Kỳ bước vào thập niên 1990 với số công trái (government debt) nhỏ hơn rất nhiều so với số nợ nước này sẽ mắc trong tương lai. Năm 1990, tỉ lệ công trái so với GDP là vào khoảng 42%, trong khi con số mới nhất mà Văn phòng Ngân sách Quốc hội (COB) dự đoán cho năm 2020 là gần 100%. Hai thập niên về trước, tư thế đối ngoại của Hoa Kỳ cũng ít có nhược điểm như bây giờ. Chẳng hạn, trong năm 1990, nước ngoài chỉ cầm giữ 19% số trái phiếu của chính phủ Hoa Kỳ;  ngày nay con số đó đã lên gần 50%, và phần lớn nằm trong tay TQ. Mãi cho đến thập niên 1990, Hoa Kỳ vẫn chưa mấy bận tâm về cái ngày phải lo lắng những chi phí cho quyền lợi của các nhóm đặc biệt (entitlements) như người già, người nghèo.

Và hiện nay, giới trung lưu Mỹ đang bị nhiều vấn đề vây bủa. Trong 20 năm qua, nhiều căn bệnh kinh tế có khả năng bóp nghẹt giới trung lưu Mỹ, như mức thu nhập trung bình bị đình trệ, đã trở nên trầm kha và bất trị hơn xưa. Thậm chí cả tỉ lệ tăng trưởng 3,5%, một tỷ lệ vượt quá những mong đợi hiện nay, có lẽ cũng không đủ sức duy trì sự tin tưởng vào mô hình Mỹ, một mô hình đặt cơ sở trên niềm hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho đại đa số.

Nói cách khác, Hoa Kỳ không thể tránh cái lô-gíc không lay chuyển của dân số học và sự kiện là các nước nghèo, nhất là TQ, sắp bắt kịp Hoa Kỳ. TQ, có dân số đông gấp 4 lần Hoa Kỳ, sẽ là một nền kinh tế lớn hơn ngay sau khi mức sống trung bình của người dân TQ (tính theo GDP đầu người) vượt quá 1/4 mức sống trung bình của người Mỹ. Bằng một số cách đo lường, kể cả cách của tôi, sự kiện này đã bắt đầu diễn ra, và nếu kinh tế TQ vẫn tiếp tục tăng trưởng, thì khoảng cách giữa TQ và Hoa Kỳ sẽ chỉ nới rộng ra mà thôi.
 
Một Hoa Kỳ cố vùng lên có thể sẽ trì hoãn tiến trình ấy, nhưng sẽ không thể chặn đứng được nó. Phải tăng trưởng 3,5%, thay vì 2,5% như hiện nay, trong 20 năm tới, may ra Hoa Kỳ mới có thể đẩy mạnh thành tích kinh tế, ổn định xã hội, và nâng cao tinh thần quốc gia. Nhưng khả năng này cũng không thay đổi đáng kể địa vị của Hoa Kỳ đối với TQ nếu nước này duy trì mức tăng trưởng chừng 7%.

Những dự đoán này làm lung lay quan niệm chính yếu cho rằng sức mạnh siêu cường kinh tế Mỹ tự nó thoái hóa [chứ không do sứ ép từ ngoài].
 
Thật ra, chính những hành động của TQ sẽ định đoạt phần lớn sự cách biệt lớn hay nhỏ giữa mức tăng trưởng kinh tế của TQ và Hoa Kỳ. Chẳng hạn, TQ có thể thất bại ghê gớm nếu cứ tiếp tục để cho các bong bóng địa ốc căng to hay nếu không ngăn chặn được các biến động chính trị. Hoặc TQ có thể vươn lên mạnh mẽ hơn bằng cách chỉnh sửa các lệch lạc kinh tế hiện nay, nhất là cần phải tránh xa chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu và tiến tới một chiến lược phát triển nhu cầu trong nước.
 
Phạm vi hoạt động của Hoa Kỳ là hạn hẹp hơn nhiều. Nếu Hoa Kỳ không thể tăng trưởng chậm hơn 2,0-2,5% một cách đáng kể, thì nó lại càng không thể tăng trưởng nhanh hơn 3,5%. Đây là điều không may của một nước đang đứng ở biên cương cuối cùng trong tiến trình phát triển kinh tế: cả tiểm năng đi lên lẫn tiềm năng đi xuống đều bị giới hạn.

Dù Hoa Kỳ có tăng trưởng nhanh chăng nữa — chẳng hạn, 3,5 % — thì những nước khác, như TQ, cũng có thể tăng trưởng nhanh hơn, khiến bức tranh cơ bản về tương quan lực lượng kinh tế không thay đổi. Thật vậy, khi tốc độ cải tiến công nghệ trong những nước tiên tiến, như Hoa Kỳ, tăng nhanh, thì những công nghệ mới của họ cũng nhanh chóng rơi vào tay những nước nghèo, giúp kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở đó.
 
Thậm chí quan trọng hơn cả việc tạo ra các công nghệ mới, đó là khả năng nắm giữ vốn nhân lực (human capital) và những kỹ năng để sử dụng những công nghệ đó. Theo Sáng hội Khoa học Quốc gia (National Science Foundation), vào năm 2006 số sinh viên theo học bốn năm đầu đại học khoa học tại TQ gần gấp đôi tại Hoa Kỳ.
 
Sự cách biệt này chỉ có thể trở nên lớn hơn mà thôi. Mặc dù TQ có một hệ thống giáo dục tồi dở hơn Hoa Kỳ rất xa, nhưng TQ lại tỏ ra rất sẵn sàng hấp thụ công nghệ mới. Vào năm 2002 số tạp chí khoa học đăng bài có sự duyệt xét của chuyên gia cùng ngành (peer-reviewed scientific publications) tại Hoa Kỳ nhiều gấp TQ 6 lần – nhưng vào năm 2008 con số này chỉ còn 2,5 lần.
 
Khả năng dẫn đầu mức tăng trưởng kinh tế của các nước giàu bị hạn chế từ bên trong vì TQ có thể hấp thụ và sử dụng công nghệ mới khôn khéo hơn. Sự tinh vi của công nghệ TQ đang gia tăng: Rất ít có sản phẩm nào Hoa Kỳ, châu Âu, và Nhật Bản xuất khẩu mà TQ không xuất khẩu được.
 
 Nói chung, nếu mức tăng trưởng của Hoa Kỳ bị chậm lại, thì mức tăng trưởng của TQ có thể không bị ảnh hưởng, nhưng nếu mức tăng trưởng của Hoa Kỳ tăng nhanh, thì mức tăng trưởng của TQ cũng có thể sẽ tăng nhanh. Bằng cách nào thì Hoa Kỳ cũng không thể bỏ xa TQ.

TRỞ LẠI BÀI HỌC KINH ĐÀO SUEZ

Thậm chí một Hoa Kỳ vươn dậy trở lại cũng không thể sử dụng quyền lực và sức khống chế của mình đối với TQ. TQ đã đủ sức để làm những điều mà phần còn lại của thế giới không muốn nó làm. Liệu chẳng bao lâu nữa TQ có đủ sức buộc Hoa Kỳ phải làm cả những điều mà Hoa Kỳ không muốn làm hay không? Liệu một vụ Kinh đào Suez khác có thể xảy ra hay không?

Năm 1956, trong khi đồng sterling (Anh kim) chịu sức ép nặng nề vì Ai Cập phong tỏa Kinh đào Suez, Vương quốc Anh quay sang Hoa Kỳ để xin hỗ trợ tài chính, dựa vào “tình hữu nghị đặc biệt” của hai nước. Nhưng Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã từ chối. Ông giận dữ vì Anh (và Pháp) đã tấn công Ai Cập sau khi Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser quốc hữu hóa Kinh đào Suez, đúng vào thời điểm Eisenhower đang vận động tái tranh cử với danh nghĩa một con người hòa bình đã chấm dứt cuộc chiến trên Bán đảo Triều Tiên.
 
Ông đòi Vương quốc Anh phải tuân theo một nghị quyết LHQ do Mỹ bảo trợ buộc quân Anh phải rút khỏi Ai Cập tức khắc và vô điều kiện. Nếu Anh không chịu rút quân, Washington sẽ không cho phép Vương quốc Anh tiếp cận các nguồn lực tài chính từ IMF.
 
Nhưng nếu chính phủ Anh chịu rút quân, họ sẽ nhận được sự trợ giúp tài chính quan trọng. Vương quốc Anh đồng ý, và Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho một gói tài trợ to lớn, gồm một khoản cho vay chưa từng có từ IMF đáng giá 1,3 tỉ đôla và một khoản 500 triệu đôla từ Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Hoa Kỳ.

Bây giờ, ta cứ tưởng tượng một tương lai không xa trong đó Hoa Kỳ đã phục hồi từ cuộc khủng hoảng 2008-2010 nhưng vẫn còn chồng chất nhiều vấn đề kinh tế từ trong cơ cấu: khoảng cách thu nhập (giàu nghèo) ngày càng lớn, một tầng lớp trung lưu chịu nhiều sức ép, và cơ hội thăng tiến kinh tế và xã hội bị suy giảm.
 
Hệ thống tài chính Mỹ vẫn còn mong manh như thời trước khủng hoảng, và chính phủ chưa đối phó được những chi phí ngày càng lớn cho người già – người nghèo và sự gia tăng số tài sản xấu trong hệ thống tài chính, mà chính phủ có thể phải tiếp quản.
 
Nạn lạm phát là một vấn đề toàn cầu vì giá thương phẩm tăng vọt do sự tăng trưởng nhanh chóng tại các thị trường mới nổi (emerging markets). TQ có một nền kinh tế và một luồng mậu dịch lớn gấp đôi Hoa Kỳ. Đồng đôla mất hết vẻ hào nhoáng của nó; mức cầu của đồng nhân dân tệ như một trữ kim ngày càng gia tăng.

Cũng rất giống như năm 1956, khi Washington bị tình nghi là đã đạo diễn các cuộc bán tháo đồng sterling tại New York để buộc chính phủ Anh rút quân khỏi Kinh đào Suez, tin đồn đoán loan truyền khắp nơi là TQ có kế hoạch sử dụng sức mạnh tài chính của mình; TQ không còn chịu đựng thêm nữa sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương. Bắc Kinh bắt đầu bán một phần trữ lượng ngoại tệ (lúc bấy giờ có thể lên tới 4 nghìn tỉ đôla).
 
Các nhà đầu tư bắt đầu giao động, lo sợ đồng đôla có thể suy sụp, và các thị trường trái phiếu bán tháo giấy nợ của chính phủ Hoa Kỳ. Liền sau đó Hoa Kỳ mất điểm tín dụng AAA của mình. Các cuộc bán đấu giá công khố phiếu Hoa Kỳ không tìm được người mua. Để duy trì lòng tin của giới đầu tư, Quĩ Dự trữ Liên bang đưa lãi suất lên rất cao. Chẳng bao lâu, lãi suất vượt quá tỉ lệ tăng trưởng rất xa, và Hoa Kỳ cần tài trợ với lãi suất thấp.
 
 Hoa Kỳ hướng đến các nước xuất khẩu dầu hỏa, nhưng các thủ lĩnh độc tài thân thiện với Hoa Kỳ ngày xưa đã bị thay thế bởi những nhà lãnh đạo dân chủ giả hiệu (illiberal democrats) thuộc mọi khuynh hướng Hồi giáo, từ ôn hòa đến cực đoan, tất cả đều mang ký ức lâu dài về bàn tay can thiệp của Mỹ tại Trung Đông.
 
Cũng như đối với Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, và Bồ Đào Nha gần đây, việc tìm kiếm tài trợ từ IMF có vẻ là điều không thể tránh: vì nếu Hoa Kỳ không trả nổi nợ nần của mình, việc này sẽ rất nguy hại cho nỗ lực duy trì những gì còn sót lại trong vai trò toàn cầu của Hoa Kỳ.

Nhưng vào thời điểm này, TQ, đã là ông chủ ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 2000, đang kiểm soát túi tiền của IMF. Mặc dù TQ cũng nhận thấy việc IMF cứu giúp Hoa Kỳ là cần thiết, nhưng họ đưa ra một điều kiện tiên quyết: Hoa Kỳ phải triệt thoái hải quân ra khỏi Tây Thái Bình Dương.
 
Đòi hỏi này có ảnh hưởng mạnh mẽ vì TQ, trong tư thế là nước đóng góp nhiều nhất cho IMF và là một ân nhân cho nhiều thành viên của IMF, có thể ngăn chặn việc Hoa Kỳ xin tài trợ một cách dễ dàng. Vào lúc đó, TQ thậm chí có thể đã giành được quyền phủ quyết nhờ những cải tổ liên quan việc điều hành IMF được dự trù vào năm 2018.

Một số người sẽ cho rằng kịch bản này là hoàn toàn hoang tưởng. Dẫu sao, Hoa Kỳ có thể dễ dàng từ chối tài trợ cho Vương quốc Anh năm 1956 vì có làm như thế cũng không gây hậu quả nghiêm trọng cho đồng đôla hay nền kinh tế Hoa Kỳ. Nhưng nếu ngày mai, TQ bán, hoặc chỉ chấm dứt mua, công khố phiếu Hoa Kỳ, đồng đôla sẽ xuống giá và đồng nhân dân tệ sẽ lên giá — một hậu quả mà chính TQ đã và đang cương quyết ngăn chặn.
 
TQ không thể bất thần đạp đổ chiến lược tăng trưởng kinh tế bằng thủ đoạn thương mại (mercantilist growth strategy) và liều mất những số vốn to lớn trong khối dự trữ ngoại hối của TQ. Một số người khác có thể cho rằng thậm chí nếu TQ muốn làm như thế khi kinh tế Hoa Kỳ bị đình đốn, thì Quĩ Dự trữ Liên bang chỉ việc quá sung sướng mua hết bất cứ lượng công khố phiếu Hoa Kỳ nào mà TQ đem bán đổ.

Nhưng tất cả dự kiến này không hề xét đến khả năng là, những động cơ của TQ trong tương lai có thể sẽ khác xa với hiện nay. Kể từ 10 năm sau, TQ có thể sẽ giảm bớt quyết tâm kìm giá đồng nhân dân tệ. Nếu TQ tiếp tục từng bước quốc tế hoá tiền tệ của mình, thì cả khả năng kìm giá đồng nhân dân tệ lẫn động lực để TQ làm như vậy có thể sẽ sớm biến mất.
 
Khi cả hai điều này biến mất, thì sức mạnh của TQ đối với Hoa Kỳ sẽ trở thành đáng kể. Nhưng chính phủ TQ là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho Hoa Kỳ: nó giữ nhiều loại trái phiếu của Mỹ và tài trợ để Hoa Kỳ đối phó với nạn thâm thủng ngân sách. Sức mạnh đòn bẫy để điều khiển Hoa Kỳ tập trung trong tay Bắc Kinh.

Hẳn nhiên, những viễn tượng của một đồng đôla mất giá chắc sẽ ít nhức nhối cho Hoa Kỳ trong tương lai giả tưởng này hơn là viễn ảnh của đồng sterling mất giá đối với Vương quốc Anh năm 1956. Lúc bấy giờ, một sự tuột giá của đồng sterling chắc chắn sẽ gây thiệt hại to lớn cho tiền tệ của các cựu thuộc địa Anh, tức những nước đang giữ các tài sản to lớn dựa vào đồng sterling.
 
Những thuộc địa này chắc chắn sẽ bán tài sản bằng đồng sterling của họ, do đó sẽ làm suy yếu thêm những quan hệ kinh tế với Vương quốc Anh. Ngăn chặn hiểm họa này là điều quan trọng đối với chính phủ London trong nỗ lực duy trì những gì còn sót lại của Đế quốc Anh. Một sự tuột giá của đồng đôla sẽ ít gây rắc rối hơn, một phần vì nợ nước ngoài của Hoa Kỳ đều tính bằng đôla.

Một sự lặp lại kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez có vẻ không thể xảy ra trong thế giới ngày nay. Nhưng tình hình kinh tế hiện nay của Hoa Kỳ thật sự làm cho nước này có nhiều điểm yếu cơ bản khi đối diện với sức mạnh khống chế không thể tránh của TQ. Ngày trước, Vương quốc Anh đã cầm một tay bài kém cỏi trong cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez, không những chỉ vì nước này lâm vào tình trạng nợ nần và nền kinh tế của nó đang suy yếu, nhưng còn vì một cường quốc kinh tế khác đã xuất hiện. Ngày nay, thậm chí khi kinh tế Hoa Kỳ đang suy yếu từ trong cơ cấu (structurally weak), khi cơn nghiện nợ đã làm cho nước này quá lệ thuộc ngoại bang, và khi viễn tượng tăng trưởng kinh tế của nó là tối thiểu, thì một đối thủ hùng mạnh đã lù lù xuất hiện.
 
TQ có thể không hẳn là kẻ địch của Hoa Kỳ, nhưng nó cũng chẳng phải là một đồng minh. Lời tiên đoán của Macmillan năm 1971, rằng Hoa Kỳ có thể suy yếu “trong 200 năm nữa”, đã để lộ một lối giải thích lịch sử máy móc: ông đã tiên đoán một vai trò siêu cường lâu dài cho Hoa Kỳ, tương tự như địa vị siêu cường mà nước ông từng được hưởng. Nhưng TQ có thể thúc đẩy tiến trình các mô hình lịch sử — và buộc Hoa Kỳ phải đối diện với sự xuống dốc của mình sớm hơn Macmillan tiên đoán rất nhiều hay thậm chí sớm hơn cả hầu hết mọi người dự kiến hiện nay.

 

Arvind Subramanian là hội viên nghiên cứu thâm niên tại Viện Peterson về khoa Kinh tế Quốc tế (the Peterson Institute for International Economics) và tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu (the Center for Global Development). Bài báo này dựa vào nội dung cuốn sách sắp xuất bản của ông, cuốn Eclipse: Living in the Shadow of China’s Economic Dominance (Peterson Institute for International Economics, 2011)

Nguồn: Arvind Subramanian, Foreign Affairs, tháng Chín/tháng Mười 2011

© Trần Ngọc Cư (Bản tiếng Việt)

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link